CHƯƠNG I: NHẬP MÔN THỐNG KÊ

Chia sẻ: Đinh Văn Mậu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:40

0
155
lượt xem
33
download

CHƯƠNG I: NHẬP MÔN THỐNG KÊ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thống kê là hệ thống các phương pháp dùng để thu thập, xử lý vá phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và qui luật vốn có của chúng (mặt chất) trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: CHƯƠNG I: NHẬP MÔN THỐNG KÊ

  1. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi CHƯƠNG I NHẬP MÔN THỐNG KÊ I. Đối tượng nghiên cứu của thống kê học 1. Thống kê là gì? Thống kê là hệ thống các phương pháp dùng để thu thập, xử lý vá phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và qui luật vốn có của chúng (mặt chất) trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể. 2. Đối tượng nghiên cứu của thống kê Đối tượng nghiên cứu của thống kê là mặt lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của hiện tượng kinh tế - xã hội, tự nhiên trong một không gian và thời gian cụ thể, như biến động cơ học của dân số, hiện tượng vế quá trrình tái sản xuất sản phẩm, về đời sống vật chất văn hoá…. Cũng như mọi vật tồn tại trong xã hội, hiện tương kinh tế xã hội cũng tồn tại trên hai mặt: chất và lượng có liên quan mật thiết với nhau. Trong hiện tương kinh tế - xã hội mặt chất biểu hiện ở: đặc điểm, tính chất, đặc trưng, tính qui luật phát triển của hiện tượng nghiên cứu. Mặt lượng là những biểu hiện là những biểu hiện được biểu hiện bằng những con số cụ thể nói lên: qui mô, tốc độ phát triển, kết cấu…. Thống kê không nghiên cứu trực tiếp mặt chất của hiện tượng kinh tế - xã hội mà chỉ nghiên cứu mặt số lượng cụ thể của hiện tượng kinh tế xã hội. Thông qua phân tích hệ thống chhỉ tiêu thống kê của những con số cụ thể, chúng ta rút ra được những đặc điểm, tính chất, đặc trưng và tính qui luật phát triển kinh tế xã hội qua từng thời gian và địa điểm cụ thể, Thống kê nghiên cứu số lớn của các hiện tượng kinh tế xã hội là xuất phát từ qui luật số lớn trong lý thuyết xác suất và tính qui luật thống kê. Thông qua nghiên cứu số lớn các hiện tượng cá biệt nhằm loại bỏ tác động ngẫu nhiên, riêng lẻ cá biệt, nhằm bộc lộ rõ tính tất nhiên, tính phổ biến, điển hình chung của số lớn hiện tượng nghiên cứu. II. Qui luật số lớn và tínhqui luật của thống kê Qui luật số lớn là một qui luật của lý thuyết xác suất, ý nghĩa của qui luật này là tổng hợp sự quan sát số lớn tới mức đầy đủ các sự kiện cá biệt ngẫu nhiên thì tính tất nhiên của hiện tượng sẽ bộc lộ rõ rệt qua đó sẽ nói lên được bản chất của hiện tượng. Thống kê vận dụng qui luật của số lớn để lượng hoá bản chất và qui luật của hiện tượng kinh tế xã hội thong qua tính qui luật của thống kê. Tính qui luật của thống kê là một trong những hình thức biểu hiện mối quan hệ chung của các hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội, Lý thuyết thống kê 1
  2. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi Về tính chất, tính qui luật thống kê cũng như các qui luật khác nói chung, phản ánh những mối quan hệ nhân quả tất nhiên. Nhưng các mối quan hệ này thường không mang tính chất chung rộng rãi mà phải phụ thuộc vào điều kiện phát triển cụ thể của hiện tượng. III. Một số khái niệm thường dùng trong thống kê 1. Tổng thể thống kê, đơn vị tổng thể thống kê Tổng thể thống kê là tập hợp các đơn vị (hay phần tử) thuộc hiện tượng nghiên cứu, cần quan sát, thu thập và phân tích về mặt lượng của chúng theo một hay một số tiêu thức nào đó. Các đơn vị (hay phần tử) cấu thành tổng thể thống kê gọi là đơn vị tổng thể. Ví dụ: Muốn tính độ tuổi trung bình của nữ sinh viêncủa lớp Y thì tổng thể này sẽ là toàn bộ nữ sinh viên của lớp Y, còn mỗi nữ sinh viên của lớp được gọi là một đơn vị tổng thể. Như vậy thực chất của việc xác định tổng thể thống kê là việc xác định các đơn vị tổng thể. Đơn vị tổng thể là xuất phát điểm của quá trình nghiên cứu thống kê vì nó chứa đựng những thông tin ban đầu cho qua trình nghiên cứu. Tổng thể đồng chất: Là tổng thể bao gồm các đơn vị giống nhau hay một số đặc điểm chủ yếu có lien quan trực tiếp đến mục đích nghiên cứu. Ví dụ: Mục đích nghiên cứu là tìm hiểu về hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn TP. HCM thì tổng thể các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn TP.HCM là một tổng thể đồng chất, còn tổng thể các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM là một tổng thể không đồng chất. 2. Các loại tổng thể - Tổng thể chung: Bao gồm các đơn vị thuộc phạm vi hiện tượng nghiên cứu đã được xác định. - Tổng thể bộ phận: Bao gồm nột số đơn vị thuộc phạm vi hiện tượng nghiên cứu đã xác định. - Tổng thể đồng chất: Bao gồm các đơn vị giống nhau ở một số đặc điểm chủ yếu có liên quan mục đích nghiên cứu. - Tổng thể không đồng chất: Bao gồm các đơn vị không giống nhau ở một số đặc điểm chủ yếu có liên quan mục đích nghiên cứu - Tổng thể bộc lộ: Bao gồm các đơn vị mà trực tiếp quan sát hoặc nhận biết được. Lý thuyết thống kê 2
  3. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi - Tổng thể tiềm ẩn: Bao gồm các đơn vị mà không trực tiếp quan sát hoặc nhận biết được (những người mê tín, những người thích nhạc cổ điển…) 3. Tiêu thức thống kê: Nghiên cứu thống kê phải dựa vào những đặc điểm của đơn vị tổng thể. Đơn vị tổng thể có nhiều đặc điểm, tuỳ theo mục đích nghiên cứu một số đặc điểm được chọn ra để nghiên cứu. Ví dụ: Nghiên cứu nhân khẩu, mỗi nhân khẩu có các tiêu thức như giới tính, độ tuổi…., nghiên cứu doanh nghiệp như số lượng công nhân, vốn, giá trị sản xuất. Tiêu thức thống kê được phân làm hailoại: Tiêu thức thuộc tính: là tiêu thức phản ánh tính chất hay loại hình của đơn vị tổng thể, không có biểu hiện trực tiếp bằng con số. Ví dụ: Các tiêu thức như: giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo… Tiêu thức số lượng: là tiêu thức có biểu hiện trực tiếp bằng con số Ví dụ: các tiêu thức như: tiền lương của công nhân, chiều cao, cân nặng trung bình của con người. Các trị số khác nhau của tiêu thức số lượng là gọi là lượng biến. Tuổi là tiêu thức số lượng nhưng lượng biến là18 tuổi, 20 tuổi. Lượng biến được phân làm hai loại: Lượng biến rời rạc: là lượng biến mà các giá trị có thể là hữu hạn hay vô hạn và có thể đếm được, như số công nhân, số sản phẩm. Lượng biến liên tục: các giá trị của nó có thể lấp kín cả một khoảng trên trục số, như trọng lượng, chiều cao của sinh viên, năng suất của cây trồng. 4. Chỉ tiêu thống kê: Là các trị số phản ánh các đặc điểm, tính chất cơ bản của tổng thể thống kê trong điều kiện thời gia và không gian xác định. Ví dụ bảng cơ cấu ngành tại tỉnh A trong năm 2008. Chỉ tiêu Giá trị sản lượng Cơ cấu(%) Nông nghiêp 75 10.2 Công nghiệp 350 47.6 Dịch vụ 310 42.2 Tổng 735 100 Phân loại: Chỉ tiêu thống kê được chia làm hai loại: Lý thuyết thống kê 3
  4. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi Chỉ tiêu khối lượng: Các chỉ tiêu biểu hiện quy mô, khối lượng của tổng thể nghiên cứu, như số nhân khẩu, số doanh nghiệp, số vốn, vốn lưu động… Chỉ tiêu chất lượng: là chỉ tiêu biểu hiện tính chất trình độ phổ biến, quan hệ so sánh của hiện tượng nghiên cứu, như giá thành đơn vị sản phẩm, năng suất lao động, năng suất cây trồng, tiền lương … CHƯƠNG II QÚA TRÌNH NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ Đối tượng của nghiên cứu thống kê thường là hiện tượng phức tạp, nên nghiên cứu thống kê thường trải qua một quá trình bao gồm nhiêu giai đoạn: điều tra thống kê, tổng hợp thống kê, phân tích thống kê và dự đoán. Nhu cầu thông tin cho phân tích thống kê và dự đoán quyết định đến quá trình thu thập và xử lý thông tin. Do đó, trong thực tế trước khi thu thập thông tin người ta phải dự kiến một danh mục hệ thống chỉ tiêu thống kê nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin cho việc phân tích và dự báo. I. Xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê 1. Khái niệm hệ thống chỉ tiêu thống kê Hệ thống chỉ tiêu thống kê là một tập hợp nhiều chỉ tiêu có mối liên hệ lẫn nhau và bổ sung cho nhau nhằm phản ánh các mặt, các tính chất quan trọng nhất, các mối lien hệ cơ bản nhất giữa các mặt của tổng thể. Hệ thống chỉ tiêu có thể xây dựng cho từng đơn vị sản xuất kinh doanh, từng ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Ví dụ: giá trị tổng sản lượng, chi phí sản xuất, lợi nhuận, …, tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân, về lực lượng lao động, văn hoá,  đời sống và y tế… 2. Các yêu cầu cơ bản để xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê Những căn cứ để xây dựng hệ thống chỉ tiêu Hệ thống chỉ tiêu thống kê được dựa trên những căn cứ cụ thể như sau: - Mục đích nghiên cứu - Tính chất và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu - Khả năng nhân lực và kinh phí cho phép tiến hành thu thập tổng hợp các chỉ tiêu theo yêu cầu Những yêu cầu của việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu Một hệ thống chỉ tiêu phải có khả năng nêu lên được mối liên hệ giữa các bộ phận cũng như giữa các mặt của đối tượng nghiên cứu với các hiện tượng liên quan, trong khuôn khổ đáp ứng mục đích nghiên cứu. Trong hệ thống chỉ tiêu phải có các chỉ tiêu mang tính chất bộ phận của thống kê và các chỉ tiêu phản ánh các nhân tố một cách đầy đủ tổng thể nghiên cứu. Phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung, phương pháp và phạm vi tính toán của các chỉ tiêu cùng loại. Lý thuyết thống kê 4
  5. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi II. Điều tra thống kê 1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ điều tra thống kê Điều tra thống kê là tổ chức một cách khoa học và theo một kế hoạch thống nhất để thu thập, ghi chép các tài liệu về hiện tượng nghiên cứu. Điều tra thống kê cung cấp những tài liệu về đơn vị tổng thể, cần thiết cho các khâu nghiên cứu tiếp theo của toàn bộ quá trình nghiên cứu. Tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra phản ánh thực tế khách quan về hiện tượng nghiên cứu, là căn cứ để nhận thức đúng hiện tượng, đánh giá đúng tình hình giúp các nhà quản lý đưa ra những quyết định đúng đắn về vấn đề đang nghiên cứu. Nhiệm vụ của điều tra thống kê là phải cung cấp tài liệu về các đơn vị tổng thể cần thiết cho các giai đoạn tiếp theo của quá trình nghiên cứu thống kê. Tài liệu điều tra cần phải có chất lượng tức là phải được xác định một cách khoa học, chính xác và ghi chép trung thực. Kịp thời tức là đúng thời gian qui định theo kế hoạch điều tra. Phải đầy đủ theo đúng nội dung và số đơn vị tổng thể theo kế hoạch đề ra ban đầu. 2. Các loại điều tra thống kê Nếu căn cứ theo tính chất liên tục hay không liên tục của quá trình đăng ký, ghi chép tài liệu ban đầu ta có thể phân làm 2 loại điều tra: - Điều tra thường xuyên: tiến hành ghi chép, thu thập tài liệu ban đầu của hiện tượng nghiên cứu một cách thường xuyên, liên tục và có thể hệ thống, gắn liền với quá trình phát sinh, phát triển biến động của hiện tượng. - Điều tra không thường xuyên: là quá trình tiến hành, thu thập ghi chép tài liệu ban đầu của hiện tượng nghiên cứu một cách không liên tục, không gắn liền với quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng. Tài liệu điều tra không thường xuyên phản ánh trạng thái của hiện tượng nghiên cứu tại một trạng thái nhất định Nếu căn cứ vào phạm vi của đối tượng điều tra, ta có thể phân làm 2 loại - Điều tra toàn bộ: là tiến hành thu thập tài liệu toàn thể các đơn vị tổng thể của hiện tượng nghiên cứu, không bỏ sót bất kỳ đơn vị nào. - Điều tra không toàn bộ: tiến hành thu thập, ghi chép tài liệu ban đầu trên một số đơn vị được chọn ra từ toàn bộ các đơn vị của tổng thể của hiện tượng nghiên cứu. Điều tra không toàn bộ chia làm 3 loại: o Điều tra chọn mẫu: Tiến hành thu thập, ghi chép tài liệu theo yêu cầu nghiên cứu trên một số đơn vị mẫu được chọn ra từ tổng thể nghiên cứu dựa trên nguyên tắc chọn mẫu trong lý thuyết xác suất. o Điều tra trọng điểm: tổ chức thu thập tài liệu theo yêu cầu nghiên cứu chỉ tiến hành trên một hay một số bộ phận chủ yếu, tập trung nhất trong tổng thể hiện tượng nghiên cứu. o Điều tra chuyên đề: tổ chức điều tra thu thập tài liệu theo từng chuyên đề nghiên cứu, chỉ tiến hành trên một số ít đơn vị của tổng thể Lý thuyết thống kê 5
  6. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi 3. Các phương pháp thu thập tài liệu của điều tra thống kê Phương pháp thu thập trực tiếp Thu thập trực tiếp là phương pháp điều tra thu thập tài liệu điều tra trong đó điều tra viên phải trực tiếp quan sát, tiếp xúc với đơn vị điều tra để trực tiếp thực hiện các công việc điều tra, ghi chép kết quả điều tra. - Ưu điểm: người điều tra có thể phát hiện những thiếu sót trong khi cung cấp tài liệu của đơn vị điều tra, kịp thời sửa chữa và bổ sung tài liệu cho chính xác. - Nhược điểm: mất nhiều thời gian, công sức và tốn kém Phương pháp thu thập gián tiếp Thu thập gián tiếp là phương pháp điều tra thu thập tài liệu điều tra trong đó người điều tra không trực tiếp tiếp xúc với đối tượng điều tra, không trực tiếp làm công việc điều tra - Ưu điểm: ít tốn kém - Nhược điểm: chất lượng tài liệu thường không cao vì người điều tra không thể phát hiện được những sai sót trong cung cấp tài liệu để sửa chữa, bổ sung,… 4. Các hình tức tổ chức điều tra thống kê Báo cáo thống kê định kỳ Báo cáo thống kê định kỳ là hình thức tổ chức điều tra thống kê thường xuyên, có định kỳ, theo nội dung và chế độ báo cáo thống nhất do cơ quan có thểm quyền qui định. Nội dung của báo cáo thống kê định kỳ: những chỉ tiêu có liên quan đến lĩnh vực quản lý vĩ mô, phục vụ cho công việc quản lý nền kinh tế quốc dân một cách thống nhất và tập trung nhất. Điều tra chuyên môn Là hình thức tổ chức điều tra không thường xuyên, được tiến hành theo kế hoạch và phương pháp qui định riêng cho mỗi lần điều tra.Loại điều tra này khi nào cần mới tổ chức vào một thời điểm hay một thời kỳ nhất định, thường cho các đối tượng mang tính chất không bắt buộc. Ví dụ điều tra dân số, điều tra chăn nuôi… 5. Sai số trong điều tra thống kê Một trong 3 yêu cầu quan trọng của tài liệu điều tra thống kê là chính xác, trung thực. Do vậy, bất kỳ một cuồc điều tra dù tổ chức theo hình thức nào, thu thập bằng phương pháp nào đều phải phấn đấu đảm bảo yêu cầu chính xác với mức độ ký tưởng cao nhất. Tuy nhiên, trong thực tế điều tra, sai sót không thể tránh khỏi. Cần tìm ra nguyên nhân gây sai số, tìm biện pháp phấn đấu sao cho sai số ít nhất, nhỏ nhất. Sai số trong điều tra thống kê là sự chênh lệch giữa các trị số của tiêu thức điều tra mà ta ghi chép thu thập được trong quá trình thực hiện điều tra với các trị số thực tại của hiện tượng nghiên cứu. Lý thuyết thống kê 6
  7. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi Sai số trong điều tra làm giảm tính chính xác, đúng đắn, trung thực của kết quả điều tra, giảm chất lượng của tài liệu điều tra thu thập được. Từ đó ảnh hưởng đến chất lượng, tính đúng đắn, chính xác, trung thực của kết quả tổng hợp, phân tích thống kê trong giai đoạn tiếp theo. - Nguyên nhân gây sai số: o Ghi chép sai sót o Tính chất đại biểu của mẫu điều tra không cao, không tiêu biểu cho tổng thể chung - Phương pháp khắc phục: khắc phục các nguyên nhân gây sai sót. Cụ thể: tiến hành mỗi cuộc điều tra cần có sự chuẩn bị tốt mọi điều kiện thực hiện, kế hoạch và phương án điều tra, làm tốt công tác giáo dục tư tưởng, nhận thức đúng đắn ý nghĩa, mục địch cuộc điều tra, tập trung huấn luyện điều tra…. Lựa chọn đối tượng điều tra, phương pháp xác định mẫu điều tra phải dựa trên cơ sở phân tích sâu sắc về mặt lý luận và thực tiễn tồn tại… III. Tổng hợp thống kê 1. Khái niệm và nhiệm vụ: - Khái niệm: tổng hợp thống kê là tiến hành tập trung, chỉnh lý và hệ thống hoá một cách khoa học các tài liệu thu thập được trong điều tra thống kê. Đây là giai đoạn chuyển từ hiện tượng sang bản chất, từ cái riêng sang cái chung, từ ngẫu nhiên sang tất nhiên. Từ giai đoạn này các mối lien hệ nội tại của tổng thể được xác lập. - Nhiệm vụ: làm cho các đặc trưng riêng biệt của tổng thể mẫu bước đầu chuyển thành các đặc trưng chung của toàn bộ tổng thể. 2. Những vấn đề chủ yếu của tổng hợp thống kê Mục đích của tổng hợp thống kê: khái quát hoá những đặc trưng chung, những cơ cấu tồn tại khách quan theo các mặt của tổng thể nghiên cứu bằng các chỉ tiêu thống kê. Nội dung của tổng hợp là danh mục các biểu hiện của những tiêu thức mà chúng được xác định trong nội dung điều tra. Kiểm tra tư liệu được thực hiện trong khâu điều tra. Tuy nhiên, khi tổng hợp vẫn phải kiểm tra lại nhằm đảm bảo tính chính xác của tài liệu, loại bỏ hết hay một phần nội dung của điều tra không đúng, nếu không, có điều kiện điều tra lại. Yêu cầu quan trọng nhất của tổng hợp: phải nêu lên cơ cấu theo các mặt của tổng thể nghiên cứu. Để đáp ứng yêu cầu này người ta sử dụng phương pháp phân tổ thống kê. 3. Bảng thống kê và đồ thị thống kê Bảng thống kê Lý thuyết thống kê 7
  8. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi Bảng thống kê là hình thức biểu mẫu thông dụng nhất được thiết kế với một số cột, số hàng để trình bày những kết quả tổng hợp thống kê biểu hiện bằng những con số cụ thể. Cấu tạo bảng thống kê gồm 2 phần: - Phần hình thức: Trong các bảng thống kê có hang loạt hàng ngang và cột dọc, có các tiêu đề và được giải thích bằng các chỉ tiêu thống kê. Các hang và các cột tạo thành các ô vuông được điển hình bằng những con số thống kê. Mỗi con số phản ánh một đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu. - Nội dung: Trong bảng thống kê người ta phân biệt phần chủ đề và phần giải thích. Phần chủ đề nêu lên tổng thể hiện tượng đặc trưng hoặc các bộ phận của chúng được trình bày trong bảng thống kê. Phần giải thích gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, nghĩa là giải thích phần chủ đề của bảng. TÊN BẢNG THỐNG KÊ Phần Các chỉ tiêu giải thích Giải thích Phần Chủ đề A 1 2 3 4 Tổng cộng Đồ thị thống kê Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc đường vẽ hình học để mô tả có tính quy ước các số liệu thống kê tổng hợp được, tính toán được. Hình vẽ đồ thị biểu thị khái quát đặc điểm chủ yếu về bản chất và quá trình phát triển, xu hướng phát triển của hiện tượng nghiên cứu. IV. Phân tích và dự đoán thống kê Lý thuyết thống kê 8
  9. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi 1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích và dự đoán thống kê Phân tích và dự đoán thống kê là nêu lên một cách tổng hợp bản chất cụ thể và tính qui luật của hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội trong điều kiện lịch sử nhất định qua biểu hiện bằng số lượng, tính toán mức độ tương lai của hiện tượng nhằm đưa ra những căn cứ cho quyết định quản lý. Khác với các loại phân tích và dự đoán kinh tế xã hội, phân tích và dự đoán thống kê phải lấy các con số thống kê làm tư liệu, dùng các phương pháp thống kê làm công cụ và dựa vào các lý luận kinh tế xã hội. Nhiệm vụ của phân tích và dự báo thống kê là phải nêu rõ bản chất cụ thể, tính qui luật, sự phát triển tương lai của hiện tượng kinh tế nghiên cứu. 2. Các yêu cầu có tính chất nguyên tắc cần được tuân thủ trong phân tích và dự đóan thống kê - Phân tích và dự đoán thống kê phải được tiến hành trên cơ sở phân tích lý luận kinh tế xã hội. - Phân tích và dự đoán thống kê phải căn cứ vào toàn bộ sự kiện và đặt chúng trong mối quan hệ với nhau. - Phân tích và dự đoán thống kê đối với các hiện tượng có tính chất và hình thức phát triển khác nhau phải áp dụng phương pháp khác nhau. - Mục đích cụ thể của phân tích và dự đoán. - Lựa chọn, đánh giá tư liệu dùng để phân tích và dự đoán. - Xác định các phương pháp và các chỉ tiêu . - So sánh đối chiếu chỉ tiêu - Dự đoán mức độ tương lai của hiện tượng - Đề xuất các quyết định quản lý. Lý thuyết thống kê 9
  10. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi CHƯƠNG III PHÂN TỔ THỐNG KÊ I. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tổ thống kê 1. Khái niệm Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ có tính chất khác nhau. Khi phân tổ thống kê, các đơn vị tổng thể được lập thành một số tổ, giữa các tổ có sự khác nhau về tính chất, trong phạm vi mỗi tổ các đơn vị đều có sự giống nhau (hoặc gần giống nhau) về tính chất theo tiêu thức được dùng làm căn cứ phân tổ. 2. Ý nghĩa Các hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội là những tổng thể vô cùng phong phú, phức tạp vì chúng tồn tại và phát triển dưới các loại hình thức khác nhau. Mỗi loại hình có qui mố và đặc điểm phát triển khác nhau. Do vậy, muốn phản ánh dược đúng đắn bản chất và quy luật phát triển của hiện tượng nghiên cứu, mà chỉ dựa vào những con số tổng cộng chung chung thì vẫn chưa đủ. Trái lại phải tìm mọi cách nêu lên cho được đặc điểm riêng của từng loại hình, từng bộ phận cấu thành nên tổng thể, phải đánh giá cho tầm quan trọng và mối liên hệ tác động qua lại giữa chúng với nhau, để qua đó nhận thức được đầy đủ đặc điểm chung của toàn bộ tổng thể hiện tượng nghiên cứu. Do vậy, cần thiết phải phân tổ thống kê. Phân tổ thống kê được xem là phương pháp cơ bản để tổng hợp thống kê. Đồng thời cũng là một phương pháp quan trọng của phân tích thống kê. 3. Nhiệm vụ của phân tổ thống kê - Phân chia các loại hình kinh tế xã hội của hiện tượng nghiên cứu - Biểu hiện kết cấu của hiện tượng nghiên cứu - Biểu hiện mối liên hệ giữa các tiêu thức II. Tiêu thức phân tổ thống kê 1. Khái niệm Tiêu thức phân tổ là tiêu thức được chọn làm căn cứ để tiến hành phân tổ thống kê. 2. Căn cứ để lựa chọn tiêu thức phân tổ Muốn lựa chọn tiêu thức phân tổ chính xác phải dựa theo những yêu cầu sau: - Phải dựa trên cơ sở phân tích lý luận sâu sắc để chọn ra tiêu thức bản chất, phù hợp với mục đích nghiên cứu. - Phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của hiện tượng nghiên cứu để chọn ra tiêu thức phân tổ thích hợp. Lý thuyết thống kê 10
  11. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi III. Phân tổ thống kê 1. Phân tổ theo tiêu thức thuộc tính Tiêu thức thuộc tính là tiêu thức không có sự đo lường về số lượng. Ví dụ: giới tính, trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa, loại hình doanh nghiệp... Các dãy số phân phối được lập theo tiêu thức này được gọi là dãy số phân phối thuộc tính. Xác định số tổ của mỗi dãy số phân phối thuộ tính là do bản chất của hiện tượng nghiên cứu quyết định. 2. Phân tổ theo tiêu thức số lượng Tiêu thức số lượng là loại tiêu thức mà sự biểu hiện cụ thể của nó là những con số như: tuổi, tiền lương, số lượng công nhân.... các dãy số phân phối được lập theo tiêu thức này gọi là dãy số lượng biến. Theo tiêu thức này sự khác nhau giữa các tổ thể hiện khác nhau về trị số lượng biến, có 2 trường hợp: • Tiêu thức số lượng có ít trị số: ví dụ phân tổ các hộ gia đình theo nhân khẩu, số con, điểm thi của một môn học.... Trong trường hợp này thường cứ mỗi trị số là một tổ. • Tiêu thức số lượng có nhiều trị số: Ví dụ phân tổ theo độ tuổi, phân tổ công nhân trong xí nghiệp theo năng suất lao động, trọng lượng của một loại gia súc... ta không thể thực hiện giống trườn hợp trên, vì nếu tương ứng với mỗi trị số là một tổ thì số tổ quá nhiều và người nghiên cứu sẽ khó quan sát và thấy rõ sự khác nhau giữa các tổ. Trong trường hợp này ta phân tổ có khoảng cách tổ, mỗi tổ có giớ hạn trên và giới hạn dưới. Giới hạn dưới là trị số nhỏ nhất của tổ và giới hạn trên là trị số lớn nhất của tổ. Trị số chênh lệch giữa giới hạn trên và giới hạn dưới của mỗi tổ gọi là khoảng cách tổ (h).Tùy theo mục đích cụ thể của phân tổ và đặc điểm biến thiên của lượng biến tiêu thức để quyết định xem phân tổ có khoảng cách đều hay không đều.  Khi phân tổ có khoảng cách đều nhau, trị số khoảng cách tổ được xác định x max − x min  Đối với trị số quan sát liên tục: h = k h: trị số khoảng cách tổ k: số tổ Xmax: trị số quan sát lớn nhất Xmin: trị số quan sát nhỏ nhất Ví dụ: Phân tổ 100 hộ nông dân trồng lúa theo mức năng suất lúa (tạ/ha). Giả sử năng suất thấp nhất 36 tạ/ha, cao nhất 48 tạ/ha. Phân thành 6 tổ. Như vậy: h = (48-36)/6 = 2 tạ/ha Lý thuyết thống kê 11
  12. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi Kết quả phân tổ ta được dãy số phân phối như sau: Mức năng suất lúa (tạ/ha) Số hộ 36-38 6 38-40 13 49-42 25 42-44 40 44-46 11 46-48 5 Tổng cộng 100 ( x max − x min ) − (k − 1)  Đối với trị số quan sát rời rạc: h = k Kết quả phân tổ ta được dãy phân phối như sau: Tuổi nghề Số công nhân 5-7 80 8-10 210 11-13 360 14-16 225 17-19 125 Tổng cộng 1000  Phân tổ có khỏang cách không đều nhau: việc tiến hành phân tổ theo khoảng cách tổ không bằng nhau được tiến hành rộng rãi trong thống kê. Ví dụ: phân chia nhân khẩu theo độ tuổi có những khoảng cách tổ không đều nhau: Dưới 1 tuổi Từ 1-3 tuổi Từ 4-6 thuổi Từ 7-16 tuổi.... 3. Phân tổ mở: Là phân tổ mà tổ đầu tiên không có giới hạn dưới, tô cuối cùng không có giới hạn trên, các tổ còn lại có thể có khoảng cách tổ đều hoặc không đều. Mục đích của việc phân tổ mở là để tổ đầu tiên và tổ cuối cùng chứa các đơn vị có trị số lượng biến đột biến và tránh việc hình thành quá nhiều tổ. Ví dụ: Mức năng suất lúa (tạ/ha) Số hộ
  13. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi ≥ 50 3 Tổng cộng 100 4. Phân tổ liên hệ Giữa các tieu thức mà thống kê nghiên cứu thường có mối quan hệ với nhau. Mối liên hệ này thể hiên sự thay đổi trị số tiêu thức này sẽ dẫn đến sự thay đổi của tiêu thức kia theo một qui luật nhất định. Để tìm hiểu tính chất và hình thức của mối liên hệ giữa các tiêu thức ta có thể sử dụng phương pháp phân tổ - phân tổ liên hệ. Việc lựa chọn các tiêu thức có mối liên hệ với nhau chủ yếu dựa vào sự hiểu biết và phân tích lý luận nghiên cứu. Các tiêu thức liên hệ với nhau được chia thành 2 loại: tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức kết quả. Ví dụ: nghiên cứu 35 cơ sở chăn nuôi heo thit, ta có kết quả phân tổ theo mức đầu tư thức ăn hỗn hợp (kg/ con/ngày) và tăng trọng bình quân (g/con/ngày): Mức đầu tư thức Số cơ sở Mức bình quân Tăng trọng bình ăn (kg/con/ngày) tổ (kg/con/ngày) quân (g/con/ngày)
  14. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi V. Dãy số phân phối 1. Khái niệm: Sau khi phân tổ tổng thể theo một tiêu thức nào đó, các đơn vị tổng thể được phân phối vào trong các tổ và sẽ có một dãy số phân phối. 2. Các loại dãy số phân phối: Theo tiêu thức thuộc tính: Phản ánh kết cấu tổng thể theo một tiêu thức thuộc tính nào đó. Ví dụ : Dãy số phân phối theo giới tính, theo trình độ, theo lĩnh vực sản xuất Theo tiêu thức số lượng: Phản ánh kết cấu tổng thể theo tiêu thức số lượng như năng suất lao động, theo tiền lương, tuổi nghề... Dãy số lượng biến gồm hai thành phần: - Lượng biến: là các trị số biểu hiện cụ thể của tiêu thức số lượng, thường ký hiệu xi - Tần số là đơn vị nhận được phân phối vào trong mỗi tổ, ký hiệu fi, mi, ni . Lý thuyết thống kê 14
  15. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi CHƯƠNG IV CÁC MỨC ĐỘ CỦA HIỆN TƯỢNG KINH TẾ XÃ HỘI I. Số tuyệt đối trong thống kê 1. Khái niệm, ý nghĩa và đặc điểm Số tuyệt đối trong thống kê biểu hiện qui mô, khối lượng của hiện tượng kinh tế trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể. Số tuyệt đối có thể biểu hiện số đơn vị của tổng thể hay bộ phận (số xí nghiệp, số công nhân,....) hoặc trị số của một nềnkinh tế nào đó. Số tuyệt đối có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quan lý kinh tế - xã hội. Qua số tuyệt đối ta có thể nhận thức rõ ràng tài nguyên đất nước, các khả năng tiềm tàng của nền kinh tế quốc dân, các kết quả phát triển kinh tế, văn hóa xã hội. Số tuyệt đối còn là căn cứ để xây dựng các chi tiêu phát triển kinh tế xã hội. Khác với số tuyệt đối toán học, mỗi số tuyệt đối trong thống kê đều bao hàm một nôi dung kinh tế-xã hội cụ thể, trong điều kiện thời gian và địa điểm nhất định. Do vậy, điều kiện để có số tuyệt đối chính xác là phải xác định chính các nội dung kinh tế-xã hội của chỉ tiêu nghiên cứu. 2. Đơn vị tính Số tuyệt đối thống kê bao giờ cũng có đơn vị tính toán cụ thể. Tùy theo tính chất của hiện tượng và mục đích nghiên cứu, số tuyệt đối có thể được tính bằng các đơn vị khác nhau: Đơn vị tính hiện vật là đơn vị tính phù hợp với đặc điểm vật lý của hiện tượng. Được sử dụng rộng rãi khi xác định qui mô, khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu dùng. Đơn vị tính hiện vật bao gồm: con, cái, chiếc,.... Đơn vị hiện vật qui ước: kg, tạ, tấn, lít, mét,.... Đơn vị tính thời gian lao động: (giờ công, ngày công) thường để tính lượng lao động hao phí để sản xuất những sản phẩm không thể tổng hợp, so sánh bằng các đơn vị tính khác hặc nhữn sản phẩm phức tạp do nhiều người thực hiện qua nhiều giai đoạn khác. Đơn vị tiền tệ: được sử dụng rộng rãi nhất trong thống kê biểu hiện giá trị sản phẩm. Nó giúp cho việc tổng hợp và so sánh nhiều loại sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau. 3. Các loại số tuyệt đối Tùy theo tính chất của hiện tượng nghiên cứu, ta có thể phân biệt 2 loại số tuyệt đối: Số tuyệt đối thời kỳ: phản ản qui mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu trong một độ dài thời gian nhất định. Nó hình thành thông qua sự tích lũy về lượng của hiện tượng suốt trong thời gian nghiên cứu. Các số tuyệt đối thời kỳ của cùng một chỉ tiêu có thể cộng được với nhau để có trị số của thời kỳ dài hơn, thời kỳ nghiên cứu càng dài thì trị số chỉ tiêu càng lớn. Lý thuyết thống kê 15
  16. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi Số tuyệt đối thời điểm: phản ánh qui mô, khối lượng của hiện tượng nghiên cứu tại một thời điểm nhất định. Số tuyệt đối thời điểm chỉ phản ánh tình hình của hiện tượng nghiên cứu tại môt thời điểm nào đó, trước và sau thời điểm đó trạng thái của hiện tượng có thể khác. Muốn có số tuyệt đối thời điểm chính xác phải qui định thời điểm hợp lý và phải tổ chức điều tra hợp lý. II. Số tương đối trong thống kê 1. Khái niệm, ý nghĩa và đặc diểm Số tương đối trong thống kê là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so sánh giữa các mức độ của hiện tượng nghiên cứu. Số tương đối trong thống kê có ý nghĩa quan trọng, nó là một trong những chỉ tiêu phân tích thống kê, nó tạo ra khả năng đi sâu nghiên cứu phân tích bản chất và mối quan hệ của các hiện tượng và quá trình kinh tế-xã hội. Những mối quan hệ đó có thể là kết cấu, quan hệ tỷ lệ, tốc độ phát triển, trình độ phổ biến, quan hệ so sánh... Số tương đối trong thống kê la kết quả so sánh giữa 2 chỉ tiêu đã có. Số tương đối nào cũng có gốc so sánh. Tùy theo cách so sánh, tùy theo nội dung dùng để so sánh ta sẽ thu được cac loại số tương đối khác nhau. 2. Đơn vị tính số tương đối Số tương đối thống kê được tính bằng các đơn vị đo lường khác nhau: số lần, phần trăm hay phần nghìn hoặc đơn vị đo lường kép. 3. Các loại số tương đối Số tương đối động thái: Số tương đối động thái (hay tốc độ phát triển) là quan hệ so sánh của 2 mức độ của cùng hiện tượng, nhưng 2 kỳ khác nhau và được biểu hiện bằng số lần hay phần trăm %. Mức độ được đem ra nghiên cứu gọi là mức độ kỳ nghiên cứu hay kỳ báo cáo (y1). Mức độ được dùng làm cơ sở so sánh được gọi là mức độ kỳ gốc (y0), công thức tính: y1 t= (ĐVT: số lần) y0 y1 t= .100 (ĐVT: %) y0 Trong đó: - t: số tương đối động thái - y1: mức độ kỳ nghiên cứu (báo cáo) - y0: mức độ kỳ gốc Ví dụ: Quí I năm 2006, công ty A đạt doanh thu năm 2004 là 3 tỷ đồng, năm 2005 đạt 2 tỷ đồng. Vậy số tươn đối động thái là: t= 3/2 = 1,5 lần hay 150%. Lý thuyết thống kê 16
  17. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi • Nếu tính các số tương đối động thái với kỳ gốc y0 thay đổi và kề ngay trước kỳ báo cáo, ta có các số động thái tương đối liên hoàn (hay tốc độ phát triển liên hoàn). Ví dụ: tình hình doanh thu bán hàng của công ty B như sau: Năm 2002 2003 2004 2005 Doanh thu (tỷ 10 12 14.4 15.84 đ) Các số động thái liên hoàn về doanh số của công ty như sau: y 2002 12 = = 1.2 = 120% y 2003 10 y 2004 14.4 = = 1.2 = 120% y 2003 12 y 2005 15.84 = = 1.1 = 110% y 2004 14.4 • Nếu tính các số tương đối động thái với kỳ gốc y0 cố định, ta có các số tương đối động thái định gốc (hay tốc độ phát triển định gốc) Theo ví dụ trên nếu ta chọn năm kỳ gốc cố định là doanh số bán năm 2002. Các số tương đối động thái cố định về doanh số bán của công ty như sau: y 2003 12 = = 1.2 = 120% y 2002 10 y 2004 14.4 = = 1.44 = 144% y 2002 10 y 2005 15.84 = = 1.84 = 184% y 2002 10 Số tương đối kế hoạch • Số tương đối nhiệm vụ kế hoạch: Số tương đối nhiệm vụ kế hoạch là tỷ lệ so sánh giữa mức độ kế hoạch với mức độ thực tế của chỉ tiêu ấy với mức dộ kỳ gốc yk Công thức: tNK = y0 tNK: số tương đối kế hoạch yk: mức độ kế hoạch ở kỳ báo cáo y0: mức độ thực tế kỳ gốc • Số tương đối hoàn thành kế hoạch Số tương đối hoàn hành kế hoạch là tỷ lệ so sánh giữa mức độ thực tế đạt được trong kỳ nghiên cứu với mức độ kế hoạch đặt ra cùng kỳ của một chỉ tiêu nào đó. y1 Công thức: tHK = yk tHK: số tương đối hoàn thành kế hoạch yk: mức độ kế hoạch Lý thuyết thống kê 17
  18. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi yl: mức độ thực tế kỳ nghiên cứu Ví dụ: Daonh thu bán hàng thực tế của công ty Y năm 2004 là 2,4 tỷ đồng, kế hoạch cho năm 2005 là 2,76 tỷ đồng, thực tế năm 2005 đạt 2,88 tỷ đồng. Như vậy: y1 2,88 - Số tương đối động thái: t = = = 1,2 = 120% y0 2,4 y k 2,76 - Số tương đối nhiệm vụ kế hoạch: tNK = = = 1,15 = 115% y0 2,4 y1 2,88 - Số tương đối hoàn thành kế hoạch: tHK = = = 1,04 = 104% y k 2,76 y1 y k y1 Ta có mối quan hệ: = x ⇔ 1,20 = 1,15 x1,04 y0 y0 yk Số tương đối kết cấu Số tương đối kết cấu là quan hệ so sánh giữa các mức độ bộ phận với mức độ tổng thể . Nó chính là tỷ trọng của từng bộ phận cấu thành trong tổng thể hiện tượng nghiên cứu và thường được biểu hiện bằng phần trăm( %). Công thức: ybp TKC = .100 ytt Trong đó: ybp: mức độ của bộ phận Ytt : mức độ của tổng thể Qua chỉ tiêu này có thể phân tích được đặc điểm cấu thành của hiện tượng. Nghiên cứu sự thay đổi kết cấu sẽ thấy được xu hướng phát triển của hiện tượng. Số tương đối cường độ Số tương đối cường độ là kết quả so sánh mức độ của hai hiện tượng khác nhau nhưng có liên quan với nhau. Ví dụ: mật độ dân số, GDP bình quân đầu người... Số tương đối cường độ phản ánh trình độ phổ biến của hiện tượng, nó được sử dụng rộng rãi để biểu hiện trình độ phát triển sản xuất, trình độ bảo đảm mức sống vật chất, văn hóa của cư dân một nước. Các chỉ tiêu này thường được dùng để so sánh trình độ phát triển sản xuất, đời sống giữa các nước khác nhau. Số tương đối không gian Số tương đối không gian là kết quả so sánh giữa hai mức độ của một hiện tượng nhưng khác nhau về không gian. Ví dụ: doanh thu của công ty X năm 2005 so sánh với doanh thu của công ty Y năm 2005. III. Số bình quân trong thống kê 1. Khái niệm, ý nghĩa và đặc điểm Lý thuyết thống kê 18
  19. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi Số bình quân trong thống kê là đại lượng biểu hiện mức độ chung nhất, điển hình nhất của một tiêu thức số lượng nào đó của một tổng thể bao gồm nhiều đơn vị cùng loại. Do số bình quân biểu hiện đặc điểm chung nhất của tổng thể nghiên cứu cho nên các nét riêng có tính ngẫu nhiên của từng đơn vị cá biệt đã bị loại trừ, có nghĩa là số bình quân đã san bằng mọi chênh lệch giữa các đơn vị về trị số của tiêu thức nghiên cứu. Số bình quân được dùng để so sánh các hiện tượng không cùng qui mô. Qua nghiên cứu sự biến động của số bình quân có thể thấy được xu hướng phát triển chủ yếu của hiện tượng nghiên cứu. 2. Các loại số bình quân Số bình quân cộng Số bình quân cộng được tính bắng cách đem chia tổng tất cả các trị số của các đơn vị cho số đơn vị của tổng thể. • Số bình quân cộng giản đơn n ∑ Xi n=1 X1+ X2+X3.... Xn-1 +Xn X = = n n X : trung bình số học Xi: Các trị số lượng biến n: Số đơn vị tổng thể • Số bình quân cộng gia quyền Số trung bình cộng gia quyền (còn gọi là số trung bình số học có trọng số) áp dụng khi mỗi lượng biến được gặp nhiều lần có các tần số fi khác nhau. Tính theo công thức: X1 f1 + X2 f2 + ......+ Xnfn X= f1 +f2 +... fn Hay ∑ Xi fi X = ∑fi Ví dụ: tiền lương tháng 5/2008 của nhân viên một công ty X như sau: Stt Tiền lương (1000 đ) xi Số công hân fi xifi 1 2,400 15 36,000 2 2,550 24 61,200 3 2,600 15 39,000 Lý thuyết thống kê 19
  20. Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Tây Bắc Củ Chi 4 2,650 16 42,400 5 2,500 30 75,000 Tổng cộng 100 253,600 Tiền lương trung bình của một nhân viên trong tháng 5/2008 là: 253,600 x= = 2,53600 100 Tính số trung bình cộng trong trường hợp tài liệu phân tổ có khoảng cách tổ. Trong trường hợp này, mỗi tổ có một phạm vi trị số, ta lấy trị số giữa của mỗi tổ làm lượng biến đại diện cho tổ. Trị số giữa mỗi tổ: Ví dụ: Tính năng suất trung bình của mỗi công nhân Năng suất lao Trị số giữa (xi) Số công nhân (fi) xifi động (kg) 200-300 250 10 2,500 300-400 350 32 11,200 400-500 450 43 19,350 500-600 550 78 42,900 600-700 650 32 20,800 700-800 750 5 3,750 Tổng cộng 100 100,500 Năng suất trung bình của mỗi công nhân trong xí nghiệp là: 100,500 X = = 502,5 kg 200 • Chú ý: đối với trường hợp phân tổ mở, đối với tổ thiếu giới hạn dưới (tổ 1) hoặc thiếu giới han trên (tổ sau cùng) thì chúng ta giả định khoảng cách tổ của chúng bằng khoảng cách tổ liền kề. • Số trung bình điều hòa Xét về nội dung kinh tế thì số trung bình điều hòa cũng giống như số trung bình cộng. Công thức tính: n Công thức: ∑    Mi i=1 X = n ∑ Mi i=1 xi Trong đó : xi : là giá bán loại i Lý thuyết thống kê 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản