Chương I: Lý luận chung về hàng hóa

Chia sẻ: Tran Tuyen Tuyen | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:21

0
274
lượt xem
77
download

Chương I: Lý luận chung về hàng hóa

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hàng hoá công cộng là những loại hàng hoá mà việc một cá nhân này đang hưởng thụ lợi ích do hàng hoá đó tạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng hành hưởng thụ lợi ích của nó.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chương I: Lý luận chung về hàng hóa

  1. Chương I. Lý luận chung về hàng hóa 1.1 Hàng hoá công cộng 1.1.1. Khái niệm, thuộc tính, phân loại a. Khái niệm. -VD: Hệ thống đèn chiếu sáng trên các con đường là một hàng hoá công cộng - Khái niệm: Hàng hoá công cộng là những loại hàng hoá mà việc một cá nhân này đang hưởng thụ lợi ích do hàng hoá đó tạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng hành hưởng thụ lợi ích của nó. b. Thuộc tính cơ bản của hàng hoá công cộng -Hàng hoá công cộng không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng. Nói như vậy có nghĩa là khi có thêm một người sử dụng hàng hoá công cộng sẽ không làm giảm lợi ích tiêu dùng của những người tiêu dùng hiện có. Chẳng hạn các chương trình truyền thanh, truyền hình không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng, chúng có thể được rất nhiều người theo dõi cùng một lúc. Việc có ai đó mở hoặc tắt đài hoặc vô tuyến không ảnh hưởng đến mức độ tiêu dùng của người khác. Tương tự như vậy, an ninh quốc gia do quốc phòng mang lại cũng không có tính cạnh tranh. Khi dân số của một quốc gia tăng lên thì không vì thế mà mức độ an ninh mà mỗi người dân được hưởng từ quốc phòng bị giảm xuống. -Thuộc tính thứ hai của hàng hoá công cộng là không có tính loại trừ trong tiêu dùng, có nghĩa là không thể loại trừ hoặc rất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân từ chối không chịu trả tiền cho việc tiêu dùngcủa mình. Chẳng hạn, không ai có thể ngăn cản những người không chịu trả
  2. thuế để duy trì bộ máy quốc phòng khỏi việc hưởng thụ an ninh do quốc phòng mang lại. Thậm trí có tống họ vào tù thì họ vẫn được hưởng những lợi ích của quốc phòng. Tương tự, khi các chương trình truyền thanh đã phát sóng thì bất kể ai có phương tiện thu thanh đều có thể thưởng thức chương trình này, cho dù không trả một đồng nào cho đài phát thanh. VD: -Con đường nội thành: Là một hàng hoá không có tính loại trừ nhưng nó có tính cạnh tranh trong tiêu dùng, nếu lượng người lưu thông trên đường giảm xuống thì sẽ giảm tình trạng ách tắc giao thông và những người di chuyển trên đường sẽ được thuận lợi hơn -Kênh truyền hình VTV3: Là một kênh truyền hình mà bất kì ai dùng cũng không ảnh hưởng đến người khác, nó không có tính loại trừ đồng thời nó cũng không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng. -Con đường quốc lộ: Là một hàng hoá có tính loại trừ nhưng không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng -Kênh truyền hình VTC7: Là hàng hoá mà không phải ai muốn xem là cũng có thể xem, là hàng hoá có tính loại trừ, nhưng không có tính cạnh tranh c. Phân loại hàng hoá công cộng -Hàng hoá công cộng thuần tuý: là hàng hoá có cả 2 thuộc tính kể trên. VD: Kênh truyền hình VTV3 -Hàng hoá công cộng không thuần tuý là hàng hoá có 1 trong 2 kể trên. VD: Con đường nội thành, con đường quốc lộ. Trong hàng hoá cộng cộng không thuần tuý lại bao gồm:
  3. +Hàng hoá công cộng có thể bị tắc nghẽn là hàng hoá mà khi có thêm nhiều người cùng sử dụng chúng thì có thể gây ra sự ùn tắc hay tắc nghẽn khiến lợi ích của những người tiêu dùng trước đó sẽ bị giảm sút. VD:con đường nội thành +Hàng hoá công cộng có thể loại trừ bằng giá là những thứ hàng hoá mà lợi ích do chúng tạo ra có định giá. VD:Con đường quốc lộ, kênh truyền hình VCT7 1.1.2. Cung cấp hàng hoá công cộng a. Cung cấp tối ưu hàng hoá - Đường cầu về hàng hoá là đường cầu tổng hợp của các nhu cầu cá nhân trong xã hội Hệ thống đèn P Q 1 2 3 PA 5 3 2 PB 4 5 1 PTH 9 5 3
  4. Dt P t DA 5 DB 4 3 2 1 0 1 2 3 Q Nguyên tắc: Cộng dọc các đường D (cộng với mức sẵn sàng chi trả) Cộng khoảng cách theo chiều dọc của các đường cầu cá nhân tới trục hoành tại các mức sản lượng đưa ra.
  5. Tổng quát: Dt S t t PB P* E PA 0 QB Q* QA Q b. Cung cấp hàng hoá công cộng thuần tuý Là việc cung cấp miễn phí. Tính loại trừ Có thể loại trừ HHCC thuần tuý Có thể tắc nghẽn Tính cạnh  tranh
  6. c.Cung cấp hàng hoá công cộng không thuần tuý Đối với hàng hoá công cộng có thể loại trừ bằng giá thì nên cung cấp theo hình thức cung cấp công cộng, còn đối với hàng hoá công cộng có thể bị tắc nghẽn thì nên cung cấp theo hình thức thu phí 1.2.Hàng hoá cá nhân 1.2.1.Khái niệm -VD: Một bát phở là một hàng hoá cá nhân -Khái niệm: Hàng hoá cá nhân là những loại hàng hoá mà việc một cá nhân này đang hưởng thụ lợi ích do hàng hoá đó tạo ra có ảnh hưởng đến lợi ích của người khác 1.2.2. Cung cấp hàng hoá cá nhân a. Cung cấp tối ưu hàng hoá cá nhân Bát phở Q P 1 2 3 QA 7 5 4 QB 5 2 1 Qtt 12 7 5
  7. P DB 3 DA Dt t 2 1 0 1 2 3 4 5 6 7 Q Đường tổng cầu của các đường cầu cá nhân về hàng hoá cá nhân được tính bằng cách cộng khoảng cách theo chiều ngang của các đường cầu cá nhân tới trục tung tại các mức giá đưa ra.
  8. Chương II. Thực trạng giáo dục đại học ở Việt Nam 2.1 Thành tựu của giáo dục đại học. Việt nam được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đánh giá là nước có thành tựu đáng kể về giáo dục, đào tạo so với nhiều nước có thu nhập tính theo đầu người tương đương. Trong đó giáo dục đại học cũng đạt được những thành tựu đáng kể: -Giáo dục đại học ngày càng được mở rộng về quy mô đào tạo, cơ sở vật chất ngày càng được nâng cấp, chương trình đào tạo dần được đổi mới. -Nhà nước thực hiện xã hội hóa để huy động tiềm năng của các thành phần kinh tế cho giáo dục và đào tạo. Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục đại học tăng từ 15% đến 18%, cơ cấu đầu tư cho những nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục đổi mới giáo dục, bồi dưỡng giáo viên. -Số lượng các trường đại học ngày càng tăng, cùng với đó là số lượng giáo viên và sinh viên tăng nhanh không chỉ trong giáo dục đại học công lập mà còn trong cả các trường giáo dục đại học ngoài công lập. Để thấy rõ hơn về vấn đề này các bạn có thể theo dõi những bảng số liệu và đồ thị dưới đây:
  9. • Số lượng các trường đại học Việt Nam 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Công lâp 109 96 110 123 131 148 168 179 187 201 243 275 305 322 Ngoài công 30 23 23 27 29 34 47 64 71 lâp.
  10. • Số lượng về giáo viên đại học ở Việt Nam 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 200 2006 2007 2008 5 Công 22. 23. 24. 26. 27. 27. 31. 33. 34. 40. 45. 51. lâp 42 54.8 8 5 1 1 1 9 4 4 9 0 7 3 Ngoài công 4.5 4.5 5.3 5.1 7.6 6.6 7.7 4.8 5.9 lâp. -Giáo dục đại học Việt Nam có bước phát triển khá ấn tượng vào năm 1990 tạo ra “khuôn mặt mới” quy mô sinh viên tăng bình quân 13%/năm. Từng bước biến giáo dục đại học cho số đông có tính chất đại chúng. Hệ thống được đa dạng hóa cho phép mở rộng trường ĐH ngoài công lập, liên kết đào tạo với nước ngoài, mở chi nhánh của ĐH nước ngoài tại Việt Nam. -Giáo dục đại học Việt Nam chuyển từ phúc lợi công miễn phí được hoàn toàn bao cấp tự phía nhà nước sang chế độ thu học phí.
  11. -Chính sách xã hội về giáo dục đã được thực hiện tốt hơn và có hiệu quả hơn: miễn, giảm học phí đối với sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cho vay với lãi suất thấp,….
  12. 2.2 Những tồn tại của giáo dục đại học Việt Nam. Giáo dục đại học Việt Nam có những thành tựu đáng kể nhưng bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế, những tồn tại mà giáo dục cần phải khắc phục để có thể tiến tới gần với giáo dục đại học trên thế giới, với những nước phát triển… -Dân số Việt Nam 86 Triệu dân có cơ cấu là dân số trẻ cứ 100 người thì có 60 người ở độ tuổi dưới 40 vì vậy áp lực cho giáo dục là rất lớn, Nhu cầu học của dân chúng ngày càng gia tăng. Việc đáp ứng về cơ sở vật chất và đội ngủ giảng viên chất lượng là vô cùng khó khăn cho các cấp lãnh đạo. -Các trường đại học ngoài công lập chưa được xác định là trường hoạt động vì lợi nhuận hay không vẫn còn chưa rõ. Như vậy còn chưa rõ các trường đại học ngoài công lập có cung cấp giáo dục đại học là hàng hóa công cộng hay cung cấp hàng hóa cá nhân. -Giáo dục đại học ngoài công lập và công lập trên thế giớ lại khác với Việt Nam. Các nước phát triển thì không có sự phân biệt giữa công lập và ngoài công lập nhưng Việt Nam thì lại khác. Với thế giới giáo dục đại học ngoài công lập có thể có chất lượng còn cao hơn công lập nhưng Việt Nam thì ngược lại. -Chất lượng giáo dục đại học Việt Nam còn chưa được chuẩn hóa, vẫn chưa có tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng giáo dục đại học Việt Nam. -Khó khăn ở các trường ngoài công lập Việt Nam: học phí là nguồn thu chính và gần như duy nhất nên khó khăn về cơ sở vật, chất đội ngũ
  13. giảng viên cơ hữu hạn chế do nhà trường phải đi thuê giảng viên ở các trường khác… Hơn nữa ngân sách nhà nước chỉ dùng đáp ứng cho ĐH công lập nên việc được cung cấp ngân sách cho các trường ngoài công lập lại càng khó khăn và gần như không có được nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước. Làm cho các trường ngoài công lập lại khó có thể cạnh tranh với các trường công lập. -Một số trường đại học ở Việt Nam bắt đầu cải cách nhưng lại không được cải cách toàn bộ do hạn chế số lượng giảng viên và cơ sở vật chất cũng còn yếu kém. Một giảng viên của Việt Nam phải đảm nhiệm dậy một lớp từ 60 đến 180 sinh viên thậm chí còn hơn thế. So sánh với các trường đại học trên thế giới, các nước phát triển thì lại khác họ đảm nhiệm với số lượng sinh viên chỉ có 15-30 sinh viên. Chất lượng sẽ được nâng lên rõ rệt với việc trao đổi một cách dễ dàng hơn với sinh viên và giảng viên. Không những vậy việc chuyển lên hình thức tín chỉ nhưng không toàn bộ khiến cho việc áp dụng hình thức tín chỉ chỉ mang hình thức bên ngoài. Các trường đại học trên thế giới học theo hình thức tín chỉ có thể chọn thầy, chọn giờ học, chọn môn học để phù hợp với thời gian học và sự yêu mến đối với những giảng viên giảng dạy có chất lượng. Nhưng do số lượng giảng viên có hạn, cơ sở vật chất có hạn nên việc áp dụng không triệt để, sinh viên chọn môn học nhưng không được chọn giảng viên giảng dạy môn học, như vậy không tạo ra được hình thức đào thải, cạnh tranh giữa các giảng viên trong trường, để nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên… -Chính phủ thực hiện điều tra cho thấy 50% sinh viên tốt nghiệp Đại học không tìm được làm đúng chuyên môn.
  14. -Thực tế việc giảng dạy còn thiếu liên kết với thực tế nhu cầu của thị trường. Ví dụ: Intel tìm kỹ sư cho cơ sở sản xuất ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Khi công ty thực hiện một cuộc kiểm tra đánh giá theo tiêu chuẩn với 2000 sinh viên Công nghệ thông tin Việt Nam thì có 90 ứng cử viên tức là chỉ có 5% vượt qua cuộc điều tra và trong đó chỉ có 40 người có đủ trình độ ngoại ngữ đạt yêu cầu tuyển dụng. -Xu hướng hiện nay càng nổ lên rõ rệt đầu vào đối với trường Đại học Việt Nam thì quá khó khăn nhưng đầu ra thì quá dễ dàng. Việc những học sinh học vất vả để đỗ vào một trường đại học lại rất khó khăn, nhưng tới khi bước vào cổng trường đại học thì việc ăn chơi xả láng đối với sinh viên lại chiếm một phần lớn. Đầu ra đối với sinh viên Việt Nam lại quá dễ dàng do chưa có một tiêu chuẩn rõ ràng. Đi ngược với các trường đại học trên thế giới các nước phát triển thì đầu vào quá dễ dàng để phục vụ nhu cầu học của dân chúng nhưng đầu ra thì phải lỗ lực mới có thể ra trường. Họ phải đạt được chuẩn của chương trình có như vậy chất lượng giáo dục đai học mới thực sự được nâng lên. -Thêm một xu hướng đi ngược với sự lựa chọn: Các trường Đại học được xếp tốp đầu của Việt Nam như Bách khoa, Kinh tế quốc dân, Y Hà nội… hiện nay số lượng sinh viên có xu hướng giảm xuống do việc đỗ đạt ở tốp này khó khăn đối với người học. Còn các trường tốp hai thì lại khác với cùng một ngành nghề trên thị trường đang có nhu cầu lớn thì việc đỗ đạt vào trường này lại trở nên dễ dàng hơn. Người học lại có xu hướng chọn các trường tốp 2 để dễ dàng trúng tuyển theo nguyện vọng, nếu như ở các trường tốp 1 có thể bị đẩy sang ngành học mà người học không mong muốn. 2.3 Yêu cầu của giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay.
  15. Từ những thực trạng của giáo dục đại học Việt Nam cho chúng ta những nhận xét về nền giáo dục đại học, thấy được những yêu cầu trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam như sau: 2.3.1Cần một thị trường giáo dục đại học. -Khi nền GDĐH chuyển sang nền GD cho số đông, một áp lực ngày càng lớn đã đè lên ngân sách nhà nước. Từ đó, đầu tư từ NSNN tính trên đầu SV đã có xu thế giảm liên tục trong những thập niên vừa qua. Vì vậy, một mặt xã hội yêu cầu ĐH phải được vận hành một cách có hiệu quả hơn, mặt khác, các trường ĐH phải tăng thu từ các nguồn thu khác ngoài NSNN, trong đó có học phí và mở rộng một số hoạt động có tính chất kinh doanh. Xã hội hiện đại rất đa dạng và phức tạp, việc ra quyết định và điều khiển tập trung là kém hiệu quả. Để có hiệu quả cần phải chuyển việc cung cấp trực tiếp các dịch vụ xã hội từ Chính phủ sang thị trường. (Theo đánh giá ở Mỹ, "Khi tư nhân hóa nhiều dịch vụ GD thì tiết kiệm được 15- 40% chi phí cho GD" - Murphy 1996). -Khi nền GDĐH còn là "tinh hoa", phần lớn ĐH có định hướng nghiên cứu, sản phẩm của nó sẽ là những "con người khoa học" chủ yếu đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho xã hội. Nhưng khi GDĐH đã là nền GD cho số đông, phần lớn ĐH lại là GD nghề nghiệp, tấm bằng ĐH của từng cá nhân sẽ là "tấm hộ chiếu vào đời". Chủ yếu GD nghề nghiệp cũng là đặc điểm của nền GDĐH ở những nước mới phát triển nền GDĐH. Do vậy, GDĐH ngày nay phải được xem chủ yếu là mang lại lợi ích cá nhân. -Mục tiêu xuất phát của thị trường hóa GDĐH là làm cho ĐH phải được tổ chức và vận hành một cách hiệu quả hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của phát triển kinh tế - xã hội.
  16. Như vậy, GDĐH nên từng bước giảm bớt sự tham gia trực tiếp của Chính phủ, giao cho thị trường để có hiệu quả hơn như mở rộng ĐH tư thục, hợp đồng giao một số ĐH công lập cho tư nhân. Các trường ĐH nên gắn kết với nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp, đào tạo theo đặt hàng, cho phép lập các công ty dịch vụ hoặc "kinh doanh mạo hiểm" ở các trường ĐH, lập trường ĐH trong các công ty lớn, cho phép các thầy cô giáo ở các ĐH làm việc bán thời gian ở các doanh nghiệp... 2.3.2 Toàn cầu hóa và "tư thục hóa" -Khi có thị trường dịch vụ GDĐH, một mặt chúng ta có cơ hội lựa chọn chính sách khai thác tiềm lực GDĐH của nước ngoài để phát triển GDĐH của nước mình, thậm chí có thể xuất khẩu GDĐH tại chỗ nhờ vào GDĐH của nước ngoài như kiểu của Singapore, Malaysia... Ngoài ra, chúng ta có điều kiện học tập qua hợp tác với nước ngoài từ các chương trình liên kết, các chi nhánh ĐH nước ngoài ở VN... Nhưng mặt khác, chúng ta cũng phải đương đầu với những khó khăn rất lớn: phải cạnh tranh không cân sức (tương tự như các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay) với nước ngoài... Hạn chế những mặt trái này của thị trường hóa luôn là một nhiệm vụ khó khăn ở những nước đang phát triển, đặc biệt đối với nước ta, một nước có nền kinh tế đang còn là nền kinh tế chuyển đổi. -Ngày nay biên giới giữa công lập và tư thục đã bị xóa mờ vì đa số ĐH tư thục đều nhận được tài trợ của Nhà nước, như ở Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ. Nói chung ĐH tư thục trên thế giới là không vì lợi nhuận (có lẽ trừ một số ít ĐH tư thục mới thành lập gần đây). Ở các nước châu Á còn có loại ĐH tư thục có mức "lợi nhuận thích hợp" hoặc "vì lợi nhuận một phần" (semi for - profit). Nhà nước vẫn kiểm soát tương đối chặt chẽ đối với ĐH tư thục. Trừ một số trường hợp ở Mỹ, Nhật, các trường tôn giáo, đa số cơ sở GDĐH ngoài công lập đều nằm ở "tầng cuối" trong "phân
  17. tầng" GDĐH của các nước và thường chỉ mở những ngành có chi phí đào tạo thấp hoặc đang là thị hiếu. -Từ những quan sát nói trên, có thể nhận ra một số vấn đề liên quan đến GDĐH Việt Nam, một mặt còn đang đứng khá xa trước xu thế và mãi băn khoăn về những hạn chế của thị trường hóa, mặt khác thị trường hóa với những tiêu cực lại vẫn đang xảy ra nhưng còn chưa có những giải pháp ngăn chặn hữu hiệu. Nước ta hiện có gần 12% số SV thuộc ĐH ngoài công lập và dự kiến sẽ tăng lên đến 40% vào năm 2010. Tuy vậy chính sách tài chính vẫn còn chưa rõ ràng. Nếu có chính sách hợp lý, hy vọng sẽ có hàng chục ngàn tỉ đồng hằng năm đầu tư vào loại trường ĐH này. Tuy vậy, hiện nay có một số đề xuất đổi mới lại "thái quá". Ví dụ, chuyển một số ĐH công lập và ĐH mở, bán công sang tư thục. ĐH tư thục hiện nay theo Quy chế là dạng công ty cổ phần còn chưa biết có là công ty hoạt động có vì lợi nhuận hay không. Vậy, thiết nghĩ, việc chuyển đổi này vừa là không phù hợp với tâm lý và truyền thống, vừa là không cần thiết.
  18. CHƯƠNG III. ĐÁNH GIÁ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Từ những thực trạng của nền giáo dục đại học chúng tôi đưa ra những đánh giá kết luận cho giáo dục đại học là hàng hóa công cộng hay hàng hóa cá nhân? Giáo dục đại học do khu vực nào cung cấp? và cung cấp bằng hình thức nào? 3.1 Giáo dục đại học là hàng hoá công cộng hay hàng hoá cá nhân? Giáo dục đại học là hàng hoá công cộng không thuần tuý. Tính loại trừ: đối với cả trường công lập và trường dân lập sinh viên đều phải nộp một khoản học phí để theo học tại truờng. tại các trường công lập thì mức học phí cao nhất là 240 ngàn 1 tháng. Sinh viên theo học tại các trường này cũng được hưởng những chính sách ưu đãi của chính phủ về việc miễn giảm học phí cho con em thương binh liệt sĩ. tại các trường dân lập mức đóng góp cao hơn rất nhiều và sinh viên không được hưởng các chính sách ưu đãi của chính phủ về học phí. Tính cạnh tranh: đối với các trường công lập do mức đóng góp thấp nên không đủ để nâng cao cơ sở hạ tâng. Mà hiện nay mọi người đều muốn theo học tại các trường công lập nên cơ sở hạ tầng của các trường công lập thường là không đáp ứng đuợc nhu cầu của xã hội. Để hạn chế số lượng sinh viên theo học tại các trường này Bộ Giáo Dục đã phải sử dụng biện pháp là chỉ tiêu tuyển sinh và điểm sàn cũng như điểm trúng tuyển của từng trường. các trường dựa vào chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm của Bộ Giáo Dục đưa ra để quyết định điểm chuẩn cào trường. Những thí sinh đạt điểm chuẩn thì được theo học. vì vậy tại trường công lập tính cạnh tranh của dịch vụ giáo dục rất cao. tại các trường dân lập tính cạnh tranh của dịch vụ giáo dục thấp hơn, do điểm chuẩn vào các trường này thấp hơn rất nhiều so với hệ công lập. 3.2. Hình thức cung cấp giáo dục đại học ở việt nam GDĐH là một hàng hoá công cộng đặc biệt, nó không phải là hàng hoá công cộng thuần tuý như quốc phòng. Là lĩnh vực hành động của chính phủ
  19. theo quan điểm chăm sóc vốn người, chính phủ đóng vai trò tích cực trong giáo dục cả công lẫn tư, với chính sách đa dạng hoá nguồn tài chính với tỷ lệ hợp lý, gọi chung là hỗ trợ công cho giáo dục. Trong xu thế toàn cầu hoá nói chung và GD nói riêng, vai trò của Nhà nước trong đầu tư cho GD có xu thế không còn là dịch vụ công chỉ do Nhà nước cung cấp nữa mà tư nhân cũng có thể cung cấp. GD ĐH của Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này. Đây là xu hướng tất yếu đã diễn ra trong quá trình đổi mới GD ĐH ở một số quốc gia đang phát triển. Hệ thống GD ĐH được đa dạng hoá: cho phép mở trường ĐH ngoài công lập, liên kết đào tạo với nước ngoài, mở chi nhánh của ĐH nước ngoài ở Việt Nam. Và Việt Nam cũng đã chuyển từ chính sách xem GD ĐH là một phúc lợi công miễn phí, được hoàn toàn bao cấp từ phía Nhà nước sang chế độ thu học phí. - Giáo dục ĐH được cung cấp theo 2 hình thức: Cả thu phí và miễn phí trong đó có miễn phí hoàn toàn và miễn phí một phần: +Các trường thuộc khu vực công: Các trường như Sư Phạm, cảnh sát,… được cung cấp miễn phí, sinh viên không phải đóng học phí; các trưòng thuộc khối quân sự còn được hỗ trợ thêm tiền và đồ dùng sinh hoạt hàng tháng, được nhà nước hỗ trợ rất nhiều, còn các trường khác thuộc khu vực công thì Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần, sinh viên theo học vẫn phải trả một khoản học phí nhất định. Tuy nhiên mức học phí đó là tương đối thấp so với khư vự tư nhân, ở các trường tư thục. Chính vì vậy mà trong điều kiện hiện nay,theo quan điểm của chính phủ thì đối với các trường đại học công lập, học phí thực hiện lộ trình “tăng dần, phù hợp với nguyên tắc chia sẻ và khả năng đóng góp thực tế của người học”. Bắt đầu từ 1/9/2009 học phí cao nhất được phép thu ở các trường công lập là 240000đồng/tháng so với mức cũ là 180000đồng/tháng nhằm nâng cao cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình giảng dạy và nghiên cứu của sinh viên
  20. và giảng viên, từ đó chất lượng đào tạo của các trường công lập so với các trường ngoài công lập. +Cung cấp tư nhân: các trường thuộc khu vực tư được cung cấp theo hình thức thu phí hoàn toàn, không có hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. Mức phí của các trường ngoài công lập cao gấp 3 – 6 lần mức phí của trường công lập. Trường Học phí (đồng/tháng) ĐH Chu Văn An 490000 - 650000 ĐH Dân lập Đông Đô 500000 - 520000 ĐH Dân lập Hải Phòng 790000 ĐH Dân lập Lương Thế Vinh 400000 - 450000 ĐH Phương Đông 550000 - 670000 ĐH Thăng Long 1100000 - 1150000 ĐH Kinh doanh và công nghệ 700000 ĐH Đại Nam 800000 ĐH Thành Tây 700000 Tuy nhiên,hình thức cung cấp dịch vụ giáo dục tư nhân với sự xuất hiện ngày càng nhiều các trưòng dân lập, tư thục ở Việt Nam hiện nay. Điều này có ảnh hưởng như thế nào đến hệ thống các trường công lập đang là một câu hỏi ó nhiều lời giải đáp khác nhau. Chính vì vậy, cần phải xem xét để đưa ra những phưong hướng tốt nhất cho nền giáo dục và đào tạo nước nhà. 3.3. Do khu vực nào cung cấp? Tức là nói về các chủ thể cung cấp hàng hóa trong nền kinh tế. Công cộng cung cấp hay tư nhân cung cấp. Công cộng cung cấp tức là do khu vực công (Nhà nước, các tổ chức xã hội…) cung cấp. Còn tư nhân cung cấp tức là do khu vực tư (doanh nghiệp, cá nhân…) cung cấp hàng hóa. Đối với giáo dục đại học ở việt nam hiện nay được cung cấp bởi cả khu vực tư nhân và khu vực công cộng. Công cộng cung cấp: là trường hợp các trường đại học công lập. Các truờng đại học công lập chịu sự quản lý của bộ giáo dục và các bộ khác. Ví dụ các

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản