CHƯƠNG II ĐẤT ĐAI DIỆN TÍCH MẶT NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ THÂM CANH TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN.

Chia sẻ: Đặng Minh Dũng | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:18

0
115
lượt xem
13
download

CHƯƠNG II ĐẤT ĐAI DIỆN TÍCH MẶT NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ THÂM CANH TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN.

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đất đai là gì? hiểu thế nào là đất đai diện tích mặt nước? Theo quan điểm của nhà kinh tế học Các-mác: "Đất đai hiểu theo nghĩa rộng danh từ này bao hàm cả nước"

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: CHƯƠNG II ĐẤT ĐAI DIỆN TÍCH MẶT NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ THÂM CANH TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN.

  1. CHƯƠNG II ĐẤT ĐAI DIỆN TÍCH MẶT NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ THÂM CANH TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN. Đất đai là gì? hiểu thế nào là đất đai diện tích mặt nước? Theo quan điểm của nhà kinh tế học Các- mác:” Đất đai hiểu theo nghĩa rộng danh từ này bao hàm cả nước“. Như vậy đất đai bao gồm: - Phần lục địa bao gồm: Đất nông nghiệp, đất rừng và các loại đất khác. - Phần mặt nước bao gồm: Nước ngọt, nước lợ, nước mặn. Diện tích mặt nước hiểu theo nghĩa rộng nó bao gồm: - Đất, nước, các chất dinh dưỡng (NPK) chứa đựng trong đó. - Quần thể sinh vật sống trong đó (thực vật phù du, động vật phù du, thực vật thủy sinh, động vật đáy) - Của cải ẩn náu trong lòng nó (mỏ quặng, dầu khí…) I. VỊ TRÍ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẤT ĐAI DIỆN TÍCH MẶT NƯỚC Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề trước tiên của mọi quá trình sản xuất. Nó tham gia vào mọi quá trình sản xuất của xã hội nhưng tùy thuộc vào từng ngành cụ thể mà vai trò của đất đai có sự khác nhau. Trong nuôi trồng thủy sản đất đai diện tích mặt nước không chỉ tham gia với tư cách là yếu tố thông thường mà là yếu tố tích cực của sản xuất, là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế được. 1. Đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất trong nuôi trồng thủy sản biểu hiện nó vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động Trong quá trình sản xuất lao động của con người và các tư liệu sản xuất khác tác động vào đối tượng nuôi trồng chủ yếu thông qua đất đai diện tích mặt nước qua hai giai đoạn: - Giai đoạn 1: Lao động con người đã dùng các yếu tố kỹ thuật, vật lý, hóa học, sinh vật học tác động vào đất đai diện tích mặt nước. Ở giai đoạn này đất đai diện tích mặt nước hoạt động với tư cách là đối tượng lao động. + Cải tạo ao: Cày, xới đáy ao làm cho đất tơi xốp tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển + Bón phân (NPK): Nhằm bổ sung nguồn chất dinh dưỡng cho vùng nước. + Bón vôi: Nhằm diệt trùng, khử chua, làm vùng nước trở nên trung tính thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các đối tượng nuôi trồng - Giai đoạn 2: Con người sử dụng những thuộc tính lý, hóa, sinh của vùng nước tác động vào đối tượng nuôi trồng. Thực chất sử dụng các chất dinh dưỡng sẵn có trong vùng nước và đã được biến đổi thích ứng ở giai đoạn 1 để tác động vào đối tượng nuôi trồng. Như vậy trong giai đoạn này đất đai diện tích mặt nước hoạt động với tư cách là đối tượng lao động. Vậy khi nào đất đai diện tích mặt nước trở thành tư liệu sản xuất ? Đất đai diện tích mặt nước chỉ trở thành tư liệu sản xuất khi và chỉ khi có sự tác động của lao động của con người và những tư liệu sản xuất khác có trước. 20
  2. Việc nhận thức đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất sẽ có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn sau: - Là tư liệu sản xuất đất đai diện tích mặt nước mang đầy đủ tính chất xã hội như các tư liệu sản xuất khác, ở chỗ nó là sản phẩm của lao động không phải một thế hệ mà là của nhiều thế hệ. Do đó viêc xã hội hóa đất đai diện tích mặt nước là một tất yếu khách quan. - Cũng như các tư liệu sản xuất khác, đất đai diện tích mặt nước đều mang nội dung kinh tế của nó. Thực tiễn đạt ra yêu cầu là phải sử dụng đất đai diện tích mặt nước như thế nào để đạt hiệu quả kinh tế cao. - Đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất do đó nó cũng mang tính chất kỹ thuật của nó, nên phải bảo dưỡng kỹ thuật cho nó như các tư liệu sản xuất khác, tức là phải bảo vệ, cải tạo, bồi dưỡng và nâng cao độ phì nhiêu của nó. Từ việc nhận thức ba vấn đề lý luận trên, thực tiễn đạt ra yêu cầu phải quản lý đất đai diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản trên cả ba mặt: Pháp chế, kinh tế, kỹ thuật. 2. Đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế. Lao động của con người cũng như các yếu tố vật chất khác tác động lên đối tượng nuôi trồng chủ yếu và căn bản thông qua đất đai diện tích mặt nước vì vậy nếu không có đất đai diện tích mặt nước thì chúng ta không thể tiến hành nuôi trồng thủy sản được. 3. Đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất đặc biệt: - Đất đai diện tích mặt nước vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động. - Đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không thể thay thế. - Lao động của con người không tạo ra được vùng đất đai diện tích mặt nước hoàn toàn mới. - Nếu con người biết sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai diện tích mặt nước không ngừng được nâng cao. II. ĐỘ PHÌ NHIÊU CỦA ĐẤT ĐAI DIỆN TÍCH MẶT NƯỚC Sự tác động của lao động và các tư liệu sản xuất khác lên đối tượng nuôi trồng chủ yếu và căn bản thông qua đất đai diện tích mặt nước, thực chất phụ thuộc một phần vào độ phì nhiêu của đất đai diện tích mặt nước. Vậy độ phì nhiêu của đất đai diện tích mặt nước là gì ? 1. Khái niệm - Xét về mặt kỹ thuật: độ phì nhiêu là khả năng cung cấp các chất dinh dưỡng (trực tiếp hoặc gián tiếp) cho các đối tượng nuôi trồng. - Xét về mặt kinh tế: độ phì nhiêu là khả năng của vùng nước của “lớp đất màu ” cho phép thu hoạch một khối lượng sản phẩm nhất định trên một đơn vị diện tích nhất định. Đất đai diện tích mặt nước có nhiều thuộc tính trong đó độ phì nhiêu là thuộc tính quan trọng nhất, phản ánh mặt chất lượng của đất đai diện tích mặt nước Khối lượng sản phẩm = Diện tích mặt nước × Năng xuất đối tượng nuôi 21
  3. Diện tích mặt nước có hạn vì vậy muốn tăng khối lượng sản phẩm sản xuất cần tăng năng xuất đối tượng nuôi trồng (năng xuất đối tượng nuôi trồng phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất đai diện tích mặt nước). Độ phì nhiêu của đất đai diện tích mặt nước không phải là một phạm trù trừu tượng, ngược lại nó là đại lượng hết sức xác định. - Về mặt kỹ thuật nó được xác định bởi: dung lượng các chất dinh dưỡng có trong đất và nước và tỷ lệ các chất dinh dưỡng có thể làm thức ăn (trực tiếp hoặc gián tiếp ) cho các đối tượng nuôi trồng. - Về mặt kinh tế: độ phì nhiêu xác định bởi các chỉ tiêu kinh tế mà chủ yếu và trực tiếp là năng xuất các đối tượng nuôi trồng. 2. Các loại độ phì nhiêu của đất đai diện tích mặt nước a. Xét về mặt sử dụng độ phì nhiêu của đất đai diện tích mặt nước được chia thành 5 loại: - Độ phì nhiêu nguyên thủy: Là độ phì nhiêu của đất sơ sinh. - Độ phì nhiêu tự nhiên: Là độ phì nhiêu được hình thành trong quá trình phong hóa lâu đời của đất trồng dưới ảnh hưởng của các điều kiện môi trường như: vật lý, hóa học và sinh vật học. - Độ phì nhiêu thực tiển hay hiệu quả: Được xác định bởi số lượng chất dinh dưỡng thích hợp cho các đối tượng nuôi trồng. - Độ phì nhiêu nhân tạo: Độ phì nhiêu nhân tạo do con người tạo ra bằng cách bón phân hữu cơ và vô cơ vào vùng nước, cải tạo vùng nước, biến chất dinh dưỡng ở dạng không tiêu hóa hoặc khó tiêu hóa trở thành dạng dễ tiêu hóa đối với thực vật. - Độ phì nhiêu kinh tế: Là sự thống nhất giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu nhân tạo, độ phì nhiêu kinh tế do con người tạo ra b. Xét về mặt hiệu quả kinh tế độ phì nhiêu của đất đai diện tích mặt nước được chia thành độ phì nhiêu tương đối và độ phì nhiêu tuyệt đối. - Độ phì nhiêu tuyệt đối: Biểu thị sản lượng thu hoạch/1 đơn vị diện tích. - Độ phì nhiêu tương đối: Biểu thị lượng sản phẩm thu được/1 đơn vị chi phí III. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẤT ĐAI DIỆN TÍCH MẶT NƯỚC TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1. Đất đai diện tích mặt nước bị giới hạn về không gian, nhưng sức sản xuất của nó là vô hạn. 22
  4. Số lượng đất đai diện tích mặt nước đưa vào nuôi trồng thủy sản bị giới hạn bởi không gian nhất định, bao gồm sự giới hạn tuyệt đối và tương đối. Giới hạn tuyệt đối của đất đai diện tích mặt nước trên thế giới là giới hạn bởi bề mặt của quả địa cầu, của từng nước là vị trí ranh giới lãnh thổ giữa các quốc gia. Tất cả đất đai diện tích mặt nước của các vùng, các quốc gia đều là con số hữu hạn. Còn giới hạn tương đối lại thấp hơn nhiều, không phải tất cả đất đai diện tích mặt nước tự nhiên đều đưa vào nuôi trồng thủy sản được mà tùy thuộc vào điều kiện địa hình và trình độ phát triển kinh tế của từng nước mà đạt tỷ lệ phần trăm thích hợp. Như vậy đất đai diện tích mặt nước là có giới hạn, nhất là Việt Nam –một nước đất chật người đông, bình quân đất đai diện tích mặt nước trên đầu người quá thấp thì đất đai diện tích mặt nước lại vô cùng quí giá “Tấc đất tấc vàng”.Vì vậy cần phải sử dụng hợp lý và tiết kiệm đất đai diện tích mặt nước. Măc dù đất đai diện tích mặt nước bị giới hạn về mặt không gian, nhưng nhờ sức sản xuất của đất đai diện tích mặt nước rất to lớn và không có giới hạn đã cho phép chúng ta khai thác chiều sâu của đất đai diện tích mặt nước để trên một đơn vị diện tích ngày càng cho nhiều sản phẩm nuôi trồng thủy sản phục vụ cho nhu cầu của con người. 2. Đất đai diện tích mặt nước có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều. Các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển đến những nơi cần và đang thiếu, ngược lại đất đai diện tích mặt nước có vị trí cố định gắn liền với điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết và điều kiện kinh tế –xã hội của mỗi vùng. Để kết hợp đất đai diện tích mặt nước với người lao động và các tư liệu sản xuất cho có hiệu quả cao. Một mặt phải quy hoạch các vùng, các khu vực nuôi trồng thủy sản, mặt khác phải cải thiện điều kiện tự nhiên, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở cho các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung nhằm tạo điều kiện để sử dụng đất đai diện tích mặt nước có hiệu quả, nâng cao đời sống của ngư dân và từng bước thay đổi bộ mặt của các vùng nông thôn ven biển. Đất đai diện tích mặt nước có chất lượng không đồng đều giữa các vùng trong nước, giữa các khu vực trong huyện và tỉnh thậm trí ngay cả trên một cánh đồng, biểu hiện ở chỗ: sự chênh lệch về dung lượng các chất dinh dưỡng cần thiết cho thực vật và các chất dinh dưỡng có trong đất dễ tiêu hóa và có thể trực tiếp làm thức ăn cho các đối tượng nuôi trồng đến mức độ nào. Đó là kết quả, một mặt do quá trình hình thành đất, mặt khác không kém phần quan trọng là do quá trình canh tác của con người. Vì thế trong quá trình sử dụng cần thiết phải khuyến khích các doanh nghiệp, các nông hộ tiến hành sản xuất kinh doanh trên mọi diện tích mặt nước, có các biện pháp hợp lý đểû khai thác độ phì nhiêu tự nhiên. Đồng thời có các biện phát nâng cao chất lượng của đất đai diện tích mặt nước, phải cải tạo, bồi dưỡng, không ngừng nâng cao độ đồng đều của đất đai diện tích mặt nước để đạt năng xuất các đối tượng nuôi trồng cao. 3. Đất đai diện tích mặt nước - tư liệu sản xuất không bị hao mòn và đào thải khỏi quá trình sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì chất lượng của đất đai diện tích mặt nước ngày càng tốt hơn. 23
  5. Các tư liệu sản xuất khác sau một thời gian sử dụng đều bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình, cuối cùng sẽ bị đào thải khỏi quá trình sản xuất và thay thế bằng những tư liệu sản xuất mới, chất lượng cao hơn, giá rẻ hơn. Còn đất đai diện tích mặt nước - tư liệu sản xuất chủ yếu này không bị hao mòn, nếu được sử dụng hợp lý chất lượng của đất đai diện tích mặt nước ngày càng tốt hơn, sức sản xuất của đất đai diện tích mặt nước lớn hơn, sản lượng thu được cao hơn trên mỗi một đơn vị diện tích mặt nước 4. Những biện pháp chủ yếu để sử dụng đầy đủ và hợp lý các loại diện tích mặt nước + Ra sức thâm canh, không ngừng nâng cao độ phì nhiêu của đất đai diện tích mặt nước. + Mở rộng diện tích nuôi trồng bằng khai hoang lấn biển và tận dụng những vùng nước sẵn có. Khai hoang là biện pháp khai thác các loại diện tích mặt nước chưa được sử dụng cho nuôi trồng thủy sản. + Mở rộng diện tích nuôi trồng bằng tăng vụ: Tăng vụ là biện pháp mở rộng diện tích nuôi trồng bằng cách tăng thêm số lần nuôi trồng trên các loại diện tích mặt nước đã nuôi trồng thủy sản Tăng vụ cho phép chúng ta: Tận dụng được điều kiện tự nhiên kinh tế –xã hội và quy luật sinh trưởng và phát triển của các đối tượng nuôi trồng. - Sử dụng đầy đủ và hợp lý hơn tư liệu sản xuất như: đất đai diện tích mặt nước, công trình sản xuất, máy móc thiết bị. - Sử dụng đầy đủ và hợp lý hơn sức lao động. - Sử dụng đầy đủ và hợp lý hơn vốn sản xuất, tăng nhanh vòng quay của vốn lưu động. V. THÂM CANH TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1. Khái niệm chung về thâm canh. Lịch sử phát triển của sản xuất cũng như thực tế đã chứng minh rằng chỉ có hai con đường để phát triển nền nông nghiệp nói chung và ngành nuôi trồng thủy sản nói riêng, đó là quảng canh và thâm canh. Quảng canh là phương thức sản xuất chủ yếu dựa vào việc mở rộng diện tích và khai thác độ phì nhiêu tự nhiên của đất đai để tăng thêm sản phẩm. Thâm canh là phương thức sản xuất tiên tiến nhằm mục đích tăng thêm sản phẩm trên 1 đơn vị diện tích mặt nước với giá thành hạ, bằng cách đầu tư thêm tư liệu sản xuất, lao động, kỹ thuật một cách hợp lý trên 1 đơn vị diện tích mặt nước. Sản lượng sản phẩm = Diện tích mặt nước x Năng xuất đối tượng nuôi Nhu cầu về sản phẩm thủy sản ngày một tăng, do dân số trên thế giới ngày càng tăng và do xã hội ngày càng phát triển dẫn tới nhu cầu của mỗi thành viên trong xã hội về các loại sản phẩm thủy sản cũng tăng. Thâm canh là một tất yếu khách quan do đặc điểm của đất đai là diện tích có hạn, song khả năng sản xuất của nó lại không có giới hạn. 24
  6. Sự khác nhau giữa thâm canh hay không thâm canh và trình độ thâm canh là sự khác nhau về hao phí sản xuất và sản phẩm thu được trên một đơn vị diện tích mặt nước Thâm canh phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Điều kiện tự nhiên (đất đai diện tích mặt nước, khí hậu, thời tiết …), điều kiện kinh tế (cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản, điều kiện giao thông, trình độ cơ khí hóa, thủy lợi hóa, điện, nước …), điều kiện xã hội (trình độ dân trí, các chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản của Đảng và Nhà nước) Thâm canh còn có liên quan chặt chẽ đến cách mạng khoa học- kỹ thuật. Những tiến bộ khoa học- kỹ thuật tạo điều kiện vật chất để đẩy mạnh thâm canh. Theo lãnh tụ cách mạng vô sản thế giới V.Lê- nin: “Nếu như kỹ thuật không thay đổi thì việc đầu tư không thể làm được hoặc có thể làm được cũng ở trong một giới hạn chật hẹp. ” 2. Các chỉ tiêu đánh giá trình độ thâm canh Thâm canh cần đảm bảo: sản xuất ra nhiều sản phẩm thủy sản có chất lượng cao trên một đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất cho một đơn vị sản phẩm. Các chỉ tiêu biểu hiện trình độ thâm canh bao gồm: - Tổng giá trị lao động và tư liệu sản xuất đầu tư trên một đơn vị diện tích mặt nước - Số lao động hao phí trên một đơn vị diện tích mặt nước. - Số tư liệu sản xuất quy thành giá trị đầu tư trên một đơn vị diện tích mặt nước - Số máy bơm nước, số máy đảo khí đầu tư trên một đơn vị diện tích mặt nước - Số lượng phân bón, hóa chất các loại đầu tư trên một đơn vị diện tích mặt nước. - Mật độ giống thả trên một đơn vị diện tích mặt nước. - Sản lượng thu được trên một đơn vị diện tích mặt nước.(Năng suất diện tích mặt nước) 25
  7. Sản lượng thu hoạch Năng suất = Diện tích mặt nước nuôi trồng 3. Các chỉ tiêu biểu hiện kết quả sản xuất A. Giá trị sản xuất ( GO ) n GO = ∑ Qi Pi i =1 Trong đó: GO là giá trị sản xuất. Qi là khối lượng sản phảm thứ i Pi là giá trị của sản phẩm i tương ứng. B. Giá tri gia tăng (VA) VA = GO − IC Trong đó:VA là giá trị gia tăng hay giá trị tăng thêm. IC là chi phí trung gian C. Thu nhập hỗn hợp (MI) MI = VA − A Trong đó: A là khấu hao tài sản cố định D. Lợi nhuận (Pr) Pr = MI − CL . Trong đó: CL, là tiền công lao động gia đình (trực tiếp và quản lý tính theo giá thuê lao động ) 4. Các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế. A. Giá trị sản xuất tính cho 100 đồng chi phí trung gian ; 100 đồng tổng chi phí sản xuất ; 1 lao động - Giá trị sản xuất tính cho 100 đồng chi phí trung gian GO = × 100 IC - Giá trị sản xuất tính cho 100 đồng tổng chi phí sản xuất. GO = ×100 IC + CL + A . - Giá trị sản xuất tính cho 1 lao động. GO = LD - LD: số lao động. 26
  8. B. Giá trị gia tăng tính cho 100 đồng chi phí trung gian; 100 đồng tổng chi phí sản xuất; 1 lao động - Giá trị gia tăng tính cho 100 đồng chi phí trung gian VA = × 100 IC - Giá trị gia tăng tính cho 100 đồng tổng chi phí sản xuất 27
  9. = VA x 100 28
  10. IC +CL +A 29
  11. - Giá trị gia tăng tính cho 1 lao động. VA = LD C. Thu nhập hỗn hợp tính cho 100 đồng chi phí trung gian; 100 đồng tổng chi phí sản xuất; 1 lao động. - Thu nhập hỗn hợp tính cho 100 đồng chi phí trung gian MI = × 100 IC - Thu nhập hỗn hợp tính cho 100 đồng tổng chi phí sản xuất. 30
  12. = MI x 100 31
  13. IC +CL +A 32
  14. - Thu nhập hỗn hợp tính cho 1 lao động. MI = LD D. Lợi nhuận tính cho 100 đồng chi phí trung gian; 100 đồng tổng chi phí sản xuất; 1 lao động. - Lợi nhuận tính cho 100 đồng chi phí trung gian Pr = × 100 IC - Lợi nhuận tính cho 100 đồng tổng chi phí sản xuất. 33
  15. = Pr x 100 34
  16. IC +CL +A 35
  17. - Lợi nhuận tính cho 1 lao động. Pr = LD 5. Phương hướng và các biện pháp để đẩy mạnh thâm canh trong nuôi trồng thủy sản. A. Tiến hành điều tra cơ bản các loại diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản, phân vùng quy hoạch,xác định các đối tượng nuôi cho phù hợp với từng vùng, trên cơ sở đó tính toán cơ cấu các đối tượng nuôi trồng hợp lý. B. Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, áp dụng những thành tựi khoa học- kỹ thuật tiên tiến, các phương pháp quản lý tiên tiến trong sản xuất để đẩy mạnh thâm canh. C. Tổ chức thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, đẩy mạnh việc áp dụng các thành tựu khoa học- kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất tiên tiến của quần chúng trong vấn đề thâm canh nuôi trồng thủy sản. + Tổ chức sử dụng đầy đủ các loại diện tích mặt nước: - Điều tra quy hoạch, có kế hoạch cải tạo các loại diện tích mặt nước - Tổ chức sử dụng các loại diện tích mặt nước cho phù hợp với tình hình từng vùng và tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp. + Có kế hoạch chủ động sản xuất nguồn tôm giống, nguồn cá giống…đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng cũng như cơ cấu của đàn giống. + Giải quyết tốt nguồn thức ăn cho các đối tượng nuôi trồng. Cân đối khả năng và nhu cầu để có kế hoạch chủ động sản xuất các loại thức ăn cho đối tượng nuôi, đạc biệt là các loại thức ăn dùng cho nuôi tôm công nghiệp. Trong nuôi cá cần sử dụng các loại phụ phẩm của ngành công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi, kết hợp nuôi lợn, thả vịt và nuôi cá … + Nuôi thả hợp lý: Mật độ nuôi phải phù hợp với từng hình thức và mô hình nuôi để vừa tận dung được thể tích vùng nuôi, vừa thực hiện thâm canh tăng năng xuất các đối tượng nuôi trồng. + Thực hiện tốt công tác chăm sóc và bảo vệ. + Thu hoạch hợp lý: Trong nuôi quảng canh và nuôi cá hồ chứa thực hiện các biện pháp đánh tỉa, thả bù để nâng cao năng xuất các đối tượng nuôi D. Tổ chức và đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học- kỹ thuật, cán bộ quản lý, công nhân lành nghề để phục vụ cho thâm canh nuôi trồng thủy sản. E. Xây dựng hệ thống chính sách khuyến khích thâm canh. Nhà nước có các chình sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản như: Nghị định 64/CP. giao sử dụng đất, mặt nước lâu dài cho hộ gia đình theo luật đất đai 1993. Chính sách sử dụng đất có mặt nước theo cơ chế khoán 10 của nghị quyết 10/NQ- TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị. Chính sách cho hộ vay vốn sản xuất theo nghị định 14/CP ngày 12/12/1993 của Chính phủ. Đồng thời có chính sách và cơ chế xuất khẩu thủy sản, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại tạo thị trường xuất khẩu, từ đó định hướng và mở rộng sản xuất thủy sản. 36
  18. 37

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản