Chương I: Tác hại của vi sinh vật

Chia sẻ: ngovanquang12c3

Trong quá trình bảo quản nông sản, vi sinh vật giữ vai trò quan trọng vì khi chúng sống và phát triển được trên nông sản thì chúng phân hủy chất hữu cơ nên làm giảm giá trị nông sản. Vi sinh vật phát triển trong hạt sẽ làm giảm trọng luợng khô, giảm hoặc mất hoàn toàn khả năng nảy mầm. Trong hạt, vi sinh vật sẽ phân hủy các chất hữu cơ để tạo các loại rượu, acid hữu cơ và các sản phẩm phân hủy khác làm cho hạt có vị đắng và mùi khó chịu....

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Chương I: Tác hại của vi sinh vật

Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
Chương I TÁC HẠI CỦA VI SINH VẬT :
1/Tác hại của vi sinh vật trên nông sản
Trong quá trình bảo quản nông sản, vi sinh vật giữ vai trò quan trọng vì khi chúng sống và
phát triển được trên nông sản thì chúng phân hủy chất hữu cơ nên làm giảm giá trị nông sản.
Vi sinh vật phát triển trong hạt sẽ làm giảm trọng luợng khô, giảm hoặc mất hoàn toàn khả năng
nảy mầm.
Trong hạt, vi sinh vật sẽ phân hủy các chất hữu cơ để tạo các loại rượu, acid hữu cơ và các sản
phẩm phân hủy khác làm cho hạt có vị đắng và mùi khó chịu.
1.1Nguồn gốc vi sinh vật trong nông sản :
Vi sinh vât được đưa vào kho cùng lúc với sự cất giữ nông sản, vì chúng thường xuyên có
mặt trong không khí. Vi sinh vật phân bố trên bề mặt thực vật được gọi là vi sinh vật biểu sinh.
Chúng phát triển chủ yếu dựa vào các sản phẩm bài tiết cuả cây và các chất bụi bám trên cây. Do
môi trường nghèo dinh dưỡng và các điều kiện sống khác không thích hợp nên quần thể vi sinh vật
biểu sinh có thành phần và số lượng kém phong phú như trong vùng rễ.
Vi sinh vật biểu sinh trên hạt phần lớn là các loài hoaị sinh chúng có thể bám vào bất cứ
phần nào trên vỏ hạt, hoặc nằm giữa vỏ trấu và vỏ gạo.
Một số loài vi sinh vật biểu sinh có thể quan sát được bằng mắt thường, một số loài khác
chỉ có thể quan sát được bằng kính hiển vi, bằng cách cấy lên môi trường nhân tạo. Nhiều công
trình còn cho thấy trong thời gian nông sản còn trên cây đang phát triển, có nhiều loài vi sinh vật
biểu sinh nhưng không gây hại. Tuy nhiên khi thu hoạch nông sản được đưa vào kho, ở đây chúng
tiết ra nhiệt trong quá trình sống và hô hấp làm cho đống hạt nóng lên , tạo điều kiện cho nhiều loài
vi sinh vật khác phát triển và thúc đẩy các qua trình sinh hoá trong hạt hoạt động mạnh .
Trong hạt thường có nhiều nấm mốc nấm men và đặc biệt là rất nhiều các loài vi
khuẩn.Trong quá trình xây xát hạt cũng có thể nhiễm thêm các loài khác trong không khí.
Ngoài ra vi sinh vật biểu sinh cũng có thể là kí sinh một phần sống trên các bề mặt và một
phần sống trong các mô bào của hạt.
1.2 Các nhóm vi sinh vat
Chủ yếu là các nấm, vi khuẩn, xạ khuẩn.
1.2.1/NẤM: có 2 loại nấm kí sinh và nấm biểu sinh.
Khác biệt so với vi khuần, có nhiều đặc điểm giống vi sinh vật, nhưng khác là không có sắc
tố quang hợp và có thể là ít phân hoá về mặt hình thái hơn.
Thể dinh dưỡng của nấm có thể chỉ là một tế bào riêng lẻ như nấm men, hoặc ở dạng sợi phân
nhánh chằng chịt như nấm mốc.




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
1
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
*Sợi nấm có hai loại : sợi cơ chất (sợi dinh dưỡng) bám chặt vào sợi cơ chất để hấp thu dinh
dưỡng và sợi khí sinh phát triển trong không khí trên bề mặt cơ chất, chính sợi khí sinh sẽ mọc ra
cành bào tử.
Một số nấm kí sinh có sợi phát triển phát triển vào trong tổ chức thực vật gọi là sợi nội sinh hoặc
phát triển trên bề mặt được gọi là sợi ngoại sinh. Từ sợi nấm sẽ mọc ra các cơ quan đặc biệt, là
vòi hút cắm sâu vào mô để hấp thu dinh dưỡng.
*Nấm kí sinh : tìm thấy ở các loài
-Diplodia macrospora -Diplodia zeae
-Fusarium spp -Gibberella fujikuroi
-Gibberella zeae -Helm.oryzae
-Helm.carbonum
*Nấm biểu sinh: thường gặp ở các loài nấm mốc và nấm men.
Nấm mốc thường tìm thấy trên lá cũng như trên hạt các loại cây hòa bản, thường gặp là :
-Penicillium spp -Aspergillus spp
-Alternaria spp -Cephalothecium spp
Nấm men thường gặp là :
-Torula sp -Monilia spp
-Oospora sp -Chromosporium maydis
-Fusarium griseum
Ngoài ra còn tìm thấy Candida albicans và một số loài Candida khác.
Vi khuẩn trên vỏ hạt thường gặp nhiều vi khuẩn hơn là nâm mốc ở bất kì một loại hạt nào.
Số lượng vi khuẩn thay đổi tùy thuộc vào từng loại hạt thời gian cât giữ, thời kì thu hoạch tìnht
trạng hạt và điều kiện bên ngoaì. Số lượng vi khuẩn trên hạt thường dao động trong khoảng 10.000-
300.000 tế bào/hạt.
Trên vỏ hạt thường gặp là vi khuẩn hoại sinh, đa dạng gồm những loài có bào tử cũng như không
bào tử,háo khí, yếm khí , ưa nhiệt chịu rét.Người ta tìm thấy khoảng 100 loài vi khuẩn khác nhau
thuộc các họ:
-Pseudomonadaceae -Micrococcaceae
-Enterobacteriaceae -Bacteriaceae
-Bacillaceae
thường gặp nhất là :
-Bacterium herbicola aureum -Bact.fluorescens
-Bacillus vulgatus -Bac.mesentericus




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
2
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
-Bac.mycoides -Bac.subtilis
1.2.2/XẠ KHUẨN :
Xạ khuẩn là nhóm vi sinh vật đơn bào, có cấu tạo là sợi nấm, nhưng có cấu trúc và kích
thước tế bào giống vi khuẩn. Sợi xạ khuẩn không có vách ngăn, khuẩn ty xạ khuẩn thường mỏng
hơn khuẩn ty của nấm mốc (đường kính 0,5-1,5µm khoảng 1/10 của nấm mốc ).Khi nuối cấy trên
môi trường thạch khuẩn ty xạ khuẩn phát triển thành hai loại : một phát triển sâu vào trong môi
trường để hút nước, thức ăn; còn một loại phát triển ra ngoài không khí trên bề mặt môi trường, gọi
là khuẩn ty khí sinh.
Một số nhánh phân hoá của sợi khí sinh sẽ phát triển thành cành bào tử: cành bào tử dài, ngắn, hình
dạng khác nhau tùy từng loài xạ khuẩn.
Trên mỗi cành bào tử thường khoảng 30-200 bào tử có hình cầu, quả lê, hình tru, bề mặt trơn,
xù xì hoặc có nhiều gai nhỏ. Khi bào tử trửơng thành mang cành bào tử phân giải để phóng thích bào
tử. Bào tử gíúp xạ khuẩn phân bố rộng trong thiên nhiên và cũng giúp chống lại điều kiện bất lợi
của ngoại cảnh. Xạ khuẩn phân bố rộng trong thiên nhiên và quan trọng (phân giải chất hữu cơ bền
vững như cellolose, kitin, keratin hoặc tạo kháng sinh)
Số lượng xạ khuẩn trên hạt ngũ cốc khi cất giữ thay đổi từ hành chục ngàn đến hàng triệu tế
bào trên 1 gam hạt số lượng tăng trong quá trình cất giữ. Chủ yếu thuộc về Streptomyces. Các loài
thường gặp là Strept.albus. Ngoài ra còn gặp: Act. globisporum, Act. grminus, Act. griseus,……….
1.3/Hâu quả và tac hai:
̣ ́ ̣
́ ̣
1.3.2 Tac hai :
Có nhiều cách tác hại:
Nấm và vi khuẩn có nhiều loại enzym khác nhau có thể phân hủy protide, lipide, glucide làm
phân hủy mô thực vật của nông sản. Trong sợi nấm Asp. glaucum có khoảng 20 loại enzyme khác
nhau.
Trong quá trình sinh sống, nấm và vi khuẩn tiết ra các chất đầu độc mô bào của nông sản làm
rối loạn hoạt động của các loại men oxy hoá trong mô.
Các sản phẩm trung gian của quá trình trao đổi chất như các loại acid hữu cơ, rượu aldehyde,
acetone, các sản phẩm phân hủy protide và một số chấ độc do vi sinh vật tiết ra sẽ phân hủy vách tế
bào, xâm nhập các mô bào, đầu độc chất nguyên sinh.
Trong quá trình sinh sống và hô hấp của vi sinh vật, nhiệt tỏa ra làm cho hạt hoặc rau quả
nóng lên dễ bị hư là do nhiệt độ làm tăng hoạt động sinh sống và hủy hoại của chúng. Đối với rau
quả khi cất giữ, các quá trình xảy ra tuỳ thuộc vào hoạt tính và số lượng các loại men có trong rau
quả cũng như men của các loài vi sinh vật sống trong mô bào của chúng. Vì vậy khi rau quả bị
nhiễm nấm và vi khuẩn thì các quá trình phân hủy chất dự trữ tăng nhiều. Như cà rốt bị nhiễm nấm




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
3
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
Sclerotinia libertiana hàm lượng đường giảm từ 4-5% còn 1-2%. Trong một số trường hợp chất dinh
dưỡng bị giảm đến “0”.
Tác động cuả vi sinh vật đến quá trình trao đổi chất của các bộ phận dự trữ rất phức tạp,
không ổn định. Tác động đó phụ thuộc và điều kiện ngoaị cảnh như nhiệt độ, độ ẩm, thành phần
các chất trong không khí.
1.3.2 Hâu quả:
̣
A) Vi sinh vât phat triên trên hat lam mât vẻ đep bên ngoai và lam thay đôi mau săc cua hat
̣ ́ ̉ ̣ ̀ ́ ̣ ̀ ̀ ̉ ̀ ́ ̉ ̣
Môt số loai vi sinh vât như Diplodia zeae ,Helminthosporium oryzae xâm nhâp vao hat ở cac giai
̣ ̀ ̣ ̣ ̀ ̣ ́
đoan đâu trong quá trinh phat triên lam cho hat bị nhăn nheo ,có vêt. Nêu xâm nhâp muôn hơn, không
̣ ̀ ̀ ́ ̉ ̀ ̣ ́ ́ ̣ ̣
anh hưởng đên vẻ bên ngoai
̉ ́ ̀
B) Sợi nâm phat triên trên hat lam phân huy lớp vỏ ngoai , xuyên qua mô bao, xâm nhâp và gây hai cho
́ ́ ̉ ̣ ̀ ̉ ̀ ̀ ̣ ̣
mô bao trong hat , gây hai cho phôi nhũ
̀ ̣ ̣
C) Phôi nhũ hat bị vi sinh vât xâm nhâp có mau săc đôi từ xam nhat đên nâu , nêu năng có thể bị phân
̣ ̣ ̣ ̀ ́ ̉ ́ ̣ ́ ́ ̣
huy hoan toan . Vi sinh vât xâm nhâp vao bên trong hat gây hai và lam giam tỉ lệ nay mâm 80-100% .
̉ ̀ ̀ ̣ ̣ ̀ ̣ ̣ ̀ ̉ ̉ ̀
Hai giông nâm môc Penicillium và Aspergillus lam giam khả năng nay mâm cua hat rât quan trong
́ ́ ́ ̀ ̣ ̉ ̀ ̉ ̣ ́ ̣
Vi sinh vât sinh san manh lam cho hat dự trữ có mui âm môc là do nhiêm đăc biêt Penicillium và
̣ ̉ ̣ ̀ ̣ ̀ ̉ ́ ̃ ̣ ̣
Aspergillus .Cac đong hat thu hoach chưa kip phơi quat có thể nhanh chong phat triên mui âm môc sau
́ ́ ̣ ̣ ̣ ̣ ́ ́ ̉ ̀ ̉ ́
̀ ̀
vai ngay


1.4.Yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sự phát triển của vi sinh vật:
1.4.1.Nhiệt độ :
Nhiệt độ tăng lên trong giới hạn nhất định làm tăng hoạt động sống của các loài vi sinh vật
do đó làm tăng hoạt động phá hoại của chúng.
Vi sinh vật cần nhiệt độ để sinh trưởng ở những mức độ khác nhau, chia làm 3 nhóm:
Nhiệt độ thấp nhất thích hợp Cao nhất
chịu lạnh : -80ºC 1020ºC 2530ºC

ưa nhiệt : 525ºC 2040ºC 4055ºC

Chịu nhiệt cao: 2540ºC 5060ºC 7080ºC
Thông thường khử trùng ở nhiệt độ 121ºC, 1atm trong một thời gian nhất định.
Khi vượt quá giới hạn nhiệt độ sinh trưởng vi sinh vật sẽ chết, các tế bào sinh trưởng với
lượng nước cao sẽ chết nhanh so với các tế bào và bào tử chứa ít nước. Nhiệt độ cao nhất và thấp
nhất của sự sinh trưởng chịu ảnh hưởng của độ ẩm, chất dinh dưỡng, nồng độ oxy, và một số yếu
tố ngoại cảnh khác. Trong quá trình trao đổi chất vi sinh vật toả nhiệt, số lượng nhiệt tùy thuộc vào
cường độ trao đổi chất và quá trình này chịu ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ, lượng oxi, lượng chất



Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
4
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
dinh dưỡng và cả tuổi của tế bào. Phần lớn nấm, vi khuẩn bị diệt khi đun nóng ở nhiệt độ 55ºC
trong 10 phút, một số loài vẫn sống được khi đun nóng đến nhiệt 65ºC trong 10 phút. Bào tử khô của
nhiều loại nấm chịu nóng được ở nhiệt độ 87 ºC trong 30 phút, rất ít loài chịu được nhiệt độ 121 ºC
trong 30 phút như: Pen. chrysogenum; Pen. oxalicum; Asp. flavus; Asp. fuscus; Mucor racemosus.
Bào tử của vi khuẩn chịu được nóng trong điều kiện ẩm cao hơn bào tử nấm, có khả năng
chịu được 95ºC trong 45 phút hay hơn.
Mức độ chịu nhiệt của bào tử những loại vi khuẩn khác nhau cũng khác nhau. Khả năng
chịu nhiệt của một số loài vi khuẩn:
Vi khuẩn Thời gian làm chết vi khuẩn khi đun nóng 100ºC
Bacillus mycoides 310 phút

B.anthracis 510 phút

B.subtilus 120180 phút

B.cylindricus 1.1401.200 phút
1.4.2 Đ ộ ẩm:
Có ba nhóm chịu ẩm cao, ưa ẩm và chịu khô:
+Nhóm chịu ẩm độ cao: yêu cầu độ ẩm không khí thấp nhất là 90%, phát triển tốt nhất là độ
ẩm không khí gần 100%. Vi khuẩn nói chung là nhóm chịu ẩm cao, ví dụ Micrococcus roseus (yêu
cầu độ ẩm là 90,5%), Bacillus mycoides (90%). Nấm mốc thì có mucor và một số nấm gây bệnh.
+Nhóm ưa ẩm độ: yêu câu độ ẩm không khí thấp nhất là 80-90%, còn phát triển tốt là ở độ ẩm
không khí 95%, như xạ khuẩn có yêu cầu độ ẩm 90-93%.
+Nhóm chịu khô: yêu cầu độ ẩm dưới 80%, phát triển tốt ở độ ẩm gần 90%.
Ví dụ : Asp. glaucus, Asp. candidus….
Nấm men thuộc loài chịu ẩm cao và ưa ẩm, yêu cầu độ ẩm tương đối của không khí thấp
nhất 88-90%.
Nấm mốc có nhu cầu tương đối khác, bào tử nấm mốc có thể nảy mầm ở độ ẩm thay đổi
từ 62-99% và yêu cầu sẽ khác nhau khi nhiệt độ thay đổi.
Nếu độ ẩm thích hợp thì bào tử sẽ nảy mầm trong một ngày, nếu độ ẩm thấp thì bào tử sẽ
nảy mầm kéo dài trong vài tháng có khi vài năm hay hơn, nếu độ ẩm quá thấp, dưới mức thấp nhất
của sự sinh trưởng thì bào tử nấm mốc dần dần sẽ chết đi.
Trong điều kiện không thuận lợi, từng bào tử của khuẩn lạc vi sinh vật sẽ chết với tốc độ
khác nhau. Trước khi chết tốc độ nảy mầm giảm xuống và tốc độ phát triển của nấm mốc sẽ chậm
lại. Nếu độ ẩm của không khí giảm đến mức thấp nhất khi thiếu độ ẩm sợi nấm phát triển không
bình thường, phồng to lên xoắn lại và tạo thành nhiều ngăn ngang, sợi nấm mất khả năng ăn sâu vào
mô kí chủ. Quá trình hình thành bào tử của nấm mốc tiến hành nhanh khi độ ẩm tăng.



Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
5
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
Độ ẩm có nhiều tác dụng với quá trình nảy mầm:
Nấm mốc Cladosporium fulvum tạo thành bào tử khi độ ẩm không khí từ 60-80%. Helm.
sativum tạo thành bào tử có kích thước nhỏ khí độ ẩm không khí thấp.
Đối với hạt khi độ ẩm tăng thì vi sinh vật phát triển mạnh. Độ ẩm giới hạn để vi sinh vật
phát triển khoảng 15-16% nếu chênh lệch ±2% thì ảnh hưởng đến hoạt động sống của vi sinh vật
có thể tăng lên hay giảm đi, nhưng không phải khi độ ẩm tăng là tất cả các loài vi sinh vật đều phát
triển mà tuỳ loại .
Đối với nông sản có độ ẩm thấp, mặc dù có thể có những vi sinh vật tồn tại song hoạt động của
chúng không biểu hiện rõ rệt, vì thế sản phẩm có thể bảo quản lâu mà không bị hư hại.
1.4.3Ảnh hưởng của oxy:
Vi khuẩn hiếu khí : Clost.butyricum phát triển ở nồng độ oxy cao nhất là 0,27% còn có
thể sống được 10 ngày nếu không khí chứa 0.59% oxy (tính theo thể tích). Vi khuẩn hiếu khí có khả
năng tạo bào tử như Bac. megaterium và Bac. mycoides thì nồng độ oxy thấp nhất cho sự sinh trưởng
là 0,8%. Để sinh sản các loài thuộc chi Bacterium cần lượng oxy cao hơn các loài vi khuẩn khác như
Pseudomonaceae, Enterobacteriaceae và Strepyococcus thì cần oxy thấp. Tuy nhiên mức độ mức độ
cần thiết của vi khuẩn với oxy phụ thuộc vào sự có mặt của cac chất dinh dưỡng.
Phần lớn các loại nấm đều hiếu khí thật sự, chúng ngừng tạo bào tử, bào tử ngừng nảy
mầm vẫn còn phát triển tốt. Một số loài nấm men và một số Mucor là những loài hiếu khí trung
bình. Chúng có thể sinh trưởng trong thời gian ngắn trong điều kiện yêm khí, nhưng không tạo bào
tử được.
Các loài xạ khuẩn thuộc Streptomyces và Nocardia cũng là loài yếm khí.
1.4.4 /Ảnh hưởng của CO2
Khí CO2 có tác dụng diệt vi sinh vật khá cao đối với nấm và cả vi khuẩn. Ở các nồng độ
khác nhau, CO có tác dụng kìm hãm đối với các loại Penicillium, Aspergilus, Mucor. Ở nồng độ 50%
có thể diệt được Penicillium, còn Aspergillus tương đối chịu được nồng độ cao hơn, ở 77-90% vẫn
còn phát triển được.
1.4.5 Ảnh hưởng cuả pH: Phạm vi pH nói chung các loài vi sinh vật từ 4,5- 9 vượt quá giới
hạn này sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển và có thể tiêu diệt chúng. Nấm men và nấm mốc
có thể phát triển trong môi trường khá acid (pH 3- 6) vi khuẩn và xạ khuẩn nói chung phát triển tốt ở
pH trung tính (pH 6,5- 7,5), vi khuẩn gây thối và vi khuẩn nitrate hoá phát triển ở pH 6.5- 8.
̣ ́
1.5/Các biên pháp phòng chông:
*Phương pháp vật lí như: khô, lạnh, kín, chiếu xạ………
*Có thể dùng các chất độc hóa học để tiêu diệt vi khuẩn (dùng kèm với các biện pháp hỗn hợp)




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
6
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
*Phương pháp chủ yếu phòng chống vi sinh vật trong kho là tạo điều kiện ẩm độ, nhiệt đô và
thoáng khí thích hợp.
+Cần điều hòa độ ẩm trong kho là biện pháp thiết thực để ức chế sự phát triển của vi
sinh vật trên nông sản.
+Nhiệt độ thích hợp cần tránh, phải điều chỉnh nhiệt độ thấp hơn đối với một số lớn
nấm mốc (23-30oC) sẽ làm chậm sự phát triển của chúng.
Đối với thóc giống trước khi cất giữ phải phơi quạt để cất giữ lâu, hạt thóc rất nhạy cảm
đối với tác động của nhiệt độ và ẩm độ; cần tránh để hạt thóc không bị ướt hay xây xát tạo điều
kiện cho vi sinh vật xâm nhập.
Quạt và mở kho thoáng khí trong ngày trời nắng là biện pháp tốt nhất để chống lại sự phát
triển cuả vi sinh vật. Tuy nhiên để bảo quản tốt nông sản trong kho cần phải thực hiện đầy đủ các
biện pháp phòng trừ hỗn hợp.

2.Tac hai trên cây trồng:
́ ̣
Vi sinh vật gây thiệt hại rất lớn đến lĩnh vực nông nghịêp, đặc biệt là cây trồng.
Thực vật lành mạnh là khi tất cả các cơ quan hoạt động bình thường, sự sinh sản tiến triển
một cách tự nhiên và điều hoà. Ngược lại là cây bị bệnh, trường hợp côn trùng ăn lá và hút nhựa cây,
thì không là bệnh mà làm cho cây mất sinh lực rơi vào tình trạng dễ bị nhiễm.
Có hai nguyên nhân gây bệnh: Vô kí sinh do ảnh hưởng của những tác động bên ngoài
không do vi sinh vật gây nên (do khí hậu, đất đai thiếu dinh dưỡng). Bệnh kí sinh là do ảnh hưởng
của vi sinh vật thuộc về ẩn hoa (nấm, vi khuẩn, rong, rêu) hoặc do độc tố của virus.
Bệnh thực vật do nấm virus vi khuẩn gây ra là quan trọng hơn cả. Tác động của kí sinh gây ra sự
thay đổi trong quá trình sinh lí dẫn đến sự thay đổi trên từng bộ phận của cây.
*SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA THỰC VẬT VÀ VI SINH VẬT:
+Cộng sinh: ích lợi hỗ trợ cho cả hai đơn vị.
+Kí sinh: chỉ ích lợi cho đơn vị kí sinh thiệt hại cho đơn vị kia.
Về thảo mộc bệnh học còn chú ý đến hoại sinh, trong khi kí sinh sống nhờ chất hữu cơ
sinh hoạt, thì hoại sinh sống nhờ chất hữu cơ hoại tử: đây là trường hợp kí sinh giảm thiểu.
́ ̀
2.1 /. Nâm kí sinh cây trông:

2.1.1Giới thiêu chung:
̣
●./ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NẤM GÂY BỆNH




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
7
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




Tế bào có nhân thực (Eukaryotae), cơ quan sinh sản có cấu tạo dạng sợi, sinh sản bằng bào tử, sống
dị dưỡng, không có diệp lục.
1 loại bệnh có thể do 1 hay nhiều loại nấm gây ra. 1 loại nấm có thể gây bệnh cho 1 hay nhiều loại
cây. Bệnh cây do nấm có nhiều hơn do những vi sinh vật khác.
Cơ thể của nấm trừ một số ít là đơn bào, có hình tròn/bầu dục nằm đơn độc hay ghép lại với
nhau, còn đa số là những sợi nấm không màu, phân nhánh nhiều, tạo thành đám chằn chịt gọi là hệ
sợi nấm (mycelium). Hầu hết các loài nấm, hệ sợi đều nằm trong cơ chất (đất, gỗ mục, xác thực
vật...) và chỉ có những sợi mang cơ quan sinh sản ở trên đầu mới ở trên bề mặt cơ chất.


̀ ́ ̣
2.1.2 Nguôn gôc phát sinh bênh:
Vi sinh vât tồn tại khắp mọi nơi trong môi trường; tùy vào điều kiện ngoại cảnh mà chúng có
thể nhiều hay ít……Với những vi sinh vật gây bệnh trên cây trồng thì chúng co thể tồn tại trong
không khí ngoài môi trường dưới những dạng bào tử thể;hoặc tồn tại sẵn trong đất; hay trong
chính cây con cây giống kí chủ…khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ lan truyền gây bệnh, ngoài ra chúng
còn tồn tại trên một cơ thể trung gian (từ cá thể trung gian sẽ truyền bệnh qua cây kí chủ chính khi
có điều kiện thuận lợi).
2.1.3 Sự biên thái cua sợi nâm:
́ ̉ ́
Sợi nấm có thể không có vách ngăn ngang (như mốc đen), vì vậy hệ sợi nấm như là một cộng
bào phân nhánh chứa nhiều nhân. Hoặc sợi nấm có vách ngăn ngang thành sợi đa bào nhưng vách ngăn
ấy chưa hoàn chỉnh (như Mốc xanh, vàng). Ở các nấm cao, sợi nấm kết bện chặt chẽ với nhau tạo
thành những mô giả, có hình dạng, kích thước và chức năng khác nhau:
- Sợi nấm dạng rễ (rhizomorph): các sợi nấm kết chặt lại thành những dải lớn trông giống
như rễ cây, thường gặp trên các vỏ cây. Ở nấm bậc cao, thể dạng rễ nầy nối liền thể quả với các
vật bám ở dưới đất.




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
8
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
- Bó sợi (synnema): là các sợi nấm dinh dưỡng không làm nhiệm vụ sinh sản, thường tụ lại
hoặc dinh lại với nhau thành các bó sợi xếp song song.
- Thể đệm (stroma): cấu tạo bởi nhiều sợi nấm kết chặt lại với nhau, tạo thành một khối
tương đối lớn (từ 1mm đến hàng chục cm). Có 2 loại thể đệm: thể đệm dinh dưỡng không mang cơ
quan sinh sản và thể đệm sinh sản có mang cơ quan sinh sản.
- Hạch nấm (sclerotia): có hình hơi tròn hoặc hình không đều, bền ngoài có màu tối, bên
trong là tổ chức sợi xốp hơn có màu trắng. Các tế bào của hạch nấm có vách dầy, trong chứa nhiều
chất dự trữ nên hạch nấm chịu được những điều kiện bất lợi bên ngoài, khi gặp điều kiện thuận
lợi, hạch nấm sẽ nẩy mầm và phát triển.
- Vòi hút (haustorium): gặp ở nhiều nấm ký sinh, do một đoạn sợi biến đổi thành, đâm vào bên
trong tế bào cây chủ để hút thức ăn.
2.1.4 DINH DƯỠNG & KÝ SINH CỦA NẤM
Sợi nấm là cơ quan sinh trưởng, dinh dưỡng . Chúng tiết ra các enzyme để phân giải nguồn hợp chất
hữu cơ từ bên ngoài thành hợp chất dễ hòa tan để thẩm thấu qua màng bán thấm của tế bào.
Hệ thống enzyme của nấm rất phong phú gồm: nội enzyme và ngoại enzyme.
Ngoại enzyme được tiết vào môi trường sống để phân giải hợp chất phức tạp thành chất dễ hấp
thụ, chủ yếu là enzyme thủy phân amylaza và peptinaza.
Nội enzyme của nấm dùng để dùng để tổng hợp các vật chất hấp thụ thành những hợp chất
cần thiết cho quá trình sinh trưởng và sinh sản của nấm, chủ yếu là enzyme oxy hóa khử oxydaza và
dehydraza,…
Ngoài hệ thống enzyme, nhiều loại nấm còn sinh ra nhiều loại độc tố kiềm hãm hoạt động của hệ
thống enzyme tế bào ký chủ, phá hủy quá trình trao đổi chất của tế bào như phá vỡ độ thẩm thấu
của màng tế bào. Độc tố thường là các acid hữu cơ (acid oxalic, fusarinic, alternaric), nhóm protein
và các sản phẩm phân giải của protein (ure, amoniac) nhóm polysaccharide (Piricularin) và các chất
bay hơi (acid cianic)
Ví dụ:
 Helminthosporium maydis chủng T tạo T – toxin
 Helminthosporium victoriae tạo Victorin
 Pyricularia oryzae tạo Acid picolinic
 Fusarium sp tạo acid fusarinic
 Aspergillus flavus tạo Aflatoxic
 Phyllosticta maydis tạo P.M - toxic
Nấm kí sinh chuyên tính chỉ có khả năng sử dụng chất dinh dưỡng trong mô kí chủ sống.
Loại nấm hoại sinh chỉ lấy dinh dưỡng từ vật chất hữu cơ trong mô đã chết.



Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
9
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
Nấm bán kí sinh bán hoại sinh hút dinh dưỡng từ ký chủ sống và đã chết. Nhiệt độ thích hợp cho
nấm phát triển 20- 280C, tối thiểu là 5- 100C, tối đa là 33- 350C, nấm ngừng sinh trưởng ở 37oC. pH
thích hợp 6- 6,5.
2.1.5 SỰ SINH SẢN CỦA NẤM
Quá trình sinh sản tạo ra bào tử. Nấm có nhiều phương thức sinh sản tùy theo loài và điều kiện
ngoại cảnh
1 /.Sinh sản bào tử từ cơ quan sinh trưởng. Đây là hình thức sinh sản đơn giản nhất do cơ quan
sinh trưởng trực tiếp chuyển hóa tạo ra các dạng bào tử:
2 /.Bào tử chồi (Blastospore): Phổ biến ở các loài nấm men do các tế bào mẹ phình ra ở các vị trí
như kiểu đâm chồi thành tế bào con, lớn dần rồi tách khỏi tế bào mẹ.
3 /. Bào tử phấn (Oidium): được hình thành từ mỗi tế bào sợi nấm, sợi nấm hình thành các màng
ngăn rồi tự ngắt ra tạo nên bào tử.
4 /. Bào tử hậu (Chlamydospore): hình thành do quá trình dồn vật chất từ một số tế bào bên cạnh
tạo nên dạng bào tử chứa đầy vật chất dinh dưỡng, màng dày và kích thước lớn hơn tế bàosợi nấ
m. Bào tử hậu có thể được sinh ra đơn độc hoặc thành chuỗi ngắt quãng trên sợi nấm, hoặc hình
thành ngay trên bào tử lớn của 1 số loại nấm Fusarium.




5 /. Sinh sản vô tính
Là quá trình sinh sản không có sự hòa nhập của các nhân tế bào hoặc các giao tử và là phương
thức sinh sản phổ biến của hầu hết các loại nấm để nhân nhanh số lượng lớn bào tử vô tính đơn
bội thể có thể lan truyền xa để gây bệnh cây. Dựa trên cơ sở hình thành bào tử nấm phân biệt thành
2 dạng:
6 ./ Sinh sản vô tính nội sinh



Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
10
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
Bào tử sinh ra bọc kín trong “bọc bào tử”. Các loại nấm thuộc lớp Myxomycete và Chytridio
mycetes hình thành cơ quan sinh sản gọi là bọc bào tử động (Zoosporangium) từ thể hợp bào
plasmodium hoặc từ đầu sợi nấm. Sau đó nhân và chất nguyên sinh của bọc bào tử động phân chia
nhiều lần tạo ra những bào tử có 1 hoặc 2 lông roi ở một đầu có khả năng di động ngắn trong nước
gọi là (Zoospore).




Ở lớp nấm Zygomycetes, từ sợi nấm hình thành nên các bọc có cuống dài (Sporangium) sau đó
nhân và nguyên sinh chất bên trong phân chia nhiều lần tạo ra các bào tử không có lông roi, không di
động gọi là bào tử bọc (Sporangiospore).
7 /. Sinh sản vô tính ngoại sinh
Khác biệt so với sinh sản nội sinh ở chổ nấm sinh ra cơ quan sinh sản vô tính gọi là cành bào
tử phân sinh (conidiophore) và bào tử phân sinh (conidium) hình thành trực tiếp từ đỉnh cành bào tử,
lộ ra bênh ngoài. Tùy thuộc vào các loại nấm mà cành bào tử phân sinh có hình dạng rất khác nhau:
đơn bào hoặc đa bào, phân nhánh hoặc không phân nhánh, đơn lẻ hoặc thành cụm, tập trung trong 3
dạng kết cấu khác nhau: bó cành (Coremium), đĩa cành (Acervulus), quả cành (Pycnidium).
8 /.Sinh sản hữu tính
Gồm 3 giai đoạn: phối, hạch phối và phân bào giảm nhiễm.
Các hình thức sinh sản:
Dạng hợp tử (Zygote) là hình thức giao phối giữa 2 giao tử khác giới tính (gamete) có hình dạng hoàn
toàn giống nhau, có khả năng di động (loại Zoospore) để thành 1 hợp tử. Hợp tử về sau nảy nầm và
phát triển thành bọc bào tử động và bào tử động.
9 /. Bào tử tiếp hợp (Zygospore): hai sợi nấm khác nhau về hình thái nhưng giới tính khác nhau
sinh ra tế bào tiếp hợp qua tiếp xúc để hòa hợp tế bào chất và 2 nhân với nhau, tế bào phình to tạo
ra bào tử hình cầu, vỏ dày, xù xì gọi là bào tử tiếp hợp. Bào tử này




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
11
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




nầm thành bọc và bọc bào tử. Hình thức sinh sản này gọi là “đẳng giao bất động” có ở bộ nấm mốc
Mucorales.
10/.Bào tử trứng (Oospore): sợi nấm sinh ra cơ quan sinh sản riêng biệt là bao trứng đực
(oogonium) và bao trứng cái (antheridium), sau khi phối giao toàn bộ nhân và tế bào chất của bao đực
dồn sang bao cái tạo bào tử trứng. Nấm Oomycetes có sinh sản hữu tính tạo tế bào trứng.




11/. Bào tử túi (Ascospore): các loại nấm thuộc lớp nấm túi Ascomycetes có quá trình sinh sản
hữu tính phức tạp để tạo ra bào tử túi. Từ sợi nấm sinh ra nhiều bao đực (antheridium) và bao cái
(carpogonium), sau giai đoạn chất phôi và giai đoạn song hạch phân chia nhiều lần từ bào tử cái mọc
ra sợi sinh túi, sau giao đoạn hạch phối đỉnh sợi sinh túi phình to ra tạo thành túi (ascus). Nhân nhị
bội thể trong túi phân chia giảm nhiễm tạo ra bào tử hữu tính đơn bội ở bên trong gọi là bào tử túi
(ascospore).




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
12
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007

Nhiều loại nấm túi khi sinh ra bào tử túi thì sợi nấm dinh dưỡng tiến hành đan kết với nhau theo cấu
trúc tử tọa bao bọc bảo vệ túi tạo thành một kết cấu gọi là quả thể có hình dạng cấu trức khác
nhau: quả thể kín, quả thể bầu và quả thể đĩa.
12/. Bào tử đảm (Basidiospore): là bào tử của nấm thuộc lớp nấm đảm




2.1.6 SỰ LAN TRUYỀN VÀ XÂM NHIỄM CỦA NẤM GÂY BỆNH
Nấm lan truyền baèng cách phát tán bào tử. Sự lan truyền chủ động hay bị động phụ thuộc
vào đặc điểm sinh học của mỗi loại nấm và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường theo sơ đồ sau
đây




Sự lan truyền chủ động của túi bào tử được diễn ra nhờ sự tăng cao áp suất trong túi bào tử,
đẩy nắp nhỏ ở đỉnh túi và phóng vào không khí.
Sự lan truyền thụ động của bào tử hoàn toàn phụ thuộc vào cường độ, tốc độ mưa, gió…
Nấm lan trruyền nhờ các yếu tố đất, hạt giống, củ giống, cây giống, cay nhiễm bệnh, tàn dư
bệnh…
*/Quá trình xâm nhiễm:



Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
13
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
Bào tử tiếp xúc bề mặt ký chủ: trước tiên bào tử nảy nầm.
Nảy mầm trực tiếp: sinh ra ống mầm sau khi phát triển thành sợi nấm.
Nảy mầm gián tiếp: kiểu nảy mầm từ 1 bào tử ban đầu tạo ra nhiều bào tử nhỏ, các bào tử nhỏ
tiếp tục nảy ra ống mầm. Hoặc theo kiểu bào tử này mầm sinh ra cơ quan sinh sản.
Yếu tố ảnh hưởng: Độ ẩm có tác dụng quyết định. Nhiều loại bào tử chỉ có thể nảy mầm khi có
giọt nước. Nhiệt độ ảnh hưởng tỷ lệ, tốc độ và kiểu nảy mầm. Oxy là nhu cầu cần thiết của bào
tử, ánh sáng ít ảnh hưởng trực tiếp:
1. Ống mầm tiến hành xâm nhập bề mặt mô ký chủ qua bề mặt nguyên vẹn, qua vết thương
cơ giới, khí khổng, thủy khổng…
2. Phân hủy cấu trúc tế bào và các hợp chất hữu cơ khó tan thành chất dễ tan để hấp thụ
dinh dưỡng. Vũ khí hóa học của nấm là các loại enzyme, chất sinh trưởng và độc tố.




Mối quan hệ giữa kí sinh và kí chủ cây rất phức tạp. Hầu hết các loại cây phản ứng và có cơ
chế bảo vệ, kìm hãm như: độ dày lớp biểu bì, độ sáp trên biểu bì cây, số lượng và kích thước khí
khổng, lớp lông lá dày…
Nhiều loài cây bị xâm nhiễm qua bề mặt những cây có cơ chế không cho nấm xâm nhiễm qua
những mô xung quanh.
Cây còn có cơ chế bảo vệ chủ động là phản ứng siêu nhạy tự chết mô tế bào để bao vây các
loại nấm kí sinh chuyên tính không cho lan sang các mô khỏe kế cận.


CHU TRÌNH BỆNH




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
14
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




2.1.7 MỘT SỐ LOẠI BỆNH DO NẤM KÍ SINH:
2.1.7.1/. BỆNH ĐẠO ÔN HẠI LÚA (Pyricularia oryzae. Cav. Bri)
Theo Padmanabhan (1965) khi lúc bị đạo ôn cổ bông 1% thì năng suất có thể giảm từ 0,7 – 17,4 %
tùy theo các yếu tố có liên quan khác.
A/ Triệu chứng bệnh: bệnh đạo ôn có thể phát sinh từ thời kỳ mạ đến lúa chín và có thể gây hại ở
bẹ lá, lá, lóng thân, cổ bông, gié và hạt.
* Bệnh trên mạ
Vết bệnh trên lá mạ lúc đầu hình bầu dục nhỏ, sau tạo thành hình thoi, màu nâu hồng hoặc
màu nâu vàng. Khi bệnh nặng, từng đám vết bệnh kế tiếp nhau làm cây mạ có thể héo khô hoặc
chết.
* Vết bệnh trên lá lúa
Thông thường vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ, màu xanh lục hoặc mờ vết dầu, sau
chuyển màu xám nhạt. Sự phát triển tiếp tục của triệu chứng bệnh khác nhau tùy thuộc vào mức độ
phản ứng của cây.




* Vết bệnh ở cổ bông, cổ gié và trên hạt lúa
Các vị trí khác nhau của bông lúa đều có thể bị bệnh với triệu chứng là các vết màu nâu xám
hơi teo thắt lại. Vết bệnh trên cổ bông xuất hiện sớm thì bông lúa bị lép, nếu muộn khi hạt đã vào
chắc thì gây hiện tượng gãy cổ bông.
Vết bệnh của hạt không định hình, có màu nâu xám hoặc nâu đen. Nấm kí sinh ở vỏ trấu và có thể ở
bên trong hạt. Hạt giống bị bệnh là nguồn bệnh truyền từ vụ này sang vụ khác.
B/ Nguyên nhân gây bệnh:




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
15
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
Nấm Pyricularia oryzae Cav.et Bri. thuộc họ Moniliaceae bộ Moniliales, lớp nấm Bất
Toàn.Cành bào tử phân sinh hình trụ, đa bào, không phân nhánh, đầu cành thon và hơi gấp khúc. Nấm
đạo ôn sinh trưởng thích hợp ở nhiệt độ 25-280C, độ ẩm trên 93%, có giọt nước.
Trong quá trình gây bệnh nấm tiết ra độc tố như acid α-picolinic (C 6H5NO2) và piricularin
(C18H14N2O3) có tác dụng kiềm hãm hô hấp và phân hủy các enzyme chứa kim loại của cây, kìm hãm
sự sinh trưởng của cây lúa. Nấm đạo ôn có khả năng biến dị cao.
Nguồn bệnh của nấm đạo ôn tồn tại ở dạng sợi nấm và bào tử tồn tại trong rơm rạ và hạt bị bệnh,
các cây cỏ dại khác. Trong điều kiện khô ráo bào tử có thể sống 1 năm và sợi nấm sống được 3
năm, nhưng trong điều kiện ẩm ướt chúng không sống được sang vụ sau.
C/Vai điêu kiên anh hưởng và phát triển của bệnh
̀ ̀ ̣ ̉
*Ảnh hưởng của thời tiết và khí hậu: nhiệt độ là 20-280C, độ ẩm không khí 60%…
*Ảnh hưởng của đất đai, phân bón: những chân ruộng nhiều mùn, trũng ẩm, khó thoát nước,
những vùng đất mới vỡ hoang, đất giữ nước kém, khô hạn dễ tạo điều kiện cho nấm phát triển.
Phân lân có ảnh hưởng ít đến mức độ miễn dịch bệnh của cây. Nếu bón Kali trên nền đạm cao
sẽ làm bệnh tăng so với trên nền đạm thấp. Phân silic làm giảm mức độ nhiễm bệnh.
*Ảnh hưởng của các giống lúa: một số giống lúa có khả năng chống chiụ bệnh rất cao ,
ngược lại cũng có một số giống khả năng chống chịu bệnh rất kém.
D/ Biện pháp phòng trừ:
 Chủ động phòng trừ, theo dõi các yếu tố: vị trí tồn tại của nguồn bệnh, diễn biến yếu tố khí
hậu, thời tiết, tình hình sinh trưởng của cây và điều kiện đất đai
 Dọn sạch tàn dư rơm rạ, cây cỏ dại
 Bón NPK hợp lý, đúng giai đoạn, không bón N tập trung vào giai đoạn cây dễ bị nhiễm
bệnh. Khi có bệnh xuất hiện phải ngừng bón thúc đạm tiến hành phun thuốc
 Tăng cường sử dụng giống lúa khaùng bệnh
 Kiểm tra lô hạt giống, nếu nhiễm bệnh hạt cần xử lý hạt giống tiêu diệt nguồn bệnh bằng
nước nóng 540C trong 10 phút, hoặc bằng thuốc trừ đạo ôn
 Sử dụng một số loại thuốc hóa học: Kitazin, Kasai, Hinosan, Fuzi-one, Beam…

2.1.7.2.Bệnh thối gốc chảy nhựa, chảy gôm (bệnh Phytophthora)

a/.Tác nhân: Do hai loại nấm chính là Phytophthora citrophthora và Phytophthora parasitica gây ra.
Chúng tấn công trên rễ, thân, cành, lá và trái làm giảm năng suất và chất lượng.




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
16
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007



Phytophthora
b./ Triệu chứng: Bệnh thường xuất hiện trên thân cây ở phần sát gốc, cổ rễ hoặc tại các vết
ghép. Nấm xâm nhập vào thân gây ra những vết thối màu nâu trên vỏ, những vết nứt theo chiều dọc
của thân để lộ ra phần gỗ có màu nâu, chảy nhựa, lúc đầu có màu vàng, sau đó khô lại có màu nâu
trong (gôm). Bệnh có thể phát triển nhanh bao quanh thân làm thân xì mủ hoặc trên rễ chính làm rễ
bị thối, trên lá làm cho các lá bị vàng, nhất là gân lá, sau đó lá rụng đi, chồi bị xoăn, cành bị khô và
chết, tấn công trên trái làm trái bị thối nâu.




c./ Điều kiện phát sinh, phát triển bệnh: Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ thấp
(15-250C), ẩm độ cao, đất trồng ẩm ướt thường xuyên, thoát nước kém trong mùa mưa, vườn trồng
dầy, ít được tỉa cành tạo tán, bón phân không cân đối.
d./ Cách phòng trị:
- Sử dụng các giống, cây kháng bệnh có nguồn gốc từ các Viện ngiên cứu, Trường Đại học, các cơ
sở nhân giống đúng kỹ thuật…
- Dùng gốc ghép kháng bệnh như cam chua, cam 3 lá... vết ghép phải cách mặt đất 30-50cm để hạn
chế nấm bệnh xâm nhập qua vết ghép.
- Đất trồng phải thoát nước tốt, không nên tủ gốc trong mùa mưa, tưới ẩm cho cây trong mùa khô.
- Trồng với mật độ thích hợp, hàng năm cần vệ sinh vườn, cắt tỉa các cành quá sát mặt đất để cây
thông thoáng.
- Tránh gây những vết thương cơ giới ở vùng rễ và thân gần gốc khi chăm sóc, trèo hái trái.
- Dọn sạch tàn dư trong vườn tránh mầm bệnh lưu tồn.
- Sử dụng các loại phân có chứa đầy đủ đạm, lân, kali và các chất trung vi lượng.
- Diệt côn trùng đặc biệt là mối.
- Khi phát hiện bệnh có thể dùng một trong các loại thuốc: Aliette 80WP, Ridomil MZ 72WP,
Ridomil Gold 68 WP… để phun xịt lên cây, phun 7-10 ngày/lần.
- Những cây đã bị thối ở vỏ, thân, gốc và rễ cái thì dùng dao cạo sạch vết bệnh rồi quét lên đó dung
dịch Booc-đô 1% hoặc Aliette 80WP pha nồng độ 10-15% (10-15ml thuốc với 85-90ml nước).Sau
một thời gian vết bệnh sẽ lành, vỏ cây sẽ được tái sinh.
2.2./ VI KHUẨN GÂY BỆNH CÂY :




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
17
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
Hình ảnh Bệnh loét Cam Chanh (Xanthomonas citri)




Hình ảnh Cây Lúa bị bệnh bạc lá (Xanthomonas oryzae)




2.2.1./ TÁC HẠI CỦA VI KHUẨN GÂY BỆNH:
Bệnh do vi khuẩn gây ra trong đó có nhiều bệnh gây thiệt hại kinh tế lớn đặc biệt trong thời
kì sinh trưởng của cây cũng như trong thời gian bảo quản, cất trữ nông sản phẩm.Đ ối với những
khu vực sản xuất thuộc vùng nhiệt đới, sự nhiễm vi khuẩn đã gây những thiệt hại lớn trong sản
xuất nông nghiệp như bệng bạc lá lúa (Xanthomonas oryzae), bệnh héo xanh cây họ cà (cà chua
,khoai tây, thuốc lá) (Pseudomonas sdanacearum Smith), bệnh loét ở cam chanh (Xanthomonas
citri), thối ướt củ khoai tây, cà rốt, hành tây…….(Erwinia catovora).v.v…
Ở những vùng trồng trọt khí hậu ôn đới, bán ôn đới chủ yêú là do các loài vi khuẩn Erwinia,
Pseudomonas syringae, Xanthomonas spp, Corynebacterium sp, Agrobacterium tumefaciens……gây
hại trên hầu hết các loại cây trồng: ngũ cốc, cây hoa, cây ăn quả, cây thực phẩm, cây cảnh…
2.2.2/ ĐẶC TÍNH CHUNG CỦA VI KHUẨN GÂY HẠI CÂY TRỒNG :
Vi khuẩn là sinh vật đơn bào chỉ có thể quan sát được nhờ kính hiển vi quang học hay điện tử, và là
loại tiền nhân (procaryotae), tế bào không có nhân thật không có diệp lục. Sinh sản chủ yếu bằng
hình thức phân đôi tế bào.
Vi khuẩn gây bệnh có hình gậy thẳng, hai đầu hơi tròn hoặc có hình gậy ngắn hơi cong.
Tế bào vi khuẩn có thể đứng riêng lẻ, liên kết thành đôi, cặp hay thành chuỗi tuỳ theo loài vi khuẩn
và điều kiện sống.




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
18
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
Trong những điều kiện bất thường của môi trường hoặc dưới ảnh hưởng của kháng sinh, một số
loài vikhuẩn có thể biến thái thành khối nguyên sinh chất trần không có vách tế bào gọi là vi khuẩn
“dạng L”.
Kích thước tế bào vikhuẩn có thay đối khác nhau tuỳ theo loài nhưng nói chung là từ 1-3 X 0.3-0.6
µm.
Trừ một số vikhuẩn không chuyển động, đa số vi khuẩn gây bệnh trên cây đều có khả năng chuyển
động nhờ bộ phận lông roi.
Thành phần cấu của tế bào vi khuẩn gồm: thể nhân (tiền nhân), tế bào chất, màng tế bào chất và
vách tế bào. Ngoài ra còn tuỳ theo loài còn có thêm một số bộ phận khác như: lông roi, vỏ nhờn
(niêm mạc)…
2.1.3/ SINH LÍ VÀ SINH HOÁ VI KHUẨN
Vi khuẩn gây bệnh cho cây là những loài bán kí sinh có thể nuôi cấy trên môi trường nhân tạo
giành cho vi khuẩn học.
Sinh trưởng và sinh sản của vi khuẩn gây bệnh cây bắt đầu từ 5-10ºC, nhiệt độ tối ưu là 25-30ºC,
ngừng sinh sản ở 33-40ºC. Nhiệt độ gây chết là 40-50ºC (trong 10 phút). Khác với các loài nấm
bệnh, để sinh trưởng và sinh sản, vi khuẩn gây bệnh đòi hỏi môi trường trung tính- kiềm yếu, thích
hợp PH 7-8. Phần lớn vi khuẩn gây bệnh cây là hiếu khí nên phát triển mạnh trên bề mặt môi
trường đặc hoặc trong môi trường lỏng giàu oxy nhờ lắc liên tục trên máy lắc. Một số loài khác
yếm khí tự do có thể dể dàng phát triển bên trong cơ chất (mô cây) không có oxy.
Vi khuẩn gây bệnh là những vi sinh vật dị dưỡng đối với các nguồn cacbon và nguồn đạm,
cho nên để phát triển vi khuẩn cần năng luợng thông qua con đường phân giải các chât hữu cơ có
sẵn như protein và polysaccarit. Phân giải nguồn cacbon (đường gluxit) và tạo ra acid và khí.
Qúa trình trao đổi chất trong tế bào vi khuẩn được điều khiển bởi hệ thống Enzym chứa trong
ribosom, trong màng tế bào, vách tế bào….Nhiều loại enzym được vi khuẩn tiết vào môi trường
sống được coi như là vũ khí quan trọng, nhờ đó mà xâm nhiễm vào cây, vượt qua được các chướng
ngại vật tự nhiên của cây (biểu bì, cutin, vách tế bào thực vật), để chuyển hoá các chất hữu cơ phức
tạp thành các dạng dễ hấp thu cho vi khuẩn và để trung hòa hoặc vô hại hoá các chất đề kháng của
cây chống lại kí sinh.
Các men phân giải pectin mảnh gian bào của cây như pectinase, protopectinase, polygalacturonase có
ở hầu hết vi khuẩn hại cây, hoạt tính mạnh nhất ở các loại vi khuẩn gây bệnh thối rữa.
Đối với một số vi khuẩn gây bệnh héo ( Pseudomonas solanacearum) pectinmethylesterase phân giải
pectin có thể sinh ra acid pectinic ở trong mạch dẫn kết hợp với Ca tạo thành pectat canxi làm tắt sự
lưu thông của bó mạch, góp phần tạo ra triệu trứng héo đột ngột của cây.




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
19
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
Nhiều loại enzym phân giải cutin, cellulose rất phổ biến ở vi khuẩn đặc biệt là vi khuẩn
Xanthomonas campestris (bệnh thối bó mạch bắp cải), Corynebacterium sepedonicum (bệnh thối
vòng củ khoai tây)…
Tóm lại, vi khuẩn có hệ thống enzym phong phú không những cung cấp chất dinh dưỡng cho quá
trình trao đổi chất của vi khuẩn mà còn phá hủy cấu trúc mô và trao đổi chất bình thường của tế bào
cây cũng như hệ thống enzym của cây kí chủ.
Vi khuẩn có thể sản sinh ra các độc tố; ta có thể phân chia các độc tố của vi khuẩn ra thành 2 nhóm:
pathotoxin và vivotoxin.
*Pathotoxin có tính đặc hiệu theo loài cây kí chủ và có vai trò lớn trong việc tao chứng bệnh. Các
loại độc tố này ức chế enzym tổng hợp glutamin, làm đình trệ sự tổng hợp diệp lục phá vỡ hệ
thống tự vệ của cây.
*Vivotoxin là những độc tố gây héo ở cây, tác động phá hủy màng tế bào, mạch dẫn của cây trồng.
Đ ể nghiên cứu các đặc tíng sinh lí, sinh hoá và đặc điểm sinh trưởng của vi khuẩn người ta cần
phân lập thuần khiết các loài vi khuẩn riêng biệt trên môi trường dinh dưỡng nhân tạo (đặc hoặc
lỏng).
2.2.4/ TRIỆU CHỨNG BỆNH Ở VI KHUẨN
Triệu chứng bệnh có hai kiểu: kiểu cục bộ và kiểu toàn bộ.
Khi vi khuẩn xâm hại ở nhu mô các cơ quan riêng biệt thì triệu chứng bệnh biểu hiện theo kiểu cục
bộ, có giới hạn như các triệu chứng: vết đốm, cháy lá…Khi vi khuẩn xâm hại ở rễ, ở hệ thống
mạch dẫn của cây thì triệu chứng bệnh biểu hiện theo kiểu toàn bộ, cây chết héo.
Các loại hình cơ bản của triệu chứng bệnh vi khuẩn là: vết đốm, héo rũ, thối hỏng, bạc màu, biến
dạng u sưng.
1.Vết đốm: Loại hình có triệu chứng vết đốm là hiện tượng đám mô chết hoại tử có hình dạng, màu
sắc khác nhau ở bộ phận trên mặt đất của cây nhất là ở lá, ở quả. Thường được phân biệt gọi bằng
các dạng đốm lá và cháy lá.Tiêu biểu là các loại giác ban hại bông (Xanthomonas malvacearum).




                            
Sự hình thành vết đốm thường phải trải qua một vài giai đoạn.




  ảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
Gi
20
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
Vi khuẩn vào mô cây vết nhỏ xanh trong giọt dầu mô chết vết đốm có màu xẫm, đen, đôi khi có
quầng vàng xung quanh vết đốm do tác động của các độc tố và enzym (tirozinase) cuả vi khuẩn gây
bệnh.
Hiện tượng cháy lá do vi khuẩn có đặc điểm làm lá cháy từng mảng lớn ở mép rià, ngọn lá, làm thui
đen hoa, chồi non, búp non, vỏ thân cành….




2. / Héo rũ:
Vi khuẩn xâm hại chủ yếu ở hệ thống mạch dẫn trên thân, rễ, cành lá…Và phá hủy bó mạch dẫn
làm cho mạch trở nên đen, nâu, gây héo rũ nhanh chóng một số lá, cành sau toàn cây héo rũ và chết
khô. Điển hình là bệnh héo xanh vi khuẩn hại cây họ cà, họ đậu. Do Pseudomonas solanacearum.




     




 Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
21
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




                




cây chủ yếu do các enzym phân giải (pestinase) cuả vi khuẩn toàn bộ thịt củ quả bị biến thành một
khối nhão có mùi.Một vài trường hợp khác có thể thối cục bộ như bệnh thối vòng ở khoai tây
(Corynebacterium sepedonicum).




  ảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
Gi
22
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




2.2.5// PHÂN LOẠI VI KHUẨN HẠI CÂY
Để tiến hành phân loại vi khuẩn hại cây người ta phân lập vi khuẩn thuần khiết trên môi trường
nhân tạo (khoai tây-pepton, saccharose, argar) cũng như tiến hành một số thí nghiệm đặc biệt.
Vì có cấu tạo đơn giản và giữa các loài có sự khác biệt không đáng kể về hình thái. Nên việc phân
loại phải căn cứ theo các đặc điểm sau:
A..Đ ặc điểm hình thái tế bào vi khuẩn và khuẩn lạc của nó trên môi trường :
Hình dạng màu sắc khuẩn lạc,màu môi trường;
Khả năng chuyển động của vi khuẩn;
Khả năng tạo vỏ nhờn và bào tử
Tính chất của lông roi
Nhuộm gram
B .Đ ộc tính gây bệnh của vi khuẩn và tính chuyên hóa ký chủ
C .Đ ặc tính sinh lí và các phản ứng sinh hoá
D . Thành phần cấu trúc DNA
Tuy có nhiều bảng phân loại khác nhau nhưng tất cả vi khuẩn gây hại đều thuộc lớp
Eubacteriales, bao gồm các bộ họ loài khác nhau.
2.2.6/ ĐẶC ĐIỂM XÂM NHIỄM VÀ LAN TRUYỀN CỦA VI KHUẨN HẠI
CÂY
Vi khuẩn xâm nhiễm vào cây hoàn toàn thụ động, bản thân không có khả năng xâm nhiễm trực tiếp
để xuyên qua biểu bì và bề mặt lá cây còn nguyên vẹn, con đường xâm nhập chủ yếu vào cây là qua
các lỗ hở tự nhiên như khí khổng, mắt củ….Con đường xâm nhập thứ hai của vi khẩn qua vết
thương sây sát.
Sau khi vi khuẩn xâm nhập vào cây nó lan truyền trong nhu mô lá (vi khuẩn hại nhu mô); lan theo hệ
thống mạch dẫn (vi khuẩn hại bó mạch).
Lan truyền của vi khuẩn nhờ gió, mưa, nước tưới, không khí, côn trùng, lan truyền qua các hạt
giống và hoạt động của con người.




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
23
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
2. 2. 6. 1




2.2.6.2 Đặc điễm xâm nhiễm bệnh
1.xâm nhiễm thụ động:




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
24
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
25
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




2.2.6.3/ Đặc điểm lây truyền bệnh




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
26
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




2.2.6.4/ NGUỒN GỐC BỆNH:




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
27
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




2./Trong xác thực vật:




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
28
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




2.2.6.5/QUAN HỆ GIỮA YẾU TỐ SINH THÁI VỚI VI KHUẨN GÂY BỆNH
Qúa trình sinh trưởng và phát triển, cũng như mức độ độc hại của vi khuẩn gây bệnh
chịu ảnh hưởng rất nhiều của các yếu tố sinh thái môi trường.




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
29
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
30
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
31
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




2.2.6.6 / PHÒNG TRỪ BỆNH TỔNG HỢP VI KHUẨN :




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
32
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
33
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




BỆNH HÉO XANH CÀ CHUA KHOAI TÂY




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
34
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
35
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




Ps. sol anacear um
Vi khuẩn gây bệnh là vi khuẩn đất kí sinh thực vật thuộc họ Pseudomonadaceae, bộ
Pseudomonadales. Vi khuẩn hình gậy 0.5 x 1.5 haó khí chuyển động có lông roi ở đầu
nhuộm gr(-).
Trên mội trường Kelman (1954) khuẩn lạc maù trắng kem nhẵn bóng, nhờn (vi khuẩn có
tính độc gây bệnh).




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
36
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
37
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




BỆNH LOÉT (CANCER) :




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
38
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




BỆNH VÀNG LÁ GÂN XANH:




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
39
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




2.4/SIÊU VI SINH VẬT GÂY BỆNH CÂY TRỒNG:
VIRUS GÂY BỆNH CÂY TRỒNG
2.4.1/ SỰ PHÁT HIỆN RA VIRUS HẠI THỰC VẬT
Được phát hiện ra vào cuối thế kỉ thứ 19 do công lao của nhiều nhà bác học như A. Mayer (1886),
D. Ivanopski(1982), M. Beijerinck(1998)…Đến đầu thế kỉ 20, các virus gây bệnh cho thực vật lần
lượt được phát hiện ra như virus gây bệnh khảm trên cây thuốc lá, virus gây bệnh thoái hoá trên cây
khoai tây….Những thành tựu to lớn mãi đến năm 1939 mới đạt được sau khi kính hiển vi điện tử ra
đời.
Ngày nay virus học là môn khoa học hiện đại ứng dụng rất nhiều những thành tựu của sinh học
phân tử.




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
40
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




2.4.2/ THÀNH PHẦN CẤU TẠO CỦA VIRUS:
Bình thường, mỗi virus được cấu tạo từ protêin và acid nucleic, một số virus đặc biệt còn
chứa cả polyamin, lipit hoặc men đặc hiệu (như virus diệt vikhuẩn, bacteriophage).
2.4.3/ TRIỆU CHỨNG BỆNH CÂY BỊ NHIỄM VIRUS:
•Khảm lá, lùn cây: là hiện tượng khảm lá kèm theo lùn như Maize moisaic drarf virus hay
khảm sọc lá ở cây ngô, và các cây đơn tử diệp.
•Xoăn lá, cuốn lá: biến dạng lá ở các cây như cà chua, cuốn lá khoai tây, xoăn lá cây ớt, hồ
tiêu….
•Biến màu và biến vàng: là những triệu chứng thường xuất hiện ở luá (biến vàng); cam chanh
(hoá xanh)….
•Lùn bụi, tàn lụi
•Biến dạng củ quả
Các triệu chứng trên phụ thuộc vào giống cây kí chủ, điều kiện môi trường và chủng loại virus mà
có sự biến đổi. Cùng loại virus mà ở 3 nhóm chủng khác nhau có thể hiện bệnh thành nhiều nhóm
triệu chứng khác nhau.
2.4.4/ SỰ LAN TRUYỀN CỦA VIRUS:
Virus có cơ chế truyền bệnh rất thụ động và là sinh vât kí sinh tuyệt đối ở mức độ tế bào do đó sự
lan truyền của bệnh có những đặc điểm riâng khác với các nhóm vi sinh vật khác.
◙. Virus lan truyền qua phương pháp nhân giống vô tính ở thực vật như: Ghép cây, ghép chồi, ghép
mắt, chiết cành, gốc ghép, cành ghép cành giâm……
◙.Truyền qua hạt giống cây: Có khoàng 100 virus có khả năng truyền qua hạt giống thực vật. Phần
lớn nhóm này là các virus ở những cây họ đậu và bầu bí. Một số còn có khả năng lan truyền qua
phấn hoa .
◙. Truyền bệnh bằng đường cơ học, tiếp xúc: các nguyên nhân như: mật độ cây, mật độ tán, độ dày
cuả tán và giao tán có thể là nguyên nhân lây lan nguồn bệnh. Mặt khác, công tác chăm bón và thu hái
tạo ra các vết thương ở cây là điều kiện để cho virus dạng giọt dịch lây nhiễm từ cây bệng sang.
◙.Lây truyền bằng con đường côn trùng mô giới
◙. Truyền bệnh bằng tuyến trùng: tuyến trùng thường truyền bệnh từ rễ cây này sang rễ cây khác,
khi đã truyền bệnh rồi tuyến trùng lại phải tiếp tục hút virus gây bệnh một làn nữa mới truyền qua
cây khác.Virus không truyền qua trứng của tuyến trùng.
◙. Truyền bệnh nhờ nấm.




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
41
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007
◙. Truyền bệnh bằng cây tơ hồng: là loài thực vật dại rất phổ biến ở nước ta. Kí sinh bằng cách tạo
rễ ăn sâu vào thân kí chủ để hút nhựa.Vì vậy virus có thể di chuyển theo thân dây tơ hồng từ cây này
qua cây khác.
2.4.5/PHÒNG TRỪ VIRUS GÂY HẠI CÂY TRỒNG : Trên thế giới có nhiều biện
pháp phòng trừ virus gây hại thự vật đã được áp dụng như loại bỏ nguồn bệnh, tiêu diệt côn trùng
gây bệng mô giới, diệt cỏ dại, luân canh cây trồng …..sử dụng nguồn giống sạch bệng để gieo
trồng ….
Muốn công tác phòng bệnh được hiệu quả: ta phải kết hơp hiệu quả các biện pháp: cơ học; hóa
học; sinh học và các biên pháp vật lí…..



2.4.6/.BỆNH KHẢM THUỐC LÁ:




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
42
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




2.2.7/BỆNH TRISTEZA TRÊN CÂY CÓ MUÍ:




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
43
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




2.4.8/ BỆNH DO VIROID HẠI THỰC VẬT:




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
44
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




A./ NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH:




2.4.9/BỆNH CỦ KHOAI TÂY CÓ HÌNH THOI:




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
45
Chương I: Tác hại của vi sinh vật Vi sinh nông nghiệp
2007




Giảng viên: TS. Trịnh Thị Hồng
46
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản