Chương 1: Quản trị tài chính căn bản

Chia sẻ: Vu Thi Thu Thu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:24

3
1.252
lượt xem
685
download

Chương 1: Quản trị tài chính căn bản

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài chính có 3 lĩnh vực chủ yếu bao gồm: Thị trường và các thể chế tài chính. Đầu tư tài chính. Quản trị tài chính. Các lĩnh vực này thường liên quan như nhau đến những loại giao dịch tài chính nhưng theo góc độ khác nhau. Tài liệu này chủ yếu tập trung xem xét những vấn đề liên quan đến quản trị tài chính các công ty đa quốc gia.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chương 1: Quản trị tài chính căn bản

  1. CHƯƠNG 1 QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH CĂN BẢN Tài chính có 3 lĩnh vực chủ yếu bao gồm: (1) thị trường và các thể chế tài chính, (2) đầu tư tài chính, và (3) quản trị tài chính. Các lĩnh vực này thường liên quan như nhau đến những loại giao dịch tài chính nhưng theo góc độ khác nhau. Trong phạm vi môn học này chúng ta chỉ tập trung xem xét những vấn đề liên quan đến quản trị tài chính các công ty đa quốc gia, còn thị trường tài chính và đầu tư tài chính sẽ được xem xét ở những môn học khác. Mục tiêu của chương này nhằm trả lời các câu hỏi : Quản trị tài chính là gì? Mục tiêu của quản trị tài chính trong doanh nghiệp? Bản chất của các yếu tố trong các báo cáo tài chính cơ bản? Sử dụng các tỷ số tài chính để phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào? 1.1 KHÁI NIỆM VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Như chúng ta đã biết “Quản lý tài chính không có phương pháp là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự thất bại của các Doanh nghiệp, dù đó là doanh nghiệp nhỏ và vừa hay các tập đoàn công ty lớn”. Các chuyên gia tài chính của bất kỳ một doanh nghiệp nào đều phải đối mặt với 3 câu hỏi quan trọng : (1) Trong rất nhiều cơ hội đầu tư thì doanh nghiệp sẽ đưa ra quyết định lựa chọn cơ hội đầu tư nào? (2) Doanh nghiệp nên dùng những nguồn tài trợ nào để tài trợ cho nhu cầu vốn đầu tư đã được hoạch định đó? (3) Doanh nghiệp nên thực hiện chính sách cổ tức như thế nào? Câu hỏi thứ nhất liên quan đến việc chi tiêu tiền, câu hỏi thứ hai liên quan đến huy động vốn và câu hỏi thứ 3 liên quan đến sự kết hợp giữa hai quyết định (1) và (2). Vậy quản trị tài chính là gì? Quản trị tài chính là một môn khoa học quản trị nghiên cứu các mối quan hệ tài chính phát sinh trong quá trình sản xuất – kinh doanh của một doanh nghiệp hay một tổ chức. Nói cách khác, quản trị tài chính quan tâm đến việc đầu tư, mua sắm, tài trợ và phân chia cổ tức doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra. Qua định nghĩa này có thể thấy quản trị tài chính liên quan đến 3 loại quyết định chính: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định chi trả cổ tức. Quyết định đầu tư :Quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất vì nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Quyết định đầu tư là những quyết định liên quan đến: (1) tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản (tài sản lưu động và tài sản cố định) cần có và (2) mối quan hệ cân đối giữa các bộ phận tài sản trong doanh nghiệp. 1
  2. Trong môn học kế toán bạn đã làm quen với hình ảnh bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp. Quyết định đầu tư gắn liền với phía bên trái bảng cân đối tài sản. Cụ thể nó bao gồm những quyết định như sau: • Doanh nghiệp cần những loại tài sản nào phục vụ cho sản xuất kinh doanh? • Mối quan hệ giữa tài sản lưu động và tài sản cố định nên như thế nào? • Doanh nghiệp cần đầu tư bao nhiêu vào tài sản lưu động? Bao nhiêu vào tài sản cố định? Chi tiết hơn, doanh nghiệp cần đầu tư bao nhiêu vào hàng tồn kho, bao nhiêu tiền mặt cần có trong hoạt động kinh doanh hàng ngày? Nên mua sắm những loại tài sản cố định nào? v.v… Quyết định tài trợ : Nếu như quyết định đầu tư liên quan đến bên trái thì quyết định tài trợ lại liên quan đến bên phải của bảng cân đối tài sản. Nó gắn liền với việc quyết định nên lựa chọn loại nguồn vốn nào tài trợ cho việc mua sắm tài sản, nên sử dụng vốn chủ sở hữu hay vốn vay, nên dùng vốn ngắn hạn hay vốn dài hạn. Ngoài ra, quyết định tài trợ còn xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận để lại tái đầu tư và lợi nhuận được phân chia dưới hình thức cổ tức. Một khi sự lựa chọn giữa tài trợ bằng vốn vay hay bằng vốn của doanh nghiệp, tài trợ bằng vốn vay ngắn hạn hay vốn vay dài hạn, hoặc lựa chọn giữa lợi nhuận để lại và lợi nhuận phân chia đã được quyết định thì bước tiếp theo nhà quản trị còn phải quyết định làm thế nào để huy động được các nguồn tài trợ đó. Nên sử dụng lợi nhuận tích lũy hay nên kêu gọi thêm vốn từ cổ đông, nên vay ngân hàng hay nên huy động vốn bằng cách phát hành các công cụ nợ, nên phát hành trái phiếu hay thương phiếu,… Đó là những quyết định liên quan đến tài trợ trong hoạt động của doanh nghiệp. Quyết định chi trả cổ tức : Chính sách cổ tức ấn định mức lợi nhuận của công ty được đem ra phân phối như thế nào. Lợi nhuận sẽ được giữ lại để tái đầu tư cho công ty hay được chi trả cho các cổ đông. Lợi nhuận giữ lại là một nguồn quan trọng cho việc tài trợ vốn cổ phần cho khu vực tư nhân. Mặc dù việc phân chia giữa phát hành cổ phần mới và lợi nhậun giữ lại có xu hướng thay đổi theo thời gian, lợi nhuận giữ lại vẫn là nguồn vốn quan trọng hơn phát hành cổ phần mới. Một mặt, lợi nhuận giữ lại có thể được dùng để kích thích tăng trưởng lợi nhuận tương lai và do đó có thể ảnh hưởng đến giá trị cổ phần tương lai. Mặt khác, cổ tức cung cấp cho các cổ đông một lợi nhuận hữu hình thường xuyên. Có rất nhiều yếu tố kết hợp để ấn định chính sách cổ tức của một doanh nghiệp. 1.2 MỤC TIÊU CỦA QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH 1.2.1 Mục tiêu của công ty Để đánh giá quản trị tài chính có hiệu quả hay không chúng ta cần có chuẩn mực nhất định. Chuẩn mực để đánh giá hiệu quả quản trị tài chính ở đây chính là mục tiêu mà công ty đề ra. Dĩ nhiên công ty có rất nhiều mục tiêu được đề ra nhưng dưới giác độ quản trị tài chính mục tiêu của công ty là nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu. Tuy nhiên mục tiêu này không phải diễn ra trong chân không mà trong môi trường kinh doanh, do đó, nó phải được xem xét trong mối quan hệ với các vấn đề khác như quan hệ lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành công ty, giữa lợi ích công ty và lợi ích xã hội nói chung. 2
  3. Tạo ra giá trị: Đứng trên giác độ tạo ra giá trị, tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu chính của công ty. Mục tiêu này nhằm không ngừng gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu doanh nghiệp. Mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận được cụ thể và lượng hoá bằng các chỉ tiêu sau: + Tối đa hoá chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế (Earning after tax – EAT). Tuy nhiên nếu chỉ có mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận sau thuế chưa hẳn gia tăng được giá trị cho cổ đông. Chẳng hạn, giám đốc tài chính có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách phát hành cổ phiếu kêu gọi vốn rồi dùng số tiền huy động được để đầu tư vào trái phiếu kho bạc thu lợi nhuận. Trong tường hợp này, lợi nhuận vẫn gia tăng nhưng lợi nhuận trên vốn cổ phần giảm vì số lượng cổ phần phát hành tăng. Do đó chỉ tiêu tối đa hoá lợi nhuận cần được bổ sung bằng chỉ tiêu tối đa hoá lợi nhuận trên vốn cố phần. + Tối đa hoá lợi nhuận trên cổ phần (Earning per share – EPS). Các cổ đông thường uan tâm đến chỉ tiêu EPS hơn là chỉ tiêu tổng thu nhập của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này có thể bổ sung cho những hạn chế của chỉ tiêu tối đa hoá lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên chỉ tiêu này vẫn còn có những hạn chế của nó. (1) Tối đa hoá EPS không xét đến yếu tố thời giá tiền tệ và độ dài của lợi nhuận kỳ vọng, (2) tối đa hoá EPS cũng chưa xem xét đến yếu tố rủi ro, và cuối cùng tối đa hoá EPS không cho phép sử dụng chính sách cổ tức để tác động đến giá trị cổ phiếu trên thị trường. Bởi vì nếu chỉ vì mục tiêu tối đa hoá EPS có lẽ công ty sẽ không bao giờ trả cổ tức! + Vì những lý lẽ như đã phân tích trên đây, tối đa hoá thị giá cổ phiếu (market price per share) được xem như là mục tiêu thích hợp nhất của công ty vì nó chú ý kết hợp nhiều yếu tố như độ dài thời gian, rủi ro, chính sách cổ tức và những yếu tố khác có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Giám đốc là người điều hành công ty cần biết rõ mục tiêu của chủ sở hữu (cổ đông) là gia tăng giá trị tài sản của mình và điều này thể hiện qua giá cả cổ phiếu trên thị trường. Nếu cổ đông không hài lòng với hoạt động của công ty và giám đốc thì họ sẽ bán cổ phiếu và rút vốn đầu tư vào nơi khác. Điều này đòi hỏi giám đốc công ty phải tập trung vào việc tạo ra giá trị cho cổ đông nhằm làm cho cổ đông hài lòng vì thấy mục tiêu của họ được thực hiện. Vấn đề đại diện: Đặc điểm của công ty cổ phần là có sự tách rời giữa chủ sở hữu và người điều hành hoạt động công ty. Sự tách rời quyền sở hữu khỏi việc điều hành tạo ra tình huống khiến giám đốc hành xử vì lợi riêng của mình hơn là vì lợi ích cổ đông. Điều này làm phát sinh những mâu thuẩn lợi ích giữa chủ sở hữu và giám đốc điều hành công ty. Để khắc phục những mâu thuẩn này chủ công ty nên xem giám đốc như là người đại diện cho cổ đông và cần có sự khích lệ sao cho giám đốc nỗ lực điều hành công ty tốt hơn vì lợi ích của cổ đông cũng chính là lợi ích của giám đốc. Bên cạnh việc tạo ra cơ chế giám sát và kiểm soát cần có chế độ khuyến khích để giám đốc hành xử vì lợi ích của cổ đông. Chế độ khuyến khích bao gồm tiền lương và tiền thưởng thoả đáng, thưởng bằng quyền chọn mua cổ phiếu công ty, và những lợi ích khác mà giám đốc có thể thừa hưởng nếu hành xử vì lợi ích của cổ đông. Trách nhiệm đối với xã hội :Tối đa hoá giá trị tài sản cho cổ đông không có nghĩa là ban điều hành công ty lờ đi vấn đề trách nhiệm đối với xã hội chẳng hạn như bảo vệ người tiêu dùng, trả lương công bằng cho nhân viên, chú ý đến bảo đảm an toàn lao động, đào tạo và nâng cao trình độ của người lao động … và đặc biệt là ý thức bảo vệ môi trường. 3
  4. Chính trách nhiệm xã hội đòi hỏi ban quản lý không chỉ có chú trọng đến lợi ích của cổ đông (shareholders) mà còn chú trọng đến lợi ích của những người có liên quan khác (stakeholders). 1.2.2 Mục tiêu của quản trị tài chính Như vậy, mục tiêu của quản trị tài chính trong doanh nghiệp là gì? Mục tiêu quan trọng nhất để thành công trong việc quản trị tài chính của một doanh nghiệp là phải làm gia tăng được giá trị của doanh nghiệp trên thị trường. Có thể hình dung như lời khuyên chung chung của các nhà đầu tư chứng khoán là phải làm thế nào để có thể “phải mua với thấp và bán với giá cao”. Hình 1.1 : Mô hình quản trị tài chính Quản trị tài chính Sử dụng Để ra Giám đốc tài chính Các nguồn lực Với - Vốn Các quyết định: - Lao động Mục tiêu cụ thể - Đầu tư - Nguyên vật liệu - Lợi nhuận - Tài trợ - Công nghệ - Thanh khoản - Phân phối lợi - Thông tin nhuận Tối đa hóa lợi nhuận cho chủ sở hữu Đạt mục tiêu sau cùng 1.3 GIÁM ĐỐC TÀI CHÍNH (CFO- Chief Financial Officer) Thuật ngữ Giám đốc tài chính để chỉ những người có trách nhiệm đưa ra những quyệt định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định chính sách cổ tức. Chỉ có những công ty nhỏ mới sử dụng duy nhất một cá nhân để thực hiện tất cả những quyết định trên, còn hấu hết những công ty khác, đặc biệt là các công ty đa quốc gia, trách nhiệm này được phân bổ và cùng thực hiện bởi nhiều người. 4
  5. Hình 1.2 : Vai trò của giám đốc tài chính HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TỔNG GIÁM ĐỐC Giám đốc tài chính Giám đốc vốn Kế toán trưởng (Treasurer) (chief accountant) Bộ phận quản Bộ phận quản Bộ phận quản Bộ phận kế trị tín dụng trị tiền mặt lý thuế toán chi phí Bộ phận chi Bộ phận lập Bộ phận kế Bộ phận quản lý tiêu vốn * kế hoạch tài toán tài chính hệ thống dữ chính liệu Note : Chi tiêu vốn ở đây liên quan đến việc đầu tư dài hạn, dễ tạo nhầm lẫn với việc thu chi tiền. Đối với các công ty nhỏ thì không có sự phân chia rõ ràng giữa các chức danh, hầu như do một người chịu trách nhiệm tất cả công việc. Đối với các công ty lớn đều bổ nhiệm chức danh Giám đốc tài chính để điều hành trực tiếp cả hai vị trí giám đốc vốn và Kế toán trưởng. Bạn có thể nhận thấy rằng giám đốc vốn và kế toán trưởng có những chức năng khác biệt nhau hoàn toàn : Giám đốc vốn có trách nhiệm chính là làm sao huy động và quản lý được các nguồn tài trợ của doanh nghiệp sao cho luôn đối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Trong khi đó kế toán trưởng có trách nhiệm đảm bảo rằng tiền luôn được sử dụng một cách hiệu quả và tuân thủ các quy định của luật pháp như lập các báo cáo tài chính theo quy định, quản lý hệ thống kế toán nội bộ công ty, theo dõi các khoản thuế phải nộp … Giám đốc tài chính có trách nhiệm chính trong việc hoạch định các chính sách tài chính và các kế hoạch tài chính phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp. Ngày nay vai trò của các CFO ở các công ty lớn càng trở nên quan trọng đến mức độ quyết định của họ có thể tác động đến thị trường tài chính nước đó và thế giới. Chẳng hạn như những rúng động trên thị trường tài chính Mỹ vào những năm 2001, 2002 qua sự kiện phá sản lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ từ các công ty lớn như Enron, Worldcom…mà một trong những nguyên nhân chính là cách thức điều hành và quản trị của CFO đã vi phạm những chuẩn mực trong nguyên tắc nghề nghiệp cũng như những chuẩn mực đạo đức. 5
  6. 1.4 CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo tổng hợp từ các số liệu kế toán của công ty theo những mẫu biểu đã được qui định, nó phản ảnh tính hình sử dụng vốn, nguồn vốn; kết quả kinh doanh của công ty trong kỳ báo cáo. Hệ thống báo cáo tài chính công ty bao gồm 3 bảng báo cáo chính : - Bảng cân đối kế toán - Báo cáo kết quả kinh doanh - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mục đích của việc phân tích báo cáo tài chính nhằm đánh giá mức độ rủi ro cũng như kết quả về mặt tài chính thông qua các hệ số và các tỉ suất sinh lời của vốn. Những người phân tích báo cáo tài chính có thể là bản thân công ty hoặc những người bên ngoài công ty như ngân hàng, các công ty tài chính, công ty chứng khoán, các nhà cung cấp… những người đã hoặc đang xem xét có nên cho công ty vay hoặc mua cổ phiếu của công ty hay không Đối với bản thân công ty, việc phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp cho các nhà quản trị tài chính công ty đánh giá được tình hình tài chính của công ty một cách hệ thống đầy đủ, trên cơ sở đó có thể đưa ra những hoạch định phù hợp nhằm duy trì hoặc cải thiện tình hình tài chính công ty ngày càng tốt hơn. Tùy theo mối quan hệ của các đối tác đối với công ty mà các tổ chức bên ngoài công ty sẽ quan tâm đến các khía cạnh khác nhau về tài chính của công ty. Chẳng hạn như các chủ nợ ngắn hạn thường quan tâm đến khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty thông qua các đảm bảo về tài sản lưu động và ngân lưu ròng mang lại từ hoạt động kinh doanh. Trong khi đó các chủ nợ dài hạn và các nhà đầu tư lại quan tâm đến khả năng sinh lời trong dài hạn và rủi ro trong hoạt động cũng như trong cơ cấu tài chính của công ty. 1.4.1 Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán của một công ty phản ánh bức tranh về tất cả các nguồn ngân quỹ nội bộ (được gọi là nợ và vốn của chủ sở hữu) và việc sử dụng các nguồn ngân quỹ đó tại một thời điểm nhất định. Phương trình cơ bản xác định bảng cân đối kế toán được trình bày như sau: Tổng tài sản = tổng nợ + vốn chủ sở hữu (vốn cố phần) Bảng 1.1 : Bảng cân đối kế toán công ty X đến ngày 31- 12 – 2006 ( Đvt:triệu $) Tài sản 2006 2005 1.Vồn bằng tiền 2.540 2.081 2. Chứng khoán thị trường 1.800 1.625 3. Các khoản phải thu 18.320 16.850 4. Hàng tồn kho 27.530 26.470 TÀI SẢN LƯU ĐỘNG 50.190 47.026 5. Tài sản cố định 31.700 30.000 TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 31.700 30.000 6. TỔNG TÀI SẢN 81.890 77.026 6
  7. Nguồn vốn 7. Các khoản phải trả 9.721 8.340 8. Vay ngắn hạn ngân hàng 8.500 5.635 9. Nợ dài hạn đến hạn trả 2.000 2.000 10.Nợ ngắn hạn khác 5.302 4.900 NỢ NGẮN HẠN 25.523 20.875 11. Nợ dài hạn 22.000 24.000 TỔNG NỢ 47.523 44.875 12. Vốn cổ phần 34.367 32.151 TỔNG NGUỒN VỐN 81.890 77.026 • Bảng cân đối kế toán cho biết thực trạng tài chính của doanh nghiệp vào một thời điểm nhất định, bao gồm các nguồn vốn và các loại tài sản của doanh nghiệp. • Bảng cân đối kế toán thường được lập vào ngày đầu hoạc ngày cuối của tháng – quý – năm. + Tài sản (phần bên trái bảng cân đối kế toán) : phản ánh giá trị toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo. Các khoản mục trong bảng cân đối kế toán được sắp xếp theo thứ tự tính thanh khoản giảm dần. Ví dụ, bạn có thể thấy rằng kế toán viên liệt kê đầu tiên là những tài sản hầu như có thể chuyển thành tiền mặt trong một tương lai gần. Chúng bao gồm: tiền mặt, các chứng khoán thị trường, các khoản phải thu, nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm. Những tài sản này gọi là tài sản lưu động. Tài sản còn lại trên bảng cân đối kế toán gồm các tài sản dài hạn thường ít có tính thanh khoản như văn phòng, nhà kho, thiết bị.v.v. Bảng cân đối kế toán không cập nhật giá thị trường của các tài sản dài hạn này. Thay vào đó, kết toán viên ghi chép giá trị nguyên thuỷ và sau đó, khấu trừ hàng năm một giá trị cố định gọi là khấu hao. Bảng cân đối kế toán không bao gồm hết tất cả tài sản của công ty. Một vài tài sản có giá trị nhất lại là tài sản vô hình như bản quyền, danh tiếng, kỹ năng quản lý và lực lượng lao động lành nghề thường không được phản ánh trong bảng cân đối kế toán. Các kế toán viên thường cân nhắc khi ghi các tài sản này vào bảng cân đối kế toán trừ khi chúng được xác định và đánh giá. Về mặt kinh tế, số liệu bên phần tài sản phản ánh quy mô và kết cấucác loại tài sản đang tồn tại dưới hình thái vật chất cụ thể là ; Tài sản lưu động bao gồm : tiền mặt, đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu và tồn kho. Tài sản cố định bao gồm : TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê dài hạn, đầu tư dài hạn, chi phí xây dựng cơ bản dở dang, ký cược, ký quỹ dài hạn. 7
  8. Về mặt pháp lý, số liệu bên phần tài sản thể hiện số tài sản đang thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp. + Nguồn vốn (phần bên phải bảng cân đối kế toán) : phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo. Phần bên phải của bảng cân đối kế toán cho thấy nguồn tiền nào dùng để mua tài sản. Trước tiên đó là những khoản nợ gồm nợ phải trả trong năm gọi là nợ ngắn hạn. Chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn gọi là vốn luân chuyển ròng. Tiếp theo là các khoản nợ dài hạn của công ty do phát hành trái phiếu hay vay trực tiếp ở ngân hàng. Phần còn lại là vốn cổ phần. Vốn cổ phần của công ty đơn giản chỉ là tổng giá trị của vốn luân chuyển ròng và tài sản cố định trừ cho nợ dài hạn. Một phần của vốn cổ phần có được là do bán cổ phần cho các nhà đầu tư, phần còn lại là từ lợi nhuận giữ lại nhân danh các cổ đông để tái đầu tư vào công ty. Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể sử dụng các khoản phải trả để làm nguồn vốn hoạt động của mình (chiếm dụng vốn) như : phải trả nhà cung cấp, lương nhân viên, nợ thuế phải nộp, tiền khách hàng ứng trước… - Sau mỗi kỳ kế toán (thường là một năm), doanh nghiệp trích một phần lợi nhuận để lập các quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng – phúc lợi…. Các quỹ này cũng tạo nên nguồn vốn hoạt động cho doanh nghiệp. Về mặt kinh tế, căn cứ vào các chỉ tiêu bên phần nguồn vốn có thể đánh giá khái quát khả năng, mức độ tự chủ về tài chính của doanh nghiệp và thời hạn tài trợ của các nguồn vốn. Về mặt pháp lý, số liệu bên phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu, đối với ngân hàng, đối với khách hàng và các đối tượng khác. Ở cả hai bên tài sản và nguồn vốn của bảng cân đối kế toán đều bao gồm các cột chỉ tiêu : số đầu năm, số cuối kỳ. 1.4.2 Bảng kết quả sản xuất kinh doanh Trong khi bảng cân đối kế toán phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, thì bảng kết quả hoạt động kinh doanh được các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn vì nó cho biết hiệu quả sản xuất kinh doanh trong một kỳ, một giai đoạn nhất định, thường là một năm. Nó có thể được sử dụng như một bản hướng dẫn để dự đoán phần nào tương lai của doanh nghiệp. Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả từ hoạt động kinh doanh là kết quả có được từ những hoạt động chính, thường xuyên của doanh nghiệp như mua bán, sản xuất, gia công…. Kết quả từ hoạt động tài chính bao gồm các khoản như lãi vay phải trả, lãi phát sinh được hưởng, tiền lời do bán chứng khoán, tiền phạt khách hàng do trả quá hạn… Kết quả từ hoạt động bất thường có được từ những hoạt động không thường xuyên, khôngnằm trong dự tính của doanh nghiệp như sự giảm giá hàng tồn kho, khách hàng quỵt nợ, các khoản thu tưởng chừng đã mất… Bảng 1.2: Báo cáo thu nhập của công ty X đến ngày 31-12-2006.( Đvt:triệu$) Khoản mục 2004 8
  9. 13. Doanh thu thuần 112.760 14. Giá vốn bán hàng 85.300 15. Lãi gộp 27.460 16. Chi phí hoạt động Chi phí bán hàng 6.540 Chi phí quản lý (trong đó khấu hao 520) 9.400 17. Toàn bộ chi phí hoạt động 15.940 18. Lãi trước thuế và lãi vay (EBIT) 11.520 19. Lãi vay 3.160 20. Lãi trước thuế 8.360 21. Thuế thu nhập doanh nghiệp(40%) 3.344 22. Lãi ròng 5.016 23. Cổ tức cổ phần ưu đãi 2.800 24. Thu nhập cổ phần thường 2.216 25. Lợi nhuận giữ lại (60%) 1.329,6 26. Số lượng cổ phần thường (ngàn cổ phần) 1.300 27.Giá thị trường mỗi cổ phần $ 20 28. Giá sổ sách mỗi cổ phần ($) 26,44 29. Thu nhập mỗi cổ phần (EPS) ($) 1,705 30. Cổ tức mỗi cổ phần ($) 0,681 1.4.3 Bảng lưu chuyển tiền tệ Bảng lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Dựa vào lưu chuyển tiền tệ, người phân tích có thể đánh giá được khả năng tạo ra tiền, sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp và dự đoán luồng tiền trong kỳ tiếp theo. Nội dung của bảng lưu chuyển tiền tệ bao gồm 3 phần : i) Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh : phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như : tiền thu bán hàng, tiền thu từ các khảon phải thu thương mại, các khoản chi phí bằng tiền như : chi phí trả lương cho người lao động, chi phí kinh doanh và một số chi phí khác,… ii) Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư : phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Bao gồm đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho bản thân doanh nghiệp : xây dựng cơ bản, mua sắm TSCĐ… và đầu tư cho đơn vị khác như : góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán, cho vay không phân biết đầu tư dài hạn hay ngắn hạn. Dòng tiền lưu chuyển được tính bao gồm toàn bộ các khoản thu do bán, thanh lý TSCĐ, thu hồi các khoản đầu tư vào đơn vị khác… và các khảon chi mua sắm, xây dựng TSCĐ, chi đầu tư vào các đơn vị khác… iii) Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính : phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính bao gồm các nghiệp vụ làm tăng giảm vốn kinh doanh của doanh nghiệp như : 9
  10. chủ doanh nghiệp góp vốn, vay vốn, nhận vốn liên doanh, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, trả nợ vay… Dòng tiền lưu chuyển được tính bao gồm toàn bộ các khỏan thu chi liên quan như tiền vay nhận được, tiền thu nhận được do nhận góp vốn kinh doanh bằng tiền mặt, do phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tiền chi trả lãi cho các bên góp vốn, trả lãi cổ phiếu, trái phiếu, thu lãi tiền gửi… Để phân tích tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tích cần thiết phải đọc được các báo cáo tài chính để thấy được những trọng tâm của các tỷ số tài chính và trọng điểm phân tích của mình. Đọc báo cáo tài chính đòi hỏi phải hiểu chi tiết và rõ ràng từng khoản, từng mục trong các báo cáo. Bảng 1.3 : Bảng lưu chuyển tiền tệ (Theo phương pháp trực tiếp) Chỉ tiêu Số tiền I. LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HOẠT ĐỘNG SXKD 1. Tiền thu bán hàng 2. Tiền thu từ các khoản phải thu 3. Tiền thu từ các khoản khác 4. Tiền thu trả cho người bán 5. Tiền đã trả cho công nhân viên 6. Tiền đã nộp thuế và các khoản khác cho NN 7. Tiền đã trả cho các khoản phải trả khác 8. Tiền đã trả cho các khoản khác Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động SXKD II. LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HĐ ĐẦU TƯ 1. Tiền thu hồi các khoản ĐT vào đơn vị khác 2. Tiền thu từ lãi các khoản ĐT vào đơn vị khác 3. Tiền thu do bán tài sản cố định 4. Tiền đầu tư vào các đơn vị khác 5. Tiền mua tài sản cố định Lưu chuyển tiền thuần từ HĐ đầu tư III. LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HĐ TÀI CHÍNH 1. Tiền thu do đi vay 2. Tiền thu do các chủ sở hữu góp vốn 3. Tiền thu từ lãi tiền gởi 4. Tiền đã trả nợ vay 5. Tiền đã hoàn vốn cho các chủ sở hữu 6. Tiền lãi đã trả cho các nhà đầu tư vào DN Lưu chuyển tiền thuần từ HĐ tài chính Lưu chuyển tiền thuần từ HĐ trong kỳ Tiền tồn đầu kỳ Tiền tồn cuối kỳ 10
  11. 1.5 PHÂN TÍCH CÁC TỶ SỐ TÀI CHÍNH Các giám đốc tài chính thông minh xem xét tác động tổng thể của quyết định tài chính, quyết định đầu tư và đóan chắc rằng họ có các chiến lược tài chính thích hợp để hỗ trợ cho kế hoạch tăng trưởng tương lai của công ty. Hiểu quá khứ là bước mở đầu cần thiết để dự tính cho tương lai. Vì thế, chúng ta bắt đầu bằng việc xem xét tóm tắt các báo cáo tài chính của công ty và xem bạn có thể sử dụng số liệu tài chính để phân tích toàn bộ thành quả và đánh giá tình hình tài chính hiện hành của công ty như thế nào. Ví dụ bạn có thể cần biết liệu các thành quả tài chính của riêng công ty có nằm trong phạm vi chuẩn hay không; hoặc bạn có thể muốn các chính sách của những nhà cạnh tranh hoặc muốn kiểm tra sức khoẻ tài chính của một khách hàng. Các nhà phân tích tài chính tính toán một vài chỉ số tài chính chủ yếu để đo lường thành quả của công ty. Các chỉ số tài chính này không thể thay thế cho quả cầu pha lê nhưng chúng có thể giúp bạn đưa ra những câu hỏi đúng. Giả dụ, giám đốc tài chính có thể dự kiến một vài câu hỏi về chỉ số nợ của công ty và phần lợi nhuận giảm do lãi vay. Tương tự, các chỉ số tài chính có thể cảnh giác giám đốc về các lĩnh vực khó khăn tiềm ẩn. Nếu một chi nhánh có tỷ suất sinh lợi trên vốn thấp bạn có thể đoán chắc rằng giám đốc sẽ yêu cầu chi nhánh này phải giải thích. Các công ty đang tăng trưởng cần đầu tư vào vốn luân chuyển, nhà xưởng và thiết bị, đầu tư cho phát triển sản phẩm,v.v. tất cả đều cần tiền mặt. Vì thế, chúng ta sẽ giải thích làm thế nào các công ty sử dụng các mô hình kế hoạch tài chính để giúp họ hiểu những tiềm ẩn tài chính trong các kế hoạch kinh doanh và để khảo sát các kết quả của chiến lược tài chính. Các loại tỷ số quan trọng nhất là : • Tỷ số thanh toán đo lường khả năng thanh toán của công ty • Tỷ số hoạt động đo lường mức độ hoạt động liên quan đến tài sản của công ty • Tỷ số đòn bẩy cho thấy việc sử dụng nợ của công ty có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động kinh doanh • Tỷ số sinh lợi biểu hiện khả năng tạo lãi của tài sản và vốn chủ sở hữu. • Tỷ số giá trị thị trường cho thấy các công ty được các nhà đầu tư đánh giá như thế nào. Chúng ta sẽ phân tích các tỷ số dựa trên các số liệu từ bảng cân đối và bảng báo cáo thu nhập của công ty X để tính toán. 1.5.1 Tỷ số thanh toán – Liquidity Ratios Tỷ số thanh toán hiện hành – Current ratio: Một trong những thước đo khả năng thanh toán của một công ty được sử dụng rộng rãi nhất là khả năng thanh toán hiện hành. Tài sản lưu động Tỷ số thanh toán hiện hành Rc = ` Nợ ngắn hạn 11
  12. Tài sản lưu động bao gồm các khoản vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn (bao gồm chứng khoán thị trường), các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản lưu động khác. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm: vay ngắn hạn, vay dài hạn đến hạn trả và các khoản phải trả khác. Tỷ số Rc cho thấy công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thanh tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Tỷ số này đo lường khả năng trả nợ của công ty. Tỷ số thanh toán hiện hành của công ty X năm 2006 là : Rc= (1) + (2) + (3) + (4) = 50.190 = 1.97 (7) + (8) + (9) + (10) 25.523 Rc = 1,97 cho thấy năm 2006 công ty X có 1,97$ tài sản lưu động đảm bảo cho 1$ nợ đến hạn trả. Tỷ số này được chấp nhận hay không tùy thuộc và so sánh với tỷ số thanh toán của các công ty cạnh tranh hoặc so sánh với các năm trước để thấy sự tiến bộ hoặc giảm sút. Nếu tỷ số thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra. Nếu tỷ số thanh toán hiện hành cao điều đó có nghĩa là công ty luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên, nếu tỷ số thanh toán hiện hành quá cao sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động vì công ty đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động hay nói cách khác việc quản lý tài sản lưu động không hiệu quả (ví dụ: có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi, nợ phải đòi, hàng tồn kho ứ đọng). Một công ty nếu dự trữ nhiều hàng tồn kho thì sẽ có tỷ số thanh toán hiện hành cao, mà ta đã biết hàng tồn kho là tài sản khó hoán chuyển thành tiền, nhất là hang tồn kho ứ đọng, kém phẩm chất. Vì thế, trong nhiều trường hợp, tỷ số thanh toán hiện hành không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của công ty. Tỷ số thanh toán nhanh – Quick ratio: Tỷ số thanh toán nhanh được tính toán dựa trên những tài sản lưu động có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, đôi khi chúng gọi là “Tài sản có tính thanh khoản”, “tài sản có tính thanh khoản” bao gồm tất cả tài sản lưu động trừ hàng tồn kho. Tài sản lưu động – hàng tồn kho Tỷ số thanh toán nhanh Rq = Nợ ngắn hạn Tỷ số này cho thấy khả năng thanh toán thực sự của một công ty. Tỷ số thanh toán nhanh của công ty X năm 2006: Rq = (1) + (2) + (3) = 22.660 = 0.89 (7) + (8) + (9) + (10) 25.523 Điều này cho thấy rằng năm 2006 công ty X có 89% tài sản có tính thanh khoản cho mỗi $ nợ đến hạn. Tỷ số thanh toán nhanh 0,89 cho biết rằng nếu hàng tồn kho của công ty X ứ đọng, không đáng giá thì công ty X sẽ lâm vào khó khăn tài chính gọi là “không có khả năng chi trả”.”Không có khả năng chi trả” xảy ra khi một công ty không đủ tiền để trả các khoản nợ khi chúng đến hạn. 12
  13. Tỷ số hoạt động – Activity Ratios Các tỷ số hoạt động đo lường hoạt động kinh doanh của một công ty. Để nâng cao tỷ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết là những tài sản chưa dùng hoặc không dùng không tạo ra thu nhập ví thế công ty cần phải biết cách sử dụng chúng có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi. Tỷ số hoạt động đôi khi còn gọi là tỷ số hiệu quả hoặc tỷ số luân chuyển. Số vòng quay các khoản phải thu – Accounts receivable turnover ratio : Các khoản phải thu là những hóa đơn bán hàng chưa thu tiền về do công ty thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa thanh toán, khoản trả trước cho người bán… Số vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việc thanh toán các khoản phải thu v.v. Khi khách hàng thanh toán tất cả các hóa đơn của họ, lúc đó các khoản phải thu quay được một vòng. Doanh thu thuần Vòng quay các khoản phải thu = Các khoản phải thu Số vòng quay các khoản phải thu của công ty X = (13) = 112.760 = 6,155 lần (3) 18.320 Tỷ số trên cho thấy trong năm 2006 các khoản phải thu luân chuyển 6,155 lần. Điều này có 360 nghĩa là bình quân khoản = 58,49 ngày công ty mới thu hồi được nợ. Tỷ số này có thể 6,155 được thể hiện ở dạng khác đó là tỷ số kỳ thu tiền bình quân (average collection period). Các khoản phải thu Kỳ thu tiền bình quân = Doanh thu bình quân ngày Số vòng quay các khoản phải thu hoặc kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịu của công ty. Nếu số vòng quay thấp thì hiệu quả sử dụng vốn kém do vốn bị chiếm dụng nhiều. Nhưng nếu số vòng quay các khoản phải thu cao quá thì sẽ giảm sức cạnh tranh dẫn đến giảm doanh thu. Khi phân tích tỷ số này, ngoài việc so sánh giữa các năm, so sánh với các công ty cùng ngành, công ty cần xem xét kỹ lưỡng từng khoản phải thu để phát hiện những khoản nợ đã quá hạn trả và có biện pháp xử lý. Số vòng quay hàng tồn kho – Inventory turnover ratio : Số vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn đánh giá công ty sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào. Doanh thu thuần Vòng quay hàng tồn kho = Hàng tồn kho 13
  14. Số vòng quay hàng tồn kho của công ty X = (13) = 112.760 = 4,09 lần (4) 27.530 Tính toán trên cho thấy rằng trong năm 2006 hàng tồn kho của công ty X luân chuyển 4,09 vòng có nghĩa là khoảng 88 ngày một vòng. Số vòng luân chuyển hàng tồn kho cao hay thấp tùy thuộc vào đặc điểm ngành kinh doanh. Nếu công ty X là nhà máy sản xuất rượu vang với số vòng luân chuyển hàng tồn kho 4,09 vòng/năm cho thấy công ty đã sản xuất sản phẩm quá nhanh đến nỗi rượu chưa thích hợp để uống. Ngược lại, nếu công ty X kinh doanh rau quả tươi với hàng hóa khoảng 88 ngày quay vòng một lần thì có lẽ là hàng hóa chưa kịp bán đã bị hư hỏng. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định – Sales-to-Fixed assets ratio: Tỷ số này nói lên 1$ tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu $ doanh thu. Qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định ở công ty. Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Tài sản cố định Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của công ty X = (13) = 112.760 =3,55 (5) 31.700 Tỷ số trên cho thấy tại công ty X 1$ tài sản cố định đã tạo ra được 3,55$ doanh thu. Muốn đánh giá việc sử dụng tài sản cố định có hiệu quả không phải so sánh với các công ty khác cùng ngành hoặc so sánh với các thời kỳ trước. Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản – Sales-to-total assets ratio: Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản đo lường 1$ tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu $ doanh thu. Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản = Toàn bộ tài sản Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản công ty X năm 2006 = (13) = 112.760 = 1,377 lần (6) 81.890 Điều này có nghĩa là, tại công ty X trong năm 2006 1$ tài sản đã tạo ra được 1,377$ doanh thu. Nếu chỉ số này cao cho thấy công ty đang hoạt động gần hết công suất và rất khó để mở rộng hoạt động nếu không đầu tư thêm vốn. Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần – Sales-to-equity ratio: Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần là chỉ tiêu rất hữu ích trong việc phân tích khía cạnh tài chính của công ty mà sẽ được đề cập kỹ hơn ở phần sau. Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần đo lường mối quan hệ giữa doanh thu và vốn cổ phần. Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần = Vốn cổ phần Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần của công ty X năm 2006 = (13) = 112.760 = 3,28 lần 14
  15. (12) 34.367 Việc tính toán trên cho thấy rằng công ty X có doanh thu 3,28 lần lớn hơn vốn cổ phần trong năm 2006. Lý do mà hiệu suất sử dụng vốn cổ phần của công ty lớn hơn tổng tài sản của công ty vì công ty đã sử dụng đòn bẩy tài chính từ việc tài trợ bằng vốn vay. Doanh thu thuần Doanh thu thuần Tổng tài sản Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần = = x Vốn cổ phần Tổng tài sản Vốn cổ phần = Hiệu suất sử dụng tổng tài sản x Bội số tài sản so vốn cổ phần = 1,37 x 81.890 = 3,28 34.367 Tỷ số đòn bẩy tài chính – Financial leverage ratio Tỷ số đòn bẩy tài chính đánh giá mức độ mà một công ty tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình bằng vốn vay. Khi một công ty vay tiền, công ty luôn phải thực hiện một chuổi thanh toán cố định. Vì các cổ đông chỉ nhận được những gì còn lại sau khi chi trả cho chủ nợ, nợ vay được xem như là tạo ra đòn bẩy. Trong thời kỳ khó khăn, các công ty có đòn bẩy tài chính cao có khả năng không trả được nợ. Vì thế khi công ty muốn vay tiền, ngân hàng sẽ đánh giá xem công ty có vay quá nhiều hay không? Ngân hàng cũng xét xem công ty có duy trì nợ vay của mình trong hạn mức cho phép không? Các nhà cung cấp tín dụng căn cứ vào tỷ số đòn bẩy tài chính để ấn định mức lãi suất cho vay đối với công ty (vì công ty càng có nhiều nợ vay, rủi ro về mặt tài chính càng lớn). Ở các nước phát triển, người ta đánh giá được độ rủi ro này và tính vào lãi suất cho vay. Điều đó có nghĩa là công ty càng vay nhiều thì lãi suất càng cao. Đối với công ty, tỷ số đòn bẩy tài chính giúp nhà quản trị tài chính lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý nhất cho công ty. Qua tỷ số đòn bẩy tài chính nhà đầu tư thấy được rủi ro về tài chính của công ty từ đó dẫn đến quyết định đầu tư của mình. Các tỷ số đòn bẩy thông thường là: Tỷ số nợ trên tài sản – Debt ratio: Tỷ số này cho thấy bao nhiêu phần trăm tài sản của công ty được tài trợ bằng vốn vay. Tổng nợ Tỷ số nợ = Tổng tài sản Tổng nợ: bao gồm toàn bộ khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tại thời điểm lập báo cáo tài chính gồm: các khoản phải trả, vay ngắn hạn, nợ dài hạn do đi vay hay phát hành trái phiếu dài hạn. Tổng tài sản: toàn bộ tài sản của công ty tại thời điểm lập báo cáo. Tổng số nợ trên tài sản của công ty X năm 2006 là : (7) + (8) + (9) + (10) + (11) = 47.523 = 0,5803 ≈ 58,03% (6) 81.890 Điều này cho thấy 58,03% tài sản của công ty X được tài trợ bởi vốn vay. 15
  16. Lưu ý rằng tỷ số này sử dụng giá sổ sách chứ không phải giá thị trường. Giá thị trường của công ty cuối cùng xác định các chủ nợ có thu hồi được tiền của họ không? Vì thế, các nhà phân tích phải xem mệnh giá của các khoản nợ như một phần của tổng giá thị trường của nợ và vốn cổ phần. Lý do chính để các kế toán viên làm như thế - như đã đề cập ở phần đầu chương này – là bởi vì giá thị trường không có sẵn. Có phải như thế hay không? Có lẽ là không. Giá thị trường bao gồm giá trị tài sản cố định vô hình thể hiện trong chi phí nghiên cứu và phát triển, quảng cáo,v.v. Những tài sản này thường không sẵn sàng để bán và nếu công ty rơi vào tình cảnh khó khăn về tài chính thì tất cả giá trị này sẽ biến mất. Có thể vì một vài lý do nào đó việc các kế toán viên bỏ qua tài sản cố định vô hình lại tốt cho công ty như khi người ta cho vay yêu cầu người đi vay không được phép dùng tỷ số nợ theo sổ sách để tăng các hạn mức vay. Tỷ số nợ trên vốn cổ phần – Debt-to-equity ratio: Tổng nợ Tỷ số nợ trên vốn cổ phần = Vốn cổ phần Tỷ số nợ trên vốn cổ phần của công ty X năm 2006 : = (7)+ (8) + (9) + (10) + (11) = 47.523 = 1,383 ≈ 138,3% (12) 34.367 Tính toán trên cho thấy rằng trong năm 2004 các nhà cho vay đã tài trợ nhiều hơn vốn cổ phần 38,3%. Điều này dường như công ty đã sử dụng một lượng vốn vay đáng kể. Tuy nhiên, hầu hết các khoản vốn vay này lại là tín dụng thương mại phi lãi suất và những khoản phải trả ngắn hạn. Vì vậy để thấy được mức độ tài trợ bằng vốn vay một cách thường xuyên (qua đó thấy được rủi ro về mặt tài chính mà công ty phải chịu), người ta dùng tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần). Nợ dài hạn Tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần = Vốn cổ phần Ở công ty X tỷ số này là = (11) = 22.000 = 0,6401 ≈ 64,01% (12) 34.367 Vì tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần có giá trị nhỏ hơn tỷ số nợ trên vốn cổ phần điều này có nghĩa là phần lớn nợ của công ty X là nợ ngắn hạn. Mặc dù vậy những người cho vay dài hạn đã cung cấp cho công ty X 64,01% ngân quỹ so với cổ đông. Tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần – Equity multiplier ratio: Một tỷ số khác cũng được sử dụng đến để tính toán mức độ đi vay (rủi ro về tài chính) mà công ty đang gánh chịu đó là tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần. Toàn bộ tài sản Tổng tài sản trên vốn cổ phần = Vốn cổ phần Ở công ty X tỷ số này là = (6) = 81.890 = 2,3828 ≈ 238,28% (12) 34.367 16
  17. Tỷ số này cho thấy trong năm 2006 công ty đã có được tổng tài sản gấp 2,383 lần so với vốn cổ phần. Điều này cũng cho thấy tình hình vay nợ của công ty. Lãi vay từ những khoản nợ dài hạn như vậy sẽ làm gia tăng những rủi ro về tài chính nếu lợi nhuận của công ty làm ra không đủ trả lãi vay. Khả năng thanh toán lãi vay – Times interest earned ratio: Lãi vay hàng năm là chi phí tài chính cố định và chúng ta muốn biết công ty sẵn sàng trả lãi đến mức nào. Cụ thể hơn chúng ta muốn biết rằng liệu số vốn đi vay có thể sử dụng tốt đến mức nào, có thể đem lại khoản lợi nhuận bao nhiêu và đủ bù đắp lãi vay hay không. Tỷ số này dùng để đo mức độ mà lợi nhuận phát sinh do sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi vay hàng năm như thế nào. Nếu công ty quá yếu về mặt này,các chủ nợ có thể đi đến kiện tụng và tuyên bố phá sản. Lãi trước thuế và lãi vay Khả năng thanh toán lãi vay = Lãi vay Trong công thức trên, phần tử số phản ánh số tiền mà công ty có thể được sử dụng để trả lãi vay trong năm. Ở đây phải lấy tổng số lợi nhuận trước thuế và lãi vay vì lãi vay được tính vào chi phí trước khi tính thuế thu nhập. Phần mẫu số là lãi vay, bao gồm tiền lãi trả cho các khoản vay ngắn và dài hạn kể cả lãi do phát hành trái phiếu. 11.520 Khả năng thanh toán lãi vay ở công ty X vào năm 2006 = = 3,645 lần 3.160 Tỷ số sinh lợi – Profitability ratios Tỷ số sinh lợi đo lường thu nhập của công ty với các nhân tố khác tạo ra lợi nhuận như doanh thu,tổng tài sản, vốn cổ phần. Loại chỉ số này bao gồm các chỉ tiêu sau: Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu – Net profit margin ratio: Chỉ tiêu này nói lên 1$ doanh thu tạo ra được bao nhiêu $ lợi nhuận. Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu = Doanh thu thuần Chỉ tiêu này ở công ty X = ( 22) = 5.016 = 0,0445 = 4,45% ( 13) 112 .760 Ở công ty X có được 100$ doanh thu mới tạo ra được 4,45$ lãi ròng. Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản – Return on total assets ratio (ROA): Chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lợi trên 1$ vốn đầu tư vào công ty. Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản = x 100 Toàn bộ tài sản Công ty X có tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản năm 2006: = (22) = 5.016 = 0.0612 = 6.12% (6) 81 890 17
  18. Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần – Return on equity ratio (ROE): Đây là chỉ tiêu nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho thấy khả năng tạo lãi của 1$ vốn họ bỏ ra để đầu tư vào công ty. Lợi nhuận ròng Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần = x 100 Vốn cổ phần Công ty X có tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần = (22) = 5.016 = 0,1459 = 14,59% (12) 34.367 Sự khác nhau giữa tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần là do công ty có sử dụng vốn vay. Nếu công ty không có vốn vay thì hai tỷ số này sẽ bằng nhau. Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản của công ty X là 6,12% trong khi tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần là 14,59% điều này cho thấy công ty đã sử dụng vốn vay có hiệu quả nên đã khuếch đại được tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần cao hơn tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản. Tỷ số giá thị trường – Market – value ratio Các nhà đầu tư cổ phần đặc biệt quan tâm đến vài giá trị mà có ảnh hưởng mạnh đến giá thị trường của cổ phần như: Thu nhập mỗi cổ phần – Earning per share (EPS): Thu nhập mỗi cổ phần là yếu tố quan trọng nhất, quyết định giá trị của cổ phần bởi vì nó đo lường sức thu nhập chứa đựng trong một cổ phần hay nói cách khác nó thể hiện thu nhập mà nhà đầu tư có được do mua cổ phần. Thu nhập ròng của cổ đông thường Thu nhập mỗi cổ phần = Số lượng cổ phần thường Thu nhập ròng của cổ đông thường được tính bằng cách lấy lãi ròng trừ đi tiền lãi của cổ phần ưu đãi. 2.216 Ví dụ ở công ty X, thu nhập mỗi cổ phần = =1,705$ 1.300 Tính toán trên cho thấy trong năm 2006 công ty X sẽ mang lại thu nhập cho một cổ phần là 1,705$. Tỷ lệ chi trả cổ tức – Payout ratio: Cổ tức mỗi cổ phần Tỷ lệ chi trả cổ tức = Thu nhập mỗi cổ phần Trong đó Tổng cổ tức Cổ tức mỗi cổ phần = Số lượng cổ phần thường 18
  19. Chỉ tiêu tỷ lệ chi trả cổ tức nói lên công ty chi trả phần lớn thu nhập cho cổ đông hay giữ lại để tái đầu tư. Đây là một nhân tố quyết định đến giá trị thị trường của cổ phần. Tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty X = 0,681 = 40 % 1,705 Từ đó ta tính được tỷ lệ lợi nhuận giữ lại = 100% - tỷ lệ chi trả cổ tức Tỷ số giá thị trường trên thu nhập – Price – earning ratio (P/E) Giá thị trường mỗi cổ phần Tỷ số giá thị trường trên thu nhập = Thu nhập mỗi cổ phần Đây cũng là chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó thể hiện giá cổ phần đắt hay rẻ so với thu nhập. Tỷ số giá thị trường trên thu nhập của công ty X = (27) = 20 = 11,73 lần (29) 1,705 Điều này có nghĩa là giá cổ phần của công ty X được bán gấp 11,73 lần so với thu nhập hiện hành của nó. Tỷ suất cổ tức – Dividend yield Cổ tức mỗi cổ phần Tỷ suất cổ tức = Giá thị trường mỗi cổ phần = 0,68 = 0,034 = 3,4% 20 Điều này có nghĩa cổ tức của công ty X chiếm 3,4% so với giá thị trường của cổ phần. Như ta đã biết, thu nhập của nhà đầu tư gồm hai phần: cổ tức và chênh lệch giá do chuyển nhượng cổ phần. Nếu tỷ suất cổ tức của một cổ phần thấp điều đó chưa hẳn là xấu bởi vì nhà đầu tư có thể chấp nhận tỷ lệ chi trả cổ tức thấp để dành phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư. Họ mong đợi một tăng trưởng nhanh trong cổ tức và hưởng được sự chênh lệch lớn của giá cổ phần. Tóm lại Việc phân tích khả năng sinh lời và rủi ro của công ty dựa trên mối liên hệ của các chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo tài chính công ty sẽ cho ta nhữ ng nhân định về xu hướng trong quá khứ để trên cơ sở đó có những dự báo trong tương lai. Kết quả của việc phân tích báo cáo tài chính sẽ được kết hợp với một số thông tin khác như thị trường, đối thủ cạnh tranh, giá cổ phiếu, triển vọng phát triển sản phẩm và thị trường của công ty để ra quyết định đầu tư, lựa chọn hình thức tài trợ vốn cho thích hợp 1.6 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CÁC TỶ SỐ TÀI CHÍNH 1.6.1 Phương pháp so sánh 19
  20. Các chỉ số tài chính sẽ cung cấp nhiều thông tin hơn khi chúng được so sánh với các chỉ số có liên quan. Các nhà phân tích thường sử dụng các dạng so sánh sau: So sánh với các công ty hoạt động cùng lĩnh vực : Ta có thể so sánh các chỉ số tài chính của một công ty với các chỉ số tài chính của một số công ty khác hoạt động trong cùng lĩnh vực. Bằng sự so sánh này sẽ thấy được vị thế của công ty trên thị trường, sức mạnh tài chính của công ty so với các đối thủ cạnh tranh và giải thích được sự thành công hay thất bại của công ty. Bảng Phân tích các chỉ số tài chính của công ty X với công ty Vietland năm 2004 Tỷ số Kết quả tính toán Công ty Vietland Tỷ số thanh toán hiện hành 1,97 2,40 Tỷ số thanh toán nhanh 0,89 0,92 Kỳ thu tiền bình quân 58,49 ngày 47 ngày Số vòng quay hàng tồn kho 4,09 3,9 Hiệu suất sử dụng tài sản cố định 3,55 4,6 Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản 1,38 1,82 Tỷ số nợ trên tài sản 58% 47% Tỷ số nợ trên vốn cổ phần 138,3 88,7% Khả năng thanh toán lãi vay 3,65 6,7 Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu 4,45 5,10% Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản 6,12% 9,28% Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần 14,6% 17,54% Tỷ số giá thị trường trên thu nhập 11,73 8,0 Phân tích theo xu hướng Xem xét xu hướng biến động qua thời gian là một biện pháp quan trọng để đánh giá các tỷ số trở nên xấu đi hay đang phát triển theo chiều hướng tốt đẹp. Có thể so sánh với năm trước đó, hoặc theo dõi sự biến động qua nhiều năm. Kết quả sự so sánh là thông tin rất cần thiết cho cả người quản trị công ty lẫn nhà đầu tư. Hình 1.3 : Diễn tả một số chỉ số tài chính của công ty X thời gian qua với công ty hoạt động trong cùng lĩnh vực Vietland. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản