Vui lòng download xuống để xem tài liệu đầy đủ.

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP KIỂM TOÁN

Chia sẻ: | Ngày: | Loại File: pdf | 4 trang

2
1.058
lượt xem
275
download

Phương pháp kiểm toán cơ bản Loại phương pháp kiểm toán cơ bản là các phương pháp được thiết kế và sử dụng nhằm mục đích thu thập các bằng chứng có liên quan đến các dữ liệu do hệ thống kế toán xử lý và cung cấp. Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là việc tiến hành các thử nghiệm, các đánh giá đều được dựa vào các số liệu, các thông tin trong báo cáo tài chính và hệ thống kế toán của đơn vị....

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP KIỂM TOÁN
Nội dung Text

  1. CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP KIỂM TOÁN Mục đích, yêu cầu: +Giúp người học nắm được các phương pháp tiến hành kiểm toán. +Thao tác được các phương pháp kiểm toán cụ thể. Nội dung: Tổng số : 8tiết ( 8 tiết lý thuyết ) I. Phương pháp kiểm toán cơ bản Loại phương pháp kiểm toán cơ bản là các phương pháp được thiết kế và sử dụng nhằm mục đích thu thập các bằng chứng có liên quan đến các dữ liệu do hệ thống kế toán xử lý và cung cấp. Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là việc tiến hành các thử nghiệm, các đánh giá đều được dựa vào các số liệu, các thông tin trong báo cáo tài chính và hệ thống kế toán của đơn vị. Phương pháp kiểm toán cơ bản bao gồm: 1 Phương pháp phân tích đánh giá tổng quát: Phương pháp này dựa trên cơ sở sử dụng các tỷ lệ, các mối quan hệ tài chính để xác định những tính chất hay những sai lệch không bình thường trong Bảng cân đối kế toán và các báo cáo tài chính khác của doanh nghiệp. Chẳng hạn, nếu tỷ lệ lợi tức thay đổi từ 30% của năm trước sang 10% của năm nay thì đó là sự thay đổi lớn mà các kiểm toán viên phảI lưu tâm. Sự thay đổi này có thể là khách quan(thay đổi giá, loại hình kinh doanh…), cũng có thể do sai sót số học trong tính toán, cũng có thể là sự gian lận của các nhà quản lý và cán bộ nghiệp vụ trong doanh nghiệp… Kỹ thuật chủ yếu dùng để phân tích, đánh giá các thông tin tài chính của doanh nghiệp là: a)Phân tích so sánh về lượng trên cùng một chỉ tiêu(còn gọi là phân tích ngang) phương pháp này đơn giản nhưng không thể hiện mối quan hệ giữa các chỉ tiêu. Các ví dụ về phân tích ngang gồm: -So sánh số liệu kỳ này với kỳ trước hoặc giữa các kỳ với nhau. -So sánh số liệu thực tế với số liệu trong kế hoạch, trong dự toán… -So sánh số liệu giữa các đơn vị cùng ngành, cùng loại hình kinh doanh, cùng lãnh thổ và có qui mô tương đương. Hoặc so sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị với các chỉ tiêu bình quân trong ngành. b)Phân tích tỷ suất(còn gọi là phân tích dọc) bằng cách so sánh, xác định tỷ lệ tương quan giữa các chỉ tiêu, các khoản mục khác nhau. Tuỳ theo kiến thức và kinh nghiệm nghề nghiệp, kiểm toán viên có thể tính toán, phân tích nhiều mặt một số tỷ suất cần thiết cho việc nhận xét của mình. Sau đây là một số tỷ suất thường dùng trong kiểm toán -Nhóm tỷ suất khả năng thanh toán Tổng tài sản lưu động +Tỷ suất khả năng thanh toán hiện thờI = Tổng nợ ngắn hạn Vốn bằng tiền+Đầu tư TC ngắn hạn+Khoản phải thu +Tỷ suất khả năng = thanh toán nhanh Tổng nợ ngắn hạn Tổng tài sản lưu động
  2. +Tỷ suất khả năng thanh toán dài hạn = Tổng số nợ phải trả -Nhóm tỷ suất khả năng sinh lời Lợi nhuận trước thuế+Chi phí tiền lãi +Tỷ suất khả năng = sinh lời của tài sản Tổng giá trị tài sản bình quân Tổng lợi nhuận kinh doanh trước thuế +Tỷ suất hiệu quả kinh doanh = Tổng doanh thu bán hàng thuần -Nhóm tỷ suất về cấu trúc tài chính Tài sản cố định và đầu tư dài hạn +Tỷ suất đầu tư = Tổng số tài sản Tổng số nợ phải trả +Tỷ suất nợ = Tổng nguồn vốn Nguồn vốn chủ sở hữu +Tỷ suất tự tài trợ = TSCĐ và đầu tư dài hạn Phương pháp phân tích đánh giá tổng quát có thể có hiệu lực trong việc nhận dạng những sai sót của báo cáo tài chính và có thể áp dụng trong cả 3 giai đoạn của quá trình kiểm toán. a)Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: Trong giai đoạn này, phương pháp phân tích đánh giá tổng quát giúp cho kiểm toán viên nhìn nhận doanh nghiệp một cách toàn diện và xác định tính chất bất thường một cách nhanh chóng để định hướng và xác định phạm vi kiểm tra, rút ngắn được thời gian kiểm toán. Kỹ thuật phân tích còn giúp kiểm toán viên “chẩn đoán” được nhanh chóng khu vực có thể có sai sót để làm trọng tâm cho cuộc kiểm toán. b)Giai đoạn thực hiện kiểm toán: Khi sử dụng phương pháp phân tích cho mục đích thu thập các bằng chứng để chứng minh cho các cơ sở dẫn liệu thì kiểm toán viên cần xem xét các vấn đề sau: -Mục đích của phương pháp phân tích và mức độ kiểm toán viên có thể tin cậy vào phương pháp phân tích. -Tính hữu dụng của các thông tin tài chính và các thông tin không có tính chất tài chính. -Độ tin cậy của các thông tin hiện có. VD: kinh nghiệm cho thấy là kế hoạch thu-chi thường được lập một cách thận trọng hơn các kế hoạch khác. -Tính so sánh của các thông tin hiện có. VD: số liệu của một ngành rộng sẽ không thể so sánh được với số liệu của một doanh nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm đặc biệt. -Các kinh nghiệm mà kiểm toán viên đã thu thập được trong kỳ kiểm toán trước về hiệu lực của kiểm soát nội bộ và các dạng “vấn đề” đã phát sinh
  3. trong các kỳ trước để điều chỉnh số liệu kế toán. c)Giai đoạn hoàn thành kiểm toán: Khi hình thành kết luận tổng quátvà tổng thể các thông tin tài chính, kiểm toán viên nên áp dụng phương pháp phân tích đánh giá tổng quát vào cuối hoặc gần cuối cuộc kiểm toán. Các kết luận rút ra từ kết quả áp dụng phương pháp phân tích sẽ củng cố cho các kết luận đã hình thành trong khi kiểm tra từng yếu tố riêng biệt của các thông tin tài chính và giúp kiểm toán viên đi tới một kết luận tổng quát về tính hợp lý của các thông tin tài chính. Đánh giá phân tích tổng quát là phương pháp kiểm toán có hiệu quả cao vì thờI gian ít, chi phí thấp mà nhiều tác dụng. Kỹ thuật phân tích thường được các kiểm toán viên cấp cao tiến hành và thường là kỹ thuật được áp dụng đầu tiên cho mọI cuộc kiểm toán. Trong trường hợp một bộ phận một bộ phận, một khoản mục có giá trị không đáng kể so vớI tổng thể các thông tin tài chính và không có các dấu hiệu biến động bất thường, đồng thờI mức độ rủi ro tiềm tàng, rủI ro kiểm soát thấp, đôi khi kiểm toán viên chỉ cần áp dụng phương pháp phân tích là đã có thể rút ra những nhận xét cần thiết mà không cần áp dụng thêm các thủ tục kiểm toán nào khác. 2 Phương pháp kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư Phương pháp kiểm toán ra đời sớm nhất là kiểm tra việc ghi chép từng loại nghiệp vụ hoạt động sản xuất-kinh doanh. Phương pháp này thích hợp để kiểm tra các doanh nghiệp có qui mô nhỏ, có loại nghiệp vụ có tính chất không phức tạp, hoặc những bộ phận, những khoản mục dễ cảm xúc trong kinh doanh như tiền mặt, chứng khoán…Tuy nhiên, phương pháp kiểm tra chi tiết từng loại hoạt động, từng nghiệp vụ và số dư trở nên không thực tế khi qui mô hoạt động và khối lượng giao dich ngày càng tăng lên. Bởi vậy, kiểm toán hiện đại thường không kiểm tra chi tiết toàn bộ các nghiệp vụ và các số dư tài khoản. Việc kiểm tra chi tiết chủ yếu dựa trên cơ sở kiểm tra mẫu một số nghiệp vụ cùng loại. Trong phương pháp cơ bản, khi thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên sử dụng các thử nghiệm cơ bản. Đó là các loại thử nghiệm dùng để thu thập bằng chứng về mức độ trung thực, hợp lý của số liệu kế toán. Thử nghiệm cơ bản bao gồm hai loại là thủ tục phân tích và thử nghiệm chi tiết về nghiệp vụ và số dư tài khoản. -Thủ tục phân tích: Thực chất chính là việc sử dụng kỹ thuật phân tích để phát hiện và nghiên cứu về các trường hợp bất thường. -Thử nghiệm chi tiết: Là việc kiểm tra trực tiếp các nghiệp vụ hay số dư, gồm các loại: +Kiểm tra nghiệp vụ: Là kiểm tra chi tiét một số hay toàn bộ nghiệp vụ phát sinh để xem xét về độ chính xác của các số dư, thường được thực hiện khi số phát sinh của tài khoản ít, hay trong các trường hợp bất thường. Thử nghiệm này được thực hiện như sau: Trước hết, các kiểm toán viên sẽ chọn các nghiệp vụ cần kiểm tra, sau đó kiểm tra chi tiết về các tài liệu, chứng từ của các nghiệp vụ đó và xem xét quá trình luân chuyển của chúng qua các tài khoản, cuối cùng kiểm toán viên đánh giá và xác định số dư cuối kỳ. +Kiểm tra số dư: Là kiểm tra để đánh giá về độ chính xác của số dư các tài khoản có nhiều nghiệp vụ phát sinh. Thử nghiệm này được thực hiện như sau: Đầu tiên, kiểm toán viên phân tích số dư ra thành từng bộ phận, hay theo từng đối tượng, sau đó chọn mẫu để kiểm tra, đối chiếu giữa các tài liệu, sổ sách với nhau và đốI chiếu với những tài liệu thu thập được từ những người thứ ba(khách hàng, chủ nợ, ngân hàng…), cuối cùng, kiểm toán viên đánh giá kết quả và xác định số dư cuối kỳ.
  4. II. Phương pháp tuân thủ Phương pháp kiểm toán tuân thủ là các thủ tục và kỹ thuật kiểm toán được thiết lập để thu thập các bằng chứng về tính thích hợp và tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ đơn vị. Đặc trưng của phương pháp kiểm toán tuân thủ là các thử nghiệm và kiểm tra đều dựa vào bộ phận kiểm soát nội bộ trong đơn vị. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá là mạnh, là hiệu quả và kiểm toán viên có thể tin tưởng thì công việc kiểm toán có thể dự vào các qui chế kiểm soát của bộ phận kiểm soát nội bộ trong đơn vị. 1 Các phép thử nghiệm a) Điều tra: Bao gồm quan sát thực địa và xác minh thực tế kể cả chữ ký trên các chứng từ hoặc báo cáo kế toán. b) Phỏng vấn: là cách đưa ra những câu hỏi và thu thập những câu trả lời của các nhân viên của khách thể kiểm toán . Để thu được những bằng chứng xác đáng, các câu hỏi đưa ra cần gọn, rõ, dễ hiểu và linh hoạt. Kết thúc phỏng vấn cần tóm tắt những kết quả thu được về nhận thức thực tiễn vớI xác nhận của ngườI phỏng vấn. c) Thực hiện lại: được hiểu đơn giản là phép lặp lại hoạt động của một nhân viên đã làm để xác nhận mức độ thực hiện trách nhiệm của họ với công việc được giao. Tuy nhiên, thực hiện lại thông thường bao gồm sự kết hợp giữa tính toán, so sánh, phỏng vấn. d) Kiểm tra từ đầu đến cuối: là sự kết hợp giữa kỹ thuật phỏng vấn, điều tra và quan sát theo trật tự diễn biến qua từng chi tiết của nghiệp vụ cụ thể đã được ghi lại trong Sổ cái. Vì vậy, kỹ thuật này thường rất tốn công nên chỉ được thực hiện với một số nghiệp vụ e) Kiểm tra ngược lại: theo thời gian là biện pháp kiểm tra một nghiệp vụ từ Sổ Cái ngược lại đến thời điểm bắt đầu phát sinh nghiệp vụ đó. 2 Các loại trắc nghiệm -Trắc nghiệm công việc: chính là cách thức và trình tự rà soát các nghiệp vụ hay hoạt động cụ thể trong quan hệ với sự tồn tại và hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ . -Trắc nghiệm trực tiếp số dư: là cách thức kết hợp các phương pháp cân đối, phân tích, đốI chiếu trực tiếp với kiểm kê và điều tra thực tế để xác định độ tin cậy của các số dư cuốI kỳ ở Sổ cái ghi vào Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh. -Trắc nghiệm phân tích là cách thức xem xét các mốI quan hệ kinh tế và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế thông qua việc kết hợp giữa đốI chiếu trực tiếp, đốI chiếu logic, cân đôi…giữa các trị số(bằng tiền) của các chỉ tiêu hoặc của các bộ phậnu cấu thành chỉ tiêu.
Đồng bộ tài khoản