Chương 4: Những nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục - bất bình đẳng giáo dục và xã hội

Chia sẻ: Ha Pham | Ngày: | Loại File: PPT | Số trang:17

0
332
lượt xem
70
download

Chương 4: Những nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục - bất bình đẳng giáo dục và xã hội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chương 4: Những nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục - bất bình đẳng giáo dục và xã hội

  1. Chương 4: Những nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục – Bất bình đẳng giáo dục và xã hội I. Một số nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục Nhân tố tăng trưởng và suy thoái kinh tế 1. Nhân tố xã hội - giai cấp 2. Tác động của quá trình bùng nổ dân số và dân 3. số học đường Giới tính 4. II. Bất bình đẳng giáo dục và xã hội Quan điểm về người tài năng 1. Bất bình đẳng cơ hội giáo dục theo giai cấp và 2. giới tính
  2. I. Một số nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục 1. Nhân tố tăng trưởng và suy thoái kinh tế - Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). + Tăng trưởng kinh tế một mặt, vừa nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo điều kiện cho các gia đình và xã hội trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, mặt khác, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giáo dục, tăng công ăn việc làm và giải quyết đầu ra cho các loại hình giáo dục - đào tạo…
  3. 1. Nhân tố tăng trưởng và suy thoái kinh tế (tiếp) + Tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời đặt ra cho sự phát triển giáo dục những yêu cầu mới: -> Phải gắn hoạt động của giáo dục với nhu cầu thị trường lao động của các cơ sở kinh tế nhà nước, tập thể và tư nhân (đào tạo có địa chỉ hoặc theo nhu cầu trực tiếp của xã hội). Hiện nay ở VN, nhiều trường đào tạo không phải trên cơ sở nhu cầu xã hội mà là trên cơ sở nhu cầu và tâm lý người học, phần nhiều trong đó là chạy theo những ngành "mốt". -> Giáo dục phải đón đầu được khuynh hướng phát triển kinh tế để đào tạo các ngành nghề mới phù hợp với xu hướng phát triển của công nghệ và đời
  4. Tốc độ tăng trưởng GDP 23 năm đổi mới (6,8%) 8,2% 6,9% 7,5% 10 9 4,4% 8 7 % 6 5 9.5 9.3 8.8 8.7 8.4 8.2 8.5 4 8.1 8.1 7.3 7.8 6.8 6.9 7.1 6.3 3 6.01 5.81 5.7 5.3 4.68 5.09 4.8 2 3.63 2.84 1 0 86 87 89 90 93 94 96 99 00 02 03 04 05 06 08 09 88 91 92 95 97 98 01 07 19 19 19 20 20 20 19 19 19 19 19 19 19 19 19 19 19 20 20 20 20 20 20 20 13/06/11 4
  5. 1. Nhân tố tăng trưởng và suy thoái kinh tế (tiếp) - Khi nền kinh tế bị suy thoái, thu nhập của dân cư giảm sút, điều kiện sinh hoạt xuống cấp, việc làm và các yếu tố thiết yếu khác của người dân gặp khó khăn thì giáo dục cũng bị ảnh hưởng tiêu cực, hậu quả có thể là số lượng học sinh và quy mô cũng như các loại hình trường lớp cũng bị thu hẹp, số người bỏ học và mù chữ tăng lên… chính điều đó lại ảnh hưởng tiêu cực trở lại đối với tăng trưởng kinh tế.
  6. 2. Nhân tố xã hội – giai cấp - Các nhà xã hội học đã chỉ ra rằng, ngay cả khi sự thông minh của những người thuộc lao động tương đồng với giai cấp trung lưu thì những bất lực về giáo dục của họ vẫn tồn tại dai dẳng. Mức độ bất bình đẳng giữa con em công nhân và các tầng lớp khác trong giáo dục còn nghiêm trọng hơn khi di chuyển lên bậc thang giáo dục cao hơn. Nguyên nhân của sự bất bình đẳng này?
  7. 2. Nhân tố xã hội – giai cấp (tiếp) - Hoàn cảnh vật chất của gia đình lao động có ảnh hưởng tới con đường giáo dục của con cái họ (điều kiện học tập, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe…) - Những giá trị văn hóa gia đình và bố mẹ truyền lại cho con cái (truyền thống gia đình, tư tưởng, quan niệm,…).
  8. 3. Tác động của quá trình bùng nổ dân số và dân số học đường - Sự bùng nổ dân số gây khó khăn cho việc phát triển giáo dục, như dân số học đường tăng quá nhanh, cơ sở trường lớp, đội ngũ giáo viên không theo kịp… ngược lại trình độ dân trí thấp… cũng chi phối tới sự gia tăng dân số.
  9. - Sự phát triển của dân số nói chung và học đường nói riêng tạo nên sức ép mạnh trong quá trình phát triển của hệ thống giáo dục trên các mặt sau: + Xã hội không đào tạo đủ giáo viên, không có đủ cơ sở vật chất để thu nhận trẻ em đến tuổi đi học, điều đó khiến cho số lượng người mù chữ ngày càng tăng cao. + Số lượng học sinh đông nên mỗi lớp có tới 50 đến 60 học sinh, nhiều nơi phải học một ngày ba ca nên đã gây trở ngại cho việc bảo đảm chất lượng giáo dục…
  10. 4. Giới tính - Giới tính ảnh hưởng tới giáo dục vì con trai và con gái nhận những hướng giáo dục khác nhau, dồn về những nghề nghiệp khác nhau… - Ngoài ra, quan niệm về giới tính của truyền thống dân tộc cũng có ảnh hưởng đến quá trình giáo dục (ví dụ như tư tưởng trọng nam khinh nữ;…). - Nếu tính trung bình cho tất cả các quốc gia đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ biết chữ thấp hơn 29% so với nam giới, số năm đến trường trung bình thấp hơn 45% so với nam giới và tỷlệ nhập học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông của nữ thấp hơntương ứng là 9%, 28% và 49% so với nam. (Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục )
  11. II. Bất bình đẳng giáo dục và xã hội 1. Quan điểm về người tài năng - Tăng cường sự bình đẳng về cơ hội trong giáo dục là chìa khóa để sinh ra một xã hội mới đó là xã hội có người nhiều tài năng. - Trong xã hội tài năng con người có thể tự do di động lên xuống trong bậc thang nghề nghiệp tùy theo tài năng của mình, ở đây hệ thống giáo dục tác động rất mạnh và không thiên vị để đưa cá nhân vào vị trí thích hợp với khả năng của họ, còn việc họ sinh ra ở giai cấp nào, gia đình nào… hoàn toàn không cản trở sự thành công của họ.
  12. 1. Quan điểm về người tài năng (tiếp) - Đặc trưng của xã hội này: + Lợi thế về thu nhập của cá nhân là phụ thuộc vào tài năng của mỗi người và không dính dáng gì đến nguồn gốc xuất thân của họ (giai cấp, dân tộc, giới tính…). + Kết quả giáo dục phải tùy thuộc vào tài năng và phải có sự bình đẳng về cơ hội giáo dục để các cơ may thành công trong nhà trường đều như nhau đối với tất cả mọi người.
  13. 1. Quan điểm về người tài năng (tiếp) - Muốn làm được điều đó cần quan tâm đến hai vấn đề sau: + Trong xã hội này sự bất bình đẳng ít nhiều được coi là kết quả không tránh khỏi của nhiều khác biệt cá nhân như trí tuệ, tài năng… + Một xã hội nhiều tài năng là một xã hội có mang sẵn sự bất bình đẳng xã hội, cái mà xã hội đó hứa hẹn đó là sự bình đẳng về cơ hội giáo dục cho mọi người và trên cơ sở bình đẳng đó mọi người sẽ cạnh tranh nhau học tập, làm ăn… ở đây giáo dục chỉ cung cấp vị trí thích hợp cho việc tuyển chọn con người vào vị trí phù hợp.
  14. 2. Bất bình đẳng cơ hội giáo dục theo giai cấp và giới tính Bất bình đẳng về giai cấp (giai cấp của những người giàu có và giai cấp của những người lao động) tạo ra bất bình đẳng về cơ hội giáo dục, nhất là khi chuyển lên bậc thang giáo dục cao hơn.
  15. 2. Bất bình đẳng cơ hội giáo dục theo giai cấp và giới tính (tiếp) - Khác biệt giới: Tạo ra sự bất bình đẳng về cơ hội giáo dục giữa trẻ em trai và trẻ em gái. Qua thực tế cho thấy nam giới thường nhận được mức độ giáo dục cao hơn nhiều nữ giới, đặc biệt nó thường xảy ra ở những nước đang phát triển. Mặc dù xã hội đã tạo ra những sự bình đẳng trong giáo dục nhưng con trai và con gái vẫn được giáo dục theo hướng khác nhau về nghề nghiệp.
  16. Theo số liệu thống kê, ở nước ta, số nam giới làm cán bộ quản lý (CBQL) cao hơn 5 lần so với nữ giới. Ngay cả trong những ngành có đông cán bộ nữ như ngành giáo dục chiếm đến 70% là nữ nhưng nam giới thường vẫn đứng đầu các cơ sở giáo dục, số lượng, tỷ lệ nữ tham gia quản lý rất thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của họ. (Bình đẳng giới trong giáo dục – Nhân dân)
  17. Báo cáo xu hướng việc làm Việt Nam năm 2010 của Tổ chức Lao động quốc tế ILO đã nêu bật sự mất cân bằng ngày càng tăng đối với phụ nữ Việt Nam trong việc tiếp cận các cơ hội trên thị trường lao động. Năm 2009, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ là 72,3%, thấp hơn nam giới 8,7%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam giới không chỉ cao hơn mà còn tăng nhanh hơn, ví dụ mức tăng đối với nam giới từ 2007-2009 là 2,6%, còn với phụ nữ là 1,8%. Năm 2009, tỷ lệ việc làm bấp bênh trong tổng số phụ nữ có việc làm là 69,1%, cao hơn nam giới 14,7%. Gần 87% phụ nữ Việt Nam làm công việc tự kinh doanh hoặc làm việc gia đình (không được trả lương), chứng tỏ họ hoàn toàn không được nhận bảo trợ xã hội hay trả lương công bằng như nam giới… (Bình đẳng cơ hội về giáo dục, đào tạo - con đường dẫn tới công việc bền vững cho phụ nữ )

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản