CHƯƠNG III: TRIẾT HỌC TRUNG HOA CỔ, TRUNG ĐẠI

Chia sẻ: winedalat

Quá trình chuyển hóa của XH công xã nguyên thủy dẫn đến sự hình thành các quốc gia chiếm hữu nô lệ Trung Hoa kéo dài khỏang vài ba ngàn năm trước công nguyên. Thời kỳ này có ba sự kiện quan trọng dẫn đến sự ra đời của XH chiếm hữu nô lệ. XH chiếm hữu nô lệ Trung Hoa phát triển qua các triều đại Nhà Hạ, Nhà Ân ( Thương) và đạt đến sự phát triển hòan thiện ở triều đại Nhà Chu.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: CHƯƠNG III: TRIẾT HỌC TRUNG HOA CỔ, TRUNG ĐẠI

CHƯƠNG III
CH
TRIẾT HỌC TRUNG HOA CỔ, 
TRUNG ĐẠI
I. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết 
học Trung Hoa cổ, trung đại.
1. Hoàn cảnh ra đời  của triết học Trung Hoa cổ, 
trung đại.
  1.1 Sự hình thành các quốc gia chiếm hữu 
nô  lệ Trung Hoa.
+ Quá trình chuyển  hóa của XH công xã 
nguyên thủy dẫn đến sự hình thành các  
quốc gia chiếm hữu nô lệ Trung Hoa kéo dài 
khỏang vài ba ngàn năm trước công nguyên. 
Thời kỳ này có ba sự kiện quan trọng dẫn 
đến sự ra đời của XH chiếm hữu nô lệ.
– Toại nhân phát minh ra lửa để nấu chín thức ăn 
và rèn ra công cụ sản xuất.
– Phục Hy phát minh ra lưới để săn thú, bắt cá và 
thuần dưỡng gia súc.
– Thần Nông phát minh ra cách trồng lúa nước và 
làm  ra  lưỡi  cày  đặt  nền  móng  cho  sự  ra  đời  của 
nghề nông.
 Những phát hiện nói trên làm cho LLSX phát 
triển mạnh mẽ, thúc  đẩy sự ra của chế  độ chiếm 
hữu  tư  nhân  về  TLSX,  phân  hóa  xã  hội  thành 
những  giai  cấp  dẫn  đến  sự  ra  đời  của  chế  độ 
chiếm hữu nô lệ Trung Hoa.
XH chiếm hữu nô lệ Trung Hoa phát triển qua các 
triều đại Nhà Hạ, Nhà Ân ( Thương) và đạt đến sự 
phát triển hòan thiện ở triều  đại Nhà Chu.
+ Đặc điểm thời kỳ Nhà Chu:
Do kế thừa được kinh nghiệm SX của lịch sử để 
lại, do thiên nhiên thuận lợi cùng với sự quản lý xã 
hội chặt chẽ làm cho XH Nhà Chu phát triển mạnh 
mẽ.
­Trong lĩnh vực kinh tế: Nhà Chu quản lý ruộng đất 
theo phương pháp tĩnh điền.
­Trong lĩnh vực XH: Nhà Chu tổ chức theo các quy 
tắc chặt chẽ ( vua, chư hầu...); xã hội phân chia 
thành các đẳng cấp.
1.2.Thời kỳ Xuân Thu ­ Chiến  Quốc (770 – 221 TCN).
1.2.Th
Thời kỳ này có những đặc điểm như sau:
­  Do  sự  phát  triển  của  SX  mà  đặc  biệt  là  SX 
nông nghiệp tạo  điều kiện cho sự chuyên môn hóa 
ngày càng sâu sắc các ngành thủ công nghiệp dịch 
vụ dẫn đến sự hình thành các đô thị PK.
­  Phân  hóa  XH  diễn  ra  sâu  sắc  dẫn  đến  chiến 
tranh  liên  miên  giữa  bảy  nước  (Tề,  Tần,  Sở,  Hàn, 
Ngụy, Triệu,Yên) làm cho thời đại Xuân Thu chuyển 
thành thời đại Chiến Quốc.   
            Trong  sự  chuyển  mình  dữ  dội  của  lịch 
sử,nhiều  trường  phái  triết  học  ra  đã  đời  tạo 
thành hệ thống triết học khá hòan chỉnh. 
2. Đặc điểm của triết học Trung Hoa cổ, 
2. 
trung đại.
Thứ  nhất  là  nền  triết  học  nhấn  mạnh  tinh  thần 
nhân văn. Trong tư tưởng triết học Trung Hoa cổ, 
trung  đại, tư tưởng liên quan  đến con người như 
triết  học  nhân  sinh,  triết  học  đạo  đức,  triết  học 
chính trị, triết học lịch sử phát triển, còn triết học 
tự nhiên có phần mờ nhạt.  
Thứ  hai  là  các  triết  gia  Trung  Hoa  đều  tập  trung 
vào lĩnh vực luân lý đạo đức, xem việc thực hành 
đạo đức như là hoạt động thực tiễn căn bản nhất 
của một đời người, đặt lên vị trí thứ nhất của sinh 
hoạt xã hội.
Thứ  ba  là  triết    học  Trung  Hoa  ít  có  những  cuộc 
cách mạng lớn, chủ yếu là có tính cải cách; các 
trường  phát  triết học  đi  sau  thường  kế  thừa 
và  phát  triển  tư  tưởng  của  các  trường  phái  đi 
trước.

Thứ tư là trong lịch sử triết học Trung Hoa, tư tưởng 
duy vật và tư tưởng duy tâm thường  đan xen vào 
nhau  trong  quan  điểm  của  một  trường  phái  triết 
học.
II. Các trường phái triết học Trung Hoa 
II. C
cổ, trung đại
1. Thuyết Âm­ Dương , Ngũ Hành.
1.1. Tư tưởng triết học về Âm­ Dương.
Theo  quan  niệm  của  Triết  học  Trung  Hoa  cổ 
đại:  âm  và  dương  là  khái  niệm  chỉ  hai  khuynh 
hướng  đối lập nhau, nhưng lại liên hệ tác  động lẫn 
nhau,  thống  nhất  với  nhau  tạo  nên  sự  vận  động 
phát triển của sự vật.
VD: Dương:  mặt  trời  (nóng),  sáng  ,  cao,    giai 
cấp thống trị,Quân tử, giống đực,chồng…
            Âm:  trái  đất (lạnh), tối , thấp,  giai cấp bị 
trị, Tiểu nhân, giống cái, vợ…
      
Tóm  lại,  bằng  quan  niệm  âm  dương 
triết  học  Trung  Hoa  cổ  đại  đã  thừa  nhận 
các  mặt  đối  lập  tồn  tại  khách  quan.Chính 
sự liên hệ tác động của các mặt đối lập đã 
thúc  đẩy  sự  vận  động  phát  triển  của  sự 
vật.  Đó  là  quan  điểm  duy  vật  biện  chứng 
sơ khai về thế giới. 
1.2. Tư tưởng triết học về Ngũ 
1.2. T
hành.

Thuyết ngũ hành cho rằng thế giới vật chất 
là do kim, mộc, thủy, hỏa, thổ tạo thành. 
 Kim (kim loại) tượng trưng cho tính 
chất: trắng, khô, cay, phía Tây.
 Thuỷ (nước) tượng trưng cho tính 
chất: đen, mặn, phía Bắc.
 Mộc (gỗ) tượng trưng cho tính chất: 
xanh, chua, phía Đông.
 Hoả (lửa) tượng trưng cho tính chất: 
đỏ, đắng, phía Nam.
 Thổ (đất) tượng trưng cho tính chất: 
vàng, ngọt, ở giữa.
• Năm yếu tố này không tồn tại biệt lập tuyệt 
đối mà trong một hệ thống ảnh hưởng sinh ­ 
khắc với nhau theo hai nguyên tắc sau:
+  Tương  sinh  (sinh  hoá  cho  nhau):  Thổ 

sinh  Kim,  Kim  sinh  Thuỷ,  Thuỷ  sinh  Mộc, 
Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ,...
+  Tương  khắc  (chế  ước  lẫn  nhau):  Thổ 

khắc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, 
Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ...
Tóm lại: bằng quan niệm ngũ hành, triết 
học  Trung  Hoa  cổ  đại  thừa  nhận  thế  giới 
xung  quanh  ta  là  thế  giới  vật  chất,  các  sự 
vât, hiện tượng của thế giới có sự liên hệ tác 
động  lẫn  nhau  tuân  theo  quy  luật.  Quan 
điểm  nói  trên  về  thế  giới  tuy  còn  mộc  mạc 
chất phác nhưng rất đáng trân trọng.
2. Trường phái Nho Gia.
2. Tr

2.1. Khổng Tử (551­ 479 tr.CN).

  *Thân thế và sự nghiệp  Khổng Tử
   Khổng  Tử  là  người  mở  đầu  khai  sinh  ra 
trường  phái  Nho  gia.  Ông  tên  thật  là  Khổng 
Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ra tại nước Lỗ, nay 
thuộc tỉnh Sơn Đông Trung Quốc.
Ông  sinh  ra  trong  gia  đình  quý  tộc 
nhưng  đã bị sa sút. Cha của Khổng Tử 
đã  từng  làm  quan  võ  của  nước  Lỗ,  có 
lúc làm quan đại phu của nước Lỗ. 
 Khổng Tử ra  đời khi cha  đã già, mồ 
côi cha năm hơn hai tuổi.
Khổng  Tử  là  người  thông  minh,  ôn 
hòa, nghiêm trang, khiêm tốn và hiếu học. 
Với  ông  (học  không  biết  chán,  dạy  không 
biết mỏi). Ông là người đầu tiên mở trường 
học ở Trung Quốc. 
   
• Khổng  Tử  từng  làm  quan  nhưng  không 
được  trọng  dụng.  Cuộc  đời  ông  không 
thành đạt trong quan trường nhưng lại rực 
rỡ trong lĩnh vực giáo dục, trong triết học 
nhân sinh. Vì thế Khổng Tử  được tôn vinh 
là “ Vạn thế sư biểu”
• Khổng Tử mất vào năm 72 tuổi.
Khổng Tử viết nhiều tác phẩm 
    *  Quan  điểm triết học của Khổng Tử về 
chính trị xã hội
     + Quan niệm về đức nhân 
Theo  Khổng  Tử,  đức  nhân  có  nhiều 
nghĩa, nhưng nghĩa chính là thương người, 
là nhân  đạo  đối với con người. Nhân cũng 
là đức hạnh của người Quân tử.
Theo Khổng Tử,    Nhân  là:
­ Yêu người ­ “ái nhân”
­ Cái gì mình không muốn thì  đừng làm cho người 
khác “kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”.
­ Mình muốn thành  đạt thì giúp người khác thành 
đạt,  mình  muốn  lập  thân  thì  giúp  người  khác  lập 
thân “kỷ dục lập  nhi  lập  nhân, kỷ  dục  đạt nhi  đạt 
nhân”.
­ Bắt mình phải làm theo lễ “ Khắc kỷ, phục lễ vi 
nhân”.
­ Cung, khoan, tín, mẫn, huệ.
­ Nhân­ Trí­ Dũng
Đặc biệt là đối với tầng lớp Quân tử. Ông 
cho rằng, đối với người làm chính trị quản 
lý xã hội, muốn có đức nhân phải có năm 
điều:


Một là kính trọng dân.
Hai là khoan dung độ lượng với dân
Ba là giữ lòng tin với dân
Bốn là mẫn cán (tận tụy trong công việc.)
Năm là đem lòng nhân ái đối xử với dân.
+ Quan niệm về lễ: 
+ Quan ni
Khổng Tử cho rằng  để  đạt  được  đức nhân phải chủ 
trương dùng lễ để duy trì xã hội.

­ Lễ trước hết là lễ nghi, cách thờ cúng, tế, lễ; 
­  Lễ  còn  là  kỷ  cương,  trật  tự  xã  hội,  là  những  quy 
định có tính pháp luật đòi hỏi mọi người phải chấp hành. 
­ Lễ là những chuẩn mực  đạo  đức. Ai làm trái những 
điều  quy  định  đó  là  trái  với  đạo  đức.  Như  vậy  lễ  là  biện 
pháp để đạt đến đức nhân.
+ Quan niệm về chính danh 
+ Quan ni
 Quy định rõ danh phận của mỗi người trong 
xã hội.
Khổng Tử cũng như các nhà nho đều có hoài 
bão về một xã hội có kỷ cương. Thời đại Không 
Tử là thời đại xã hội rối loạn vì vậy điều căn bản 
của việc làm chính trị là xây dựng xã hội chính 
danh để mỗi người, mỗi đẳng cấp xác định rõ 
danh phận của mình mà thực hiện.
­  Chính danh gồm có hai bộ phận danh 
và thực: 
*   Danh  là tên gọi, là  địa vị, là thứ bậc 
của con người. 
*  Thực  là quyền lợi mà con người  được 
hưởng  phù  hợp  với  danh.  Khổng  Tử  cho 
rằng  danh  và  thực  phải  thống  nhất  với 
nhau. 
Từ đó ông chia xã hội thành năm mối quan hệ gọi là 
ngũ luân:
• Vua – tôi (Quân thần): vua nhân – tôi trung
• Cha – Con (phụ tử): Cha hiền – con thảo
• Chồng  –  Vợ  (phu  phụ):  chồng  biết  điều  –  vợ 
nghe lẽ phải
• Anh – em (huynh đệ): anh tốt – em ngoan
• Bạn – bè (bằng hữu): chung thủy.
Khổng Tử cho rằng nếu mỗi người, mỗi đẳng cấp 
thực hiện  đúng danh phận của mình thì xã hội có 
chính danh và xã hội có chính danh là xã hội có 
kỷ cương thì đất nước sẽ thái bình thịnh trị.
* Quan điểm triết học của Khổng Tử 
* Quan 
về thế giới:
­  Trong  quan  điểm  về  thế  giới  thì  Khổng  Tử  có 
sự giao động giữa lập trường duy vật và lập trường duy 
tâm. Bởi vì khi thì  ông tin có mệnh trời,  ông cho rằng; 
tử sinh có mệnh, sống chết tại trời, không thể cải được 
mệnh trời.
­ Không Tử cho rằng người Quân tử có ba  điều 
sợ:  sợ  mệnh  trời,  sợ  bậc  đại  nhân,  sợ  lời  thánh 
nhân.  Trong  đó sợ nhất là sợ mệnh trời. Nhưng có khi 
Khổng Tử lại không tin có mệnh trời, ông cho rằng: trời 
chỉ  là  lực  lượng  tự  nhiên  không  có  ý  trí,  không  can 
thiệp vào công việc của con người.
Tóm  lại,  mặc  dù  đứng  trên  lập  trường 
thế  giới  quan  duy  tâm  bảo  thủ  nhằm  bảo 
vệ  trật  tự  xã  hội  nhà  Chu  suy  tàn,  nhưng 
triết  học  của  Khổng  Tử  có  nhiều  yếu  tố 
tiến  bộ  ở  chỗ  đề  cao  vai  trò  đạo  đức  kỷ 
cương xã hội,  đề cao nguyên tắc giáo dục 
đào  tạo  con  người,  trọng  người  hiền  tài, 
nhân đạo đối với con người và những quan 
điểm  tiến  bộ  của  ông  nhằm  xây  dựng  xã 
hội thái bình thịnh trị.
2.2. Mạnh Tử (327 – 289 tr.CN)
2.2. M

Mạnh  Tử  tên  thật  là  Mạnh  Kha,  tự  là 
Dư,  sinh  tại  nước  Lỗ  ,  nay  thuộc  tỉnh  Sơn 
Đông  Trung  Quốc.  Ông  là  người  kế  thừa 
và phát triển tư tưởng của trường phái  Nho 
Gia . Quan  điểm triết học của Mạnh tử thể 
hiện ở 3 nội dung :
* Quan điểm của Mạnh Tử về thế giới 
* Quan 
:

Mạnh  Tử  phát  triển  tư  tưởng  “thiên  mệnh”  của 
khổng Tử  và  đẩy  thế  giới  quan  ấy  tới  đỉnh cao của  
chủ  nghĩa  duy  tâm.  Ông  cho  rằng  không  có  việc  gì 
xảy ra mà không do mệnh trời , mình nên tùy thuận 
mà nhận lấy cái mệnh chính  đáng  ấy . Từ  đó, Mạnh 
Tử  đưa  ra  học  thuyết  “  vạn  vật  đều  có  đủ  trong  ta  , 
nên chỉ cần tự tĩnh nội tâm là biết  được tất cả  ”nghĩa 
là không phải tìm cái gì ở thế giới khách quan mà chỉ 
cần tu dưỡng nội tâm là biết được tất cả . 
* Quan điểm về bản chất con người 
* Quan 

Mạnh  Tử  cho  rằng  bản  chất  con  người  vốn  là  thiện  , 
tính thiện đó là do thiên phú chứ không phải là do con người 
lựa chọn. Nếu con người biết giữ gìn thì làm cho tính thiện 
ngày  càng  mạnh  thêm,  nếu  không biết giữ  gìn  sẽ  làm  cho 
nó  ngày  càng  mai  một  đi  thì  con  người  càng  thêm  nhỏ 
nhen, ti tiện không khác gì loài cầm thú.
Từ  đó  Mạnh  Tử  kết  luận  :  bản  chất  con  người  là  thiện 
nhưng con người hiện thực có thể là ác. Đó là do xh rối loạn 
,  luân  thường  đạo  lí  bị  đảo  lộn.  Cho  nên  để  thiết  lập  quốc 
gia thái bình thịnh trị thì phải trả lại cho con người tính thiện 
bằng đường lối chính trị lấy nhân nghĩa làm gốc.
* Quan điểm về chính trị xã hội :
* Quan 
Mạnh Tử có nhiều tiến bộ  đặc biệt là tư tưởng của  ông về 
“Dân quyền”, tức đề cao vai trò của quần chúng nhân dân . 
Ông  cho  rằng  trong  một  QG  quí  trọng  nhất  là  dân,  đến 
của cải xã tắc rồi mới tới vua: “ dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân 
vi khinh”. 
Với  tinh  thần  ấy  Mạnh  Tử  chủ  trương  xây  dựng  một  chế 
độ  bảo  dân  ,  dưỡng  dân  tức  là  phải  chăm  lo  ,  bảo  vệ  nhân 
dân,  ông  yêu  cầu  người  trị  vì  đất  nước  phải  quan  tâm  đến 
dân , phải tạo cho dân có nhà cửa , ruộng vườn , tài sản bởi vì 
họ “ hằng sản mới hằng tâm”. 
Ông  là  người  chủ  trương  khôi  phục  chế 
độ tĩnh điền để cấp đất cho dân . 
Ông  khuyên  các  bậc  vua  chúa  tiết  kiệm 
chi tiêu , thu thuế của dân có chừng mực. 
Đó  là  những  quan  điểm  hết  sức  mới  mẻ 
và tiến bộ của  ông khiến ông mạnh dạn đưa 
vào  đường lối chính trị của trường phái Nho 
Gia  hàng  loạt  vấn  đề  mới  mẻ  toát  lên  tinh 
thần nhân bản theo con  đường lấy dân làm 
gốc .
CHƯƠNG IV
CH
TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 
 I. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Hy Lạp 
cổ đại.
1. Hoàn cảnh ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại.
­ Hy Lạp cổ đại là một vùng đất rộng lớn bao gồm 
miền nam bán đảo Ban Căng thuộc Châu Âu, nhiều hòn 
đảo ở biển Êgiê và cả miền ven biển của bán đảo Tiểu 
Á. Điều kiện địa lý thuận lợi cho nên từ rất sớm các 
ngành nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp Hy 
Lạp cổ đại đã phát triển.
­  Về mặt xã hội, chế  độ chiếm hữu nô lệ  ở Hy Lạp thịnh 
hành  một  cách  phổ  biến  vào  khoảng  từ  thế  kỷ  X  đến  thế  kỷ 
XIII  tr.CN.  Đây là thời kỳ  xã hội   đã phân chia thành hai giai 
cấp cơ bản: chủ nô và nô lệ.
­  Thời  kỳ  này  cũng  diễn  ra  mâu  thuẫn  gay  gắt  giữa  tầng 
lớp  chủ  nô  dân  chủ  và chủ nô quý tộc. Trong  đó chủ nô dân 
chủ  là  phái  chủ  nô  tiến  bộ,  đứng  về  phía  NDLĐ,  còn  chủ  nô 
quý tộc  đại biểu cho xu hướng phản  động muốn duy trì một xã 
hội  độc  tài.  Cuộc  đấu  tranh  đó  có  tác  động  tích  cực  tới  việc 
phát triển LLSX. 
Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng 
sản xuất thúc  đẩy sự phân công lao  động 
xã  hội.  Do  đó,  thời  kỳ  này  lao  động  trí  óc 
đã tách khỏi lao  động chân tay, xã hội  đã 
hình  thành  một  bộ  phận  trí  thức  chuyên 
nghiên cứu triết học và khoa học. Điều này 
góp  phần  vào  việc  phát  sinh  các  ngành 
khoa học, trong đó có triết học.
Do  nhu  cầu  của  hoạt  động  thực  tiễn,  nhất  là  nhu 
cầu  phát  triển  thương  mại  và  hàng  hải  ở  Hy  Lạp  đã 
quyết  định  sự  phát  sinh  và  phát  triển  của  những  tri 
thức về thiên văn, khí tượng, toán học, vật lý, ... 
Vì vậy thời kỳ này  ở Hy Lạp  đã xuất hiện sớm một 
số  ngành  khoa  học  tự  nhiên,  nhưng  các  ngành  khoa 
học này chưa  đủ sức  để trở thành những ngành khoa 
học độc lập. Lúc này tất cả các khoa học tự nhiên nằm 
chung trong triết học. 
Do  đó,  triết  học  lúc  đó gọi là  triết học tự nhiên và 
các nhà triết học thời kỳ này cũng là những nhà khoa 
học tự nhiên. 
Qua  đó  thấy  triết  học  Hy  Lạp  cổ  đại  ngay  từ  khi 
mới ra  đời  đã gắn chặt với nhu cầu của thực tiễn, gắn 
liền với những thành tựu của khoa học tự nhiên.
2. Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ 
2. 
đại.
­Triết  học  Hy  lạp  cổ  đại  có  đặc  điểm 
riêng  độc  đáo  của  nó.  Đó  là  nền  triết  học 
phong  phú  rực  rỡ,  nhiều  màu  sắc,  nhiều 
trường  phái  với  nhiều  triết  gia  tiêu  biểu. 
Đúng như Ph.Ăngghen nhận xét: “ Từ các 
hình  thức  muôn  hình  muôn  vẻ  của  tư 
tưởng  triết  học  cổ  Hy  Lạp  đã  có  mầm 
mống  và  đang  nảy  nở  hầu  hết  tất  cả  các 
loại thế giới quan sau này”.
­ Triết học Hy Lạp cổ  đại hình thành phát 
triển  gắn  liền  với  sự  phát  triển  của  khoa 
học  tự  nhiên  và  các  nhà  triết  học  thời  kỳ 
này  đồng  thời  cũng  là  những  nhà  khoa 
học tự nhiên.
­ Trong lịch sử triết học Hy lạp cổ  đại, chủ 
nghĩa  duy  vật  có  đặc  điểm  là  mộc  mạc, 
chất  phác,  gắn  liền  với  phép  biện  chứng 
sơ khai, tự phát. 
II. Một số triết gia tiêu biểu.
II. M
 1. Hêraclit (520 – 460 tr.CN).
Hêraclit vừa là nhà triết học vừa là nhà vật lý.  Ông là nhà 
triết học duy có tư tưởng biện chứng về thế giới.
Quan  điểm  triết  học  của  ông  thể  hiện  ở  những  nội  dung 
sau đây.
 * Quan điểm về thế giới: Hêraclit thừa nhận thế giới 
là vật chất mà cơ sở  đầu tiên, duy nhất của nó là Lửa. lửa là 
nguồn gốc, là cái có trước, là bản chất của mọi sự vật và là 
cơ sở của mọi sự biến đổi.
Ông  cho  rằng,  dưới  tác  động  của  lửa,  đất  biến  thành 
nước,  nước  biến  thành  không  khí  và  ngược  lại  giống  như 
hàng hoá trao đổi thành vàng và vàng thành hàng hoá.
Theo  Hêraclit,  mọi  sự  vật  luôn  ở  trạnh  thái  vận 
động  biến  đổi  chuyển  hoá  không  ngừng  giống  như 
dòng chảy của con sông. 
Ông  nêu  lên  luận  điểm  bất  hủ  rằng:  “Người  ta 
không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. 
Nguồn gốc của sự vận  động biến  đổi của sự vật, 
theo  ông là sự thống nhất và  đấu tranh giữa các mặt 
đối lập trong bản thân sự vật. Thông qua “đấu tranh” 
bản chất sự vật bộc lộ ra và nhờ  đó con người nhận 
thức đúng về sự vật. 
Theo  Hêraclit  Sự  vận  động  và  phát  triển  của  sự 
vật tuân theo quy luật (ông gọi là Logos). Người nào 
thấu  hiểu  được  Logos  và  làm  đúng  theo  Logos  thì 
người đó là người có trí tuệ.
* Quan điểm về lý luận nhận thức. 
* Quan 

Hêraclit  cho  rằng,  nhiêm  vụ  của  nhận 
thức là phải hiểu biết sâu sắc về tự nhiên. 
Con  người  nhận  thức  tự  nhiên  bằng  cả 
cảm giác và tư duy. Trong đó tư duy có vai 
trò  cực  kỳ  quan  trọng.  Nhận  thức  chân 
thực là nhận thức Logos của sự vật, song 
chân lý phải là cụ thể. 
Quan điểm về chính trị­ xã hội. 
Quan 
Hêraclit  đứng    trên  lập  trường  của  chủ  nô 
quý tộc  chống  lại  phái  chủ  nô  dân chủ.  Ông  đề 
cao  vai  trò  của  những  cá  nhân  “ưu  tú”  và  tỏ  ra 
khinh miệt quần chúng nhân dân lao  động.  Ông 
coi  một  người  ưu  tú  sánh  với  hàng  vạn  người 
khác.
Tóm  lại:  Hêraclit  có  rất  nhiều  đóng  góp  về 
mặt  triết  học  cả  vấn  đề  thế  giới  quan  cũng  như 
nhận thức luận, đặc biệt là phép biện chứng. Tuy 
còn  mộc  mạc,  chất  phác,  nhưng  về  cơ  bản 
những quan niệm đó là đúng đắn.
2. Đêmôcrit (460 – 370 tr.CN).
2. 
Đêmôcrit  là  nhà  triết  học  duy  vật  vĩ  đại 
trong thế giới cổ đại. 
Ông  là  người  nghiên  cứu  trên  nhiều  lĩnh 
vực  và  nắm  được  hầu  hết  những  kiến  thức 
đương thời: triết học,  logic học, toán học, vũ 
trụ học, vật lý học, sinh vật học, tâm lý học, 
giáo  dục  học,  đạo  đức  học,  mỹ  học,  ngôn 
ngữ học. 
Vì  vậy,  ông  được  coi  là  người  có  bộ  óc 
bách  khoa  đầu  tiên  trong    người  Hy  Lạp. 
quan  điểm  duy  vật  của  ông  được  thể  hiện  ở 
những nội dung sau.
*Quan điểm về thế giới: 
*Quan 

Đêmôcrit  cho  rằng,  cơ  sở  đầu  tiên  cấu 
tạo nên mọi sự vật là nguyên tử. Nguyên tử là 
phần  tử  nhỏ  nhất  không  thể  phân  chia  được 
nữa, không nhìn thấy  được, không  âm thanh, 
không màu sắc, không mùi vị và tồn tại vĩnh 
viễn.
Theo  quan  điểm  của  Đêmôcrit,  các  sự  vật  là  do  các 
nguyên  tử  liên  kết  lại  với  nhau  tạo  nên.  Tính  đa  dạng  của 
nguyên  tử  làm  nên  tính  đa  đạng  của  thế  giới  các  sự  vật. 
Nguyên tử tự thân vận  động nhưng khi kết hợp với nhau thành 
vật thể làm cho vật thể và thế giới vận động không ngừng. 
Lần  đầu  tiên  trong  lịch  sử  Đêmôcrit  nêu  lên  khái  niệm 
không gian, theo  ông không gian là khoảng trống mà  ở  đó các 
nguyên tử vận  động liên kết lại với nhau.  Ông là người  đã thấy 
được mối liên hệ giữa vật chất, vận động và không gian.  Ở đây 
Đêmôcrit đã thể hiện lập trường duy vật về tự nhiên.
*Quan điểm về lý luận nhận thức: 
*Quan 

Đêmôcrit  là  người  có  công  lớn  trong 
việc  xây  dựng  lý  luận  nhận  thức  của  chủ 
nghĩa  duy  vật  thời  cổ  đại.  Ông  cho  rằng 
đối tượng của nhận thức là vật chất, là thế 
giới xung quanh con người và nhờ vào sự 
tác động của đối tượng nhận thức vào giác 
quan  nên  con  người  mới  nhận  thức  được 
sự vật.
Đêmôcrit  chia nhận thức thành 2 dạng là: nhận thức mờ 
tối và nhận thức chân lý. Nhận thức mờ tối là nhận thức do các 
giác quan  đem  lại.  Nhận  thức  chân  lý  là nhận thức do  sự phân 
tích sâu sắc sự vật để nắm bản chất bên trong của nó. Hai dạng 
nhận  thức  trên  có  mối  liên  quan  chặt  chẽ  với  nhau,  trong  đó 
nhận  thức  chân  lý  sâu  sắc  hơn  vì  nó  phản  ánh  được  bản  chất 
bên trong của sự vật.
Đêmôcrit  còn  là  người  đặt  nền  móng  cho  sự  ra  đời  của 
logic học với tư cách là khoa học của tư duy.  Ông là người  đầu 
tiên  trong  lịch  sử  viết  tác  phẩm  “  Bàn  về  logic  học”  ông  coi 
logic  học  là  một  công  cụ  để  nhận  thức  các  hiện  tượng  của  tự 
nhiên.  Ông  là  người  nhấn  mạnh  phương  pháp  quy  nạp.  Tức  là 
phương  pháp  đi  từ  cái  riêng  đến  cái  chung  nhằm  vạch  ra  bản 
chất của sự vật.     
* Quan điểm về chính trị xã hội:

Đêmôcrit là người phê phán mạnh mẽ tôn giáo.  Ông cho 
rằng  những  thần  thánh  của  tôn  giáo  Hi  Lạp  chỉ  là  sự  nhân 
cách  hóa  những  hiện  tượng  của  tự  nhiên  hay  thuộc  tính  của 
con người.
           Đêmôcrit là người  đứng trên lập trường của tầng lớp chủ 
nô dân chủ chống lại bọn chủ nô quý tộc,bảo vệ chế  độ dân 
chủ nô, ông  coi chế độ Nô Lệ là hợp lý .      
Đêmôcrit  có  những  quan  điểm  tiến  bộ  về 
mặt  đạo  đức.  Theo  ông  phẩm  chất  con  người 
không  phải  ở  lời  nói  mà  ở  việc  làm.Con  người 
cần hành  động có  đạo  đức, còn hạnh phúc của 
con người là  ở khả năng trí tuệ,  ở khả năng tinh 
thần nói chung,và đỉnh cao của hạnh phúc là trở 
thành nhà thông thái.
        Tóm  lại  những  quan  điẻm  triết  học  của 
Đêmôcrit  tuy  còn  mộc  mạc  chất  phác,  song  đã 
đưa triết học duy vật Hi Lạp cổ  đại lên bước tiến 
mới,đóng  góp  cho  kho  tàng  triết  học  của  nhân 
loại những thành quả vô giá.
3. Platon (427 – 347 tr.CN).
3. Platon (427 – 347 tr.CN).

Platon  là  nhà  triết  học  duy  tâm  khách 
quan,  quan  điểm  triết  học  của  ông  đối  lập 
với triết học duy vật của Đêmôcrit.
Quan  điểm  triết  học  của  ông  được  thể 
hiện ở những nội dung sau đây
* Quan điểm về thế giới:

Platon coi  ý niệm là thế giới chân thực, 
có  trướcvà  sinh  ra  thế  giới  các  sự  vật.  Còn 
thế giới các sự vật là không chân thực. Bởi vì 
ở  đó  các  sự  vật  không  ngừng  biến  đổi.  Do 
đó, không có cái gì là ổn định vĩnh viễn. 
Như  vậy,  khi  giải  quyết  vấn  đé  cơ  bản 
của triết học Platon  đã  đứng trên lập trường 
của chủ nghĩa duy tâm khách quan.
*Quan điểm về lý luận nhận thức 
Platon  cũng  có  tính  chất  duy  tâm.  Theo  ông, 
nhận thức của con người không phải là phản ánh các 
sự  vật  của  thế  giới  khách  quan  mà  chỉ  là  quá  trình 
nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn về thế giới  ý niệm, 
về những  điều mà linh hồn  đã bắt gặp khi còn  ở thế 
giới ý niệm, khi chưa trú ngụ vào thể xác con người.
Trên  cơ  sở  đó,  Platon  phân  hai  loại  tri  thức:  tri 
thức hoàn toàn  đúng  đắn tin cậy và tri thức mờ nhạt. 
Loại thứ nhất là tri thức  ý niệm, tri thức của linh hồn 
trước khi nhập vào thể xác và có được nhờ hồi tưởng. 
Loại  thứ  hai  lẫn  lộn  đúng  sai,  là  tri  thức  nhận  được 
nhờ vào nhận thức cảm tính, ở đó không có chân lý.
* Quan điểm về chính trị xã hội 
* Quan 

Platon  chủ  trương  cần  phải  duy  trì  các 
hạng người trong xã hội, cũng có nghĩa là 
duy  trì  sự  bất  bình  đẳng  giữa  mọi  người. 
Theo  ông Nhà nước ra  đời cũng là  để  đáp 
ứng  những  nhu  cầu  đó.  Ông  đưa  ra  mô 
hình “Nhà nước lý tưởng”.
Trên  cơ  sở  phê  phán  các  hình  thức  nhà 
nước đã có trong lịch sử Platon đưa ra mô hình 
Nhà nước lý tưởng dựa trên cơ sở phân chia xã 
hội thành ba  đẳng cấp dựa vào  đặc trưng  đạo 
đức:
­Đẳng  cấp  thứ  nhất  là  các  nhà  triết  học, 
các nhà thông thái giữ vị trí lãnh đạo xã hội.
­  Đẳng cấp thứ hai  là quân nhân có trách 
nhiệm bảo vệ Nhà nước lý tưởng. 
­  Đẳng  cấp  thứ  ba  là  dân  lao  động  tự  do, 
thợ thủ công có nhiệm vụ sản xuất ra của cải 
vật chất để đảm bảo cuộc sống cho nhà nước.
Sự tồn tại và phát triển của Nhà nước lý tưởng dựa trên sự 
phát triển của sản xuất vật chất, sự phân công các ngành nghề 
và  giải  quyết  mâu  thuẩn  giữa  các  nhu  cầu  xã  hội.  Sự  vinh 
quang  của  nhà  nước  phụ  thuộc  vào  các  phẩm  chất:  Sự  thông 
thái,  sự  dũng  cảm,  sự  chính  nghĩa  và  phong  độ  duy  trì  chuẩn 
mực  xã  hội.  Trong  đó  sự  thông  thái  là  tri  thức  cao  nhất  và  là 
niềm vinh quang của riêng nhà triết học.
Tóm lại:  Platon là nhà triết học duy tâm khách quan  đã  đề 
cập một cách có hệ thống nhiều vấn  đề của triết học. Tuy còn 
nhiều  hạn  chế,  song  Platon  đã  đóng  góp  công  lao  to  lớn  vào 
việc nghiên cứu những vấn  đề về hình thái  ý thức xã hội, về tư 
duy lý luận.
CHƯƠNG V
CH
TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI KỲ PHỤC 
HƯNG (THẾ KỶ XV – XVI)
I.  Hoàn cảnh ra đời của triết học Tây Âu thời kỳ  
Phục hưng.       
Thời kỳ Phục hưng  ở các nước Tây  Âu là từ thế kỷ XV  đến 
XVI. Gọi là thời kỳ Phục hưng với  ý nghĩa là thời kỳ này có sự 
khôi phục (làm sống lại) và phát triển những giá trị văn hoá thời 
cổ đại. 
Xét về mặt hình thái kinh tế ­ xã hội, đây là thời kỳ các nước 
Tây  Âu  đang  chuỷên  dần  từ  XHPK  lên  XHTB.  Trong  thời  kỳ 
này, nhiều công cụ lao  động  đã  được cải tiến và hoàn thiện,  đã 
tạo ra điều kiện cho các công trường thủ công tư bản từng bước 
nâng cao năng suất lao động.
Những phát kiến  địa lý như tìm ra châu Mỹ 
và đường hàng hải sang Ấn Độ và Trung Quốc 
qua  châu  Phi,  đã  mở  rộng  giao  lưu  hàng  hoá 
giữa các nước, giữa  Đông và Tây. Nhờ  đó, sản 
xuất và thương nghiệp phát triển, phương thức 
sản  xuất  tư  bản  chủ  nghĩa  hình  thành,  phát 
triển nhanh chóng.
 Giai cấp tư sản mới hình thành là giai cấp 
tiến  bộ,  có  nhu  cầu  phát  triển  khoa  học  tự 
nhiên  để tạo cơ sở cho sự phát triển sản xuất 
và cần có CNDV làm vũ khí tư tưởng  để chống 
lại thế giới quan DT của GCPK.
Từ  những  đặc  điểm  KT,CTXH  nói  trên 
ảnh  hưởng  trực  tiếp  đến  sự  phát  triển  tư 
tưởng triết học. Do đó triết học thời kỳ này  
có đặc điểm là gắn bó chăt  chẽ với KHTN; 
các nhà KHTN thời kỳ này không những là 
những  người  khổng  lồ  về  mặt  trí  tuệ  mà 
còn là những người có bản lĩnh dũng cảm 
trong  cuộc  đấu  tranh  chống  CNDT  tôn 
giáo để bảo vệ chân lý khoa học.
II. Một số triết gia tiêu biểu.
II. M

1.Nicôlai Côpécnic (1473 – 1543).
Nicôlai Côpécnic là nhà thiên văn học và triết học người 
Ba Lan.  Ông là người  đầu tiên  đã  đưa ra thuyết Nhật tâm, coi 
mặt trời là trung tâm, trái  đất và các hành tinh khác  đều quay 
quanh mặt trời. 
Thuyết  “Nhật  tâm”  của  ông  có  ý  nghĩa  rất  lớn  về  triết 
học  và  khoa  học  tự  nhiên  lúc  bấy  giờ.  Nó  bác  bỏ  thuyết  địa 
tâm  của  Ptôlêmê  và  do  đó  đã  giáng  một  đòn  quyết  định  vào 
chính nền tảng của thế giới quan tôn giáo và  đánh dấu sự giải 
phóng khoa học tự nhiên khỏi thần học và tôn giáo. 
Phát minh của Côpécníc là “một cuộc cách mạng trên 
trời”, báo trước một cuộc cách mạng trong các quan hệ xã hội.
  2.  Gióocđanô Brunô (1548 – 1600).
  

Brunô  là  nhà  triết  học  đồng  thời  là  một  nhà 
khoa  học  tự  nhiên  vĩ  đại,  ông  cũng  là  tu  sĩ 
nghiên cứu thần học ở Italia.
         Brunô là người kế thừa và phát triển thuyết 
“Nhật  tâm”  của  Côpécníc.  Ông  cho  rằng:  xung 
quanh trái đất có một bầu không khí và nó cùng 
xoay  với  trái  đất.  Theo  ông  có  vô  vàn  thế  giới 
giống như thái dương hệ của chúng ta, thế giới 
chúng ta  đang sống cũng như thế giới “nhà trời” 
đều do vật chất tạo nên.   
Brunô  cũng  có  đóng  góp  quan  trọng  trong  sự 
phát triển phép biện chứng.  Ông  đã có tư tưởng biện 
chứng “về sự phù hợp của các mặt đối lập”. 
Theo  ông, trong tự nhiên, mọi cái  đều liên hệ với 
nhau và  đều vận  động, cái này mất  đi thì cái khác ra 
đời. Các mặt  đối lập cũng chuyển hóa lẫn nhau: tình 
yêu chuyển thành căm thù và ngược lại; chất  độc có 
thể trở thành bài thuốc tốt nhất và ngược lại… 
Tư tưởng biện chứng của  ông  đã vượt xa các nhà 
triết học Hy Lạp cổ  đại vì  ông  đã dựa trên thành tựu 
của toán học và cơ học thời đại của mình.
Về  mặt  nhận  thức  luận,  khi  xây  dựng 
phương pháp mới của khoa học, Brunô  đòi hỏi 
khoa  học  tự  nhiên  phải  dựa  trên  thực  nghiệm. 
Đồng thời,  khi  đề  cao  vai  trò  của  thực  nghiệm 
và kinh nghiệm,  ông cũng hết sức coi trọng tư 
duy lý tính trong quá trình nhận thức. 
Ông  cho  rằng,  mục  đích  cao  nhất  của  tư 
duy  là  nắm  bắt  quy  luật  của  tự  nhiên.  Theo 
ông,  con  đường  nhận  thức  là  từ  cảm  giác  đến 
lý trí và cuối cùng là trí tuệ.
Với những tư tưởng tiến bộ nói trên, Brunô 
đã  bị  toà  án  tôn  giáo  kết  án  tử  hình  và  thiêu 
sống tại La Mã. 
3. Galilêô Galilê (1564 – 1642).
3. Galil

Galilê là nhà toán học, nhà thiên văn học, 
nhà  vật  lý  và  là  nhà  triết  học  cuối  thời  Phục 
hưng  ở  Italia,  là  người  mở  đầu  cho  sự  phát 
triển của khoa học thực nghiệm.
Galilê  đã  có  nhiều  đóng  góp  cho  cơ  học, 
đặc  biệt  là  quy  luật  quán  tính,  lực  rơi  và  gia 
tốc  trọng  trường.  Ông  cũng  đã  chế  ra  kính 
viễn  vọng  để  quan  sát  bầu  trời,  phát  hiện  ra 
các vệ tinh, quan sát mặt trời, mặt trăng… 
Các  phát  minh  khoa  học  của  ông  có  ý 
nghĩa triết học sâu sắc. Nó giúp cho  ông có cơ 
sở  để khẳng  định tính thống nhất vật chất của 
toàn bộ vũ trụ và chứng minh thuyết “nhật tâm” 
của Côpécnic.
Do  ảnh  hưởng  của  các  quan  niệm  “hai 
chân lý”  đang thịnh hành thời  đó,  ông cho rằng 
kinh thánh và khoa học đều cần cho con người. 
Kinh  thánh  gần  gũi  với  cuộc  sống  hàng  ngày 
của  con  người,  dạy  cho  con  người  điều hay  lẽ 
phải;  còn  khoa  học  giúp  cho  con  người  khám 
phá  được các quy luật của giới tự nhiên, nhận 
thức được bản chất đích thực của chúng.
Đề  cao  nhận  thức  trí  tuệ  của  con  người 
trong  việc  nhận  thức  thế  giới.  Ông  cho  rằng 
khả  năng  nhận  thức  của  con  người  là  vô  hạn, 
cảm giác là bước  đầu của nhận thức còn bước 
cuối  là  hoạt  động  của  lý  trí,  ở  bước  này  kinh 
nghiệm  được  kiểm  tra  lại  và  những  yếu  tố  rời 
rạc  của  tri  thức  được  liên  kết  lại.  Không  có 
chân lý cuối cùng.
Galilê có nhiều phát minh vĩ  đại, có vai 
trò  lớn  cho  sự  phát  triển  của  khoa  học  và 
triết  học.  Nhưng  nó  lại  là  mối  nguy  hiểm 
cho chủ nghĩa kinh viện và giáo hội La Mã 
lúc  bấy  giờ.  Vì  vậy  Giáo  hoàng  La  Mã  ra 
lệnh  truy  tố  và  bỏ  tù  ông,  tòa  án  tôn  giáo 
đã  quản  thúc  một  cách  nghiêm  ngặt  cho 
tới khi ông qua đời.
Triết học vào thời kỳ Phục hưng 
đã tạo ra một bước ngoặt trong sự 
phát  triển  của  triết  học  sau  đêm 
trường  Trung  cổ.  Nó  tạo  tiền  đề 
cho triết học tiếp tục phát triển vào 
thời kỳ cận đại. 
CHƯƠNG VI
CH
TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI KỲ CẬN ĐẠI
(Thế kỷ XVII – XVIII)
I. Hoàn cảnh lịch sử của triết học Tây 
I. Ho
Âu thời kỳ cận đại.
Từ cuối thế kỷ XVI–XVIII  ở các nước Tây 
Âu  là  TK  nổ  ra  các  cuộc  CMTS.  Đầu  tiên  là 
CMTS Hà Lan (1560–1570), sau đó là CMTS 
Anh  (1642–1648),  rồi  đến  CMTS  Pháp 
(1789–1794).  Trong  đó  CMTS  Pháp  là  triệt 
để nhất.
Đây là thời kỳ PTSX tư bản  được xác lập 
và trở thành PTSX thống trị, nó tạo ra những 
vận  hội  mới  cho  KHKT  phát  triển  mà  trước 
hết là KHTN. 
Do  đó thời kỳ này các ngành khoa học 
đã  dần  tách  ra  khỏi  triết  học  để  trở  thành 
khoa  học  độc  lập  .Đặc  biệt  là  các  ngành 
cơ  học,  vật  lý,  hóa  học,  sinh  học,  kinh  tế 
học    ra  đời  và  phát  triển.  Từ  những  thay 
đổi  sâu  sắc  trong  đời  sống  xã  hội  và 
những thành tựu mới trong KHTN, triết học 
thời kỳ này  đã có một bước phát triển mới. 
Trong  đó nổi bật là CNDV Anh TK XVII và 
CNDV Pháp TK XVIII.
II.Những nền triết học với những triết gia 
II.Nh
tiêu biểu.
1. Triết học Anh thế kỷ XVII.
1.1. Phranxi Bêcơn (1561 ­ 1626). 
Bêcơn sinh ra trong một gia đình quý tộc, là con một 
quan  chức  cao  cấp  nước  Anh.  Sau  khi  tốt  nghiệp  đại 
học,  ông  làm  nhiều  công  việc  khác  nhau:  ngoại  giao, 
tư  pháp,  thượng  thư  báo  chí,  được bầu  vào  nghị  viện, 
thủ tướng Anh, được phong bá tước.

Bêcơn  là  người  sáng  lập  chủ  nghĩa  duy  vật  Anh  và 
khoa học thực nghiệm hiện  đại. Bắt  đầu từ Bêcơn, lịch 
sử triết học Tây Âu bước sang một giai đoạn mới.
*Quan điểm của Bêcơn về vai trò,
 nhiệm vụ của triết học và khoa học. 

Theo Bêcơn thì nhiệm vụ của triết học là cải tạo 
lại toàn bộ các tri thức mà con người  đã  đạt  được  ở 
thời đại đó, nhằm “nắm bắt trật tự của giới tự nhiên”.
Theo  ông,  tri  thức  là  sức  mạnh  để  con  người 
chinh  phục  tự  nhiên.  Muốn  chinh  phục  tự  nhiên  thì 
con người phải nhận thức các quy luật của nó và vận 
dụng các quy luật ấy vào trong đời sống. 
Từ đó, Bêcơn cho rằng sự phát triển của triết học 
và khoa học là nền tảng để canh tân đất nước.
*Quan điểm về thế giới
*Quan 

Bêcơn  đứng  trên  lập  trường  DV  trên  cơ  sở  kế  thừa, 
phát triển quan  điểm DV thời kỳ cổ  đại.  Đặc biệt là  quan 
điểm của Đêmôcrit về nguyên tử. 
Theo  Bêcơn,  sự  tồn  tại  của  thế  giới  vật  chất  khách 
quan là không thể tranh cãi được, khoa học không thể biết 
cái gì ngoài thế giới vật chất cả. 
 Ông  khẳng  định  vật  chất  không  tách  rời  vận  động, 
nhận thức bản chất của sự vật là nhận thức sự vận  động 
của chúng. 
Bêcơn  đã tiến hành phân loại các hình thức vận  động. 
Ông nêu ra 19 hình thức vận động của vật chất. Ở đây ông 
đã thấy được mối quan hệ vật chất và vận động.
*Quan điểm về lý luận nhận thức
*Quan 
Lý luận nhận thức của Bêcơn nêu lên và giải quyết những 
vấn đề dưới đây:
Theo Bêcơn, không có tri thức bẩm sinh, mọi tri thức đều 
bắt  đầu  từ  kinh  nghiệm  và  thực  hiện  sự  “chế  biến”  những 
kinh nghiệm  đó thành một hệ thống, nhờ  đó ta biết  được bản 
chất,  của sự vật. 
Bêcơn phê phán những người kinh nghiệm luận máy móc 
giống như  Con Kiến  chỉ biết tha nhặt những cái lẻ tẻ, vụn vặt 
và sử dụng chứ không biết chế biến chúng.
Còn những người giáo điều thì giống như Con Nhện dùng 
lý trí của mình  giăng những cái mạng vô hình, vô nghĩa. 
Đối  với  những  nhà  khoa  học  chân  chính,  theo  ông  phải 
như Con Ong, vừa biết góp nhặt nhụy hoa vừa biết tạo ra “Mật 
khoa học” cho đời. 
Trên cơ sở  đó, Bêcơn cho rằng phương pháp tốt nhất  để 
nhận thức bản chất của sự vật là phương pháp quy nạp. Tức 
là  trên  cơ  sở  những  kinh  nghiệm  do  nhận  thức  cảm  tính 
mang lại, phải biết phân tích, tổng hợp, chế biến thông tin để 
rút ra kết luận về bản chất của sự vật.
 Tuy nhiên, trong lý luận nhận thức, Bêcơn không  đứng 
vững  trên  lập  trường  vô  thần,  khi  thừa  nhận  chân  lý  có  tính 
hai  mặt:  khoa  học  và  thần  học.  Ông  cho  rằng  khoa  học  và 
thần học không nên can thiệp vào công việc của nhau. Khoa 
học  nghiên  cứu  cái  mà  thần  học  không  thể  có  được.  Thần 
học nghiên cứu cái mà khoa học không thể vươn tới.
*Quan điểm chính trị xã hội
*Quan 

Bêcơn  chủ  trương  xây  dựng  nhà  nước  tập  quyền 
mạnh,  bảo  vệ  lợi  ích  xã  hội  tư  bản,  chống  lại  đặc  quyền 
của  bọn  quý  tộc.  Ông  khẳng  định  sự  phát  triển  công 
nghiệp  và  thương  nghiệp  có  ý  nghĩa  quan  trọng  nhất 
trong đời sống xã hội.  Bêcơn mơ ước xây dựng một xã hội 
phồn  vinh  bằng  con  đường  giáo  dục  và  bằng  các  phát 
minh kỹ thuật. 
Tất  cả  những  tư  tưởng  đó  phù  hợp  với  lợi  ích  và 
nguyện vọng của giai cấp tư sản  đang lên và tầng lớp quý 
tộc mới ở nước Anh vào thế kỷ thứ XVII 
Tóm lại: 
Bêcơn  là  người  sáng  tạo  ra  CNDV  Anh,  mang 
trong  mình  mầm  mống  của  sự  phát  triển  tòan  diện. 
Mặc  dù  còn  dưới  hình  thức  mộc  mạc,  song  những 
quan  điểm  DV  đó  có  tác  dụng  tích  cực  đối  với  sự 
phát triển của triết học và khoa học
1.2. Tômát Hốpxơ (1588 ­1679).
1.2. T

Hốpxơ là một triết gia nổi tiếng, đại biểu xuất sắc của 
chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII. Ông là người hệ thống 
hoá chủ nghĩa duy vật của Bêcơn. 
Quan  điểm duy vật của  ông  được thể hiện những nội 
dung sau đây:
*Quan điểm về thế giới
*Quan 
Hôpxơ  đứng  trên  lập  trường  duy  vật.  Ông  cho  rằng, 
thế giới vật chất tồn tại khách quan, không do thần thánh 
sáng  tạo  ra  và  cũng  không  phụ  thuộc  vào  ý  thức  con 
người .
Theo ông, thế giới vật chất là thế giới của các vật thể,  
cùng  với  những  quan  hệ  số  lượng  cơ  học,  toán  học  của 
nó.  Quan  niệm  của  Hốpxơ  về  thế  giới  vật  chất  là  quan 
niệm duy vật siêu hình. Tất cả  đều  được quy về quan hệ 
số lượng, quan hệ toán học và vận  động theo quy luật cơ 
học.  Cả  con  người cũng  được  ông giải thích như một cỗ 
máy.
*Quan điểm về lý luận nhận thức
*Quan 


Về cơ bản, lý luận nhận thức của Hôpxơ thuộc về phái 
cảm giác luận. Ông coi cảm giác là cơ sở của nhận thức. 
Nhưng  ông  chưa  giải  quyết  được  mối  quan  hệ  giữa 
nhận  thức  cảm  tính  và nhận thức lý tính, giữa  cái chung 
và  cái    riêng.  Do  đó,  ông  cho  rằng  chỉ  có  những  sự  vật 
cảm tính mới tồn tại khách quan, còn các khái niệm chỉ là 
những  cái  tên,  những  ký  hiệu  do  con  người  tùy  tiện  đặt   
ra.
Như vậy, lý luận nhận thức của  ông bị chủ nghĩa duy 
danh chi phối.
*Quan điểm về nhà nước và xã hội.
*Quan 
Vấn  đề  nhà  nước  là  một  phần  quan  trọng  trong  học 
thuyết của Hốpxơ. Lý luận này  được  ông trình bày trong 
tác phẩm “về công dân”.
Ông  cho  rằng, con người là một thực thể thống nhất 
giữa tính tự nhiên và tính xã hội. Về bản tính tự nhiên, mọi 
người sinh ra  đều như nhau. Nhưng con người ai cũng có 
khát  vọng,  nhu  cầu  riêng  của  mình.  Đó  là  những  tiền  đề 
cho con người làm điều ác. 
Để khắc phục tình trạng trên, cần phải xây dựng “một 
khế  ước  xã  hội”  như  bản  hợp  đồng,  giao  kèo  giữa  nhà 
nước và công dân. Trên cơ sở  đó, hình thành những  đạo 
luật  để mọi công dân có nghĩa vụ tuân theo và nhà nước 
dựa vào đó để quản lý XH. 
1.3Gióocgiơ  Bécơli (1684 ­ 1753).
1.3Gi

Bécơli sinh ra trong một gia  đình quí tộc  ở miền 
Nam Ailen; học  ở Trường Tổng hợp  Đublin.  Ông say 
mê  nghiên  cứu  thần  học,  toán  học  và  triết  học. 
Béccli  là  nhà  triết  học  duy  tâm,  vị  linh  mục.  Quan 
điểm triết học của ông thể hiện nội dung sau: 
*Quan điểm về thế giới
*Quan 
Beccơli phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới 
vật  chất.  Ông  cho  rằng  khái niệm vật  chất  chỉ  là  sự trừu 
tượng trống rỗng.
Theo  ông, “vật thể trong thế giới quanh ta là sự phức 
hợp của cảm giác”. Ví dụ, cái bàn,  đó không phải là một 
vật thể hữu hình mà chỉ là do mắt ta nhìn thấy nó có hình 
khối;  màu  sắc.  Hương  vị  của  hoa  quả  cũng  chỉ  do  cảm 
giác của con người nhận biết, chúng không tồn tại thật. 
Ông  giải  thích:  “Tôi  nhìn  thấy  quả  anh  đào  này,  sờ 
thấy nó, nếm nó... nó có thật. Gạt bỏ cảm giác mềm dịu, 
mát,  đắng, màu đỏ... đi tức là tiêu diệt quả anh  đào”. Tóm 
lại,  theo  Béccli,  mọi  vật  chỉ  tồn  tại  trong  chừng  mực  mà 
người  ta  cảm  biết  được  chúng.  Tồn  tại  có  nghĩa  là  được 
cảm biết.
*Quan điểm về lý luận nhận thức
*Quan 


Beccli  cũng  đứng  trên  lập  trường  duy  tâm.Từ  chỗ  phủ 
nhận tồn tại khách quan của thế giới vật chất, Béccli  đã  đi 
tới phủ nhận chân lý khách quan.  Ông  cho rằng: tìm chân 
lý không  phải là  trong sự phù  hợp của tri thức với sự vật 
bên  ngoài,  mà  là  sự  so  sánh  các  quan  niệm  trong  ý  thức 
con  người,  là  tính  rõ  ràng  các  tri  giác  cảm  tính,  là  sự  đơn 
giản  và  dễ  hiểu  của  các  quan  niệm,  là  sự  phù  hợp  với  ý 
chúa.
2. Triết học khai sáng Pháp thế kỷ XVIII.
2. Tri

2.1. Đặc điểm kinh tế ­ xã hội.
Xã  hội  Pháp  vào  nửa  cuối  thế  kỷ  XVIII  chứa  đựng  những 
mâu thuẫn sâu sắc. Giai cấp phong kiến Pháp  đứng  đầu là vua 
Lu­i  XVI  đã  thâu  tóm  vào  tay  mình  những  quyền  lực  vô  hạn. 
Chỗ  dựa  xã  hội  của  nhà  vua  là  các  đẳng  cấp  đặc  quyền  và 
chiếm số ít trong dân cư: quí tộc và tăng lữ. 
Đời  sống  của  đại  đa  số  nhân  dân  lao  động,  trước  hết  là 
nông dân hết sức khốn khổ, nạn  đói do mất mùa hoành hành, 
những  cuộc  nổi  dậy  của  nông  dân  chống  chế  độ  phong  kiến 
xảy ra thường xuyên. Tất cả cái  đó là nguyên nhân kinh tế ­ xã 
hội của cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789 – 1794). Các nhà 
duy  vật  Pháp  thế  kỷ  XVIII  là  những  người  chuẩn  bị  về  mặt  tư 
tưởng cho cuộc cách mạng về chính trị sôi động đó.
Thế kỷ XVIII ở Pháp, với những đặc 
điểm kinh tế ­ xã hội, chính trị của nó cũng 
đồng thời tạo những tiền đề cho sự ra đời 
của những tư tưởng triết học và tư tưởng 
văn hoá nói chung.
Triết học thời kỳ này được gọi là triết 
học khai sáng (ánh sáng) nghĩa là coi 
trọng trí tuệ, đề cao trí tuệ của con người.
2.2. Một số triết gia tiêu biểu.
2.2. M
a). Giulen Ôphrơ La Mettri (1709– 1751). 
La  Mettri  sinh  ra  trong  một  gia  đình  thương 
nhân  giàu  có.  Sau  khi  tốt  nghiệp  trung  học,  ông 
nghiên  cứu  y  học  và  trở  thành  bác  sĩ,  đồng  thời 
say mê nghiên cứu triết học và khoa học. La Mettri 
là một trong những nhà triết học duy vật  điển hình 
của  triết  học  khai  sáng  Pháp  thế  kỷ  XVIII.  Ông 
cùng với các nhà Bách khoa toàn thư Pháp chuẩn 
bị  về  mặt  tư  tưởng  cho  cuộc  cách  mạng  tư  sản 
Pháp năm 1789.
*Quan điểm về thế giới.
*Quan 
La  Mettri  đã  có  những  bước  tiến  quan  trọng  trong 
quan  điểm về bản chất thế giới so với những nhà triết 
học khác cùng thời  đại. Theo  ông, thực thể vật chất là 
thống  nhất  ba  hình  thức  của  nó  trong  giới  tự  nhiên 
như:  giới  vô  cơ,  thực  vật,  động  vật  (bao  gồm  con 
người).
  Ông cho rằng, trong thế giới chúng ta không có gì 
khác ngoài vật chất  đang vận  động vĩnh viễn. Nguyên 
nhân  sự  vận  động  của  vật  chất  không  phải  do  lực 
lượng  bên  ngoài  mà  “Vật  chất  chứa  đựng  một  lực 
lượng làm nó sống  động, và là nguyên nhân trực tiếp 
của mọi qui luật vận động”.
Theo  La  Mettri,  vật  chất  không  chỉ  có 
thuộc tính không gian và vận động mà còn 
có  năng  lực  cảm  giác.  Nhưng  năng  lực 
cảm  giác  không  phải  xuất  hiện  ở  bất  cứ 
dạng vật chất nào, mà chỉ xuất hiện  ở các 
“vật thể có tổ chức đặc biệt” đó là giới sinh 
vật. Cơ thể con người là khí quan vật chất 
của  tư  duy  và  ý  thức  của  anh  ta.  Mọi  tư 
tưởng,  suy  nghĩ  của  con  người  đều  bị  qui 
định bởi cấu trúc cơ thể của anh ta và chịu 
sự  tác  động  của  môi  trường  và  các  điều 
kiện sống.
*Quan điểm về lý luận nhận thức.
*Quan 
La Mettri có những  đóng góp có giá trị cho lý luận 
nhận  thức  duy  vật.  Ông  cho  rằng  mọi  nhận  thức  đều 
bắt  đầu từ cảm giác, tiến lên tư duy trừu tượng ­  đó là 
phán  đoán  và  suy  lý.  Phán  đoán  là  so  sánh,  kết  hợp 
các  biểu  tượng  có  được  nhờ  trí  nhớ  ghi  lại  các  cảm 
giác của con người trong đời sống hàng ngày. Còn suy 
lý  là  sự  so  sánh,  kết  hợp  các  phán  đoán  với  nhau 
nhằm khẳng định hay phủ định một vấn đề nào đó.
Quan  niệm  của  La  Mettri  về  quá  trình  nhận  thức, 
không chỉ là quan  điểm duy vật mà còn có những yếu 
tố  biện  chứng.  Tuy  nhiên  lý  luận  nhận  thức  của  ông 
vẫn  mang  tính  trực  quan,  siêu  hình,  quá  nhấn  mạnh 
vai trò cơ chế tâm sinh lý trong nhận thức...
*Quan điểm về xã hội.
*Quan 
La Mettri chủ trương thực hiện quyền sở hữu tài 
sản. Chủ trương một xã hội được quản lý theo pháp 
luật, bảo đảm quyền tự do chính trị, quyền công dân, 
tự do buôn bán...
Là người có tư tưởng khai sáng, La Mettri cho rằng, 
thông qua giáo dục, truyền bá tư tưởng tiên tiến cho 
mọi người thì sẽ giải quyết được mọi sự tiến bộ xã hội.
Ông cho rằng đối với người làm khoa học thì không 
cần đến tôn giáo. Nhưng đối với đại đa số nhân dân 
không có học, nghèo khổ thì họ lại cần tôn giáo.
b). Đêni Điđrô (1713 ­ 1784).
b). 

Điđrô là nhà triết học duy vật  điển hình 
ở  Pháp  thế  kỷ  XVIII,  là  nhà  văn,  nhà  lý 
luận  nghệ  thuật,  đại  biểu  phái  khai  sáng, 
người  chủ  biên  bộ  “Bách  khoa  toàn  thư”, 
của Pháp­ một trong những di sản văn hóa 
vĩ  đại  của  nước  Pháp  và  Châu  Âu  thế  kỷ 
XVIII.
*Quan điểm về thế giới
*Quan 
Điđrô  đã phê phán chủ nghĩa duy tâm của 
Béccơli  và  tính  không  triệt  để  của  chủ  nghĩa 
duy vật Anh. 
Theo  ông, trong vũ trụ chỉ có một thực thể 
duy  nhất,  đó  là  vật  chất;  nó  là  cơ  sở  của  mọi 
sự vật, hiện tượng. 
Vật  chất  là  toàn  bộ  các  vật    thể  có  quảng 
tính, có hình thức và luôn luôn vận  động. Vận 
động  là  một  thuộc  tính  của  vật  chất.  Nguyên 
nhân của sự vận  động là sự tự thân vận  động 
của vật chất.
Điđrô  cho  rằng,  chính  trong  quá  trình  vận 
động  và  phát  triển,  giới  tự  nhiên  sẽ  loại  bỏ 
những  cái  không  thích  nghi  và  chọn  lọc  những 
gì giúp cho nó ngày càng hoàn thiện. 
Do vậy, kết cấu và trạng thái của sinh vật là 
kết  quả  của  quá  trình  tiến  hoá  lâu  dài  của  giới 
tự  nhiên.  Với  quan  niệm  này,  Điđrô  là  bậc  tiền 
bối  của  học  thuyết  Đácuyn  về  chọn  lọc  tự 
nhiên.
Những  quan  niệm  về  bản  thể  luận  trên  đây 
của  Điđrô  rất  gần  với  quan  điểm  duy  vật  hiện 
đại.
*Quan điểm về lý luận nhận thức.
*Quan 
Điđrô  xây  dựng  lý  luận  nhận  thức  trên  lập 
trường duy vật. 
Theo  ông,  cảm  giác  là  nguồn  gốc  của  mọi 
sự  hiểu  biết,  là  giai  đoạn  thứ  nhất  trong  nhận 
thức; còn lý trí, tư duy là giai đoạn thứ hai. 
Trên  cơ  sở  cảm  giác  mà  xuất  hiện  tư  duy; 
cảm giác là bằng chứng, lý trí là quan tòa, dùng 
lý  trí  để  kiểm  soát  cảm  giác.  Dùng  thí  nghiệm 
và quan sát  để kiểm tra những luận  điểm về lý 
luận.
Đề  cao  vai  trò  đặc  biệt  của  quá  trình 
nhận thức  đối với sự phát triển của xã hội, 
Điđrô  đưa  ra  tư  tưởng  biện  chứng  khẳng 
định  tính  vô  cùng  tận  trong  sự  phát  triển 
của  tự  nhiên,  cũng  như  quá  trình  nhận 
thức của con người. 
Mặc dù khả năng nhận thức của mỗi cá 
nhân  là  hữu  hạn,  nhưng  nhân  loại  về 
nguyên  tắc  có  thể  nhận  thức  toàn  bộ  thế 
giới,  mặc  dù  quá  trình  đó  là  vô  cùng  tận. 
Có  thể  nói,  nhận  thức  luận  của  Điđrô  đã 
tiến  đến  gần  nhận  thức  luận  duy  vật  biện 
chứng.
*Quan điểm về chính trị ­ xã hội.
*Quan 
Trên  cơ  sở  khẳng  định  vật  chất  là  thực  thể  duy 
nhất  của  mọi  vật,  Điđrô  phủ  nhận  sự  tồn  tại  của 
Thượng  đế,  coi  đó  chỉ  là  sự  thần  thánh  hóa  các  điều 
kiện sống hiện thực của con người. Vì thế, không phải 
tôn  giáo  sáng  tạo  ra  con  người,  mà  chính  con  người 
sáng tạo ra tôn giáo. 
Khoa học thì hướng tới vũ trang cho chúng ta quan 
niệm  đúng  về  thế  giới,  làm  cho  con  người  lớn  mạnh 
thêm,  còn  tôn  giáo  thì  chỉ  đem  lại  những  điều  ảo 
tưởng, làm cho con người mềm yếu đi. 
Tuy nhiên,  ông chỉ nhìn nguồn gốc của tôn giáo  ở 
yếu  tố  tâm  lý  sợ  chết  của  con  người  chứ  chưa  nhìn 
thấy cơ sở kinh tế ­ xã hội của sự tồn tại tôn giáo.
c). Pôn Hăngri Điđrich Hônbách 
c). P
(1729 – 1789).

Hônbách  là  đại  biểu  xuất  sắc  của  chủ 
nghĩa duy vật và vô thần thế kỷ XVIII, nhà 
tư  tưởng  của  giai  cấp  tư  sản  cách  mạng 
Pháp, là cộng tác viên tham gia soạn thảo 
“Bách khoa toàn thư” do Điđrô đứng đầu. 
*Quan điểm về thế giới .
*Quan 
Hônbách  đã  đứng trên lập trường của chủ nghĩa 
duy  vật  và  dựa  vào  các  thành  tựu  của  khoa  học  tự 
nhiên khẳng định tính vật chất của thế giới. 
Theo  ông:  “vật  chất  là  tất  cả  những  gì  tác  động 
bằng  một  cách  nào  đó  vào  các  giác  quan  của  chúng 
ta,  còn  các  đặc  tính  mà  chúng  ta  gán  cho  các  chất 
khác nhau thì dựa trên những cảm giác khác nhau hay 
những biến đổi khác nhau do chúng gây ra trong chúng 
ta”. 
Những  đặc  tính  chủ  yếu  của  vật  chất  là:  quảng 
tính (độ dài ­ khoảng cách), vận động, tính có thể phân 
chia, tính chắc chắn, trọng lực...
Theo  Hônbách,  vật  chất  tồn  tại  vĩnh  viễn, 
không ai sáng tạo ra và cũng không mất  đi. Vật 
chất hoạt  động là do sức mạnh của tự bản thân 
nó và không cần có sự thúc đẩy bên ngoài. 
Công  lao  lớn  nhất  của  Hônbách  thể  hiện  ở 
chỗ  ông  thừa  nhận  vận  động  là  thuộc  tính  cố 
hữu của vật chất. 
Nhưng vì là nhà duy vật siêu hình và do hạn 
chế  của  điều  kiện  lịch  sử,  nên  ông  quan  niệm 
vận  động chỉ là vận  động cơ giới, là sự  đổi chỗ 
giản đơn của các vật thể trong không gian.
*Quan điểm Về nhận thức luận .
*Quan 
Lý luận nhận thức của Hônbách dựa trên cảm giác 
luận duy vật. 
Theo ông, vật chất là tính thứ nhất, các hình thức ý 
thức là tính thứ hai. Khi giải quyết mặt thứ hai vấn  đề 
cơ  bản  của  triết  học,  Hônbách  cho  rằng  trí  tuệ  con 
người có khả năng nhận biết  được thế giới và các quy 
luật của nó. 
Song lý luận nhận thức của Hônbách còn hạn chế 
là chưa thấy  được quan hệ biện chứng giữa nhận thức 
cảm tính với nhận thức lý tính, chưa vạch ra  được tính 
tích cực của ý thức và vai trò của thực tiễn xã hội trong 
nhận thức.
 *Quan điểm về xã hội.
Quan  điểm xã hội của Hônbách mang tính chất 
duy  tâm,  ông  coi  sự  phát  triển  xã  hội  như  một  quá 
trình định mệnh chi phối. 
Là  nhà  triết  học  trong  phái  khai  sáng,  ông  quả 
quyết  rằng  loài  người  có  thể  thoát  khỏi  ách  phong 
kiến  bằng  việc  phổ  cập  giáo  dục,  làm  cho  lý  tính 
thắng chủ nghĩa ngu dân thời Trung cổ.
Hônbách mong muốn có sự quá  độ hòa bình từ 
chế  độ  phong  kiến  sang  xã  hội  tư  bản  bằng  con 
đường  lập  pháp  “hoàn  thiện”.  Ông  sợ  phong  trào 
cách  mạng  của  quần  chúng,  mà  muốn  có  “cách 
mạng từ trên xuống”.
CHƯƠNG VII
CH
TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC
I. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết 
I. Ho
học cổ điển Đức.

1. Hoàn cảnh ra đời của triết học cổ điển 
Đức.
­Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX 
các nước Tây Âu như Anh, Pháp, Italia,... 
đã hoàn thành cuộc cách mạng tư sản và 
thiết lập chủ nghĩa tư bản. 
Tình hình đó đã thúc đẩy  mạnh mẽ  sự 
phát triển về khoa học, kỹ thuật và công 
nghệ.
­Trong khi  đó nước  Đức vẫn còn là một 
quốc  gia  phong  kiến  lạc  hậu  cả  về  kinh  tế 
lẫn chính trị. 
Nông  nghiệp  bị  đình  đốn,  công  nghiệp 
không  phát  triển  (năm  1822,  cả  nước  Đức 
mới chỉ có 2 máy hơi nước). 
Vào  đầu  thế  kỷ  XIX  nước  Đức  có 
khoảng  300  công  quốc  khác  nhau.  Mỗi 
công  quốc  giống  như  tiểu  vương  quốc  tách 
biệt gây trở ngại cho sự phát triển đất nước.
­ Đặc biệt, triều  đình vua Phổ vẫn ngoan cố tăng 
cường  quyền  lực  để  duy  trì  chế  độ  phong  kiến  thối 
nát  cản  trở  đất  nước  phát  triển  theo  con  đường  tư 
bản chủ nghĩa.
  ­  Mặc  dù  lạc  hậu  về  kinh  tế  và  chính  trị,  nhưng 
nước  Đức  lại  có  những  bước  phát  triển  mới  về  triết 
học, văn hóa, nghệ thuật. 
Điều  này  thể  hiện  sự  phát  triển  của  ý  thức  tư 
tưởng  có  lúc  không  hoàn  toàn  phụ  thuộc một  chiều 
vào điều kiện về kinh tế.
­  Do  ảnh  hưởng của cách mạng tư sản Pháp cùng với 
những tiến bộ của khoa học kỹ thuật của thế giới lúc bấy giờ 
tác  động làm cho giai cấp tư sản  Đức và những nhà tư tưởng 
thấy được những hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình. 
Vì vậy, cần phải có sự cải cách, cần phải thay thế bằng 
phương pháp tư duy biện chứng. 
Do  đó,  ở  nước  Đức  thời  kỳ  này  có  sự  phát  triển  mạnh 
mẽ về mặt triết học. Sự phát triển  đó trở thành màn giáo  đầu 
cho cuộc cách mạng về chính trị sau này.
2. Đặc điểm của triết học cổ điển Đức.
2. 
­  Một là,  triết  học  cổ  điển  Đức thời  kỳ  này  biểu  hiện 
khá rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng về tư tưởng với sự 
bảo thủ cải lương về lập trường chính trị xã hội của các 
nhà triết học.
­ Hai là, trước  đây triết học phương Tây chủ yếu bàn 
về những vấn  đề thuộc về bản thể luận, nhận thức luận, 
thì  triết  học  cổ  điển  Đức  bàn  đến  con  người,  coi  con 
người vừa là kết quả của quá trình hành  động của mình 
vừa là chủ thể của quá trình  ấy.  Đó là một thành tựu mới 
đáng được khẳng định.
­  Ba  là,  triết  học  cổ  điển  Đức  có  một  cách  nhìn  mới, 
biện  chứng  về  thế  giới  hiện  thực.  Nếu  gạt  bỏ  những 
yếu tố duy tâm thì cách nhìn này là một  đóng góp lớn 
cho tri thức nhân loại.


Với  những  lý  do  nói  trên    triết  học  cổ  điển  Đức 
được  coi  là  giai  đoạn  phát  triển  rực  rỡ  nhất  của  triết 
học phương  Tây  cận  đại và là nguồn gốc lý luận trực 
tiếp cho sự ra đời của triết học Mác sau này.
II. Một số triết gia tiêu biểu.
1. Cantơ ( 1724­1804).
• Cantơ là nhà triết học mở  đầu cho nền triết học 
cổ điển Đức, ông sinh ra trong một gia đình quý 
tộc  Phổ  ở  Kennixbec,  và  học  ở  trường  đại  học 
tổng  hợp  Kennixbec.  Sau  đó  giảng    dạy  môn 
triết học và các môn khoa học tự nhiên ở đây.
• Cantơ  là  người  nghiên  cứu  trên  nhiều  lĩnh  vực: 
toán học, logíc học, mỹ học, triết học.Triết học 
của Cantơ được chia làm hai thời kỳ gắn liền với 
sự chuyển biến tư tưởng của ông.
*Thời kỳ trước phê phán (1746­1770).
*Th
Thời kỳ này Cantơ chú trọng nghiên cứu các vấn  đề khoa học 
tự nhiên với những phát minh nổi tiếng:
­ Cantơ là người  đầu tiên  đã khám phá ra  ảnh hưởng, của lực 
hấp dẫn giữa trái  đất và mặt trăng  đối với các hiện tượng thuỷ 
triều.  Ông cho rằng, do sức hút của mặt  trăng và trái  đất  đưa 
tới hiện tượng nước thuỷ triều lên xuống và  đã  ảnh hưởng tới 
tốc  độ xoay vòng của trái  đất. Cantơ cho rằng vòng xoay của 
trái  đất sẽ bị chậm lại là do sự ma sát khi nước thuỷ triều lên 
gây ra.
• Trong tác phẩm “ lịch sử tự nhiên phổ thông và 
lý  thuyết  bầu  trời”  viết  năm  1775,  Cantơ  đã 
nêu  lên  giả  thuyết  có  giá  trị  về  sự  hình  thành 
vũ trụ bằng các cơn lốc và kết tụ của các khối 
tinh vân.
Như  vậy  ông  thừa  nhận  các  hiện  tượng 
trong  thế  giới  có  mối  liên  hệ  vận  động  phát 
triển. Trái đất, bầu trời cũng như toàn vũ trụ có 
quá trình   sinh thành, biến đổi.
Những phát minh về KHTN nói trên chứng 
tỏ rằng Cantơ là người có quan  điểm duy vật  
biên chứng về thế giới.
*Thờikỳ phê phán(1770 trở đi).
*Th

­Nếu  thời  kỳ  trước  phê  phán,  triết  học  của 
Căntơ thể hiện tính chất duy vật biện chứng về 
thế giới thì thời kỳ phê phán triết học của  ông 
lại mang tính chất duy tâm, bất khả tri về thế 
giới. 
­Trước hết Cantơ thừa nhận sự tồn tại của 
thế  giới  vật  chất  ở  bên  ngòai  con  người,  thế 
giới  đó có thể nhận thức  được bằng cảm giác. 
Về điểm này ông là nhà duy vật.
Nhưng  ông lại cho rằng nhận thức của con người 
chỉ biết  được hiện tượng bề ngoài , không xâm nhập 
được vào bản chất đích thực của sự vật thì khi đó ông 
lại là người duy tâm bất khả tri.
Tính chất duy  tâm trong triết học của Cantơ còn 
thể hiện ở chỗ  ông coi không gian, thời gian, các quy 
luật của tự nhiên không phải Là sản phẩm của giới tự 
nhiên mà là sản phẩm của lý trí tiên nghiệm
Tóm  lại  triết  học  của  Cantơ  là  sự  dung  hòa  giữa 
CNDV Và CNDT và sự kết hợp hai khuynh hướng  đó 
trong một hệ thống triết học.
2. Hêghen (1770­1831).
2. H
2.1.  Tóm tắt tiểu sử và tác phẩm.
Hêghen sinh ra trong một gia  đình quan chức cao 
cấp  ở  Đức.  Thời    trẻ  ông  học  khoa  học  triết  học  và 
thần học ở trường Đại học Tubingen. 
Sau  khi  tốt  nghiệp  đại  học,  Hêghen  làm  giáo  sư 
dạy tư trong các gia  đình, về sau  ông  được bổ nhiệm 
làm  giáo  sư  hiệu  trưởng  trường  trung  học  và  sau  đó 
làm giáo sư ở trường Đại học Hayđenbéc; cuối đời ông 
là giáo sư ở trường Đại học Béclinh.
Hêghen là nhà triết học duy tâm khách 
quan,  là  nhà  biện  chứng  lỗi  lạc,  triết  học 
của  ông là “tập  đại thành” của triết học cổ 
điển Đức. 
Đúng  như  Ph.Ăngghen  đã  từng  đánh 
giá  “Hêghen  không  chỉ  là  một  thiên  tài 
sáng tạo mà còn là một nhà bác học có tri 
thức  bách  khoa,  nên  trong  mọi  lĩnh  vực, 
ông  xuất  hiện  ra  là  một  người  vạch  thời 
đại”. 
Như vậy, đủ biết Hêghen giữ vai trò như 
thế  nào  trong  lịch  sử  phương  Tây  nói 
chung và lịch sử triết học cổ  điển  Đức nói 
riêng.
Các tác phẩm lớn của Hêghen gồm:

• ­ Hiện tượng học tinh thần (1807) trình bày quá 
trình phát sinh phát triển của nhận thức cá thể 
và nhận thức loài.
• ­  Khoa  học  logic  học  (1812­1814)  trình  bày 
những  quy  luật  và  phạm  trù  của  phép  biện 
chứng.
• ­  Bách  khoa  toàn  thư  các  khoa  học  triết  học 
(1817) là các bài giảng về lịch sử triết học, triết 
học pháp quyền, triết học mỹ học, tôn giáo do 
học trò của Hêghen tập hợp lại xuất bản.
2.2. Nội dung quan điểm triết học của Hêghen. 
2.2. N

* Hêghen là triết học duy tâm khách quan.
­  Trong  hệ  thống  triết  học  của  mình,  Hêghen  coi  ý 
niệm  tuyệt  đối  là  điểm  xuất  phát,  là  nền  tảng.  Theo 
ông, ý niệm tuyệt đối là thực thể sinh ra mọi cái trên thế 
giới, là  đấng tối cao sáng tạo ra giới tự nhiên và xã hội. 
Mọi sự vật hiện tượng xung quanh chúng ta chỉ là sản 
phẩm, là kết quả của sự sáng tạo của ý niệm tuyệt đối. 
Theo  Hêghen,  con  người  cũng  sản 
phẩm và là giai  đoạn phát triển cao nhất của 
ý niệm tuyệt  đối. Hoạt  động nhận thức và cải 
tạo  thế  giới  của  con  người  chính  là  công  cụ 
để  tinh  thần  tuyệt  đối  nhận  thức  chính  bản 
thân mình và trở về chính bản thân mình.
Như  vậy,  khi  giải  quyết  vấn  đề  cơ  bản 
của  triết  học,  Hêghen  đứng  trên  lậo  trường 
của CNDT khách quan.
Từ quan  điểm duy tâm khách quan, Hêghen xây 
dựng  hệ  thống  triết  học  của  minh  gồm  3  phần  chủ 
yếu:
Phần thứ nhất:  Hêghen trình bày  ở cuốn “logic học” 
ông hình dung “ý niệm tuyệt đối” còn hoạt động trong 
dạng nguyên chất của tư duy thuần tuý.
Phần  thứ  hai:  Là  học  thuyết  duy  tâm  về  tự  nhiên 
được Hêghen trình bày trong “ Triết học tự nhiên”.  Ở 
đây  giới  tự  nhiên  được  hiểu  là  “sự  tồn  tại  khác”  của 
tinh thần hay  ý niệm  đã trở thành kẻ sáng tạo ra giới 
tự nhiên. 
Phần thứ ba:  là lý luận duy tâm về  đời sống xã hội, 
phần  này  được  Hêghen  trình  bày  chủ  yếu  trong  “ 
Triết  học  tinh  thần”.  Trong  phần  này,  Hêghen  trình 
bày lịch sử của con người và sự  nhận thức của con 
người dưới hình thức duy tâm.
Như  vậy,  xét  toàn  bộ  thì  hệ  thống  triết 
học  của  Hêghen  là  chủ  nghĩa  duy  tâm 
khách  quan  mang  nặng  tính  chất  thần  bí 
phục vụ đắc lực cho tôn giáo. 
Tuy  nhiên  nếu  nghiên  cứu  kỹ  toàn  bộ 
hệ thống triết học này, đặc biệt là logic học 
của Hêghen ta có thể tìm thấy những “hạt 
nhân  hợp  lý”,  những  tư  tưởng  thiên  tài  về 
phép  biện  chứng  đó  chính  là  chỗ  mà  ông 
vượt xa các tiền bối của mình.
*  Phép  biện  chứng  duy  tâm  của  Hêghen  là 
một thành tựu vĩ đại của triết học cổ điển Đức.
Hêghen là nhà biện chứng duy tâm.  Ông là 
người có công trong việc phê phán tư duy siêu 
hình  và  cũng  là  người  đầu  tiên  trình  bày  toàn 
bộ  giới  tự  nhiên,  lịch  sử  và  tư  duy  dưới  dạng 
một  quá  trình.  Nghĩa  là,  trong  sự  liên  hệ,  vận 
động, biến đổi và phát triển không ngừng. 
Trong khuôn khổ hệ thống triết học duy 
tâm  của  mình,  Hêghen  không  chỉ  trình  bày 
các  phạm  trù  như:  chất,  lượng,  phủ  định, 
mâu  thuẫn  mà  ông  còn  là  người  diễn  đạt 
được các  quy luật của phép biện chứng như 
“lượng  đổi  dẫn  đến  chất  đổi  và  ngược  lại”, 
“phủ  định  của  phủ  định”  với  tư  cách  là  sự 
phát triển diễn ra theo hình “xoáy ốc” và quy 
luật mâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc của 
động lực của sự phát triển.
­ Như vậy, những vấn đề cốt lỗi nhất của phép biện 
chứng  đã  được Hêghen  đề cập một cách bao quát nhất. 
Nhưng  khi  trình  bày  các  quy  luật  của  phép  biện  chứng 
Hêghen lại cho rằng, tất cả những quy luật  đó chỉ là sản 
phẩm của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối. 
Do  đó, phép biện chứng của Hêghen là phép biện 
chứng  duy  tâm,  hệ  thống  triết  học  của  ông  là  hệ  thống 
triết học duy tâm. 
­ Mác­Ănghen  đã phê phán một cách triệt  để tính 
chất duy tâm trong PBC của Hêghen.  Đồng thời các ông 
đã  tiếp  thu,  kế  thừa,  phát  triển  những  hạt  nhân  hợp  lý 
trong phép biện chứng ấy để XD nên PBCDV và các ông 
coi  Hêghen  là  người  có  nhiều  công  lao  trong  việc  phát 
triển PBC.
+ Quan điểm về xã hội của Hêghen. 
Trong các quan điểm về xã hội, Hêghen đã 
đứng  trên  lập  trường  của  chủ  nghĩa  cải 
lương,bảo  thủ,  đề  cao  dân  tộc  Đức,  miệt  thị 
các  dân  tộc  khác,  coi  nước  Đức  là  hiện  thân 
của tinh thần “vũ trụ mới”. 
Chế  độ  nhà  nước  phổ  đương  thời  được 
Hêghen  xem  nó  như  đỉnh  cao  của  sự  phát 
triển của nhà nước và pháp luật.
Tuy  nhiên,  bên  cạnh  những  tư  tưởng  bảo  thủ 
nói  trên,  Hêghen  đã  nêu  ra  nhiều  tư  tưởng  biện 
chứng quý báu về sự phát triển của  đời sống xã hội. 
Trong  đó,  ông  đặc biệt quan tâm nghiên cứu về vấn 
đề nguồn gốc và bản chất của nhà nước. 
Hêghen tìm nguồn gốc nhà nước từ mâu thuẫn 
xã hội,  ông còn cho rằng: “nhà nước không chỉ là cơ 
quan hành pháp, mà còn là tổng thể các quy chế kỷ 
cương,  chuẩn  mực  và  mọi  lĩnh  vực  đạo  đức,  pháp 
quyền,  chính  trị,  văn  hóa  …  của  xã  hội,  nhờ  đó  mà 
xã hội được phát triển bình thường.
Tóm lại: 
Tuy  cón  có  nhiều  nhược  điểm  là  mâu 
thuẫn  giữa  phép  biện  chứng  có  tính  cách 
mạng  với  hệ  thống  duy  tâm  có  tính  chất 
bảo thủ, nhưng  triết học của Hêghen thật 
sự là một hệ thống  đồ sộ, kỳ vĩ nhất trong 
lịch  sử  trước  Mác  nói  chung  và  trong  triết 
học cổ điển Đức nói riêng.
3. Phơ­Bách (1804­1872).
3. Ph
3.1. Tóm tắt tiểu sử và tác phẩm. 
• Phơ­Bách  sinh  năm  1804  trong  một  gia  đình  luật  sư 
nổi tiếng  ở  Đức. Thời trẻ  ông theo học trường  Đại học 
Béclinh,  tham  gia  phái  Hêghen  trẻ.  Về  sau  ông  tách 
khỏi  phái  này,  phê  phán  hệ  thống  triết  học  của 
Hêghen,  và  xây  dựng  hệ  thống  triết  học  riêng  của 
mình, gọi là CNDV Phơ­Bách.
• Công lao của Phơ­Bách là  đã làm sống lại chủ nghĩa 
duy vật thế kỷ XVII­XVIII và làm phong phú một cách 
sáng tạo thế giới quan duy vật. 
Ông viết khá nhiều tác phẩm:
• Luận  văn tiến sĩ  (1828) với  đề tài: “Về lý tính 
vô hạn duy nhất và phổ quát.
• Những ý nghĩ về cái chết và sự bất tử (1830). 
Trong  đó  ông  khẳng  định:  Chỉ  có  những  hành 
động vĩ  đại của lý tính con người mới bất tử còn 
cá nhân con người thì không bất tử.
• Góp phần phê phán triết học Hêghen  (1839). 
Đây  là  tác  phẩm  giải  quyết  một  cách  duy  vật 
vấn đề cơ bản của triết học.
• Bản chất đạo thiên chúa (1841), tiếp tục 
phê phán chủ nghĩa duy tâm nói chúng và 
trực tiếp là chủ nghĩa duy tâm Hêghen.
• Những quan điểm cơ bản của triết học 
tương lai (1842) đây là lời nhắn nhủ các 
nhà triết học tương lai.
3.2.  Một số tư tưởng triết học duy vật 
3.2.  M
của Phơ­Bách.
* Quan điểm về thế giới của Phơ­Bách 

Phơ­Bách  là  người  có  công  trong  việc 
 
phát  triển  chủ  nghĩa  duy  vật.  Ông  thừa 
nhận  giới  tự  nhiên  (bao  gồm  cả  con 
người  )  tồn  tại  khách  quan.  Cơ  sở  tồn  tại 
của giới tự nhiên nằm ngay trong lòng giới 
tự  nhiên,  chứ  không  phải  giới  tự  nhiên  là 
“sự tồn tại khác” của tinh thần. 
Ông  cho  rằng,  ý  thức  của  con 
người  là  sản  phẩm  của  bộ  óc  người, 
một  dạng  vật  chất  đặc  biệt  có  khả 
năng phản ánh thế giới vật chất. 
Từ  đó  cho  phép  khẳng  định  mối 
quan hệ khắng khít giữa vật chất và  ý 
thức. 
Quan  niệm  nói  trên  đã  khắc  phục 
được  quan  điểm  nhị  nguyên  luận  về 
sự tách rời giữa tinh thần và thể xác.
Phơ­Bách  khẳng  định:  không  gian  và  thời 
gian tồn tại khách quan, không có vật chất tồn 
tại bên ngoài không gian và thời gian. 
Ông  thừa  nhận  sự  tồn  tại  khách  quan  của 
các  quy  luật  tự  nhiên,  tính  khách  quan  của 
quan hệ nhân quả, thừa nhận sự vận  động và 
phát  triển  của  giới  tự  nhiên,  diễn  ra  một  cách 
khách  quan,  trong  những  điều  kiện  nhất  định 
dẫn  tới  sự  xuất  hiện  của  đời  sống  hữu  cơ  và 
xuất hiện con người.
Quan điểm về lý luận nhận thức 
Quan 
Phơ­Bách  đứng    trên  lập  trường  duy  vật, 
ông  khẳng  định  đối  tượng  của  nhận  thức  nói 
chung  và  của  triết  học  nói  riêng  là  giới  tự 
nhiên và con người. 
Phơ­Bách  phê  phán  hệ  thống  duy  tâm 
khách quan của Hêghen coi  đối tượng của tư 
duy không có gì khác với bản chất của tư duy 
và  do  đó  mà  hệ  thống  duy  tâm  khách  quan 
không  thoát  khỏi  giới  hạn  của  tư  duy  và  vẫn 
xa lạ với hiện thực. 
Phơ­Bách  thừa  nhận  con  người  có  khả 
năng  nhận  thức  được  giới  tự  nhiên,  khả  năng 
đó  đối với mỗi người là có hạn, nhưng  đối với 
toàn bộ loài người là vô hạn. 
Phơ­Bách là người thấy  được mối quan hệ 
chặt chẽ giữa trực quan cảm tính và tư duy lý 
tính. Ông cho rằng, chúng ta đọc cuốn sách tự 
nhiên  bằng  giác  quan  nhưng  chúng  ta  không 
dùng giác quan để hiểu nó được. 
Có thể nói,  đặc  điểm của thế giới quan duy 
vật  của  Phơ­Bách  là  lòng  tin  vào  sức  mạnh 
của lý trí con người. 
Hạn  chế  trong  lý  luận  nhận  thức 
của  Phơ­Bách  là  chưa  thấy  được  vai 
trò  của  thực  tiễn,  cho  nên  chủ  nghĩa 
duy vật của Phơ­Bách về toàn bộ vẫn 
nằm  trong  khuôn  khổ  của  chủ  nghĩa 
duy vật siêu hình.
+Về chủ nghĩa duy vật nhân bản của 
+V
Phơ­Bách.

­ Phơ­Bách là người đi sâu nghiên cứu 
con  người,  ông  coi  con  người  là  đối 
tượng  cao  nhất  của  triết  học  vì  vậy  chủ 
nghĩa  duy  vật  của  ông  được  gọi  là  chủ 
nghĩa duy vật nhân bản. 
­Trong  quá  trình  đi  sâu  nghiên  cứu  con 
người  ông  cho  rằng  con  người  có  2  nguồn 
gốc: con người vừa có nguồn gốc tự nhiên vừa 
có nguồn gốc xã hội. 
Bởi gì con người là sản phẩm của quá trình 
tiến  hóa  lâu  dài  của  sinh  vật,  con  người  là 
thực thể tự nhiên. 
Đồng thời con người sống thành cộng đồng 
do đó con người có bản chất xã hội là tình yêu 
thương. 
Ông  lấy  tình  yêu  thương  nam  và  nữ  làm 
kiểu  mẫu  của  bản  chất  yêu  thương  của  con 
người.
Tuy  nhiên,  ông  đã  không  thấy  được 
phương  diện  xã  hội  của  con  người.  Con 
người  mà  ông  quan  niệm  là  con  người 
trừu  tượng,  bị  tách  khỏi  những  điều  kiện 
kinh tế­xã hội và lịch sử của con người. 
Bởi  vậy,  khi  Phơ­Bách  nghiên  cứu 
những vấn đề về đời sống xã hội, ông đã 
rơi vào quan điểm duy tâm. 
+Quan điểm về xã hội và tôn giáo.
+Quan 
­  Phơ­Bách  là  người  phê  phán  mạnh  mẽ  tôn  giáo,  theo 
ông tôn giáo là sản phẩm của tâm lý cá nhân và bản chất con 
người  dưới  hình  thức thần  bí,  tôn  giáo  thể hiện sự  mềm yếu, 
bất lực của con người đối với các vấn đề về tự nhiên và xã hội. 
­ Những quan niệm nói trên của Phơ­Bách về cơ bản  đã 
vạch  ra  được  nguồn  gốc  tâm  lý  con  người  đối  với  tôn  giáo, 
đồng  thời  cho  thấy  nội  dung  nhân  bản  trong  các  quan  niệm 
thần thánh. 
Tuy  nhiên  do  chưa  hiểu  được  vai  trò  của  thực  tiển,  nên 
ông chưa đề cập đến những cơ sở kinh tế ­ xã hội của vấn đề. 
Đây cũng  là hạn  chế chung của các nhà tư tưởng trước Mác 
trong việc lý giải nguồn gốc và bản chất tôn giáo. 
­ Mặt khác, tuy đòi hỏi xóa bỏ tôn giáo cũ, nhưng 
ông  đã  tuyên  bố  một  thứ  tôn  giáo  mới  “  không  có 
chúa”,  tôn  giáo  tình  yêu.  Vì  theo  ông  chỉ  có  tín 
ngưỡng,  niềm  tin  mới  an  ủi  được  chúng  ta  khỏi 
những nỗi bất hạnh trong cuộc đời con người.
­ Phơ­Bách là nhà duy vật trong tự nhiên, nhưng 
ông  lại  là  nhà  duy  tâm  trong  những  vấn  đề  xã  hội. 
Ông khẳng  định rằng, những thời kỳ lịch sử của loài 
người sở dĩ khác nhau chỉ là do những thay  đổi các 
hình thức tôn giáo.
 Như  vậy,  ông  đã  rơi  vào  thuyết  duy  tâm  và 
không  tưởng  trong  các  quan  niệm  về  xã  hội.  Ông 
không thấy  được vai trò của thực tiễn, của sản xuất 
vật chất quyết định sự vận động và phát triển của xã 
hội loài người.
Tóm lại: 
Tuy còn những hạn chế nhất định như 
đã  phân  tích  trên,  nhưng  với  những 
thành  tựu  to  lớn  và  toàn  diện  của 
mình,  chủ  nghĩa  duy  vật  của  Phơ­
Bách  cùng  với  phép  biện  chứng  của 
Hêghen  được coi là một nguồn gốc lý 
luận  trực  tiếp  cho  sự  ra  đời  của  triết 
học Mác.
 CHƯƠNG VIII 
SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA 
TRIẾT HỌC MÁC­LÊNIN
I. Những tiền đề xuất hiện triết học Mác
I. Nh

Triết  học  Mác  ra  đời  là  sản  phẩm  tất  yếu 
của thời đại, dựa trên cơ sở những điều kiện 
lịch  sử­xã  hội  nhất  định  cùng  với    những 
tiền đề lý luận và khoa học sau đây.
1.Tiền đề kinh tế ­ xã hội của triết 
1.Ti
học Mác
 




Ph. Ăngghen(1820-1895)
C.Mác (1818-1883)
­  Triết  học  Mác  ra  đời  vào  những 
năm 40 của thế kỷ XIX, do Karx Marx 
(1818­1883) và Engels (1820 – 1895) 
xây dựng nên.
­  Vào  thời  gian  này  ở  các  nước, 
Anh, Pháp,  Đức, chủ nghĩa tư bản  đã 
phát  triển  mạnh  mẽ  trên  cơ  sở  nền 
sản  xuất  bằng  cơ  giới  do  cuộc  cách 
mạng công nghệ tạo ra.
­  Sự  phát  triển  của  chủ  nghĩa  tư  bản 
cũng làm lộ rõ thêm mâu thuẫn cơ bản vốn 
có của nó,  đó là mâu thuẫn giữa một bên là 
tính  chất  xã  hội  hóa  và  trình  độ  phát  triển 
ngày  càng  cao  của    lực  lượng  sản  xuất 
(LLSX)  với  một  bên  là  quan  hệ  sản  xuất 
(QHSX)Tư  Bản  chủ  nghĩa  (  TBCN  ).Mâu 
thuẫn này  được biểu hiện về mặt xã hội,  đó 
là  mâu  thuẫn  giữa  giai  cấp  vô  sản  (GCVS) 
và giai cấp tư sản (GCTS).
­  Đặc  biệt  khi  giai  cấp  tư  sản  đã  xác  lập  được  sự 
thống trị chính trị của mình thì họ trở thành lực lượng 
bảo thủ làm cho mâu thuẫn giai cấp giữa GCVS và 
GCTS ngày càng gay gắt hơn. Do vậy  ở thời kỳ này 
phong  trào  đấu  tranh  của  giai  cấp  công  nhân  phát 
triển  mạnh  mẽ  và  đã  nổ  ra  những  cuộc  khởi  nghĩa 
như:
+Cuộc khởi nghĩa của công nhân ở Li­ông (Pháp) nổ 
ra  năm  (1831­  1834).Cuộc  nổi  dậy  của  công  nhân 
TP Pari năm 1832.
+Cuộc  khởi  nghĩa  của  thợ  dệt  Xi­Lê­Di  (Đức) 
năm1844.
+Ở  Anh  đã  ra  đời  phong  trào  quần  chúng  đầu  tiên 
của  công  nhân  và  được  gọi  là  “Phong  trào  hiến 
chương” năm (1830­1840).
­ Như vậy, trên vũ  đài lịch sử  đã suất hiện một lực lượng chính 
trị xã hội mới mẻ mặc dù còn mang tính tự phát, nhưng ngày 
càng  mạnh  mẽ,  trở  thành  nhân  tố  quan  trọng  của  đời  sống 
chính trị ­ xã hội, đó là giai cấp vô sản cách mạng.
­  Trong  bối  cảnh  lịch  sử  ấy,  các  học  thuyết  xã  hội  chủ  nghĩa 
không  tưởng  phê  phán  của  Xanh­Xi­Mông,  Phu­ri­ê,  Ô­Oen 
lại  không  đáp  ứng  được  yêu  cầu  của  phong  trào  vô  sản, 
không  thể  hiện  được  những  lợi  ích  căn  bản  của  giai  cấp  vô 
sản  trong  sự  nghiệp  giải  phóngnhân  dân  lao  động  khỏi  chế 
độ Tư bản chủ nghĩa.
­ Phong trào  đấu tranh của g/c vô sản còn mang tính tự phát 
và  thiếu  tổ  chức,  do  đó  cần  phải  có  một  lý  luận  tiên  phong 
hướng dẫn và giác ngộ cho g/c công nhân về vai trò sứ mệnh 
lịch sử của mình.
­  Trên  cơ  sở  nghiên  cứu  hệ  thống  lý  luận  trước 
kia,  và  trực  tiếp  tham  gia  vào  phong  trào  đấu 
tranh  của  g/c  công  nhân,  Mác  và  Ăng  Ghen 
đã  khái  quát  kinh  nghiệm  đấu  tranh  của  g/c 
công nhân, sáng tạo ra lý luận cách mạng của 
phong trào vô sản; dẫn  đến sự ra  đời của triết 
học Mác.
­  Có  thể  nói  g/c  vô  sản  đã  tìm  thấy  ở  triết  học 
Mác  vũ  khí  tinh  thần  của  mình,  cũng  giống 
như triết học Mác  đã tìm thấy giai cấp vô sản 
như là vũ khí vật chất của mình.
2.Tiền đề lý luận của triết học Mác 
2.Ti
­  Triết  học  Mác  ra  đời  do  nhu  cầu  của  sự  khái 
quát tri thức nhân loại.
­ Với tư cách là một khoa học, triết học Mác đã kế 
thừa  tất  cả  những  tinh  hoa  di  sản  lý  luận  quý 
báu  mà  loài  người  đã  đạt  được.  Đặc  biệt  Mác­
Ăng  Ghen  đã  kế  thừa  chủ  nghĩa  duy  vật 
(CNDV) của Phơ­Bách và phép biện chứng của 
Hê­Ghen trong triết học cổ điển Đức.
KẾ THỪA TRIÊT HOC CỦA HÊ-GHEN VÀ PHƠ- BÁCH
́ ̣




PHƠ -BÁCH (1804- 1872)
HÊ GHEN (1770- 1831)
­  Công  lao  của  Hê­Ghen  là  ở  chỗ  ông  là 
người  đã  phê  phán  mạnh  mẽ  phương  pháp  tư 
duy siêu hình.
  Ông  là  người  đầu  tiên  đã  diễn  đạt  được 
những quy luật của phép biện chứng với tư cách 
là hệ thống lý luận. 
Nghĩa  là  ông  coi  toàn  bộ  giới  tự  nhiên,  lịch 
sử và tinh thần nằm trong quá trình liên hệ, vận 
động,  phát  triển  tuân  theo  quy  luật.  (Quy  luật 
mâu  thuẫn,  QL  lượng–chất,  QL  phủ  định  của 
phủ định).
­  Nhưng  khi  trình  bày  các  quy  luật  của  phép 
biện chứng, Hê­Ghen lại cho rằng: các quy luật  ấy 
cũng chỉ là sản phẩm của sự sáng tạo của  ý niệm 
tuyệt  đối.  Do  đó  phép  biện  chứng  của  Hê­Ghen  là 
phép  biện  chứng  duy  tâm.  Hệ  thống  triết  học  của 
Hê­Ghen là hệ thống triết học duy tâm.
­ Vì vậy  để xây dựng nên phép biện chứng duy 
vật Mác,Ăng­Ghen  đã  phê  phán tính  chất duy tâm 
trong  phép  biện  chứng  của  Hê­Ghen,  các  ông  đã 
kế thừa, tiếp thu những mặt tiến bộ trong phép biện 
chứng ấy để hình thành phép biện chứng duy vật.
­  Như  vậy:  Phép  biện  chứng  của  Mác  không 
những  là  hình  thức  phát  triển  cao  nhất  của  phép 
biện chứng mà còn đối lập với phép biện chứng của 
Hê­Ghen.
+ Chủ nghĩa duy vật của Phơ­Bách đã ảnh 
hưởng  mạnh  mẽ  đến  sự  hình  thành  thế  giới 
quan  khoa  học  của  Mác,  Ăng­Ghen.  ­>Các 
ông  đã  đánh  giá  cao  Phơ­Bách  trong  việc 
phê phán tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm.
Đặc biệt là khi  đấu tranh chống chủ nghĩa 
duy  tâm,  Phơ­Bách  đã  khôi  phục  lại  vị  trí 
xứng  đáng  cho  triết  học  duy  vật.  Nhưng  chủ 
nghĩa  duy  vật  của  Phơ­Bách  vẫn  mang  tính 
trực quan siêu hình và duy tâm về xã hội.
Vì  vậy,  để  xây  dựng  hệ  thống  triết  học  duy  vật 
biện  chứng,  Mác,  Ăng­Ghen  đã  trực  tiếp  kế  thừa 
những quan  điểm duy vật tiến bộ của triết học Phơ­
Bách;  đồng  thời  các  ông  cũng  khắc  phục  tính  trực 
quan, siêu hình và duy tâm về lịch sử của nó, thay 
vào  đó những kết luận có tính khoa học trên cơ sở 
khái  quát  mhững  thành  tựu  của  khoa  học  đương 
thời.
Như vậy, Triết học cổ điển Đức trước hết là phép 
biện chứng của Hê­Ghen và chủ nghĩa duy vật của 
Phơ­Bách  là  nguồn  gốc  lý  luận  trực  tiếp  cho  sự  ra 
đời của triết học Mác.
* Ngoài sự chín muồi của điều kiện kinh tế ­ xã 
hội,  của  tiền  đề  lý  luận;  để  triết  học  duy  vật  biện 
chứng ra  đời còn phải nói  đến vai trò của Mác,  Ăng­
Ghen,  những  vĩ  nhân  có  bộ  óc  thiên  tài.  Các  ông 
vừa là những nhà khoa học có tri thức khoa học sâu 
sắc,  có  lý  tưởng  cách  mạng  nồng  cháy  mà  còn  là 
những người có tài năng về tổ chức thực tiễn.
­  Chính  nhờ  tham  gia  trực  tiếp  vào  vào  hoạt 
động thực tiễn, tổ chức và lãnh  đạo phong trào  đấu 
tranh của giai cấp công nhân; Mác, Ăng­Ghen đã có 
bước chuyển  biến  quyết  định  từ chủ  nghĩa duy tâm 
triết học sang chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Từ  lập  trường  dân  chủ  cách  mạng  sang  lập 
trường cộng sản chủ nghĩa. Đó cũng là điều kiện để 
triết học Mác ra đời.
3.Tiền đề khoa học tự nhiên của triết 
3.Ti
học Mác
­ Để triết học Mác có thể ra đời được ngoài những điều 
kiện kinh tế, xã hội còn phải có những tiền  đề về khoa 
học  tự  nhiên  cho  phép  khắc  phục  không  những  quan 
điểm duy tâm  mà cả quan  điểm siêu hình về thế giới 
để hình thành thế giới quan duy vật biện chứng.
­ Thời kỳ này có ba phát minh vĩ đại, đóng vai trò quan 
trọng cho sự ra  đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng. 
Ba phát minh đó là:
* Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng.
* Học thuyết về cấu tạo tế bào của cơ thể sống.
* Thuyết Tiến hóa của Đác­Uyn.
+ Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng: Do nhà vật 
 


lý học người Đức là RôBéc May­e phát minh năm (1842–1845). 
Sự  phát  minh  ra  định  luật  bảo  toàn  và  chuyển  hóa  năng 
lượng  đã chứng minh rằng: các hình thức vận  động khác nhau 
của vật chất không tách rời nhau, mà giữa chúng có sự liên hệ, 
chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất định. 
Nghĩa là không có sự mất  đi của năng lượng, mà chỉ có sự 
chuyển  biến  không  ngừng  của  năng  lượng  từ  dạng  này  sang 
dạng  khác.    Định  luật  này  là  cơ  sở  khoa  học  cho  quan  điểm 
biện chứng về thế giới.
+ Thuyết tế bào: 
            



Chủ yếu do hai nhà bác học người Đức là: Slây­
Đen  và  Sa­Van­Nơ  xây  dựng  năm  (1838–1839),  đã 
xác  định rằng: cơ thể thực vật và  động vật  đều do tế 
bào tạo thành. 
Học  thuyết  này  chỉ  rõ  sự  thống  nhất  bên  trong 
của sinh vật, chỉ ra con đường phát triển, tiến hóa phổ 
biến của cơ thể sống. 
Vì  vậy,  nó  góp  phần  quan  trọng  vào  sự  khẳng 
định quan niệm duy vật biện chứng về tính thống nhất 
của  sự  sống  trong  những  biểu  hiện  phong  phú,  đa 
dạng, muôn vẻ của nó.
+ Thuyết Tiến hóa:  
Do  Đác­Uyn, nhà bác học người Anh xây dựng 
vào năm 1859.
Thuyết này  đã chứng minh một cách khoa học 
rằng: thế giới thực vật và  động vật là kết quả tất yếu 
của một quá trình tiến hóa lâu dài, trong  đó các sinh 
vật  phức  tạp  bậc  cao  đã  hình  thành  từ  các  sinh  vật 
giản  đơn,  bậc  thấp;  không  phải  theo  ý  định  của 
thượng  đế  mà  là  do  áp  lực  của  quy  luật  chọn  lọc  tự 
nhiên. 
Học  thuyết  này  cũng  góp  phần  khẳng  định 
quan điểm DVBC về thế giới.
́
ĐAC-UYN
VÀ HOC THUYÊT VỀ
̣ ́
SỰ TIÊN HOA CUA
́ ́ ̉
́ ̀
CAC LOAI 1859
­  Học  thuyết  nói  trên  không  những  khẳng  định 
mối  liên  hệ  vận  động,  phát  triển  của  các  dạng  vật 
chất  sống  mà  còn  đập  tan  luận  điểm  cho  rằng: 
chúa sáng tạo ra muôn loài, thượng  đế sáng tạo ra 
con người.
Như  vậy:  các  phát  minh  khoa  học  nói  trên  đã 
đặt cơ sở vững chắc cho quan  điểm biện chứng về 
thế  giới.  Đồng  thời  sự  phát  triển  của  khoa  học  tự 
nhiên cũng  đòi hỏi phải có những khái quát mới về 
lý  luận  triết  học,  phải  xây  dựng  phép  biện  chứng 
duy vật với tính cách là một khoa học thật sự, giúp 
cho khoa học tự nhiên phát triển.
• Tóm lại: 
Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác nói chung và triết 
học Mác nói riêng là một tất yếu khách quan, nó 
bắt nguồn  từ  những  nguyên  nhân  kinh  tế, xã hội 
và sự phát triển của tư tưởng nhân loại trước đó. 
Khái  quát  kinh  nghiệm  của  phong  trào  công 
nhân và những thành tựu của khoa học tự nhiên, 
kế  thừa  có  phê  phán  những  tư  tưởng  triết  học 
trước  đó,  Mác  và  Ăng­Ghen  đã  thực  hiện  bước 
ngoặt  cách  mạng  trong  triết  học,  dẫn  đến  sự  ra 
đời của triết học Mác
II.GIAI ĐOẠN LÊNIN PHÁT TRIỂN 
II.GIAI 
TRIẾT HỌC MÁC




V.I. Lênin
(22/4/1870 - 21/l/1924)
+  Mác,  Ăng­Ghen  xây  dựng  học  thuyết 
của  mình  trong  thời  kỳ  CNTB  đang  phát 
triển.
Dựa  trên  cơ  sở  phương  pháp  luận  của 
chủ  nghĩa  DVBC,  các  ông  đã  có  những 
tiên  đoán  khoa  học  rất  cơ  bản  về  một  xã 
hội mới. 
 Song  là  những  nhà  khoa  học  Mác, 
Ăng­Ghen  không  có  tham  vọng  phác  họa 
tất cả những gì chưa có tiền đề lịch sử.
+ Sau khi Mác,  Ăng­Ghen mất, thời  đại có 
nhiều biến đổi lớn lao, đặc biệt có hai biến đổi:
­  Chủ  nghĩa  Tư  Bản  đã  phát  triển  thành  chủ 
nghĩa Đế quốc, dẫn đến những mâu thuẫn thời 
đại nảy sinh gay gắt.
­  Đây là thời kỳ khoa học tự nhiên có sự phát 
triển  rất  mạnh  mẽ,  được  gọi  là  thời  kỳ  cách 
mạng  trong  khoa  học  tự  nhiên  (Tìm  ra  tia  X, 
Cấu trúc nguyên tử,  Điện tử, Phát hiện ra tính 
phóng xạ của nguyên tố)
­  Lợi  dụng  sự  thay  đổi  của  thời  đại  và  sự  phát 
triển của khoa học tự nhiên,  các  thế lực thù  địch tập 
trung công kích vào học thuyết Mác nói chung và triết 
học Mác nói riêng. Họ  đòi xét lại học thuyết Mác, cho 
rằng học thuyết Mác đã lỗi thời.
­ Trước tình hình  đó, Lênin  đã tập trung nghiên 
cứu,  bảo  vệ  triết  học  Mác,  và  trong  quá  trình  đó, 
Lênin  đã phát triển toàn diện triết học Mác. ­> Vì vậy 
triết học Mác được gọi là triết học Mác­ Lênin, và chủ 
nghĩa Mác cũng được gọi là chủ nghĩa Mác – Lênin.
Ngày  nay  những  tư  tưởng  của  Lênin 
vẫn  đang là hành trang của chúng ta 
cùng với chủ nghĩa Mác, Tư tưởng Hồ 
Chí  Minh  là  cơ  sở  lý  luận  cho  sự 
nghiệp đổi mới ở nước ta
Chuyên đề
Chuy
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA 
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA 
TRIẾT HỌC MÁC­LÊNIN 
I. Phạm trù thực tiễn và phạm trù lý luận
I. Ph
1. Phạm trù thực tiễn 
a. Quan điểm triết học trước Mác về 
thực tiễn.
Các nhà duy vật trước Mác  đã có công 
lớn trong việc phát triển thế giới quan duy 
vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm 
tôn giáo. 
Tuy  nhiên  lý  luận  của  họ  còn  nhiều 
khuyết  điểm,  trong  đó  khuyết  điểm  lớn 
nhất  là  chưa  thấy  được  vai  trò  của  thực 
tiễn đối với nhận thức.
Phơ Bách (Feuerbach) là nhà triết học duy 
vật  lớn  nhất  trong  triết  học  trước  Mác;  người 
đã  có  công  tổng  kết  và  xây  dựng  tương  đối 
hoàn chỉnh chủ nghĩa duy vật .
Vì  vậy,  chủ  nghĩa  duy  vật  của  ông  trở 
thành nguồn gốc lý luận cho sự ra đời của triết 
học  Mác.  Nhưng  Phơ  Bách  cũng  chưa  thấy 
được  vai  trò  của  thực  tiễn.  Do  đó,  chủ  nghĩa 
duy vật của ông vẫn là chủ nghĩa duy vật siêu 
hình và duy tâm về xã hội.
     +  Các nhà triết học duy tâm, tuy  đã thấy  được 
mặt năng  động của con người, nhưng lại phát 
triển một cách trừu tựơng , thái quá vai trò của 
ý thức tư tưởng. 
Vì  vậy  họ  coi  thực  tiễn  như  là  hoạt  động 
tinh  thần  chứ  không  phải  là  hoạt  động  vật 
chất.(Hegel)  coi  hoạt  động  thực  tiễn  chỉ  là 
hoạt  động  tinh  thần  chứ  không  phải  là  hoạt 
động vật chất .
 +  Khắc  phục  những  hạn  chế  nói  trên  của 
CNDV  và  CNDT  trong  lịch  sử,  triết  học  Mác­
Lênin đưa ra quan niệm đúng đắn về thực tiễn.
b. Quan điểm triết học Mác­Lênin 
về thực tiễn.
  Theo  quan  điểm  của  chủ  nghĩa 
Mác­Lênin:  Thực  tiễn  là  toàn  bộ  hoạt 
động vật chất có mục  đích mang tính 
lịch sử­xã hội của con người, nhằm cải 
tạo  tự  nhiên,  xã  hội  và  bản  thân  con 
người.
Khác  với  hoạt  động  tư  duy  (hoạt  động 
tinh  thần),  hoạt  động  thực  tiễn  là  hoạt  động 
vật chất, nghĩa là trong quá trình hoạt  động, 
con người phải sử dụng các công cụ, phương 
tiện vật chất tác  động vào các  đối tượng của 
tự  nhiên  nhằm  tạo  ra  của  cải  vật  chất;  tác 
động vào xã hội làm biến đổi xã hội. 
Những hoạt  động như vậy  được thực hiện 
một  cách  tất  yếu  khách  quan  (nghĩa  là 
khômg có hoạt động này thì loài người không 
thể tồn tại).
Hoạt  động thực tiễn không phải hoạt  động 
của một  vài cá nhân riêng lẻ mà là hoạt  động 
của  đông  đảo    các  tập  đoàn  người  trong  xã 
hội.  hoạt  động  ấy  bao  giờ  cũng  diễn  ra  trong 
mối  quan  hệ  xã  hội  nhất  định,  xã  hội  càng 
phát  triển  thì  hoạt  động  thực tiễn  càng  phong 
phú.
Như  vậy,  bằng  hoạt  động  thực  tiễn,  con 
người làm biến  đổi bản thân sự vật trong hiện 
thực.  Từ  đó  làm  cơ  sở  để  biến  đổi  hình  ảnh 
của  sự  vật  trong nhận thức. Do  đó hoạt  động 
thực tiễn là hoạt  động có tính năng  động sáng 
tạo.
Hoạt  động  thực  tiễn  rất  đa  dạng,  song  có  ba 
hình thức hoạt động cơ bản là :
­ Lao động sản xuất nhằm tạo ra của cải vật chất 
­ Hoạt động cải tạo xã hội thông qua đấu tranh giai 
cấp và cách mạng xã hội làm biến đổi xã hội.
­  Thực nghiệm khoa học là cơ sở trực tiếp cho sự 
phát triển của nhận thức khoa học.
Trong  ba  hình  thức  nói  trên  thì  lao  động  sản 
 
xuất là hình thức quan trọng nhất vì nó là nhân tố 
quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội.
2. Phạm trù nhận thức và lý luận.
2. Ph
• a.Nhận thức là gì?.
• Theo quan điểm duy vật biện chứng thì nhận thức là quá trình 
con người phản ánh một cách biện chứng thế giới khách quan 
trên cơ sở thực tiễn lịch sử xã hội.
• Hiện thực khách quan                            B ộ óc người
•           Quá trình phản ánh                                   Tri 
thức. 
•                       
•    
   Sáng tạo 
•           A                                    A’
•                              
• (Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào 
trong bộ óc con người một cách sáng tao trên cơ sở thực tiễn).
+  Quá  trình  nhận  thức  diễn  ra  không  phải  giản 
đơn, thụ  động, máy móc mà là quá trình phản 
ánh  hiện  thực  khách  quan  vào  bộ  óc  con 
người  một  cách  năng  động  sáng  tạo,  biện 
chứng.    Đó là quá trình  đi từ không biết  đến 
biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ nông đến sâu, 
từ  không  đầy  đủ  và  không  chính  xác  trở   
thành đầy đủ và chính xác hơn.
+  Quá  trình  nhận  thức  của  con  người  và  loài 
người nói chung trải qua hai giai  đoạn là nhận 
thức cảm tính và nhận thức lý tính (còn gọi là 
trực quan sinh động và tư duy trừu tượng). 
­ Trực  quan  sinh  động  là  giai  đoạn  đầu  tiên  của  quá 
trình nhận thức, giai  đoạn này phản  ánh trực tiếp, cụ 
thể  sinh  động  hiện  thực  khách  quan  vào  các  giác 
quan và được thực hiên bằng các hình thức cơ bản là: 
cảm giác, tri giác, biểu tượng.
­ Tư duy trừu tượng là giai đọan cao của quá trình nhận 
thức.  Giai  đoạn  này  dựa  trên  những  tài  liệu  của  giai 
đoạn trực quan sinh  động cung cấp, bộ  óc con người 
tiến  hành  tổng  hợp,  khái  quát  hiện  thực.  Do  đó,  giai 
đoạn  này  phản  ánh  khái  quát  sự  vật  và  phản  ánh 
được mối liên hệ bên trong bản chất của sự vật. Giai 
đoạn này bao gồm các hình thức là: khái niệm, phán 
đoán, suy luận.
Sự phát triển của nhận thức loài người tất yếu dẫn 
đến sự xuất hiện lý luận.
b. lý luận là gì? 
b. l
Chủ nghĩa Mác­Lênin cho rằng lý luận là sản phẩm 
của sự phát triển cao của nhận thức,  đồng thời thể 
hiện như là trình độ cao của nhận thức.
Theo  Hồ  Chí  Minh,  lý  luận  là  sự  tổng  kết  những 
kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri 
thức  về  tự  nhiên  và  xã  hội  tích  lũy  lại  trong  quá   
trình lịch sử.  
Xét  về  bản  chất,  lý  luận  là  một  hệ  thống  những  tri 
thức  được  khái  quát  từ  thực  tiễn,  phản  ánh  những 
mối quan hệ bản chất, những tính qui luật của hiện 
thực khách quan.
• Lý luậncó những cấp  độ khác nhau tùy phạm vi 
phản  ánh  và  vai  trò  phương  pháp  luận  của 
nó.Có  thể  phân  chia  lý  luận  ngành  và  lý  luận 
triết học.
• Lý  luận  ngành  là  lý  luận  khái  quát  những  quy 
luật hình thành và phát triển của ngành.Nó là cơ 
sở  để  sáng  tạo  tri  thức  cũng  như  phương  pháp 
luận  cho  hoạt  động  của  ngành  đó.Như  lý  luận 
văn học, lý luận nghệ thuật.
• Lý  luận  triết  học  là  hệ  thống  những  quan  niệm 
chung  nhất  về  thế  giới  và  con  người,  là  thế  giới 
quan  và  phương  pháp  luận  cho  nhận  thức  và 
hoạt động thực tiễn của con người.
II. Mối quan hệ biện chứng giữa 
II. M
lý luận và thực tiễn. 
Chủ nghĩa Mác­Lênin cho rằng, giữa lý luận và thực 
tiễn  có  mối  quan  hệ  biện  chứng  với  nhau,  tác  động 
qua  lại  lẫn  nhau,  thống  nhất  với  nhau  trong  nhận 
thức cũng như trong hoạt  động thực tiễn. Trong mối 
quan  hệ  nói  trên  thực  tiễn  giữ  vai  trò  quyết  định  đối 
với lý luận.
     1. Thực  tiễn là cơ sở, là động lực , là mục đích, là 
tiêu chuẩn kiểm tra đối với nhận thức nói chung trong 
đó có lý luận; Lý luận hình thành phát triển phải xuất 
phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
    *Thực tiễn là cơ sở của lý luận   
        + Chủ nghĩa Mác­Lênin  cho rằng, con người quan hệ với 
thế  giới  không  phải  bắt  đầu  bằng  lý  luận  mà  bắt  đầu  bằng   
hoạt động thực tiễn .
Trên cơ sở hoạt  động thực tiễn tác  động vào giới tự nhiên tạo 
ra của cải vật chất, dần dần con người hiểu được thế giới xung 
quanh.  Quá  trình  hoạt  động  thực  tiễn  lâu  dài  hình  thành  ở 
con người những kinh nghiệm trong sản xuất và  đấu tranh xã 
hội. 
         +  Đến một lúc nào  đó con người tổng kết khái quát những 
kinh  nghiệm  hoạt  động  thực  tiễn  dẫn  đến  sự  ra  đời  của  các 
khoa học, của lý luận.
Vì  vậy,  có  thể  nói  thực  tiễn  đã  cung  cấp  những  tài  liệu  cho 
nhận thực cho lý luận,  không có thực tiễn thì không có nhận 
thức, không có lý luận.
+    Ăng­Ghen  cho  rằng,  ngay  từ  đầu  sự  phát  sinh 
phát triển của các ngành khoa học do thực tiễn qui 
định    Lịch sử các khoa học  đã chứng minh rằng, 
các khoa học  đều có nguồn gốc từ hoạt  động thực 
tiễn. 
­  Lịch  sử  Toán  học  đã  chứng  minh  rằng  Toán 
học  cũng  có  nguồn  gốc  từ  thực  tiễn  đo  đạc  ruộng 
đất nhiều  lần  của  nhân  dân  lao  động từ  thời kỳ cổ 
đại. 
­  Triết  học  Mác  ra  đời  cũng  có  nguuồn  gốc  từ 
thực tiễn  đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân 
từ đầu thế kỷ xix đòi hỏi phải có lý luận soi đường. 
+ Vì vậy chủ nghĩa Mác­Lênin cho rằng , thực 
tiễn là cơ sở của nhận thức lý luận.
*  Thực tiễn là  động lực thúc  đẩy lý luận 
phát triển. 
       + Nghĩa là do nhu cầu của thực tiễn  đòi hỏi 
cần phải có những tri thức mới  để khái quát , 
tổng  kết  bổ  sung  kinh  nghiệm,  phát  triển  lý 
luận  khoa  học.  Quá  trình  đó  thúc  đẩy  các 
khoa học nối tiếp nhau ra đời và phát triển.
   +Chính  thực  tiễn  đã  đề    ra  nhu  cầu,  nhiệm 
vụ, phương hứơng cho nhận thức lý luận, thực 
tiễn là động lực thúc đẩy lý luận phát triển.
+  Thực  tiễn  công  cuộc  đổi  mới  ở  nước  ta 
đã  đặt  ra  nhiều  vấn  đề  mới  mẻ,  phức  tạp 
đòi hỏi lý luận phải  đi sâu nghiên cứu:  Đó 
là  những  vấn  đề  lý  luận  về  chủ  nghĩa  xã 
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở 
nước  ta.  Về  phát  triển  kinh  tế  thị  trường 
định  hướng  xã  hội  chủ  nghĩa  và  vai  trò 
lãnh  đạo  của  Đảng,  xây  dựng  nhà  nước 
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ....
* Thực tiễn là mục đích của lý luận:

­  Lý  luận  khoa  học  không  có  mục  đích  tự  thân,    lý 
luận  khoa  học  ra  đời  chính  vì  chúng  cần  thiết  cho  hoạt 
động thực tiễn của con người Nhận thức lý luận sau khi 
ra đời phải quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn chỉ đạo 
hoạt  động thực tiễn, phải biến thành hoạt  động thực tiễn 
của quần chúng.
­  Lý  luận  khoa  học  chỉ  có  ý  nghĩa  thực  sự  khi  được 
vận dụng vào thực tiễn, làm biến đổi thực tiễn. 
Như vậy, thực tiễn là mục  đích của nhận thức, của lý 
luận.  Đây  chính  là  điểm  khác  nhau  giữa  lý  luận  cách 
mạng của Mác và lý luận trước đây.
Mác  cho  rằng  :  Các  nhà  triết  học  trước  kia  chỉ  giải 
thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là 
cải tạo thế giới.
* Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
         Nghĩa là chỉ có qua thực tiễn kiểm nghiệm mới xác 
nhận  được  tri  thức  đó  là  đúng  hay  sai,  tri  thức  ấy  có 
phải là chân lý hay không.
Vì vậy Mác cho rằng : Vấn đề tìm hiểu xem tư duy, 
của  con  người  có  thể  đạt  tới  chân  lý  khách  quan  hay 
không  không  phải  vấn  đề  lý  luận  mà  là  một  vấn  đề 
thực  tiễn    .  (Thực  tiễn  20  năm  đổi  mới  vừa  qua  cho 
phép chúng ta khẳng  định  đường lối của  Đảng  ở nước 
ta là  đúng hay sai, có phù hợp với thực tiễn  đất nước 
hay  không  ).  Đồng  thời  qua  thực  tiễn  kiểm  nghiệm, 
thực  tiễn  lại  đặt  ra  những  vấn  đề  mới  làm  cho  nhận 
thức không ngừng được bổ sung phát triển.
lại lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp 
tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn.  


+  Chủ  nghĩa  Mác­Lênin  cho  rằng  ,  việc  coi trọng  thực 
tiễn không có nghĩa là coi nhẹ lý luận, hạ thấp vai trò 
của  lý  luận.  Lý  luận  tuy  là  kết  quả  của  quá  trình 
nhận thức và hoạt  động thực tiễn, nhưng khi  đã hình 
thành  ,lý  luận  đóng  vai  trò  là  kim  chỉ  nam,  định 
hướng cho hoạt  động thực tiễn , giúp cho hoạt  động 
thực tiễn có kết quả.
    +Lý luận còn dự báo  được khả năng phát triển cũng 
như  các  mối  quan  hệ  của  thực  tiễn,dự  báo  được 
những  hạn  chế,  những  thất  bại  có  thể  có  trong  quá 
trình hoạt động thực tiễn.
  
+ Lý luận còn có vai trò giác ngộ mục tiêu lý 
tưởng,  liên  kết  các  cá  nhân  thành  cộng  tạo  thành 
sức  mạnh  to  lớn  của  quần  chúng  trong  cải  tạo  tự 
nhiên và xã hội.
+  Thực  chất  vai  trò  của  lý  luận  đối  với  thực 
tiễn là ở chỗ nó đem lại cho thực tiễn những tri thức 
đúng  đắn về bản chất qui luật của sự vật, trên cơ 
sở  đó  giúp  con  người  xác  định  được  mục  đích  , 
phương hướng ,giải pháp trong hoạt  động thực tiễn 
.  thông  qua  tổ  chức  thực  hiện  trong  thực  tiễn  con 
người làm biến đổi thế giới khách quan.
   Như vậy vai trò của lý luận  đối với thực tiễn 
là  ở chỗ nó giúp cho con người trở nên chủ  động, 
tự giác , hạn chế được tính tự phát trong hoạt động 
thực tiễn.
Vì vậy,  đánh giá vai trò và  ý nghĩa to lớn của lý luận  đối 
với thực tiễn lê nin viết : không có lý luận cách mạng thì không 
thể  có  phong  trào  cách  mạng,  chỉ  đảng  nào  có  một  lý  luận 
tiên  phong  hướng  dẫn  thì  mới  có  khả  năng  làm  tròn  vai  trò 
chiến sĩ tiên phong.
Như vậy lý luận và thực tiễn tuy có vai trò vị trí khác nhau 
nhưng  giữa  chúng  có  mối  quan  hệ  chặt  chẽ  thống  nhất  với 
nhau trong quá trình nhận thức cũng như trong hoạt động thực 
tiễn.
Bởi  vì  :  lý  luận  mà  không  gắn  với  thực  tiễn  thì  lý  luận 
không có mục  đích, không có sức mạnh, không cải tạo  được 
hiện thực. Ngược lại thực tiễn mà không có lý luận chỉ  đạo thì 
hoạt  động không nắm  được quy luật, hoạt  động sẽ mang tính 
tự phát mù quáng.
Vì  vậy  ,  chủ  nghĩa  Mác­  lê  nin  khẳng  định:  thống  nhất 
giữa  lý  luận  và  thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ 
nghĩa Mác­ lê nin 
+  Nói  về  tính  thống  nhất  giữa  lý  luận  và 
thực tiễn HỒ CHÍ MINH  đã  viết : thống  nhất 
giữa  lý  luận  và  thực  tiễn  là  một  nguyên  tắc 
căn bản của chủ nghĩa Mác­lê nin . Thực tiễn 
không  có  lý  luận  hướng  dẫn  thì  thành  thực 
tiễn mù quáng. lý luận mà không liên hệ với 
thực tiễn là lý luận suông.
( Hồ Chí Minh : toàn tập, nhà xuất bản, st Hà 
Nội 1987, tập 7,tr 788).
III.  Ý  NGHĨA  PHƯƠNG  PHÁP  LUẬN  CỦA  NGUYÊN 
TẮC  THỐNG  NHẤT  GIỮA  LÝ  LUẬN  VÀ  THỰC 
TiỄN TRONG GIAI  ĐOẠN CÁCH MẠNG HIỆN NAY 
Ở NƯỚC TA.
      
        1.  Lý  luận  phải  luôn  bám  sát  thực  tiễn, 
phản  ánh  được yêu cầu của thực tiễn, khái 
quát  được  những  kinh  nghiệm  của  thực 
tiễn.
            +  Chủ  nghĩa  Mác  –Lênin  cho  rằng,thực  tiễn  là  cái 
được phản  ánh, lý luận là cái phải  ánh.  Để hiểu  được 
thực tiễn dưới dạng lôgíc, nhất thiết phải hình thành lý 
luận.
              +  Bản  thân  thực  tiễn  luôn  luôn  vận  động  biến  đổi 
không ngừng, do  đó  để hình thành lý luận, nhận thức 
phải bám sát quá trình  đó  để phán  ánh  đúng nhu cầu 
của  thực  tiễn.  Nếu  không  kịp  thời  nắm  bắt  được  thực 
tiễn, phán  ánh  đúng thực tiễn thì lý luận sẽ bị lạc hậu 
bị thực tiễn bác bỏ.
            +Trong  quá  trình  lãnh  đạo  cách  mạng  việt  nam, 
đảng ta luôn luôn bám sát thực tiễn , xuất phát từ thực 
tiễn  để  đề  ra  đường  lối  chiến  lược  cách  mạng  đúng 
đắn.
      +Ngày nay, nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn 
việt  nam  và  quốc  tế  để  tiếp  tục  hoàn  thiện  lý  luận  về 
CNXH và con  đường  đi lên chủ nghĩa xã hội  ở việt nam 
chính  là  thể  hiện  cụ  thể  tính  thống  nhất  giữa  lý  luận  và 
thực tiễn trong hoạt động cách mạng của Đảng ta.
    +Từ thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta và lịch sử phát 
triển của CNXH thế giới , tại  Đại hội  đại biểu lần thứ VII, 
Đảng cộng sản Việt Nam  đã thông qua những  đặc  điểm 
cơ bản của CNXH nước ta và khẳng định :” Con đường đi 
lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên  CNXH bỏ qua 
chế  độ TBCN , tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị 
của  quan  hệ  sản  xuất  và  kiến  trúc  thượng  tầng 
TBCN.Nhưng tiếp thu kế thừa những thành tựu mà nhân 
loại  đã  đạt  được  dưới  chế  độ  TBCN….  Để  phát  triển 
nhanh LLSX, xây dựng nền kinh tế hiện đại”.
•    Đó cũng là yêu cầu của sự phát triển lý luận ở nước 
ta hiện nay. Vì vậy Đảng ta xác định:Vấn đề nghiên 
cứu tìm tòi để luận chứng cho lý luận về con đường đi 
lên CNXH ở nước ta vẫn đang tiếp tục. Vì vậy, hội nghị 
lần thứ 5 ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX 
đánh giá: “công tác lý luận chưa theo kịp sự phát triển 
và yêu cầu của cách mạng” và nhấn mạnh: “ Đẩy 
mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận,góp phần 
làm rõ hơn nữa con đường đi lên CNXH ở nước ta” là 
yêu cầu cấp bách.
     2.Hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận chỉ 
đạo khi vận dụng lý luậnphải phù hợp với 
điều kiện lịch sử cụ thể.
•   + Chủ nghĩa Mác­ Lênin cho rằng, lý luận được hình 
thành  không  chỉ  là  sự  tổng  kết  thực  tiễn  mà  còn  là 
mục đích cho hoạt động thực tiễn tiếp theo. Vì lý luận 
phán  ánh thực tiễn dưới dạng quy luật nên lý luận có 
khả năng trở thành phương pháp luận cho hoạt  động 
thực tiễn. 
•    +  Đánh giá  đúng vai trò của lý luận cách mạng, từ 
khi  ra  đời  đến  nay,  Đảng  ta  luôn  lấy  chủ  nghĩa  Mác 
­Lênin  làm  nền  tảng  tư  tưởng  làm  kim  chỉ  nam  cho 
hành động cách mạng của mình. Kiên định lập trường 
đó,  Đại  hội  đại  biểu  toàn  quốc  lần  thứ  IX  của  Đảng 
cộng  sản  Việt  Nam  khẳng  định:”  Đảng  và  nhân  dân 
ta  quyết  định  xây  dựng  đất  nước  Việt  Nam  theo  con 
đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác­
Lênin và tưởng Hồ Chí Minh.”
 
Thực tiễn chứng tỏ rằng, chỉ có kiên trì chủ nghĩa 
Mac ­Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh một cách sáng tạo 
thì  Đảng  ta  mới  đưa  sự  nghiệp  đổi  mới  đến  thành 
công.
              +  Cần  phải  thấy  rằng  lý  luận  cách  mạng  của  chủ 
nghĩa  Mac­  Lênin  khi  vận  dụng  vào  thực  tiễn  phải 
quán  triệt  quan  điểm  lịch  sử  cụ  thể,  do  đó  khi  vận 
dụng phải sáng tạo cho phù hợp với đặc điểm của dân 
tộc  trong  từng  thời  kì  cách  mạng.  Đồng thời  chúng ta 
cần  tiếp  thu  những  thành  tựu  của  tư  duy  nhân  loại 
trong xây dựng nền kinh tế thị trường,công nghiệp hóa 
đất  nước,  xây  dựng  bộ  máy  nhà  nước…  để  thực  hiện 
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân 
chủ, văn minh.
       
     
+ Thời gian qua ở một số nước xã hội chủ nghĩa, do vận 
dụng lý luận về chủ nghĩa xã hội thiếu sáng tạo, thậm 
chí máy móc, giáo điều làm cho lý luận không được bổ 
sung phát triển, không theo kịp yêu cầu của thực tiễn 
đã dẫn đến sự khủng hoảng về lý luận của chủ nghĩa 
xã hội. Sự khủng hoảng về lý luận là một trong những 
nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng của chủ nghĩa 
xã hội nói chung.
     + Ở nước ta, công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng 
đã thu được những thành tựu bước đầu rất quan trọng. 
Tuy nhiên tính chất khó khăn và phức tạp của sự 
nghiệp đổi mới, cũng như chiều sâu và tầm cỡ của nó 
đang đặt ra rất nhiều vấn đề lý luận lớn lao và gay cấn 
đòi hỏi phải được giải quyết.
  Cho  nên  có  thể  nói  rằng,  chưa  bao giờ lý luận lại 
cần  thiết  và  có  tầm  quan  trọng  to  lớn  như  hiện  nay. 
Muốn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới thành công, Đảng ta 
cần  phải  tự  đổi  mới  và  tự  chỉnh  đốn,  trước  hết  phải 
nâng cao trình  độ lý luận của  Đảng. Như Lênin  đã chỉ 
rõ: Chỉ  Đảng  nào  được  một  lý  luận  tiên phong hướng 
dẫn, thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên 
phong.
            +Lý  luận  phải  trở  thành  cơ  sở  khoa  học  cho  việc 
hoạch định đường lối chích sách của Đảng, phải  cung 
cấp  nội  dung  khoa  học  cho  đổi  mới,  phải  góp  phần 
vào  công  tác  tư  tưởng  của  Đảng.  Đó  là  trách  nhiệm 
nặng  nề  và  vẻ  vang  của  lý  luận  trong giai  đoạn  cách 
mạng hiện nay ở nước ta.  
3. Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh 
3. Kh
giáo điều (tự nghiên cứu)
  LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ ­ 
  
XàHỘI VỚI SỰ NHẬN THỨC CON 
ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA Xà
HỘI 
Ở NƯỚC TA
I.  HỌC  THUYẾT  VỀ  HÌNH  THÁI  KINH  TẾ  ­  Xà
HỘI – NỀN TẢNG LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA 
DUY VẬT LỊCH SỬ


Chủ  nghĩa  duy  vật  lịch  sử  với  nội  dung  chủ 
yếu  là  nhận  thức  xã  hội  trong  một  chỉnh  thể  và 
phát hiện những quy luật vận  động và phát triển 
phổ biến của lịch sử. 
Đó  là  một  trong  những  cống  hiến  vĩ  đại  của 
Triết học Mác và cũng là bước phát triển mới, là 
bước ngoặt cách mạng của lịch sử Triết học.
1. Những cơ sở xuất phát để phân tích đời sống 
1. Nh
xã hội 


Các  nhà  Triết  học  trước  Mác  đã  có  nhiều  công 
lao trong việc đi sâu lý giải con người dưới nhiều góc 
độ và họ  đã có những  đóng góp quý báu; phát hiện 
ra nhiều thuộc tính, phẩm chất, năng lực kỳ diệu của 
con người về mặt sinh học, xã hội cũng như tâm lý, ý 
thức của con người.
Trên  cơ  sở  đó,  họ  đã  kiến  giải,  đề  xuất 
những  con  đường,  biện  pháp  hướng  con 
người đến cuộc sống tốt đẹp. 
Nhưng  do  những  hạn  chế  của  lịch  sử  và 
phương pháp tiếp cận,do đó các nhà tư tưởng 
trước Mác chưa có cái nhìn  đầy  đủ về sự tồn 
tại của con người, cũng như lịch sử xã hội loài 
người.  Họ  mới  chỉ  nghiên  cứu  những  biểu 
hiện  từng  mặt  khác  nhau  của  tồn  tại  con 
người.
Tuy vậy, tất cả những tư tưởng  ấy  đã hợp 
thành dòng chủ lưu của lịch sử văn hóa nhân 
loại, đó là chủ nghĩa nhân đạo.
Trên  cơ  sở  đó,  họ  đã  kiến  giải,  đề  xuất  những 
con  đường,  biện  pháp  hướng  con  người  đến  cuộc 
sống tốt đẹp. 
Nhưng do những hạn chế của lịch sử và phương 
pháp  tiếp  cận,do  đó  các  nhà  tư  tưởng  trước  Mác 
chưa có cái nhìn đầy đủ về sự tồn tại của con người, 
cũng  như  lịch  sử  xã  hội  loài  người.  Họ  mới  chỉ 
nghiên  cứu  những  biểu  hiện  từng  mặt  khác  nhau 
của tồn tại con người.
Tuy vậy, tất cả những tư tưởng  ấy  đã hợp thành 
dòng  chủ  lưu  của  lịch  sử  văn  hóa  nhân  loại,  đó  là 
chủ nghĩa nhân đạo.
 Mác  và  Ănghen  đã  kế  thừa  những  thành  tựu 
của  những  nhà  Triết  học  trước  đó  trên  cơ  sở  khắc 
phục những khuyết  điểm của họ, các  ông  đã  đưa ra 
tư tưởng duy vật khoa học trong xem xét lịch sử. 
Các  ông  đã  lấy  con  người  làm  điểm  xuất  phát  cho 
học thuyết của mình, nhưng không phải là con người 
trừu tượng, con người trong tình trạng biệt lập và cố 
định mà là con người thực tiễn. Con người trong quá 
trình phát triển hiện thực – con người trong sản xuất 
vật chất.
+  Mác –  Ănghen cho rằng: vì cuộc sống của mình con 
người  phải  sản  xuất  vật  chất,  đó  là  quá  trình  con 
người  sử  dụng  công  cụ  sản  xuất  tác  động  vào  các 
đối tượng của tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất. 
Đó  là  hoạt  động  có  mục  đích  nhằm  thỏa  mãn  nhu 
cầu đời sống của con người.
+   Trong  quá  trình  sản  xuất  vật  chất,  con  người 
thiết lập hai mối quan hệ ( quan hệ song trùng ). 
Bởi vì, trong sản xuất vật chất con người liên hệ 
với  tự  nhiên  hình  thành  nên  lực  lượng  sản  xuất 
(LLSX);  đồng thời trong sản xuất con người phải 
liên  hệ  với  nhau  hình  thành  nên  quan  hệ  sản 
xuất  (QHSX)  ;  Đây  là  hai  mặt  hợp  thành  của 
phương thức sản xuất của xã hội(PTSX).
Nguyên  nhân  làm  cho  phương  thức  sản  xuất 
vận  động  biến  đổi  là  do  con  người  không  ngừng 
cải tiến công cụ sản xuất nhằm tạo ra những công 
cụ sản xuất mới. Mỗi khi công cụ sản xuất mới ra 
đời  làm  cho  trình  độ  sản  xuất  nâng  cao,  kinh 
nghiệm sản xuất đổi mới, năng xuất lao động nâng 
lên làm cho LLSX phát triển không ngừng. 
Khi    LLSX    phát  triển  đến  một  trình  độ  mới  lại 
thúc  đẩy  sự  ra  đời  của  phương  thức  sản  xuất  mới. 
Mỗi  khi  phương  thức  sản  xuất  mới  ra  đời  thay  thế 
phương thức sản xuất cũ dẫn đến sự biến đổi tất cả 
các  mặt  của  đời  sống  xã  hội,  dẫn  đến  sự  biến  đổi 
của một hình thái kinh tế ­ xã hội.
Chính bằng phương pháp tiếp cận  đó (từ con 
người  hiện  thực)  Mác  đã  phát  hiện  ra  quy  luật 
vận động của lịch sử loài người.
Như  vậy,  chìa  khóa  để  nghiên  cứu  lịch  sử 
loài  người  phải  bắt  đầu  từ  con  người  hiện  thực, 
con  người  gắn  với  sản  xuất  vật  chất,  với  hoạt 
động thực tiễn.
2 .Khái niệm và kết cấu của hình thái kinh 
2 .Kh
tế ­ xã hội 

a. Khái niệm hình thái kinh tế ­ xã hội.
Như  chúng  ta  đã  biết  Mác  và  Ănghen  đã  thực 
hiện một cuộc cách mạng trong lĩnh vực triết học, mà 
một  trong  những  nội  dung  của  nó  là  đã  đưa  quan 
niệm duy vật vào đời sống xã hội, xây dựng được học 
thuyết về chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Trong  đó  lý  luận  hình  thái  kinh  tế  ­  xã  hội 
được  coi  là  hòn  đá  tảng.  Với  quan  điểm  đó  làm 
cho chủ nghĩa duy vật trở thành triệt để bao quát 
cả tự nhiên và xã hội.
Để  đưa  ra  khái  niệm  hình  thái  kinh  tế  ­  xã 
hội, Mác  đã tiến hành phân tích tất cả các quan 
hệ  giữa  người  và  người  trong  đời  sống  hàng 
ngày, đó là những quan hệ xã hội.
Trong tất cả những quan hệ  đó  ông làm nổi bật 
lên quan hệ giữa người với người trong  sản xuất vật 
chất, coi đó là những quan hệ cơ bản ban đầu quyết 
định tất cả các quan hệ xã hội khác.
 Trên  cơ  sở  đó,  Mác  đã  phát  hiện  ra  mối  quan 
hệ  bản chất, những quan hệ có tính lặp lại trong xã 
hội,  từ  đó  tìm  ra  tính  quy  luật  trong  sự  vận  động 
phát triển của xã hội.
Không  dừng  lại  ở  lý  luận  trừu  tượng  về  xã  hội, 
Mác đã đi sâu nghiên cứu hình thái kinh tế ­ xã hội Tư 
bản chủ nghĩa  ở một số nước  điển hình và rút ra quy 
luật vận động của chủ nghĩa Tư bản thế giới.
Trên cơ sở  đó Mác chỉ ra rằng, quan hệ sản xuất 
là tiêu chuẩn khách quan  để phân biệt sự khác nhau 
giữa hình thái kinh tế xã hội này với hình thái kinh tế 
xã hội khác; và coi  đó là bộ xương của cơ thể xã hội, 
hợp thành một cơ sở hạ tầng xã hội, tức là cơ sở hiện 
thực trên  đó xây dựng nên một kiến trúc thượng tầng 
tương  ứng  bao  gồm  những  quan  điểm  chính  trị,  triết 
học,  đạo  đức,  nghệ  thuật,  pháp  quyền...cùng  với 
những thể chế tương ứng với những quan điểm đó.
Như  vậy,  bằng  phương  pháp  duy  vật  triệt  để 
trong  quá  trình  giải  phẫu  xã  hội,  Mác  đã  xây  dựng 
được  phạm  trù  khoa  học  của  chủ  nghĩa  duy  vật  lịch 
sử, phạm trù hình thái kinh tế ­ xã hội.
*  Hình  thái  kinh  tế  ­  xã  hội  là  một  phạm  trù 
của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở 
từng  giai  đoạn  lịch  sử  nhất  định,  với  một  kiểu 
quan  hệ  sản  xuất  đặc  trưng  cho  xã  hội  đó,  phù 
hợp với một trình  độ nhất  định của lực lượng sản 
xuất  và  với  một  kiến  trúc  thượng  tầng  tương  ứng 
được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.
b. Kết cấu của hình thái kinh tế ­ xã hội.
b. K

+      Chủ  nghĩa  duy  vật  lịch  sử  cho  rằng:  hình  thái 
kinh tế xã hội là một chỉnh thể xã hội (một hệ thống 
hoàn  chỉnh)  có  kết  cấu  phức  tạp,  trong  đó  có  các 
mặt cơ bản là: LLSX, QHSX, kiến trúc thượng tầng. 
Mỗi mặt  đó  có vai trò vị trí khác nhau, nhưng giữa 
chúng  có  sự  liên  hệ  tác  động  qua  lại  lẫn  nhau  tạo 
nên sự vận động của cơ thể xã hội.
Trong các mặt nói trên, LLSX được coi là nền 
tảng vật chất kỹ thuật của một hình thái kinh tế 
xã hội; Sự hình thành và phát triển của mỗi hình 
thái kinh tế xã hội là do sự phát triển của LLSX 
quyết  định.  LLSX  còn  đảm  bảo  tính  kế  thừa 
trong sự phát triển tiếp nối của các hình thái kinh 
tế xã hội.
+    Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội, QHSX  được coi là quan 
hệ  cơ  bản  ban  đầu  quyết  định  các  quan  hệ  xã  hội  khác; 
QHSX phát triển phù hợp với trình độ của LLSX và tác động 
tích  cực  trở  lại    LLSX.  Mỗi  hình  thái  kinh  tế  xã  hội  có  một 
kiểu QHSX  đặc trưng cho nó; QHSX  được coi là tiêu chuẩn 
khách quan  để phân biệt bản chât của một hình thái kinh tế 
xã hội .

Các QHSX của xã hội liên kết với nhau tạo nên một cơ 
sở hạ tầng (hay là cơ sở kinh tế) của xã hội.

+   Trên cơ sở hạ tầng đó hình thành nên các quan điểm chính 
trị,  pháp  quyền,  đạo  đức,  nghệ  thuật,  tôn  giáo…  và  các  tổ 
chức thiết chế tương ứng của nó được gọi là kiến trúc thượng 
tầng (KTTT), mà chức năng của nó là duy trì, bảo vệ và phát 
triển cơ sở hạ tầng (CSHT).
Ngoài  các  mặt  cơ  bản  nói  trên,  các  hình  thái 
kinh tế ­ xã hội còn có quan hệ gia  đình, dân tộc và 
các quan hệ xã hội khác.
+   Quan niệm tổng quát về cấu trúc của hình thái kinh 
tế  xã  hội  được  triển  khai  phân  tích  bằng  hệ  thống 
phạm trù quy luật của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Trong  lĩnh  vực  kinh  tế  của  đời  sống  xã  hội,  có 
các phạm trù: Phương thức sản xuất, LLSX, QHSX 
và  quy  luật  QHSX  phải  phù  hợp  với  trình  độ  của 
LLSX.  Thực  chất  của  quy  luật  này  là  sự  tác  động 
biện chứng giữa LLSX và QHSX (Đây là quy luật cơ 
bản chi phối sự phát triển của xã hội loài người).
­   Trong  mối  quan  hệ  giữa  lĩnh  vực  kinh  tế  và  lĩnh 
vực  chính  trị,  được  khái  quát  bằng  các  cặp  phạm 
trù:  CSHT,  KTTT  và  mối  quan  hệ  biện  chứng  giữa 
CSHT và KTTT.
­   Trong lĩnh vực xã hội có các phạm trù: Giai cấp, 
kết cấu giai cấp,  đấu tranh giai cấp và quy luật  đấu 
tranh  giai  cấp.  Trong  đó  chủ  nghĩa  Mác­Lênin  cho 
rằng:  Đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy xã hội 
phát triển trong các xã hội có giai cấp.
Bởi  vì,  trong  xã  hội  có  giai  cấp,  thông  qua  đấu 
tranh  giai  cấp  mới  giải  quyết  được  mâu  thuẫn  kinh 
tế và mâu thuẫn giai cấp.
•  Mâu thuẫn kinh tế: 
      LLSX  >
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản