CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Chia sẻ: Doãn Quốc Bình | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:40

0
83
lượt xem
14
download

CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO VỀ CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

  1. CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài Nếu các lý thuyết đầu tư nước ngoài trong chương 2 đã phân tích những điều kiện cần để xuất hiện dòng lưu chuyển vốn đầu tư giữa các nước thì chương này sẽ phân tích các điều kiện đủ góp phần thúc đẩy, thu hút hoặc hạn chế đầu tư nước ngoài. Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài là các yếu tố của môi trường đầu tư quốc tế, có tác động đến hoạt động đầu tư nước ngoài trên phạm vi toàn cầu. Môi trường đầu tư quốc tế có thể hiểu là “tổng hoà các yếu tố có ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư trên phạm vi toàn cầu” Dòng vốn ĐTNN Môi trường kinh doanh ở Môi trường đầu tư nước nước chủ đầu tư trường quốc tế (dung môi) ngoài Môi (yếu tố đẩy) (yếu tố kéo) Dòng lợi nhuận Môi trường đầu tư quốc tế gồm ba thành phần: môi trường đầu tư ở nước nhận đầu tư (môi trường đầu tư nước ngoài), môi trường kinh doanh ở nước chủ đầu tư và môi trường quốc tế. 1.1. Môi trường quốc tế Môi trường quốc tế bao gồm các yếu tố cơ bản như xu hướng đối thoại chính trị giữa các nước, liên kết khu vực, tăng trưởng nhanh của các TNCs và tốc độ toàn cầu hoá. Các yếu tố này tạo ra môi trường thuận lợi thúc đẩy nhanh dòng lưu chuyển vốn đầu tư quốc tế.
  2. - Xu hướng đối thoại chính trị giữa các nước Như đã phân tích, tình hình chính trị là một trong những yếu tố được các nhà đầu tư quan tâm hàng đầu trong đánh giá môi trường đầu tư. ở phạm vi ngoài quốc gia, các nhà đầu tư cũng rất cần đến tình hình khu vực ổn định. Bởi vậy, xu hướng đối thoại chính trị giữa các nước là yếu tố quan trọng, tác động tích cực đối với lưu chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế. Đối thoại chính trị được hiểu là việc giải quyết các bất đồng giữa các nước được thực hiện bằng đàm phán. Nếu xu hướng này gia tăng thì có nghĩa là sẽ hạn chế được sự đối đầu bằng quân sự, vì thế sẽ mở rộng được quan hệ hợp tác giữa các nước. Đây là điều kiện quan trọng để thực hiện tự do hoá đầu tư. Xu hướng đối thoại chính trị còn có tác động quan trọng đến việc rút bỏ các lệnh cấm vận hoặc bao vây kinh tế của các nước lớn đối với các nước đang phát triển. Đây là những rào cảo lớn đối với lưu chuyển dòng vốn giữa hai nhóm nước này. chính sách cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam trong thời gian qua (ngày 3.2.1994 mới dỡ bỏ cấm vận) và với Cuba, I rắc… hiện nay là những bằng chứng rõ rệt về tác động này. - Liên kết khu vực Sự hình thành các khối thị trường chung (EU, ASEAN, NAFTA…) đã tạo ra các điều kiện thuận lợi cho các TNCs di chuyển địa điểm sản xuất và phân phối giữa các nước thành viên trong khối, nhờ đó thúc đẩy lưu chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế. Thuận lợi này được thể hiện qua các mặt về chính sách, các yếu tố kinh tế - xã hội và điều kiện kinh doanh. Mặc dù phần lớn các khối thị trường chung không đưa ra những chính sách trực tiếp đối với FDI, nhưng thông qua các chính sách tự do hoá thương mại giữa các thành viên đã loại bỏ các rào cản trong thâm nhập vào thị trường của các nước thành viên, vì thế đã tạo điều kiện thuận lợi cho các TNCs mở rộng mạng lưới phân công lao động trong khối thị trường chung. Đặc biệt, các chính sách này lại càng tạo ra các hấp dẫn
  3. cho các TNCs trong điều kiện có sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, tiền lương, các chi phí xã hội… giữa các nước thành viên trong khối và các rào cản (thuế quan, lĩnh vực đầu tư …) của từng thành viên với bên ngoài. Mặt khác, việc liên kết khu vực sẽ tạo ra sự phát triển ổn định của các nước trong khu vùng, qua đó tạo cơ sở vững chắc cho các nước thành viên thực hiện các cam kết chính sách tự do hoá chính sách FDI. Mặc dù đây không phải là tác động trực tiếp đối với thúc đẩy dòng đầu tư giữa các nước trong khối nhưng lại có vai trò hết sức quan trọng đối với việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi trong vùng, nhờ đó thúc đẩy lưu chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế. Trên cơ sở của tự do hoá thương mại, các nước trong khối đã hình thành nên khu vực tự do đầu tư, tức là không có các rào cản trong di chuyển vốn đầu tư giữa các nước trong khối. Chính sách này đã tác động trực tiếp và thúc đẩy mạnh dòng lưu chuyển vốn đầu tư giữa các nước. Đối với các yếu tố kinh tế- xã hội quyết định đầu tư nước ngoài thì liên kết khu vực đã tạo ra một thị trường với qui mô lớn. Đây là yếu tố rất hấp dẫn các TNCs, nhất là với các TNCs đầu tư theo mục đích tìm kiếm thị trường. Việc xóa bỏ các rào cản của thị trường quốc gia để hình thành thị trường vùng đã làm giảm bớt các chi phí sản xuất hướng vào xuất khẩu trong vùng của các TNCs, bởi vì lúc này tất cả các nước trong khối đều là một thị trường. Mặt khác, việc xoá bỏ các rào cản của các thị trường thành viên còn giảm bớt được các thủ tục hải quan, xuất nhập cảnh cho các nhà đầu tư, vì thế thúc đẩy dòng vốn đầu tư giữa các nước. Liên kết khu vực tạo ra cơ hội cho các nhà đầu tư hình thành được mối liên kết kinh tế giữa các công ty vệ tinh trong sản xuất và nghiên cứu những sản phẩm tương tự, nhờ đó không những giảm được chi phí dịch vụ mà còn giúp cho các nhà đầu tư thực hiện được chuyên môn hoá sản xuất cao. Bởi vậy, trong phạm vi vùng, các nhà đầu tư nước ngoài khai thác được tốt hiệu quả của phân công lao động quốc tế. Ngoài ra, việc loại bỏ các rào cản của các thị trường thành viên còn thúc đẩy các công ty
  4. cạnh tranh mở rộng thị phần trong vùng. Để tăng thị phần, các công ty mở rộng sản xuất bằng cách xây dựng cơ sở mới hoặc mua lại và sát nhập các cơ sở hiện có, do đó làm tăng dòng vốn đầu tư nước ngoài. Liên kết khu vực cũng tác động tích cực đến điều kiện kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài. Tác động đầu tiên là giảm bớt được chi phí giao dịch trong kinh doanh. Những chi phí này phát sinh do thiếu thông tin trong kinh doanh, thủ tục hành chính khác nhau giữa các nước. Các hiệp định liên kết khu vực đã xây dựng các chương trình hợp tác qui mô vùng để cùng nhau xoá bỏ hoặc đưa ra các biện pháp khắc phục những hạn chế này. - Tăng trưởng nhanh của các TNCs Phần lớn các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện bởi các TNCs nên tốc độ tăng trưởng của các TNCs sẽ ảnh hưởng quan trọng đến động thái của dòng đầu tư quốc tế. Tốc độ tăng trưởng của TNCs được biểu hiện ở sự tăng nhanh về số lượng các công ty mẹ và các chi nhánh của chúng trên phạm vi toàn cầu, trong đó nhất là ở các nước đang phát triển. Nhận thức chung về công ty xuyên quốc gia - TNCs TNCs bao gồm các công ty mẹ và các công ty con của chúng ở các nước trên thế giới. Công ty mẹ là các công ty kiểm soát toàn bộ tài sản của chúng ở nước sở hữu hơn là ở nước ngoài. Công ty con là các công ty hoạt động ở nước ngoài dưới sự quản lý của công ty mẹ và thường được gọi chung là chi nhánh ở nước ngoài. Có các loại công ty con dưới đây: - Phụ thuộc: Chủ đầu tư (thuộc công ty mẹ) sở hữu hơn 50% tổng tài sản của công ty. Họ có quyền chỉ định hoặc bãi nhiệm các thành viên bộ máy tổ chức và quản lý điều hành của công ty. - Liên kết: chủ đầu tư tuy chiếm khoảng 10% tài sản của công ty, nhưng chưa đủ tỷ lệ sở hữu để có quyền hạn như trường hợp công ty phụ thuộc. - Chi nhánh: công ty hoạt động ở nước ngoài với 100% tài sản thuộc sở hữu của công ty mẹ.
  5. ở cuối thập kỷ 60, hầu hết các TNCs còn tập trung vào các nước phát triển với số lượng khoảng 7.276 TNCs và 27.000 chi nhánh. Nhưng đến năm 1990, những con số này đã lên đến 35.000 TNCs và 150.000 chi nhánh. Đến năm 2006, trên thế giới đã có khoảng 64.000 TNCs với 840.000 chi nhánh. Theo các con số này, cho thấy các TNCs đã tăng trưởng nhanh chóng và tác động mạnh vào dòng lưu chuyển vốn đầu tư quốc tế. - Môi trường tài chính quốc tế Bao gồm những nhân tố tác động vào hoạt động tài chính của các nhà đầu tư. Có thể chia thành 2 nhóm nhân tố: hệ thống tiền tệ quốc tế; Hệ thống tỉ giá linh hoạt. Hệ thống tiền tệ quốc tế: bao gồm các tổ chức tài chính quốc tế và các quy định- luật lệ đảm bảo cho sự hoạt động của các tổ chức này và ổn định tỉ giá hối đoái trên thị trường ngoài hối quốc tế. Hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành trên cơ sở thoả thuận trực tiếp giữa Ngân hàng trung ương của các nước. Hoạt động của hệ thống tiền tệ quốc tế đặt dưới sự điều hành của quĩ tiền tệ quốc tế (IMF - International Monetary Funds) và ngân hàng thế giới (WB - World Bank). Theo thoả thuận giữa các nước thành viên năm 1944: các nước cùng góp vốn để duy trì sự hoạt động của IMF và WB. Mỗi nước được xác định mệnh giá cho đồng tiền quốc gia dựa theo chế độ bản vị vàng và USD; IMF cho phép (ấn định) giá trị đồng tiền mỗi nước được phá giá trong phạm vi 1%, trừ trường hợp khẩn cấp đồng tiền mỗi nước có thể phá giá đến 10% nhưng có thời hạn và phải được sự chấp thuận của IMF. Tuy nhiên khi qui mô của IMF mở rộng với nhiều nước mới xin gia nhập, IMF đưa ra yêu cầu: trong một thời gian nhất định, sau khi trở thành thành viên của IMF, mỗi thành viên phải xác định tỉ giá tiền tệ của mình so với vàng hay một ngoài tệ mạnh nào đó, nhưng chủ yếu là USD. Tỉ giá này có thể dao động ở mức 10% mà không cần có sự chấp thuận trước của IMF. Nói cách khác IMF đã can thiệt vào việc ấn định tỉ giá của các nước trên thị trường tài chính quốc tế.
  6. Hệ thống tỉ giá linh hoạt Năm 1976 IMF đưa ra yêu cầu các nước thành viên phải áp dụng hệ thống tỉ giá thả nổi có điều kiện (hệ thống tỉ giá linh hoạt) nhằm giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước trên thị trường ngoài hối và điều chỉnh giá trị của những đồng tiền chủ yếu. Mà sự biến động của tỉ giá lại ảnh hưởng rất lớn đến việc luân chuyển vốn từ nước này sang nước khác trong quá trình đầu tư. VD: Trung Quốc (TQ) đã giữ giá đồng nhân dân tệ (NDT) ổn định trong hàng chục năm trước khi gia nhập WTO. Năm 2005 trước sức ép của các nước bạn hàng, chính phủ TQ đã chấp nhận phá giá đồng NDT vào tháng 7/2005, đồng thời luôn khẳng định về việc triển khai một chế độ tỉ giá linh hoạt. Tuy nhiên đồng NDT cũng chỉ tăng giá chưa tới 2% so với USD, trong khi thặng dư thương mại của TQ ngày càng lớn (năm 2005 thặng dư thương mại của TQ với cường quốc Mỹ là 200 tỉ USD), điều này gây nhiều bất bình trong các nước bạn hàng của TQ. Đầu tháng 9/2006 TQ quyết định tăng giá NDT lần nữa, vượt qua ngưỡng 7,95 NDT/ 1USD. Việc tăng giá đồng NDT đã ảnh hưởng đến làn sóng đầu tư nước ngoài vào TQ, vì các nhà đầu tư nước ngoài đến TQ nhằm vào mục tiêu xuất khẩu hàng hoá. Nhưng do đồng NDT tăng giá, giá hàng xuất khẩu từ TQ sẽ cao hơn khiến cho việc xuất khẩu trở nên khó khăn hơn, các nhà xuất khẩu sẽ bớt đi lợi thế cạnh tranh. Vì thế theo dự báo của các chuyên gia kinh tế: tình trạng chuyển dịch đầu tư nước ngoài từ TQ sang các nước khác sẽ diễn ra ngày càng tăng. Hệ thống tỉ giá linh hoạt cho phép tỉ giá chịu tác động của nhiều nhân tố khác trên thị trường như dòng chảy vốn đầu tư, chính sách vĩ mô của nhà nước, các thành viên trên thị trường ngoại hối (Nhà nước, nhà buôn, nhà môi giới, nhà đầu tư chứng khoán, nhà bảo hiểm, người kinh doanh tiền tệ), lãi suất tương đương, lòng tin của nhà đầu tư … (nhiều nước trong giai đoạn kinh tế kế hoạch hoá tập trung thường áp dụng hệ thống tỉ giá cố định. Nghĩa là tỉ giá do Nhà nước ấn định; dĩ
  7. nhiên theo hệ thống này, tỉ giá không sát với thực tế cung - cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối). - Những quy định của WTO liên quan đến đầu tư nước ngoài Nguyên tắc không phân biệt đối xử Trong quy chế tối huệ quốc (MFN) có ghi rõ về nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc này được hiểu theo 2 cách: Không phân biệt đối xử quốc gia qui định: doanh nghiệp nước ngoài, hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài được đối xử không kém thuận lợi hơn so với doanh nghiệp trong nước và hàng hoá, dịch vụ cùng loại sản xuất trong nước. Nguyên tắc này nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Không phân biệt đối xử quốc tế qui định: nước nhận đầu tư sẽ giành ưu đãi cho nhà đầu tư của một nước khác không kém thuận hơn những ưu đãi đã giành cho các nhà đầu tư ở nước thứ ba khác khi họ đầu tư trên lãnh thổ quốc gia mình. Nguyên tắc này nhằm chống phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư hoạt động trên cùng một lãnh thổ, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các nhà đầu tư. Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs - Trade Related Investment Measures) TRIMs quy định các nước không được sử dụng 5 loại biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại về đối xử quốc gia và các qui định cấm sử dụng hạn chế định lượng. Chẳng hạn, biện pháp yêu cầu về hàm lượng nội địa; yêu cầu về cân đối thương mại; hạn chế nhập khẩu; hạn chế khả năng tiếp cận ngoại hối; hạn chế xuất khẩu. Trong thực tế, nhiều nước đang phát triển thường sử dụng những biện pháp này để bảo hộ sản xuất trong nước. Khi tuân thủ sử dụng những biện pháp này để bảo hộ sản xuất trong nước. Khi tuân thủ TRIMs có nghĩa là các nước phải xoá bỏ những biện pháp hạn chế định lượng trên đây, điều đó có thể đặt các doanh nghiệp trong nước đứng trước sự cạnh tranh gay gắt, nhưng lại là một trong những giải pháp làm tăng tính
  8. hấp dẫn của môi trường đầu tư của một nước, thu hút luồng vốn FDI mạnh hơn. Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến quyền sử hữu trí tuệ (TRIPs - Trade Related Intelectural Property Right) TRIPs quy định các quyền được hưởng quyền sở hữu trí tuệ; phạm vi duy trì và thực thi của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT); khả năng được bảo hộ và bình đẳng giữa người nước ngoài và công dân nước sở tại đối với quyền sử hữu trí tuệ. Thông thương nhà đầu tư nước ngoài mang vốn và công nghệ vào nước sở tại để tiến hành sản xuất - kinh doanh. Nếu quyền SHTT của nhà đầu tư không được đảm bảo họ lo ngại rằng đến một lúc nào đó sẽ bị đối tác địa phương chiếm hữu SHTT này. Hơn nữa nếu quyền SHTT của nhà đầu tư không được đảm bảo còn làm cho nạn hàng giả phát triển ảnh hưởng đến uy tín và hiệu quả kinh doanh của nhà đầu tư. Hiệp định TRIPs giảm độ rủi ro trong đầu tư nước ngoài và bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư nước ngoài. Muốn tránh rủi ro trong đầu tư ra nước ngoài và tham gia vào kinh doanh thương mại quốc tế, nhà đầu tư phải đăng ký bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN) và (SHTT) nhằm tạo lập một cơ sở pháp lý bảo hộ cho sản phẩm của mình Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu rộng ở mọi nơi trên thế giới, việc đăng ký bảo hộ các đối tượng SHCN và SHTT càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Nhưng đến hết năm 2005 cũng chỉ có 5% số doanh nghiệp Việt Nam chú ý đến điều này nên dễ dàng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khác sao chép hoặc giành quyền SHTT đối với các đối tượng SHCN của chính họ. Tính minh bạch trong cơ chế thị trường WTO qui định đối với các chính phủ, trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO phải cam kết (lộ trình và một số nội dung về cơ chế đầu tư và thương mại) và thực hiện những cam kết ấy mà không được thay
  9. đổi trong suốt quá trình thực hiện (trừ khi việc thay đổi này được các bên tham gia đàm phán lại và cùng thống nhất). WTO cũng qui định rằng chính phủ các nước phải minh bạch hoá các chính sách của mình bằng cách thông báo cho các bên liên quan biết những qui định, hoặc những thay đổi (nếu có) đối với các chính sách thương mại và đầu tư nhằm đảm bảo một môi trường đầu tư - kinh doanh dễ dự đoán. - Tốc độ toàn cầu hoá Nếu liên kết kinh tế quốc tế nói về các hiệp định kinh tế giữa các nước thì toàn cầu hoá lại nhấn mạnh đến quá trình đan kết giữa các công ty trên phạm vị toàn cầu để hình thành lên mạng lưới sản xuất quốc tế. Toàn cầu hoá được hiểu: là mức độ hoà nhập , lan toả của các hoạt động kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Toàn cầu hoá là sự phát triển cao và phức tạp hơn của quốc tế hoá. Tốc độ của quá trình toàn cầu hoá sẽ thúc đẩy xu hướng tự do hoá FDI, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các TNCs mở rộng phạm vi hoạt động trên phạm vi toàn cầu. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ đã tạo ra nhiều lĩnh vực sản xuất mới trong các ngành điện, điện tử, tin học, viễn thông… và các phương tiện thuận khác cho phép các TNCs mở rộng qui mô khai thác lợi thế so sánh của mình trên phạm vi toàn cầu. Lợi ích to lớn của việc tham gia vào mạng lưới phân công lao động quốc tế đã làm cho các quốc gia tích cực tháo bỏ những rào cản đối với các TNCs, nhờ đó thúc đẩy xu hướng tự do hoá đầu tư. Xu hướng tự do hoá đầu tư tác động trở lại đối với TNCs trong việc chọn lựa các lĩnh vực và hướng đầu tư. Việc mở rộng thị trường cho đầu tư nước ngoài đã khuyến khích các TNCs đầu tư vào các lĩnh vực mà ở đó chúng có nhiều thế mạnh. Các lĩnh vực hấp dẫn các TNCs thường là các ngành sản xuất mới, có hàm lượng công nghệ cao như điện tử - tin
  10. học, viễn thông…. Việc mở ra các lĩnh vực sản xuất này không những khuyến khích các TNCs đầu tư các thị trường mới có tiềm năng tiêu thụ cao mà còn tạo điều kiện cho các hoạt động mua lại và sát nhập (M&A) để tăng sức mạnh độc quyền trong các ngành có công nghệ hiện đại. Hiện tượng này đã thúc đẩy tăng nhanh dòng vốn đầu tư quốc tế. Ngoài ra, toàn cầu hoá còn thúc đẩy phát triển của thị trường tài chính quốc tế, qua đó tác động đến động thái dòng vốn đầu tư nước ngoài. Tác động này được thể hiện qua các khía cạnh là: giảm bớt các định chế tài chính đối với lưu chuyển vốn quốc tế, các phương tiện hiện đại để tạo điều kiện thuận lợi, nhanh chóng và chính xác trong các nghiệp vụ giao dịch của thị trường tài chính, đa dạng hoá các hình thức đầu tư trên thị trường vốn và cung cấp kịp thời các thông tin thị trường trên phạm vi toàn cầu cho các nhà đầu tư. 1.2. Môi trường kinh doanh ở nước chủ đầu tư Các yếu tố của môi trường kinh doanh ở nước chủ đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến đầu tư ra nước ngoài. Các chính phủ có thể điều chỉnh các yếu tố của môi trường đầu tư theo hướng thúc đẩy hoặc hạn chế dòng vốn đầu tư ra nước ngoài, hoặc thậm chí cấm đầu tư ra nước ngoài. Môi trường kinh doanh ở nước đầu tư bao gồm tất cả các yếu tố về chính trị, chính sách - pháp luật, vị trị địa lý, điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế và các đặc điểm văn hoá - xã hội. Mức độ hấp dẫn của từng yếu tố sẽ tạo ra những cơ hội hoặc rủi ro cho các nhà đầu tư, qua đó tác động mạnh đến quyết định của họ trong việc so sánh nên đầu tư ở trong nước hay chuyển đầu tư ra nước ngoài, quyết định đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư còn chịu ảnh hưởng rất lớn từ những thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô, các hoạt động thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài của chính phủ và tiềm lực kinh tế - khoa học công nghệ của nước họ. - Thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô + Chính sách tài chính - tiền tệ:
  11. Chính sách tài chính (chính sách tài khóa) trong kinh tế học vĩ mô là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác động tới nền kinh tế. Khi nền kinh tế đang ở pha suy thoái, nhà nước có thể giảm thuế, tăng chi tiêu (đầu tư công cộng) để chống lại. Chính sách tài chính như thế gọi là chính sách tài chính nới lỏng => tăng lợi nhuận của nhà đầu tư trong nước và do vậy không khuyến khích đầu tư ra nước ngoài Ngược lại, khi nền kinh tế ở pha bùng nổ và có hiện tượng nóng, thì nhà nước có thể tăng thuế và giảm chi tiêu của mình để ngăn cho nền kinh tế khỏi rơi vào tình trạng quá nóng dẫn tới đổ vỡ. Chính sách tài chính như thế này gọi là chính sách tài chính thắt chặt => giảm lợi nhuận của nhà đầu tư trong nước và do vậy khuyến khích đầu tư ra nước ngoài Chính sách lưu thông tiền tệ hay chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng trung ương để đạt được những mục đích đặc biệt- như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế. Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở; qui định mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối  ảnh hưởng đến lãi suất thực tế Nếu lãi suất thực tế tăng (lãi suất hiệu quả là lãi suất thực sự nhận được từ một khoản đầu tư) thì đầu tư nước ngoài giảm và ngược lại  Ảnh hưởng đến lạm phát và tỷ giá đồng tiền trong nước so với đồng tiền nước ngoài Nếu lạm phát tăng thì đầu tư nước ngoài giảm vì đồng tiền trong nước bị mất giá, sẽ mua được ít hơn các hàng hoá và dịch vụ ở nước ngoà và ngược lại. + Chính sách xuất nhập khẩu Nếu càng có nhiều rào cản đối với việc xuất khẩu hàng hoá thì càng khuyến khích đầu tư ra nước ngoài và ngược lại. Nếu càng có nhiều rào cản đối với việc nhập khẩu hàng hoá thì càng làm giảm đầu tư nước ngoài và ngược lại.
  12. + Chính sách quản lý ngoại hối Điều 4, Nghị đinh 63/1998 NĐ – CP ở Việt nam Ngoại hối là: a) Tiền nước ngoài như: tiền giấy, tiền kim loại; b) Công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài như: séc, thẻ thanh toán, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi bưu điện và các công cụ thanh toán khác; c) Các loại giấy tờ có giá bằng tiền nước ngoài như: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; d) Quyền rút vốn đặc biệt, đồng tiền chung Châu Âu, các đồng tiền chung khác dùng trong thanh toán quốc tế và khu vực; đ) Vàng tiêu chuẩn quốc tế; e) Đồng tiền đang lưu hành của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng làm công cụ trong thanh toán quốc tế Nếu nới lỏng quản lý ngoại hối theo hướng tự do hoá thị trường vốn thì các nhà đầu tư được quyền tự do chuyển vốn ra nước ngoài sẽ khuyến khích đầu tư nước ngoài và ngược lại. - Các hoạt động thúc đẩy đầu tư nước ngoài + Việc ký các hiệp định đầu tư với nước ngoài là cơ sở pháp lý quan trọng hàng đầu để đảm bảo tin tưởng cho các nhà đầu tư khi đầu tư ở nước ngoài. Hiệp định đầu tư song phương (Bilateral investment treaties - BITs) là hiệp định ký kết giữa nước đầu tư với nước nhận đầu tư, còn hiệp định đa phương (Multbilateral agreement on investment - MAI) là hiệp định được ký kết giữa các chính phủ trong một nhóm nước với nhau. + Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (Double taxation treaties - DTTs) giữa các nước đầu tư với nước ngoài cùng tạo ra sức hấp dẫn về
  13. tài chính để các nhà đầu tư chuyển vốn ra nước ngoài. Bởi vì, hiệp định này cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chỉ phải nộp một lần thuế ở nước nhận đầu tư, nhờ đó họ giảm bớt được chi phí đầu tư và tăng lợi nhuận. Đây là biện pháp quan trọng trong khuyến khích đầu tư nước ngoài giữa các nước tham gia đầu tư. + Thực hiện các chương trình xúc tiến đầu tư và các tổ chức hỗ trợ xúc tiến đầu tư, phần lớn ODA của họ được sử dụng cho các hoạt động này. + Chính sách bảo hiểm vốn đầu tư cho các nhà đầu tư ở nước ngoài cũng là yếu tố tác động mạnh đến thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài. Vì đầu tư ra nước ngoài, nhất là vào các thị trường mới, thường có độ mạo hiểm cao hơn đầu tư ở trong nước nên các nhà đầu tư rất cần chính phủ bảo hiểm vốn đầu tư cho họ. Đặc điểm này được phản ánh rất rõ sau sự kiện Chính Nhật Bản tuyên bố bảo hiểm đầu tư (1992) cho các công dân Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam đã làm cho dòng vốn đầu tư của nước này vào Việt Nam tăng vọt. + Cung cấp đầy đủ, thường xuyên các thông tin về môi trường đầu tư nước ngoài và các chính sách đối ngoại của Chính phủ nước đầu tư cho các nhà đầu tư sẽ tác động rất lớn đến quyết định đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư. Đặc biệt, đối với chính sách đối ngoại của các nước lớn có ảnh hưởng không chỉ đối với đầu tư ra nước ngoài của một nước mà còn có tầm ảnh hưởng đến tất cả các nhà đầu tư trên phạm vi toàn cầu. - Tiềm lực kinh tế, khoa học công nghệ và chính sách xã hội + Tiềm lực kinh tế và khoa học - công nghệ của nước đầu tư. Nếu tiềm lực kinh tế (tích luỹ vốn, dự trữ ngoại tệ) mạnh thì nhu cầu đầu tư nước ngoài tăng và ngược lại. Trình độ nghiên cứu và phát triển công nghệ luôn là một lợi thế quan trọng của nước đầu tư. Một nước có trình độ nghiên cứu và phát triển công nghệ cao thường tạo ra các công nghệ nguồn và có vai trò quyết định giá cả trong thị trường công nghệ quốc tế. Các công nghệ
  14. nguồn sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh độc quyền và cần sản xuất với qui mô lớn. Đây là những yếu tố quyết định các công ty xuyên quốc gia đầu tư ra nước ngoài. + Chính sách xã hội Thông thường, đầu tư ra nước ngoài và tạo việc làm trong nước có mối quan hệ ngược chiều nhau. Việc chuyển vốn ra nước ngoài dẫn tới giảm đầu tư nội địa, do đó làm giảm cơ hội tạo việc làm trong nước. Vì thế, có thể gia tăng tình trạng thất nghiệp và các vấn đề xã hội khác. Bởi vậy, nếu nước đầu tư có mức trợ cấp phúc lợi xã hội cao, chủ yếu là trợ cấp thất nghiệp thì sẽ giảm được làn sóng phản đối chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài. Đây là hiện tượng rất phổ biến ở các nước phát triển, nhất là ở Anh trong những năm cuối thập kỷ 80.
  15. 1.3. Môi trường đầu tư nước ngoài Khi lựa chọn địa điểm để đầu tư ở nước ngoài, chủ đầu tư sẽ phải cân nhắc đến các điều kiện sản xuất, kinh doanh ở địa điểm đó xem có thuận lợi hay không nghĩa là cân nhắc đến các yếu tố có liên quan đến lợi thế địa điểm của nước nhận đầu tư (nhân tố L trong mô hình OLI của Dunning). Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế địa điểm của các nước nhận đầu tư được chia thành ba nhóm : - Thứ nhất là khung chính sách về đầu tư nước ngoài Khung chính sách về ĐTNN của nước nhận đầu tư bao gồm các qui định liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đầu tư nước ngoài. Các qui định của luật pháp và chính sách liên quan trực tiếp đến đầu tư nước ngoài bao gồm các qui định về việc thành lập và hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài (cho phép, hạn chế, cấm đầu tư vào một số ngành, lĩnh vực; cho phép tự do hay hạn chế quyền sở hữu của các chủ đầu tư nước ngoài đối với các dự án; cho phép tự do hoạt động hay áp đặt một số điều kiện hoạt động; có hay không các ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư nước ngoài; ...), các tiêu chuẩn đối xử đối với đầu tư nước ngoài (phân biệt hay không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư có quốc tịch khác nhau, ...) và cơ chế hoạt động của thị trường trong đó có sự tham gia của thành phần kinh tế có vốn ĐTNN (cạnh tranh có bình đẳng hay không; có hiện tượng độc quyền không; thông tin trên thị trường có rõ ràng, minh bạch không; ...). Các qui định thông thoáng, có nhiều ưu đãi, không có hoặc ít có các rào cản, hạn chế hoạt động ĐTNN sẽ góp phần tăng cường thu hút ĐTNN vào và tạo thuận lợi cho các dự án ĐTNN trong quá trình hoạt động và ngược lại. Các qui định của luật pháp và chính sách sẽ được điều chỉnh tùy theo định hướng, mục tiêu phát triển của từng quốc gia trong từng thời kỳ, thậm chí có tính đến cả các qui hoạch về ngành và vùng lãnh thổ. Bên cạnh đó, một số các qui định, chính sách trong một số ngành, lĩnh vực khác cũng có ảnh hưởng đến quyết định của chủ đầu tư như:
  16. Chính sách thương mại có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư vì ĐTNN, đặc biệt là FDI gắn với sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Ví dụ các nước theo đuổi chiến lược phát triển sản xuất trong nước để thay thế nhập khẩu sẽ thu hút được nhiều FDI vào sản xuất các hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu trong nước nhưng sau đó một thời gian khi thị trường đã bão hòa nếu nước đó không thay đổi chính sách thì sẽ không hấp dẫn được FDI. Chính sách tư nhân hóa liên quan đến việc cổ phần hóa, bán lại các công ty. Những nước cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình tư nhân hóa sẽ tạo cho các nhà đầu tư nước ngoài nhiều cơ hội, nhiều sự lựa chọn hơn trước khi quyết định đầu tư. Chính sách tiền tệ và chính sách thuế có ảnh hưởng quan trọng đến sự ổn định của nền kinh tế. Các chính sách này ảnh hưởng đến tốc độ lạm phát, khả năng cân bằng ngân sách của nhà nước, lãi suất trên thị trường. Như vậy các chính sách này ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định đầu tư. Các chủ đầu tư đều muốn đầu tư vào các thị trường có tỷ lệ lạm phát thấp. Lãi suất trên thị trường nước nhận đầu tư sẽ ảnh hưởng đến chi phí vốn, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của các chủ đầu tư nước ngoài. Chính sách thuế của nước nhận đầu tư cũng thu hút được sự quan tâm rất lớn của các chủ đầu tư. Thuế thu nhập doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của các dự án FDI. Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế tiêu thụ đặc biệt, ... ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Nhìn chung các chủ đầu tư đều tìm cách đầu tư ở những nước có các loại thuế thấp. Chính sách tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá các tài sản ở nước nhận đầu tư, giá trị các khoản lợi nhuận các chủ đầu tư thu được và năng lực cạnh tranh của các hàng hóa xuất khẩu của các chi nhánh nước ngoài. Một nước theo đuổi chính sách đồng tiền quốc gia yếu sẽ có lợi trong việc thu hút ĐTNN và xuất khẩu hàng hóa.
  17. Chính sách liên quan đến cơ cấu các ngành kinh tế và các vùng lãnh thổ (khuyến khích phát triển ngành nào, vùng nào; ngành nào đã bão hòa rồi; ngành nào, vùng nào không cần khuyến khích, ...) Chính sách lao động: có hạn chế hay không hạn chế sử dụng lao động nước ngoài; ưu tiên hay không ưu tiên cho lao động trong nước, .... Chính sách giáo dục, đào tạo, chính sách y tế, ... ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động cung cấp cho các dự án FDI. Các qui định trong các hiệp định quốc tế mà nước nhận đầu tư tham gia ký kết. Ngày nay, các qui định này thường tạo thuận lợi cho FDI vì nó bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư, hướng tới không phân biệt các chủ đầu tư theo quốc tịch, ... Nhìn chung các chủ đầu tư nước ngoài thích đầu tư vào những nước có hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách đầy đủ, đồng bộ, thông thoáng, minh bạch và có thể dự đoán được. Điều này đảm bảo cho sự an toàn của vốn đầu tư. - Thứ hai là các yếu tố của môi trường kinh tế. Nhiều nhà kinh tế cho rằng các yếu tố kinh tế của nước nhận đầu tư là những yếu tố có ảnh hưởng quyết định trong thu hút FDI. Tùy động cơ của chủ đầu tư nước ngoài mà có thể có các yếu tố sau của môi trường kinh tế ảnh hưởng đến dòng vốn FDI: Thị trường trong nước nhận đầu tư cũng rất quan trọng đối với các chủ đầu tư là các hãng cung ứng dịch vụ. Lý do chính trong trường hợp này không phải vì hàng rào thuế quan hay phi thuế quan mà do tính đặc thù của sản phẩm dịch vụ là không thể vận chuyển sản phẩm từ nước này sang nước khác, từ nơi này sang nơi khác. Chính vì vậy để đáp ứng nhu cầu dịch vụ ở nước ngoài các công ty dịch vụ phải thiết lập các cơ sở cung ứng ở chính nước đó. Các chủ đầu tư có động cơ tìm kiếm thị trường sẽ quan tâm đến các yếu tố như dung lượng thị trường và thu nhập bình quân đầu người; tốc độ tăng trưởng của thị trường; khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới; các sở thích đặc biệt của người tiêu dùng ở nước nhận đầu tư và cơ cấu thị trường.
  18. Đối với các chủ đầu tư muốn mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thì dung lượng thị trường của nước nhận đầu tư là một yếu tố rất quan trọng khi chủ đầu tư cân nhắc để lựa chọn địa điểm đầu tư. Một nước với dân số đông, GDP bình quân đầu người cao, GDP tăng trưởng với tốc độ cao, sức mua lớn sẽ có sức hấp dẫn đối với FDI vì đem lại cho chủ đầu tư cơ hội tăng thị phần và lợi nhuận. Bên cạnh thị trường trong nước, các chủ đầu tư nước ngoài ngày càng quan tâm nhiều hơn đến khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới của hàng hóa sản xuất ra tại nước nhận đầu tư. Trong xu thế tăng cường liên kết kinh tế quốc tế và khu vực ngày nay, những nước tham gia vào nhiều các liên kết quốc tế sẽ có lợi thế trong thương mại quốc tế vì hàng hóa từ nước này xuất khẩu sang các nước thành viên khác trong liên kết sẽ được hưởng chế độ thương mại ưu đãi hơn hàng hóa từ các nước không phải thành viên chảy vào. Chính vì vậy chủ đầu tư nước ngoài chỉ cần đầu tư vào một nước có tham gia vào nhiều các liên kết kinh tế khu vực và thế giới sẽ có cơ hội tiếp cận một thị trường rộng lớn hơn rất nhiều thị trường nước nhận đầu tư. Đây là một lợi thế mà các chủ đầu tư nước ngoài không thể bỏ qua khi cân nhắc lựa chọn địa điểm đầu tư. Các chủ đầu tư tìm kiếm nguồn nguyên liệu và tài sản sẽ quan tâm đến tài nguyên thiên nhiên; lao động chưa qua đào tạo với giá rẻ; lao động có tay nghề; công nghệ, phát minh, sáng chế và các tài sản do doanh nghiệp sáng tạo ra (thương hiệu, ...); cơ sở hạ tầng phần cứng (cảng, đường bộ, hệ thống cung cấp năng lượng, mạng lưới viễn thông). Việc có sẵn các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đã từng là yếu tố cơ bản thu hút FDI của các nước. Vào thế kỷ 19, phần lớn vốn FDI từ Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản hướng vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. Cho đến Đại chiến Thế giới lần thứ hai, 60% tổng FDI trên thế giới liên quan đến việc tìm các nguồn tài nguyên thiên nhiên [44]. Nguyên nhân là do trong thời kỳ đó lĩnh vực nông nghiệp và khai khoáng là những lĩnh vực giữ vai trò quan trọng trong sản xuất toàn cầu. Các nước chủ đầu tư, vốn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu thô trên thị
  19. trường thế giới, muốn giảm bớt sự phụ thuộc này để đảm bảo tính ổn định cho nền kinh tế. Họ tìm cách đầu tư trực tiếp sang các nước có nhiều tài nguyên để có được quyền khai thác lâu dài các nguồn tài nguyên đó. Trong khi đó phần lớn các nước đang phát triển đều thiếu vốn, đặc biệt là thiếu thiết bị, công nghệ khai thác, kỹ thuật bán hàng, cơ sở hạ tầng, ... để khai thác các nguồn lực của mình. Chình vì vậy trong giai đoạn này FDI vào khai thác tài nguyên tăng mạnh. Từ những năm 1960, tầm quan trọng tương đối của các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong thu hút FDI đã giảm. Trong phần lớn các nước chủ đầu tư, chỉ 11% tổng vốn FDI ra trong năm 1990 dành để tìm kiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiên so với 25% năm 1970. Trong giai đoạn 1991- 1995, tỷ lệ này nhỏ hơn 5% đối với Đức, Nhật, Anh và Mỹ.[53, tr. 62] Lý do là vì các ngành nghề, lĩnh vực mới ra đời và có tầm quan trọng ngày càng lớn, các ngành nghề, lĩnh vực cũ trong đó có nông nghiệp và khai khoáng có tầm quan trọng giảm dần trong nền kinh tế của các nước đang phát triển. Thêm vào đó, khi trình độ phát triển đã được nâng cao, khả năng tích lũy vốn trong nội bộ nền kinh tế được cải thiện, nhiều doanh nghiệp trong nước nhận đầu tư có đủ vốn và công nghệ thích hợp để tự tiến hành khai thác và chế biến các nguồn tài nguyên vậy nên các ngành này sẽ không cần đến FDI nữa. Lực lượng lao động dồi dào, trình độ thấp và giá rẻ ở nhiều nước đang phát triển cũng thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. Lực lượng này đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp chế tạo cần nhiều lao động. Ngược lại, những ngành, lĩnh vực, những dự án đầu tư đòi hỏi công nghệ cao thường kèm theo yêu cầu về lao động có trình độ cao, có tay nghề và được đào tạo bài bản. Không phải lúc nào các chủ đầu tư nước ngoài cũng đem công nghệ cùng với vốn đi đầu tư ở các nước khác. Bản thân họ cũng kỳ vọng tìm được những công nghệ, phát minh, sáng chế và các tài sản mới do doanh nghiệp ở nước nhận đầu tư sáng tạo ra và sở hữu độc quyền. Điều này đặc biệt đúng với các dòng vốn FDI chảy giữa các nước công nghiệp phát triển với nhau.
  20. Các chủ đầu tư tìm kiếm hiệu quả sẽ chú trọng đến chi phí mua sắm các nguồn tài nguyên và tài sản được đề cập ở phần trên, có cân đối với năng suất lao động; các chi phí đầu vào khác như chi phí vận chuyển và thông tin liên lạc đi/ đến hoặc trong nước nhận đầu tư; chi phí mua bán thành phẩm; tham gia các hiệp định hội nhập khu vực tạo thuận lợi cho việc thành lập mạng lưới các doanh nghiệp toàn khu vực. Khi các chủ đầu tư chú trọng đến việc giảm chi phí thì một trong những chi phí được các chủ đầu tư chú ý nhiều đó là chi phí lao động. Điều này đặc biệt đúng trong những ngành, những lĩnh vực sử dụng nhiều lao động. Các chủ đầu tư sẽ tìm đến những thị trường có nguồn lao động rẻ, phù hợp. Tất nhiên chủ đầu tư cũng phải tính toán cân đối giữa tiền lương, chi phí đào tạo, các chi phí khác liên quan đến việc sử dụng lao động với năng suất lao động để quyết định đầu tư ở địa điểm nào có hiệu quả sử dụng lao động cao nhất. Các ngành có tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu cao trong giá thành sản phẩm lại chú ý nhiều đến việc giảm các chi phí liên quan đến việc mua các nguyên vật liệu, .... Cơ sở hạ tầng như cảng, đường bộ, hệ thống cung cấp năng lượng, mạng lưới viễn thông cũng ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả hoạt động đầu tư. Chính vì vậy khi lựa chọn địa điểm đầu tư các chủ đầu tư nước ngoài phải cân nhắc vấn đề này. - Thứ ba là các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh Các yếu tố này bao gồm chính sách xúc tiến đầu tư; các biện pháp ưu đãi, khuyến khích đầu tư; giảm các tiêu cực phí bằng cách giải quyết nạn tham nhũng, cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước; nâng cao chất lượng các dịch vụ tiện ích xã hội để đảm bảo chất lượng cuộc sống cho các chủ đầu tư nước ngoài (các trường song ngữ, chất lượng cuộc sống, ...); các dịch vụ hậu đầu tư. Từ lâu các nước nhận đầu tư đã ý thức được tầm quan trọng của các yếu tố này, vì vậy các nước thường tìm cách cải tiến các yếu tố này nhằm tạo thuận lợi nhiều hơn cho các chủ đầu tư.
Đồng bộ tài khoản