Chuyên đề giáo dục hoà nhập (97-2003)

Chia sẻ: minhanh142000

Can thiệp sớm là những chỉ dẫn ban đầu và các dịch vụ dành cho trẻ và gia đình trẻ khuyết tật trước tuổi tiểu học nhằm kích thích và huy động sự phát triển tối đa ở trẻ, tạo điều kiện và chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào hệ thống giáo dục bình thường và cuộc sống sau này. Can thiệp sớm là việc trợ giúp nhằm vào tất cả các trẻ em có nguy cơ hoặc đã bị khuyết tật. Việc trợ giúp này bao gồm toàn bộ giai đoạn từ chẩn đoán trước khi sinh cho đến lúc trẻ đến tuổi...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Chuyên đề giáo dục hoà nhập (97-2003)

Phần I
CAN THIỆP SỚM CHO TRẺ KHUYẾT TẬT,
CÁC NGUYÊN TẮC CỦA CAN THIỆP SỚM

I. Khái niệm chung
Can thiệp sớm là những chỉ dẫn ban đầu và các dịch vụ dành cho trẻ và gia
đình trẻ khuyết tật trước tuổi tiểu học nhằm kích thích và huy động sự phát triển
tối đa ở trẻ, tạo điều kiện và chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào hệ thống giáo dục
bình thường và cuộc sống sau này.
Can thiệp sớm là việc trợ giúp nhằm vào tất cả các trẻ em có nguy cơ hoặc
đã bị khuyết tật. Việc trợ giúp này bao gồm toàn bộ giai đoạn từ chẩn đoán trước
khi sinh cho đến lúc trẻ đến tuổi đi học; việc phát hiện và chẩn đoán sớm cho đến
lúc hướng dẫn. Can thiệp sớm có liên quan đến cả đứa trẻ lẫn cha mẹ, gia đình
và mạng lưới rộng lớn. Tuy nhiên, cho tới nay, chúng ta vẫn chưa coi tr ọng vi ệc
chẩn đoán trước khi sinh là một bộ phận không thể tách rời của can thiệp sớm.
II. Các nguyên tắc cơ bản
1. Mọi trẻ đều có khả năng học tập
Trẻ khiếm thính hay khiếm thị vẫn có trí tuệ bình thường. Mục tiêu giáo
dục đặt ra cho trẻ khuyết tật cũng giống như cho trẻ bình thường. Công việc của
trẻ khuyết tật cũng giống như công việc của trẻ bình thường, trừ những công
việc đòi hỏi trẻ phải có khả năng nghe bình thường hoặc khả năng nhìn tốt. Ví
dụ, một người mù không thể lái xe ô tô được; trẻ chậm phát tri ển trí tuệ phát
triển chậm hơn (và có những hạn chế do khuyết tật gây ra), nhưng vẫn có th ể
học được. Ngày nay, học tập đã trở thành quyền lợi của trẻ em bình thường cũng
như trẻ khuyết tật.
2. Trẻ khuyết tật cũng phải học các kỹ năng mà trẻ bình thường học và sử
dụng
Trẻ khuyết tật tr ướ c h ết là m ột đ ứa tr ẻ, s ự phát tri ển c ủa tr ẻ khuy ết
tật cũng tuân theo ti ến trình, quy lu ật nh ư tr ẻ bình th ường, tuy nhiên có ch ậm
hơn ở những khía cạnh nh ất đ ịnh. Tr ẻ khuy ết t ật càng h ọc đ ược nhi ều k ỹ
năng như ở trẻ bình th ường thì chúng càng có kh ả năng tham gia vào nhi ều
hoạt động h ơn trong gia đình cũng nh ư xã h ội, tr ẻ khuy ết t ật càng d ễ dàng
đượ c chấp nhận hơn trong c ộng đ ồng n ếu nh ư nh ững hành vi c ủa chúng càng
giống trẻ bình thường. Vì vậy, trẻ khuyết tật cần phải học các kỹ năng như trẻ bình
thường.
3. Những năm đầu tiên rất cần thiết để trẻ học tập

1
Năm năm đầu tiên trong cuộc đời một con người là những năm tháng rất
quan trọng, đây là thời gian mà nền tảng cho cuộc sống được hình thành. Một nền
tảng tốt tạo cho đứa trẻ cơ hội có một cuộc sống hạnh phúc và có ý nghĩa, đồng
thời để chúng trở thành một thành viên có ích cho xã hội. Những năm này rất quan
trọng đối với trẻ và đặc biệt quan trọng đối với trẻ khuyết tật.
Việc bắt đầu can thiệp càng sớm càng tốt là rất cần thiết. Bắt đầu diễn ra
từ khi cha mẹ trẻ cho rằng trẻ có vấn đề, điều này có thể hạn chế những vấn đề
về giáo dục và cư xử sau này trong cuộc sống của trẻ.
4. Cha mẹ là những người quan trọng nhất đối với sự phát triển của trẻ
Với việc can thiệp sớm, các giáo viên cần phải cung cấp tri th ức, h ướng
dẫn phụ huynh cách chăm sóc, giáo dục trẻ. Phụ huynh không chỉ là người ti ếp
xúc với trẻ nhiều hơn giáo viên hoặc chuyên gia mà còn là người hi ểu trẻ, chăm
sóc trẻ bằng cả tình yêu thương ruột thịt của mình.
Ở Việt Nam, ông bà, cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình có vai trò
quan trọng trong việc giáo dục trẻ, đặc biệt là trẻ khuyết tật.
5. Mỗi trẻ và mỗi gia đình đều khác nhau
Một đặc trưng cơ bản trong giáo dục đặc biệt là tính cá thể hoá cao. Ngay
với trẻ bình thường thì mỗi đứa trẻ là một con người riêng biệt. Mỗi trẻ có ti ền
đề phát triển khác nhau, có tốc độ phát triển, có kh ả năng lĩnh h ội, có đ ặc đi ểm
khí chất… khác nhau. Do vậy không thể có một cách chăm sóc giáo dục giống
nhau cho mọi đứa trẻ, ngay cả đối với trẻ ở cùng một nhóm khuyết tật. Mặt khác,
trình độ hiểu biết của mỗi gia đình khác nhau, mức độ quan tâm đ ến con cái khác
nhau và mỗi gia đình có hoàn cảnh và điều kiện khác nhau, do đó chúng ta không
thể xây dựng một chương trình can thiệp sớm cho mọi đối tượng. Can thiệp sớm
tập trung vào nhu cầu của trẻ và gia đình trẻ, mỗi trẻ cần có một chương trình cá
nhân riêng, chương trình này phải được xây dựng trên cơ sở khả năng, nhu cầu
của trẻ và phải phù hợp với quan điểm giáo dục của phụ huynh, nhu cầu và khả
năng của gia đình.
III. Ý nghĩa của can thiệp sớm
1. Ý nghĩa đối với trẻ
Can thiệp sớm có thể ngăn ngừa những nhân tố nguy hiểm tới đứa trẻ hay
những nguyên nhân dẫn đến sự chậm phát triển hoặc rối loạn chức năng. Đi ều
này có thể đạt được bằng cách giúp cho trẻ có được sự kích thích và tác động qua
lại một cách đúng đắn với môi trường xung quanh ở ngay giai đoạn đầu c ủa s ự
phát triển của trẻ.
Can thiệp sớm để đồng thời thực hiện chức năng chữa bệnh.
2
Can thiệp sớm sẽ giảm các ảnh hưởng của những bệnh mãn tính và khuyết
tật chức năng lâu dài. Có thể ngăn cản sự chậm phát tri ển cũng như các khuy ết
tật khác gia tăng.
2. Ý nghĩa đối với cha mẹ
Can thiệp sớm là những phương pháp hiệu quả để giúp cha mẹ cư xử với
đứa trẻ khuyết tật của họ. Chương trình can thiệp sớm chủ động lôi cuốn cha mẹ
vào quá trình can thiệp cho trẻ nên họ có thể tự phát hiện ra khả năng và năng lực
của chính mình về khả năng để xử lý, hướng dẫn và điều trị chăm sóc trẻ.
Can thiệp sớm giúp cha mẹ không cần phải căng thẳng về vấn đề tình cảm
của mình, do đó góp phần quan trọng vào quá trình chấp nhận. Can thiệp sớm làm
cho giảm bớt hay loại trừ sự bất lực của nhiều cha mẹ trong vi ệc xử lý các v ấn
đề của trẻ, cải thiện mối quan hệ cha mẹ và đứa con, mối quan hệ v ề m ặt tình
cảm được cân bằng hơn và tránh được một số công việc chăm sóc trẻ không cần
thiết.
Can thiệp sớm sẽ tránh được việc cha mẹ không cung cấp thông tin. Những
thông tin này liên quan đến:
- Việc chẩn đoán, nguyên nhân khuyết tật và dự đoán tiến triển của bệnh.
- Kiến thức về sự phát triển bình thường và cần phải thúc đẩy s ự chậm
phát triển hoặc điều chỉnh sự phát triển không bình thường như thế nào.
- Hệ thống hỗ trợ của xã hội mà họ được hưởng.
3. Ý nghĩa đối với gia đình
Can thiệp s ớm có thể tránh cho anh ch ị em trong gia đình r ơi vào tình
thế không thuận l ợi d ẫn đ ến kết qu ả là chính s ự phát tri ển c ủa chúng l ại b ị
cản trở và một số vấn đề v ề hành vi có th ể n ảy sinh. Can thi ệp s ớm có th ể
đảm bảo rằng h ệ th ống gia đình bi ết cách t ự đi ều ch ỉnh hành vi c ủa mình cho
phù hợp với hoàn cảnh là có m ột đ ứa tr ẻ khuy ết t ật trong nhà. Can thi ệp s ớm
làm nhẹ gánh n ặng cho gia đình là t ạo ra s ự giúp đ ỡ cho gia đình nh ư quan tâm
hàng ngày và các ph ương ti ện khác.
4. Ý nghĩa đối với xã hội
- Can thiệp s ớm làm cho xã h ội nh ận bi ết đ ược th ực t ế là còn có nh ững
đứa trẻ bị khuyết tật, chúng cũng là m ột b ộ ph ận c ủa c ộng đ ồng và có quy ền
đượ c giúp đỡ. Can thi ệp s ớm giúp m ở r ộng c ơ h ội cho tr ẻ em vì chúng h ọc
đượ c qua trường phổ thông một cách có hi ệu qu ả h ơn. Chúng có th ể không
phải nhờ cậy nhiều vào quỹ công cho khuy ết t ật hay d ựa vào phúc l ợi. Khi
đứa trẻ l ớn dần lên, cha m ẹ không c ần h ướng d ẫn nhi ều nh ư tr ước b ởi vì


3
ngay từ đầu họ đã đ ược h ướng d ẫn cách th ức đ ể h ọ x ử lý nh ững v ấn đ ề c ủa
trẻ.
IV. Các giai đoạn của can thiệp sớm
Hầu hết các chương trình can thiệp sớm ở trẻ đều tiến hành theo 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Phát hiện, chẩn đoán và giới thiệu trẻ vào chương trình.
Giai đoạn 2: Thực hiện chương trình, bao gồm các hoạt động liên quan tới
việc cung cấp các dịch vụ.
Giai đoạn 3: Kết thúc, tập trung vào các hệ thống chuyển tiếp cho trẻ từ
chương trình can thiệp sớm tới những can thiệp tiếp theo.
1. Giai đoạn 1
* Phát hiện: là tìm tòi các dấu hiệu và tín hiệu cho thấy sự phát triển của trẻ
có nguy cơ hoặc đang tiến triển một cách không bình thường. Phát hiện bao gồm việc
quan sát các dấu hiệu, tín hiệu nói trên và các chương trình khám sàng lọc. Kết quả
không phải là một sự chẩn đoán, trẻ em được sàng lọc ra để kiểm tra tiếp. Hiện nay ở
Việt Nam, hệ thống dịch vụ khám sàng lọc cho trẻ sơ sinh hoặc chẩn đoán để phát
hiện trẻ có vấn đề hoặc nguy cơ vẫn còn thiếu. Đây là một thiệt thòi lớn cho trẻ
khuyết tật. Vì như ta đã biết, những năm tháng đầu tiên trong cuộc đời có một ý nghĩa
cực kỳ quan trọng cho sự phát triển. Trẻ bị phát hiện chậm tháng nào trong những năm
đầu đời này thì sự trì hoãn trong sự phát triển chung của trẻ sau này sẽ được tính bằng
cấp số nhân.
* Chẩn đoán: bao gồm việc nhận ra m ột khuy ết t ật v ề phát tri ển cùng
với các nguyên nhân đ ược đ ặt ra. Vi ệc ch ẩn đoán đ ược th ực hi ện theo k ết
quả của việc phát hi ện các d ấu hi ệu và tín hi ệu cho th ấy s ự l ệch l ạc hay có
nguy cơ v ề mặt phát tri ển. Phát hi ện, ch ẩn đoán s ớm m ới có hy v ọng đi ều tr ị,
ngăn chặn tật và đ ể kịp th ời ti ến hành ph ục h ồi ch ức năng.
Trẻ em đ ượ c phát hi ện qua khám sàng l ọc đ ược đ ưa t ới các đ ịa ch ỉ
thích h ợp để th ực hi ện các ch ẩn đoán toàn di ện và sâu h ơn. Tr ước khi tham
gia vào chươ ng trình giáo d ục đ ặc bi ệt, tr ẻ em đ ược đánh giá ch ẩn đoán và
đánh giá toàn di ện v ề các nhu c ầu giáo d ục c ủa chúng. M ục đích chính c ủa
quá trình này là đ ể xác đ ịnh tr ẻ b ị khuy ết t ật nh ư th ế nào và n ếu có th ể cũng
xác định ph ạm vi, cách th ức giáo d ục và d ịch v ụ c ần thi ết đ ể can thi ệp. Quá
trình đánh giá đó ph ải đa d ạng và do nhi ều ngu ồn, ph ải đ ược k ết lu ận b ằng
nhóm chuyên gia đa ch ức năng. Các thành viên c ủa nhóm này ph ải đa d ạng tuỳ
theo đ ặc điểm riêng c ủa m ỗi tr ẻ.
2. Giai đoạn 2


4
Các nhân viên của chương trình dùng các công c ụ đánh giá và các quy
trình khác nhau đ ể xây d ựng kế ho ạch giáo d ục cá nhân cho tr ẻ tham gia
chương trình. Việc xây d ựng kế hoạch giáo d ục cá nhân là b ước n ối ti ếp c ủa
đánh giá ban đầu trong chu ỗi làm vi ệc liên t ục c ủa ch ương trình can thi ệp s ớm.
Quy trình th ực hiện kế hoạch cá nhân cũng t ương t ự nh ư t ất c ả các ch ương
trình can thi ệp s ớm. Kế ho ạch giáo d ục cá nhân là s ự xác đ ịnh rõ m ục tiêu giáo
dục, biện pháp thực hi ện để đ ạt đ ược những mục tiêu này.
Một vấn đề khác có trong giai đoạn 2 là sự đánh giá. Nội dung được thông
qua của chương trình tập trung vào trẻ thường đưa ra những kết quả đánh giá
rộng. Đánh giá này có hai nội dung chủ yếu: đánh giá để thấy rõ quy trình c ủa trẻ
với mục đích định hướng và đánh giá kết quả trên toàn cầu để xác định tác động
của chương trình (chủ yếu những thay đổi trong chỉ số IQ hay mức độ phát triển).
3. Giai đoạn 3
Đây là giai đoạn chuyển sang môi tr ường k ế ti ếp c ủa tr ẻ, giai đo ạn này
thường rất ít khi nhận đ ược s ự quan tâm c ủa nhà tr ường. Tuy nhiên giai đo ạn
chuyển tiếp là giai đoạn liên quan đ ến các ch ương trình can thi ệp s ớm. H ơn
thế nữa việc chăm sóc trẻ trong th ời gian chuy ển ti ếp có th ể t ạo ra s ự khác
biệt về sự thành công hay thất b ại trong các b ước ti ếp theo. Ph ần l ớn nh ững
chương trình can thiệp sớm th ực hi ện quy trình chuy ển ti ếp không chính th ức
nhưng cũng có những chiến l ược đáng k ể. Nh ững ch ương trình nh ư th ế có th ể
sẽ có ích trong vi ệc l ập kế ho ạch và th ực hi ện giai đo ạn chuy ển ti ếp v ới cha
mẹ và con cái giữa các ch ương trình.
Tóm lại: Can thiệp sớm đối với trẻ khuyết tật là một quá trình bao gồm các
giai đoạn. Các giai đoạn này là: phát hiện (khám sàng lọc), chẩn đoán, các đánh giá ban
đầu, xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân, thực hiện theo kế hoạch, đánh giá và
chuyển sang các môi trường tiếp theo. Mặc dù các giai đoạn liệt kê ở đây là theo thứ
tự logic, trong thực tế chúng hoà nhập và đan xen lẫn nhau mà không thể tách biệt rõ
rệt. Các giai đoạn của chương trình can thiệp sớm có thể giống nhau. Tuy nhiên, có
những khác biệt rất lớn trong từng bước chi tiết. Các công cụ, các quy trình đánh giá
được sử dụng để xây dựng chương trình cá nhân, kỹ thuật đánh giá, chất lượng sử
dụng nguồn nhân lực, sự phối hợp các lực lượng… trong mỗi chương trình can thiệp
sớm có thể khác nhau.

Câu hỏi ôn tập
1. Khái niệm can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật.
2. Tại sao phải can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật?
5
3. Công tác can thiệp sớm tại địa phương. Những thuận lợi và khó khăn.
Đề xuất kế hoạch thực hiện để có chương trình can hiệu đạt hiệu quả.




Phần II
CÁC KHUYẾT TẬT THƯỜNG GẶP Ở TRẺ MẦM NON
NGUYÊN NHÂN, CÁCH PHÒNG TRÁNH VÀ CÁC DẤU HIỆU
PHÁT HIỆN SỚM TRẺ KHUYẾT TẬT

I. Khái niệm về trẻ khuyết tật và các loại tật
1. Thế nào là trẻ khuyết tật?
Trẻ khuyết tật là những trẻ bị giảm hoặc mất một phần khả năng về nghe,
nhìn, nói, vận động, phát triển trí tuệ hoặc có những cấu tạo và hành vi b ất
thường không giống những trẻ bình thường khác.
2. Các loại tật thường gặp ở trẻ Mầm non
- Trẻ có khó khăn về vận động.
- Trẻ có khó khăn về nghe: khiếm thính, điếc.
- Trẻ có khó khăn về nhìn: khiếm thị.
- Trẻ chậm phát triển về trí tuệ và hành vi không thích ứng.
- Trẻ khó khăn về nói và ngôn ngữ.
- Rối loạn tình cảm, không quản lý được hành vi.
- Trẻ tự kỷ.
- Trẻ có khuyết tật khác về sức khỏe.
- Trẻ khiếm thính kết hợp với khiếm thị.
- Trẻ đa tật.
- Trẻ có khó khăn trong học tập.
3. Khái niệm về các loại tật thường gặp
3.1. Tật vận động
Là tật của cơ quan vận động làm ảnh hưởng đến chức năng v ận động đi
đứng, ngồi nằm, sờ mó, cầm nắm của cơ thể.
Trường hợp nặng: biểu hiện liệt toàn thân hoặc liệt tay chân, nằm ngồi, đi
lại khó khăn.
Trường hợp nhẹ: bị giảm chức năng vận động của một trong các bộ phận
của cơ thể, đi lại, vận động, cầm nắm khó khăn.
3.2. Tật về thính giác hay còn gọi là khó khăn về nghe: khiếm thính, điếc


6
Là tật ảnh hưởng đến bộ phận nhạy cảm, truyền dẫn và phân tích âm
thanh của con người. Có nhiều mức độ:
- Mức độ nặng (điếc): trẻ không nghe được tiếng động to như sấm, tiếng
trống cách tai 30-50cm; không nghe được tiếng thét gần tai và không nói được (câm).
- Mức độ nhẹ (nghễnh ngãng): trẻ điếc một tai, không nghe được tiếng nói
bình thường nhưng gọi to cách xa 1m có thể nghe được.
3.3. Tật thị giác - khó khăn về nhìn
Là tật làm ảnh hưởng đến chức năng nhìn của mắt.
Trường hợp nặng: mù cả hai mắt, không phân biệt được sáng tối.
Trường hợp nhẹ hơn: trẻ phân biệt được ánh sáng nhưng không phân biệt
được màu sắc, không nhận rõ hình dạng các vật, không đếm được ngón tay khi ở
cách xa 30cm, đi lại dò dẫm, dùng tay lần sờ, không đọc được chữ viết bình thường.
Mức độ nhẹ hơn như mắt lác (lé); mắt có sẹo giác mạc che l ấp đ ồng tử
ảnh hưởng đến chức năng nhìn; trẻ bị quáng gà do thiếu Vitamin A; tật sụp mi;
tật giảm thị lực một hoặc hai mắt... Trong những trường hợp này trẻ còn nhìn
được vật lờ mờ, có thể phân biệt được màu, đọc được chữ khi ghé sát mắt.
3.4. Tật thiểu năng trí tuệ hay còn gọi là chậm phát triển trí tuệ
Là tật của hệ thần kinh trung ương làm ảnh hưởng đến chức năng nhận
biết và tư duy.
- Trường hợp nặng: trẻ có khó khăn về nhận thức và hiểu biết nên rất khó
khăn trong học tập. Thường tật này đi kèm với một số dị tật bẩm sinh khác: bại
não, não bé bẩm sinh...
- Trường hợp nhẹ: trẻ nhớ khó khăn, khả năng tư duy kém, tư duy theo l ối
trực diện, hay quên, học thường lưu ban do không tiếp thu được bài.
3.5. Tật ngôn ngữ - khó khăn về nói
Là tật gây ảnh hưởng đến khả năng nói của trẻ làm cho trẻ không thể diễn đạt
bằng lời nói về ý muốn của mình hoặc diễn đạt khó khăn do bộ phận phát âm có tật.
- Trường hợp nặng: mất ngôn ngữ, ngôn ngữ bị ảnh hưởng trầm trọng, khó
khăn trong giao tiếp.
- Trường hợp nhẹ: trẻ nói ngọng, nói lắp, diễn đạt khó khăn làm ảnh
hưởng đến khả năng giao tiếp.
3.6. Tật về rối loạn tình cảm, hành vi bất thường
Trẻ có tổn thương não hoặc do cấu trúc gen làm cho trạng thái tâm lý, tình
cảm của trẻ quá hưng phấn hoặc trầm cảm. Nhiều trường hợp trẻ quá hưng
phấn có những hành vi bất thường, đứng, ngồi không yên, không kiểm soát được
hành vi và không thích ứng với môi trường làm cho trẻ gặp nhiều khó khăn trong
7
cuộc sống.
3.7. Trẻ tự kỷ
Là bệnh thuộc hệ thần kinh trung ương có thể do gen hoặc nguyên nhân khác
chưa được biết. Trẻ mắc bệnh này có biểu hiện rất khác nhau như: thờ ơ, lãnh đạm,
không quan tâm với môi trường xung quanh, không có giao tiếp bằng mắt và sống
trong thế giới riêng của mình, hoặc có những hoạt động vận động tăng động. Trẻ ưa
các hoạt động mạnh như: chạy nhảy, gõ tiếng động; hoạt động theo ý thích của
riêng mình. Trẻ tự kỷ chỉ thích âm nhạc, có trẻ chỉ thích màu đỏ…
3.8. Các tật khác về sức khỏe
Tật động kinh do tổn thương hệ thần kinh, gây co giật toàn th ân hoặc một
vài bộ phận; co giật có thể thành cơn theo chu kỳ hoặc không theo chu kỳ.
Trẻ bị thiếu hụt một bộ phận nào đó của cơ thể gây ảnh hưởng đến chức
năng các cơ quan của cơ thể.
3.9. Trẻ khiếm thính kết hợp với khiếm thị
Đây là một khuyết tật nặng, trẻ đồng thời thiếu hụt chức năng của hai bộ
phận giác quan quan trọng nghe và nhìn nên trẻ sẽ có khó khăn hơn những trẻ chỉ
bị một loại tật.
3.10. Trẻ đa tật
Khi trẻ có từ hai tật trở lên.
3.11. Trẻ có khó khăn về học
Trẻ có chỉ số IQ thấp hơn mức bình thường và cao hơn mức bình th ường
đều có thể đưa đến cho trẻ những khó khăn trong học tập và cuộc sống.
II. Nguyên nhân gây ra khuyết tật
1. Nguyên nhân trong thời kỳ mẹ mang thai
- Mẹ bị mắc một sô bệnh trong 3 tháng đầu của thời kỳ mang thai do siêu vi
trùng, cúm, sốt phát ban...
- Mẹ dùng thuốc không đúng chỉ định.
- Ngộ độc thai nghén; ngộ độc hóa chất độc hại.
- Mẹ mắc một số bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng trong thời kỳ mang thai:
sốt rét, lao, nhiễm trùng cấp, viêm họng, viêm phế quản...
- Mẹ bị ốm, dinh dưỡng kém.
2. Nguyên nhân trong khi sinh
- Mẹ đẻ khó, phải can thiệp bằng dụng cụ.
- Mẹ chuyển dạ lâu trẻ bị ngạt.
- Mẹ đẻ quá nhanh gây sang chấn cho trẻ trong khi sinh.
- Trẻ ngôi ngược; ngôi ngang sa tay, sa chân.
8
- Trẻ bị đẻ non, thiếu tháng.
- Trẻ thiếu cân dưới 2500gr.
3. Nguyên nhân sau khi sinh và quá trình nuôi dưỡng
- Trẻ bị vàng da tan máu kéo dài.
- Trẻ bị dị tật bẩm sinh.
- Trẻ bị suy dinh dưỡng do quá trình nuôi dưỡng: thiếu sữa mẹ, nuôi không
đúng cách, thiếu các vi chất dinh dưỡng...
- Trẻ bị mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính: viêm phế quản c ấp, ỉa chảy
cấp, bại liệt, lao, ho gà, uốn ván, bạch hầu, viêm não... gây tổn thương não và các
cơ quan bộ phận.
- Trẻ bị tai nạn:
+ Ngã gãy xương, trật khớp, cứng khớp, cong vẹo tay chân do không được
xử trí kịp thời.
+ Tai nạn chấn thương não và nhiều bộ phận khác mà không đ ược phán
đoán điều trị kịp thời.
Đặc biệt trong các tai nạn như đuối nước cấp cứu chậm gây tổn thương não.
+ Ngộ độc hóa chất, ngộ độc ăn uống gây tổn thương hệ thống thần kinh.
+ Trẻ bị bỏng sẹo dúm co cứng cơ xương khớp vùng sẹo bỏng gây hạn
chế cử động chân tay, đi đứng...
III. Cách phòng tránh và hạn chế khuyết tật
1. Thực hiện chăm sóc bà mẹ trong thời gian mang thai
- Bà mẹ cần khám thai đúng quy định c ủa y t ế: 3 l ần trong chín tháng
mang thai; theo dõi ki ểm soát quá trình tăng cân trong th ời kỳ mang thai; th ực
hiện tiêm phòng u ốn ván cho m ẹ đ ầy đ ủ; h ướng d ẫn v ệ sinh thai s ản; ngh ỉ
ngơi lao động hợp lý.
- Bà m ẹ mang thai c ần chú ý ch ế đ ộ dinh d ưỡng h ợp lý, đ ầy đ ủ, tăng
c ườ ng viên s ắt, Vitamin A... nh ằm tránh suy dinh d ưỡng cho tr ẻ t ừ trong
bụng m ẹ.
- Bà mẹ cần được nghỉ ngơi hợp lý, lao động vừa sức tránh sinh non thiếu
tháng ảnh hưởng đến trẻ; sống khỏe mạnh, vui tươi trong tình cảm yêu thương
của gia đình và người thân.
2. Chăm sóc bà mẹ trong khi sinh
- Bà mẹ cần đến theo dõi và sinh tại các cơ sở y tế đ ể giúp phát hiện sớm
những bất thường của thai nhi và sức khỏe của bà mẹ.
- Đặc biệt các bà mẹ cần sinh tại các trung tâm y tế sẽ giúp tránh được các
tai biến sản khoa có thể để lại những di chứng tật nguyền cho bé như ngạt, chấn
9
thương sọ não, đẻ khó, gãy tay, gãy chân, uốn ván rốn...
3. Chăm sóc trẻ sơ sinh và bà mẹ sau khi sinh
- Trẻ sinh ra cần được kiểm tra, phát hiện sớm các dị tật. Nếu phát hi ện
trẻ bị dị tật cần liên hệ với các trung tâm can thi ệp s ớm hoặc khoa nhi đ ể đ ược
hỗ trợ can thiệp kịp thời càng sớm càng tốt.
- Chăm sóc bà mẹ để đảm bảo nguồn sữa mẹ đủ cung cấp nuôi trẻ giúp
phòng tránh suy dinh dưỡng. Tăng cường đủ các vi chất dinh dưỡng vào khẩu
phần ăn của mẹ và trẻ.
- Tiêm phòng các loại vacxin trong chương trình tiêm chủng mở rộng.
- Yêu thương chăm sóc nuôi dưỡng và đáp ứng các nhu cầu của trẻ trong đó
có nhu cầu giao tiếp, tình cảm.
4. Phòng tránh tai nạn thương tích và bệnh tật cho trẻ
- Ngoài việc chăm sóc nuôi dưỡng đáp ứng các nhu c ầu của tr ẻ, mọi gia
đình và trường lớp Mầm non cần đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ.
- Giường tủ trong gia đình, trường, lớp Mầm non phải được kê vững chắc,
có chấn song chắn và không kê cao tránh để trẻ bị ngã đau.
- Tiêm đủ các loại vacxin phòng bệnh cho trẻ.
- Không để trẻ chơi một mình những nơi gần sông suối, gần đường xe cộ,
gần các vật nhọn như dao, phích nước sôi, bếp lửa, lò sưởi, ổ cắm đi ện đ ể xa
tầm với trẻ.
- Khi trẻ bị ngã, gẫy xương cần băng bó xử lý kịp thời để tránh sai lệch xương.
- Với các trẻ nhỏ dị tật bẩm sinh cần được cơ quan y tế quan tâm chăm
sóc, phục hồi sớm cho trẻ.
- Trẻ có bệnh cần được khám phát hiện và đi ều trị kịp thời không đ ể kéo
dài mãn tính ảnh hưởng đến các bộ phận chức năng.
Ví dụ: Viêm tai mũi họng kéo dài và điều trị không kịp th ời d ứt đi ểm s ẽ
đưa đến viêm tai xương chũm gây điếc, hạn chế sức nghe, trẻ bị điếc s ẽ ảnh
hưởng đến tập nói.
IV. Phát hiện sớm trẻ khuyết tật
1. Mục tiêu của phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ Mầm non
Phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ nhằm giúp giáo viên Mầm non và gia đình
trẻ sớm nhận biết được các dấu hiệu bất thường ở trẻ và đưa đi khám phát hiện
can thiệp sớm kịp thời.
Phát hiện sớm khuyết tật và can thi ệp sớm cho tr ẻ giúp tránh đ ược các
hạn chế của khuyết tật làm ảnh hưởng đ ến sự phát tri ển c ủa tr ẻ, giúp tr ẻ s ớm
được học hòa nhập, sống hòa nhập với xã hội, không còn là gánh nặng của gia
10
đình và xã hội. Ví dụ: đối với một tr ẻ b ị khi ếm thính, n ếu đ ược phát hi ện s ớm
ở giai đoạn sơ sinh, trẻ được can thiệp s ớm b ằng c ấy đi ện c ực ốc tai ho ặc cho
đeo máy trợ thính sớm. Đặc biệt trong giai đo ạn tr ẻ h ọc nói s ẽ giúp can thi ệp và
hướng dẫn trẻ tập nói kịp thời đúng lúc. Vì vậy, vi ệc h ọc nói và phát tri ển ngôn
ngữ lời nói của trẻ không bị chậm, không ảnh hưởng đ ến ngôn ng ữ giao ti ếp l ời
nói trong cuộc sống sau này.
2. Phát hiện sớm trẻ khuyết tật Mầm non qua hình dạng và các dấu hiệu
chỉ điểm của các loại khuyết tật
2.1. Trẻ bị khó khăn về vận động
- Trẻ đẻ ra bị vàng da dẫn đến bại não: trương lực cơ giảm, phản xạ gân
xương yếu, trẻ không cử động nâng được tay, chân, đầu, cổ. Trẻ không thể lẫy,
trườn, bò được như các trẻ cùng độ tuổi. Hoặc trẻ bị co cứng cơ toàn thân bất
thường do bại não thể co cứng. Tay chân, một phần cơ thể bị co cứng, rung giật
từng cơn hoặc liên tục, có thể gặp trong bại não thể múa vờn. Trẻ đi lại khó khăn
nhón ngón chân do loạn dưỡng cơ, bại não thể co cứng.
- Trẻ 10 tháng tuổi không tự ngồi được một mình khi không có sự giúp đỡ.
Trẻ 2 tuổi không có khả năng tự đi một mình nếu không có sự giúp đ ỡ. Tr ẻ 3-4
tuổi đi lại di chuyển khó khăn do teo cơ, cứng khớp.
- Trẻ đi lại bàn chân đơ do bại não liệt cứng nửa người.
- Trẻ bị dị tật tay, chân: khoèo tay, khoèo chân; dính ngón, dính khoeo chân;
chân tay cụt, teo nhỏ cơ do bẩm sinh hoặc do tai nạn tổn thương mắc phải trong
quá trình nuôi dưỡng.
- Trẻ bị dị tật vùng đầu cổ, tăng trương lực cơ, cơ co cứng trong một số di
chứng của bệnh có tổn thương não, trẻ không cử động được tay chân và thân mình.
- Trẻ đẻ ra có hai bàn chân hoặc một bàn chân bị xoay vào trong hoặc xoay
ra sau hoặc hai bàn tay bị cứng khớp xoay chệch vị trí bình thường.
- Trẻ có bàn chân khoèo và đốt sống có túi thần kinh hoặc không, có những trẻ
không cử động hoặc mất cảm giác bàn chân, bàn chân gập mu vào trong.
- Trẻ bị yếu một tay hoặc tư thế bất thường do tổn thương đám rối thần
kinh cánh tay trong khi sinh.
- Trẻ bị trật khớp háng, sơ cứng khớp, chân ở tư thế khác nhau, chi ngắn,
chi dài, bệnh do tổn thương trong thời kỳ bào thai.
- Trẻ bị liệt cơ mềm nhũn, đặt đâu nằm yên một chỗ không cựa quậy tay,
chân hoặc chỉ một nửa người cựa quậy được: có thể bị liệt do tổn thương thần kinh.
- Trẻ bị di chứng của bại liệt: liệt nhóm cơ ở gốc chi sau một cơn s ố t,
thường liệt chân, tay không đối xứng.
11
- Tay chân hoặc một phần cơ thể có cử động bất thường không kiểm soát
được, có khi co giật, tím tái, sùi bọt mép sau vài phút trở lại bình thường gặp trong
động kinh..
- Trẻ bị giảm trương lực cơ, cơ teo nhẽo từ từ: do bệnh teo cơ, th ường do
di truyền hoặc tổn thương tủy sống.
- Trẻ bị liệt tứ chi từ từ do lao màng não, lao đốt sống.
- Trẻ bị đau khớp, cứng khớp, đi lại vẹo lệch một bên do bại li ệt, bại não,
viêm xơ cứng khớp.
- Trẻ đứng hoặc đi lại đầu gối chụm, bàn chân choãi xa nhau: chân chữ X
do còi xương nặng, biến dạng.
- Trẻ đi lại phải chống chân do bại liệt, loạn dưỡng cơ, viêm đau khớp.
- Cong vẹo cột sống, ưỡn cột sống, gù do bệnh viêm xương, viêm kh ớp,
viêm khớp đốt sống thay đổi tư thế nằm ngồi gặp khó khăn.
- Trẻ mất một phần hoặc một bộ phận cơ thể do tật bẩm sinh từ trong bụng
mẹ.
- Trẻ bị tổn thương hoặc mất một phần các bộ phận cơ thể do bị tai nạn.
Để có thể phát hiện sớm trẻ khuyết tật vận động cần dựa vào các mốc
phát triển vận động của trẻ theo tuổi để xác định:
+ Khi trẻ 1 tháng: đặt nằm ngửa mà trẻ không có c ử động chân, không co
đạp, nâng chân, đưa chân lên trên.
+ Khi trẻ 2 tháng: không thể ngẩng cất đầu khi đặt nằm sấp.
+ Khi trẻ 3 tháng: không giữ đầu tự ngẩng khi bế ngồi.
+ Khi trẻ 4 tháng: không thể ngồi thẳng khi được đặt tựa lưng và đầu ngẩng
thẳng.
+ Khi trẻ 5 tháng: trẻ không biết đạp mạnh tay, chân trong bồn nước khi tắm.
+ Khi trẻ 6 tháng: trẻ không đưa tay ra với ra trước và bò bằng 4 chi, đ ặt
nằm trẻ không tự lật ngược.
+ Khi trẻ 7 tháng: trẻ không biết ngồi cứng một lúc khi không có người đỡ,
đứng trên hai chân không vững khi được đỡ.
+ Khi trẻ 8 tháng: trẻ không thể bước đi khi được giữ ở tư thế đứng.
+ Khi trẻ 10 tháng: trẻ không thể tựa vào bàn ghế để bước đi với s ự giúp
đỡ của người lớn.
+ Khi trẻ 12 tháng: trẻ không tự đứng một mình và bò bằng hai tay, hai chân.
+ Khi trẻ 13 tháng: trẻ không tự mình đứng lên và đi vài bước xiêu vẹo.
+ Khi trẻ 15 tháng: trẻ không tự mình đi xiêu vẹo và trèo cầu thang.
+ Khi trẻ 18 tháng: trẻ không tự đi một cách vững vàng, ném đ ược bóng,
12
cúi nhặt bóng mà không ngã.
+ Khi trẻ 21 tháng: trẻ không tự trèo lên ghế, không thể bước lên cầu thang
thẳng lưng, xuống thang phải bò.
+ Khi trẻ 24 tháng: không thể tự lên xuống cầu thang từng bậc bằng hai
chân và chạy vững.
+ Khi trẻ 33 tháng: trẻ không thể nhảy chụm chân, đi nhón chân trên đầu
ngón chân.
+ Khi trẻ 48 tháng: trẻ không thể chạy theo và dùng chân đá bóng, chạy trên
đầu ngón chân và trèo lên xe ba bánh.
+ Khi trẻ 54 tháng: không thể tự lên xuống cầu thang bằng hai chân đổi
nhau ở mỗi bậc.
+ Khi trẻ 60 tháng: trẻ không thể đập nẩy bóng, nhảy lò cò, lên xuống cầu
thang dễ dàng.
Khi thấy trẻ có những dấu hiệu như trên, giáo viên và gia đình cần cho trẻ
đi khám và can thiệp sớm cho trẻ.
2.2. Trẻ khó khăn về nghe (khiếm thính, điếc)
Đó là những trẻ không đáp ứng với tiếng động, đến 3 tuổi chưa biết nói, có
thể trẻ bị điếc, chậm phát triển hoặc bại não nặng.
Trẻ không đáp ứng với âm thanh, tiếng động có thể do tai có v ấn đ ề; có
thể viêm tai giữa chảy mủ; có thể tổn thương vành tai, ống tai, bộ phận dẫn
truyền âm thanh; tổn thương bộ phận tiếp nhận phân tích âm thanh trong não.
- Tai bị tật: Nhìn bên ngoài tai của trẻ có thể bị sẹo vành tai, mất vành tai,
chỉ có lỗ tai, sẹo tắc ống tai... Những trường hợp này đều làm cho tr ẻ hạn chế
tiếp nhận âm thanh.
Có trường hợp do viêm nhiễm chảy mủ ống tai lâu ngày gây s ẹo tắc, xơ
cứng các xương tai trong của bộ phận truyền âm cũng là nguyên nhân làm cho trẻ
hạn chế hoặc không tiếp nhận được âm thanh. Trong những trường h ợp này ta
thấy trẻ có biểu hiện ngơ ngác không có phản ứng với nguồn tiếng động.
Trẻ trên hai tuổi không nói được nhất là đối với trẻ lớn khi nghe người
khác nói trẻ nhìn miệng người nói ngơ ngác, không có phản ứng, có thể nói rất to
hoặc nói rất lạ lùng.
- Trẻ bị điếc do tổn thương thần kinh: thường do bị các bệnh có tổn
thương hệ thần kinh như viêm não cấp, viêm màng não, do ngộ độc làm cho h ệ
thống thần kinh tiếp nhận, phân tích, tổng hợp, âm thanh bị tổn thương, kết quả
trẻ không nghe được âm thanh và hoàn toàn không có phản ứng với âm thanh.
Những trường hợp này gọi là điếc sâu. Theo mốc thời gian ta có thể xác định trẻ
13
có thể bị khiếm thính:
+ Sau khi sinh đến 3 tháng: trẻ không bị giật mình hay tỉnh giấc khi có tiếng
động to gần trẻ, không biết hóng chuyện và ầu ơ bắt chước, không phản ứng với
tiếng xúc xắc lắc di chuyển.
+ Trẻ 3-6 tháng: trẻ không quay đầu tìm nguồn phát ra tiếng nói của người
xung quanh, không quay đầu khi nghe gọi tên.
+ Từ 6 tháng, 9 tháng đến một năm: Trẻ chỉ “nghe” một người mà không
biết nghe những người khác. Trẻ tách mình ra khỏi cuộc sống không nghe và
không biết làm theo bạn và người khác.
+ Từ 1,5 năm đến 2 tuổi: Trẻ ít nói hoặc chậm biết nói. Trẻ sợ tiếp cận
phía sau. Không hiểu ngôn ngữ lời nói và không làm theo được 2 yêu cầu c ủa cha
mẹ, người thân và cô giáo...
+ Trẻ từ 2,5 đến 4 tuổi: Không nghe và hiểu được lời nói, không nhắc l ại
chuyện kể ngắn. Nói thầm cách xa 0,5m không để trẻ nhìn miệng, trẻ không
nhắc lại được các từ đã nói thầm.
+ Trẻ 5 tuổi: Trẻ không hiểu các câu chuyện trong gia đình; nghe được rất
ít, phải nhắc đi nhắc lại trẻ mới nghe thấy, thường nhìn hình mi ệng mới nhận
được ra lời nói. Trẻ gặp khó khăn trong giao tiếp: không thể diễn đạt được câu và
chuyện phù hợp với ngữ cảnh; hoặc có thể nói to...
Khi thấy trẻ có những biều hiện bất thường như trên nên khuyên gia đình
đưa trẻ đi khám tai mũi họng để được đo thính lực đồ, kiểm tra đeo máy trợ thính.
2.3. Trẻ bị tật thị giác (khiếm thị)
- Khi trẻ không đáp ứng với ánh sáng, không nhìn theo ánh sáng, không
nhìn theo dải tua màu sắc: mắt có thể bị màng giáp mạc che hoặc tổn th ương bên
trong đáy mắt gây giảm thị lực hoặc mù.
- Trẻ không quay đầu nhìn theo đồ vật, không với tay theo đồ vật, mắt
không bình thường có thể mù.
+ Sẹo giác mạc (thường gọi là mộng mắt): Mắt có hình d ạng bên ngoài
bình thường, bên trong tròng mắt có s ẹo, vệt sẹo tr ắng, h ồng che ph ủ m ột ph ần
hoặc toàn bộ tròng đen làm cho trẻ nhìn h ạn ch ế. S ẹo này th ường do suy dinh
dưỡng, thiếu vitaminA gây khô loét giác m ạc đ ể l ại s ẹo. Có th ể s ẹo do tai n ạn
cây, que chọc vào mắt hoặc bị bỏng. Bi ểu hi ện chòng đen m ắt b ị v ệt m ờ che
khuất một phần hoặc toàn bộ làm cho trẻ nhìn khó khăn, đ ầu ph ải nghiêng, nghé
khi nhìn. Trẻ đi lại phải lần sờ và hay va ch ạm vào đ ồ v ật xung quanh, tìm ki ếm
đồ chơi, đồ vật khó khăn.
+ Mắt lác (còn gọi là mắt lé): Nhìn mắt bên ngoài bình thường tròng đen mắt
14
bị kéo lệch vào bên trong hay lệch ra bên ngoài. Nếu tròng đen bị kéo lệch vào trong
gọi là lác trong, tròng đen bị kéo lệch ra bên ngoài gọi là lác ngoài. Lác có thể bị một
mắt hoặc cả hai mắt, mắt lác làm giảm thị lực và hạn chế tầm nhìn của mắt.
Nguyên nhân do các cơ bám giữ thăng bằng cho nhãn cầu mắt bị liệt.
+ Mắt cận thị (tật khúc xạ ánh sáng): Trẻ khó khăn khi nhìn xa, thường
phải nhìn sát vào vật cần nhìn. Tật này do màng thuỷ tinh th ể b ị dày. C ận th ị có
thể do bẩm sinh hoặc mắc phải.
+ Sụp mi: Nhiều trường hợp trẻ bị sụp mi một bên hoặc hai bên, cơ nâng
mi mắt trên của trẻ bị liệt, mi sụp che khuất tầm nhìn của con ngươi, khi nhìn
phải nghiêng ngửa đầu, dướn mắt mới nhìn được. Nếu không được điều trị lâu
ngày đưa đến giảm thị lực.
+ Tật bên trong mắt có gây biến dạng mắt: Trẻ bị teo nhãn cầu một bên
hoặc hai bên, có thể do bẩm sinh hoặc do tai nạn làm x ẹp nhãn cầu, hoàn toàn
không nhìn được; mi mắt và con ngươi di động nhanh, có biểu hiện rung giật
hoặc có cử động bất thường: có thể mù, bại não, động kinh.
+ Sẹo bỏng dính mắt: mắt bị sẹo bên ngoài do bỏng gây co kéo che ph ủ
làm cho mắt không nhìn được.
+ Một số tật khác của mắt có thể gặp: đục thủy tinh thể, đục th ủy tinh
dịch, tật nhãn cầu, teo gai thị thần kinh... Nhìn bên ngoài mắt có th ể có dạng bình
thường nhưng nhìn các vật mờ, không phân biệt được mầu sắc và nặng hơn là
không nhìn thấy gì trong trường hợp teo gai thị, bong võng mạc.
+ Trẻ không có sự tiếp xúc bằng mắt, nhìn lờ đờ.
+ Trẻ phải điều chỉnh, nghiêng đầu, xoay cổ, hoặc cố định một bên mặt,
để nhìn bằng mắt còn lại.
+ Trẻ với tay không chính xác khi với lấy các đồ vật.
+ Hai mắt chuyển động không đều hay một mắt di chuyển.
+ Mắt chuyển động ngang hay thẳng đứng quá nhanh (rung giật nhãn cầu)
+ Không có đồng tử mắt trong veo, đen (giác mạc bị mờ, con ngươi trắng,
hai mắt có tròng đỏ nhiều, hiện tượng phản sáng khi chụp ảnh có đèn flat).
+ Thường xuyên ướt nước mắt khi trẻ không khóc do trẻ bị tắc lệ đạo.
+ Có phản ứng không thoải mái với ánh sáng mạnh (chứng sợ sáng).
+ Kết mạc của mắt thường xuyên bị đỏ.
+ Hình dáng, cỡ và cấu tạo mắt thường rõ rệt.
Trẻ bị khuyết tật thị giác ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến tư duy bị chậm do
thiếu các hình mẫu giúp trẻ tư duy trực quan trong quá trình hình thành các khái niệm.
+ Nếu được phát hiện và khắc phục sớm các biểu hiện của tật khiếm thị
15
chúng ta sẽ giúp trẻ tránh được chậm phát triển tư duy rất nhiều.
2.4. Trẻ chậm phát triển trí tuệ và hành vi không thích ứng
- Trẻ đẻ ra yếu, mềm nhẽo có kèm theo đẻ khó, đẻ ra không khóc ngay, trẻ
bị xanh tím, trẻ đẻ non trước 36 tuần: có thể trẻ bị bại não hoặc chậm phát triển.
- Trẻ chậm biết ngẩng đầu và cử động chân tay, mặt tròn, mắt xếch, lưỡi
dày, lưỡi đùn: hội chứng Down do rối loạn nhiễm sắc thể gene.
+ Trẻ đẻ ra có đầu bé, nhọn: biểu hiện của bệnh não bé (ngu đần).
+ Trẻ đẻ ra không bú được, khó nuốt, hay trào sữa ra miệng, hay s ặc, khó
nuốt: có thể do bại não.
+ Đầu to, mắt ngày càng bị lấn ép xuống dưới có biểu hiện mặt trời lặn:
não úng thủy.
- Trẻ có biểu hiện chậm phát triển hơn các trẻ khác về các mặt:
+ Vận động, phản ứng với ngoại cảnh, phản ứng với âm thanh tiếng nói.
+ Phản ứng với ánh sáng, hoặc không thể hiện ý thích mong muốn của
mình, thờ ơ với ngoại cảnh. Thường đây là dấu hiệu của trẻ có biểu hiện tổn
thương não, gây chậm phát triển trí tuệ.
- Trẻ có đầu to, da khô, trán rô, lưỡi đùn, tóc mọc thấp xuống trán, mí mắt
sụp: hội chứng đần độn do tổn thương tuyến giáp, thiếu Iot.
- Nhìn hình dáng bên ngoài trẻ có thể bình thường như những trẻ cùng tuổi
song có những biểu hiện như: trẻ 1 tuổi không biết được tên mình; trẻ 3 tu ổi
không nhận biết được các bộ phận của cơ thể; trẻ 4 tuổi không hiểu được câu
hỏi đơn giản; trẻ có hiểu biết khó khăn hơn trẻ bình thường khác. Nói cách khác
trẻ có biểu hiện tuổi trí tuệ kém hơn tuổi thực. Trẻ học thiếp thu chậm, hay quên.
Mọi hoạt động của trẻ không hòa nhập thích ứng kịp với môi trường xung quanh.
Thường gặp trong bại não, động kinh.
- Trẻ chậm phát triển do bại não; do tật nặng về thính giác, v ề thị giác
hoặc về vận động:
+ Trẻ chậm lẫy, chậm ngồi, chậm biết đi so với trẻ khác.
+ Trẻ có trí nhớ kém, khó tập trung vào một công việc hay một hoạt động,
hoặc đi vơ vẩn một mình, hoặc chạy nhảy leo trèo hiếu động.
+ Trẻ không biết chơi với đồ chơi, hay đập phá; không biết chơi với bạn.
+ Trẻ cư xử, nói năng chậm chạp, kém so với tuổi.
+ Sinh hoạt hàng ngày không giống trẻ khác.
+ Trẻ biết nói muộn, nói câu ngắn đơn giản, từ ngữ nghèo nàn.
+ Trẻ đi học: học chậm, nhớ kém.
+ Trẻ không thích ứng với môi trường, khó hòa nhập với bạn bè.
16
Khi thấy trẻ có những biểu hiện trên cần đưa trẻ đi khám để được tư vấn
và can thiệp sớm.
2.5. Trẻ khó khăn về nói và ngôn ngữ
Trẻ bị dị tật vùng mũi, miệng: sứt môi hở hàm ếch, họng bị d ị t ật bẩm
sinh hoặc mắc phải nên khi khóc cười không phát ra âm thanh hoặc phát ra âm
thanh không tròn tiếng, ngọng.
Trẻ bị tổn thương trung khu thần kinh tiếp nhận điều hành bộ phận âm
thanh tiếng nói.
Khi bị tổn thương trung ương thần kinh tiếp nhận, trẻ sẽ không tiếp nhận
phân tích được âm thanh lời nói và cũng không thể đi ều hành được các b ộ ph ận
phát âm và nói.
Thường gặp ở trẻ bị tổn thương não bẩm sinh hay mắc phải, trẻ không
thể nói được hoặc nói lắp. Biểu hiện trẻ 18 tháng không phát âm được từ “mẹ”;
trẻ 2 tuổi không gọi được tên một người nào trong nhà; trẻ 3 tuổi không nhắc
được câu đơn giản; trẻ 4 tuổi không nói được câu đơn giản đủ nghĩa; trẻ 5 tu ổi
không nói chuyện, giao tiếp được với người trong gia đình. Khi nói trẻ di ễn đ ạt
không mạch lạc, lắp bắp...
2.6. Trẻ bị rối loạn tình cảm, không quản lý được hành vi
- Trẻ có những biểu hiện tình cảm bất thường, lúc cười, lúc khóc không
có nguyên nhân.
- Hoạt động của trẻ không hòa nhập, thích ứng với môi trường xung
quanh, biểu hiện tăng động, đứng ngồi không yên, thích đánh đấm người khác và
bản thân, thích la hét, chạy nhảy...
2.7. Trẻ tự kỷ
Với trẻ bé khó phát hiện, khi trẻ được 2-3 tuổi không giao tiếp, lúc đó
người thân mới chú ý và phát hiện được. Trẻ không giao ti ếp bằng mắt, không
biết chơi cùng bạn, chỉ thích chơi một mình, ưa gây tiếng ồn, thích những màu
sắc đặc trưng hoặc trẻ không nói, không biểu đạt và đáp ứng tình cảm khi có sự
kích thích: vui buồn hay khi không đồng ý.
2.8. Trẻ có khuyết tật khác về sức khỏe
- Sứt môi, hở hàm ếch.
- Biến dạng và có dị tật bẩm sinh một hay nhiều bộ phận cơ thể.
- Đáp ứng với tiếng động chậm, hoặc nhìn chậm có thể do điếc, mù, bại não...
- Trẻ tím tái biểu hiện của thiếu oxy do dị tật bẩm sinh, trẻ d ễ bị ngất,
tổn thương não...
- Trẻ luôn có cử động bất thường; chân tay co cứng, đầu cổ co, có th ể cả
17
điếc, mù, suy dinh dưỡng...
- Trẻ bị xuất huyết màng não.
- Trẻ bị ỉa chảy, mất nước, viêm não cấp, viêm phế quản phổi, ho gà, uốn
ván, bại liệt, co giật để lại di chứng...
- Có vấn đề trong ứng xử: tự cắn xé, giật tóc, đập dầu... tổn thương não.
- Trẻ bị viêm tai giữa cấp và mãn tính chảy mủ kéo dài gây điếc làm cho
trẻ không nói được, nói ngọng, nói không rõ.
- Trẻ có khó khăn trong phát âm và giao ti ếp do các t ổn th ương c ủa c ơ
quan thính giác và bộ ph ận phát âm gây ảnh h ưởng đ ến ngôn ng ữ l ời nói.
2.9. Trẻ bị khiếm thính kết hợp với khiếm thị
Trẻ không nghe và tìm tiếng động, không có phản xạ với tiếng động, mặt
khác mắt có biểu hiện mù, không nhìn theo ánh sáng, đồ chơi màu sắc. Mắt có thể
bị teo nhãn cầu, xẹp cầu mắt, mắt bị kéo màng trắng...
2.10. Trẻ đa tật
Cùng trên một trẻ xuất hiện đồng thời nhiều tật: tật vận động, tật về
mắt, tật về tai... thường gặp trong trẻ bại não.
2.11. Trẻ có khó khăn trong học tập
Biểu hiện nhận biết mọi vật chậm, không có phản ứng với những tác
động của bên ngoài. Thường gặp ở trẻ động kinh, bại não.

Câu hỏi ôn tập
1. Hãy cho biết khái niệm về trẻ khuyết tật và các dạng khuyết tật thường
gặp ở trẻ.
2. Hãy cho biết các nguyên nhân gây khuyết tật ở trẻ. Cách phòng tránh.
3. Các dấu hiệu giúp phát hiện sớm trẻ khuyết tật.
4. Hãy xây dựng một buổi tuyên truyền cho cha mẹ và cộng đồng về các
dấu hiệu phát hiện sớm của một trong các loại khuyết tật hay g ặp ở trẻ l ứa tuổi
Mầm non. Cách xử trí khi phát hiện được các dấu hiệu đó.




Phần III
TỔ CHỨC CAN THIỆP SỚM VÀ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP
18
CHO TRẺ KHIẾM THÍNH TỪ 0-6 TUỔI


I. Những vấn đề chung
1. Cấu tạo tai
Tai người có cấu trúc phức tạp và được chia làm 3 phần: tai ngoài, tai giữa
và tai trong.
Tai ngoài gồm vành tai và ống tai có nhiệm vụ thu nhận và hướng sóng âm
đến màng nhĩ.
Tai giữa là một hốc không khí thông với khoang mũi - hầu qua vòi Eustachi
(vòi nhĩ), bắt đầu từ màng nhĩ và kết thức ở màng cửa sổ bầu dục. Ở đây có ba
xương thính giác nhỏ (xương búa, xương đe và xương bàn đạp) tạo thành một
chiếc đòn bẩy để chuyển đổi sóng âm từ màng nhĩ đến chất dịch lỏng chứa ở tai
trong qua một cửa sổ bầu dục. Vòi Eustachi bình thường đóng, chỉ mở khi ta nuốt
hoặc ngáp để tạo sự cân bằng áp suất không khí ở hai bên màng nhĩ.
Tai trong có cấu tạo rất phức tạp vì nó có nhiệm vụ hết sức quan trọng là làm
biến đổi các dao động cơ học của âm thanh thành những xung điện thần kinh. Những
xung điện thần kinh này được truyền lên khu vực nghe ở vỏ não qua những sợi của
dây thần kinh số 8. Tai trong có cấu trúc hình xoắn ốc, và nhỏ như hạt đậu (gọi là ốc
tai) chứa những tế bào cảm giác làm nhiệm vụ chuyển đổi tín hiệu âm thanh.
2. Khái niệm tật điếc
Trong ngôn ngữ phổ thông, đi ếc th ường đ ược hi ểu là m ất thính giác
hoàn toàn, không nghe đ ược chút nào c ả ho ặc gi ảm sút nhi ều v ề thính giác
nghe không rõ. Đó cũng là đ ịnh nghĩa trong các t ừ đi ển ph ổ thông. Trong ngành
y, điếc có nghĩa là gi ảm sút hoặc m ất toàn b ộ hay m ột ph ần s ức nghe. Trong
giáo dục đặc biệt ta cũng có th ể s ử d ụng thu ật ng ữ này. Thay cho thu ật ng ữ
điếc ta còn gặp những thuật ngữ nh ư: khi ếm thính hay khuy ết t ật thính giác.
Trung bình trong 1.000 trẻ sinh ra thì có 2 em bị điếc bẩm sinh từ mức nặng
đến mức sâu, trong số 1.000 trẻ đó có thêm 2 em bị đi ếc m ắc ph ải (đi ếc sau khi
sinh). Đây là tỉ lệ trung bình, ở mỗi xã hội trẻ bị điếc có thể cao hoặc thấp hơn.
Đối với một số trẻ bị giảm sức nghe, âm thanh mà trẻ nghe được chỉ nhỏ hơn
so với bình thường. Đối với một số trẻ bị giảm sức nghe khác, âm thanh mà trẻ nghe
được có thể và bị nhỏ hơn hoặc vừa bị méo mó. Chỉ có rất ít trẻ bị điếc sâu mà
không còn nghe được chút nào cả (con số này nhỏ hơn 5% trẻ bị khiếm thính).
Một số trẻ bị giảm sức nghe có thể:
- Mức độ giảm nghe ở hai bên tai là như nhau.

19
- Mức độ giảm sức nghe ở hai bên tai là khác nhau.
- Một tai bị giảm sức nghe và một tai nghe bình thường.
3. Các loại điếc
Nếu một trẻ bị giảm sức nghe thì điều đó có nghĩa là một bộ phận nào đó
của bộ máy thính giác bị tổn thương. Sự tổn thương đó có thể xẩy ra ở tai ngoài,
tai giữa hoặc tai trong.
3.1. Điếc dẫn truyền
Nếu việc giảm sức nghe là do bị tổn thương ở phần tai ngoài hay tai giữa
người ta gọi là điếc dẫn truyền. Do bị tổ thương mà việc dẫn truyền âm thanh tới
tai trong bị ảnh hưởng.
3.2. Điếc tiếp nhận
Việc giảm sức nghe có thể do bị tổn thương ở phần tai trong, khi đó ta gọi
là điếc tiếp nhận. Nếu một trẻ bị giảm sức nghe nhưng không có vấn đ ề gì ở tai
ngoài hay tai giữa thì thường là do tổn thương ở tai trong nơi mà các xung đ ộng
điện được phát ra và sau đó được chuyển lên não.
3.3. Điếc hỗn hợp
Một số trẻ vừa bị điếc tiếp nhận vừa bị điếc dẫn truyền. Trong trường
hợp này người ta gọi là điếc hỗn hợp.
4. Những nguyên nhân gây điếc ở trẻ em
4.1. Những nguyên nhân trước khi sinh
Di truyền, nhiễu loạn về gen. Điếc di truyền là nguyên nhân tương đối phổ
biến. Điếc di truyền có khi chỉ biểu hiện một tật điếc, có khi tật đi ếc ch ỉ là m ột
phần của hội chứng. Ngày nay người ta tìm được khoảng 130 hội chứng trong đó
có tật điếc. Ví dụ: Hội chứng Usher (điếc và viêm võng mắc s ắc tố). Hội chứng
Bardet - Biedle (trí tuệ trì độn, viêm võng mặc sắc tố, nhiều ngón tay, điếc). Hội
chứng Waardenburg (chỏm tóc bạc, tóc bạc sớm, mắt xanh,... điếc).
- Mắc bệnh trong thời kỳ thai nghén: cúm, sởi, giang mai...
- Nhiễm độc trong thời kỳ thai nghen do thuốc, hoá chất (strepto-mycin...).
- Đối kháng nhóm máu Rh giữa mẹ - con.
4.2. Những nguyên nhân trong khi sinh
- Đẻ non, đẻ khó, ngạt đẻ.
- Sang chấn khi đẻ, foóc-xep lấy thai.
4.3. Những nguyên nhân sau khi sinh
- Các nhiễm khuẩn, nhiễm virut như viêm màng não, viêm não, quai bị, sởi...
- Các viêm tai - xương chũm.

20
- Nhiễm độc do sử dụng thuốc, đặc biệt lưu ý tới streptomycin.
- Ngoài ra còn rất nhiều trường hợp điếc không rõ nguyên nhân.
5. Ảnh hưởng của tật điếc ở trẻ em
Ảnh hưởng chính là tới khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ nói của trẻ. Mức
độ phát triển ngôn ngữ nói của trẻ bị ảnh hưởng phụ thuộc vào những yếu tố sau:
Mức độ điếc sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ và lời nói của trẻ:
Thông thường, điếc càng nặng thì càng ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn
ngữ của trẻ. Mức độ điếc được biểu hiện trên thính lực đồ.
- Nghe bình thường: một người nghe bình thường thì rất dễ tiếp nhận âm
thanh lời nói.
- Điếc nhẹ (điếc mức I (21-40dB): nếu không đeo máy trợ thính, một trẻ
điếc mức I có thể không nghe thấy được một số âm thanh lời nói - đặc biệt là các
phụ âm nhỏ. Nếu nói rất nhỏ trẻ sẽ không nghe thấy một số âm thanh.
- Điếc trung bình (điếc mức II (41-70dB): nếu không có máy trợ thính, trẻ
điếc mức độ II sẽ không nghe thấy một số âm thanh lời nói.
- Điếc nặng (điếc mức III (71-90dB): nếu không đeo máy trợ thính, trẻ điếc
mức III sẽ không nghe được phần lớn âm thanh của ngôn ngữ nói trong giao tiếp
thông thường.
- Điếc sâu (điếc mức IV (> 90dB): nếu không đeo máy trợ thính, một trẻ
điếc mức IV sẽ không nghe thấy chút nào của âm thanh lời nói trong giao tiếp
thông thường, thậm trí ngay cả khi nói to trẻ cũng không nghe thấy.
Thời gian bị điếc (tật điếc xuất hiện trước hay sau thời kỳ phát triển ngôn
ngữ) sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ lời nói:
Ngay từ sau khi sinh trẻ đã phải học để hiểu những âm thanh mà ta nghe
thấy. Lúc mới sinh trẻ chưa hiểu được lời nói nhưng trẻ có thể hiểu được ý nghĩa
khái quát lời nói dựa vào cường độ, nhịp điệu và trọng âm của l ời nói. Trẻ có th ể
nhận ra giọng nói của người mẹ. Nhưng nếu sinh ra trẻ đã bị đi ếc sẽ không hi ểu
được ý nghĩa của lời nói.
Nếu trẻ nghe được bình thường và trong môi trường học - ngôn ngữ bình
thường, môi trường dường như bất cứ bà mẹ nào cũng có sẵn, trẻ dần dần hình
thành những mối liên hệ giữa âm thanh lời nói mà bé nghe được với thế giới xung
quanh. Tới khoảng 12 tháng tuổi trẻ đã hiểu được lời nói rất nhiều. Chúng ta gọi
đây là ngôn ngữ tiếp nhận. Nhưng ở độ tuổi này trẻ mới chỉ nói rõ được rất ít từ.
Như vậy ngôn ngữ biểu đạt rất giới hạn cho với ngôn ngữ ti ếp nhận. Bao gi ờ



21
cũng tồn tại sự khác biệt này ở người lớn chúng ta hiểu được ngôn ngữ phức tạp
nhiều hơn là chúng ta có thể nói.
Ngôn ngữ biểu đạt của trẻ nghe đ ược bình th ường ph ụ thu ộc vào s ự tích
luỹ ngôn ngữ tiếp nhận ban đ ầu. Tr ẻ b ị đi ếc b ẩm sinh s ẽ b ị m ất đi ti ến trình
học ngôn ngữ ngay từ đầu tiên. Nếu không đeo máy tr ợ thính và không có
những chỉ dẫn cho cha mẹ thì vi ệc hi ểu ngôn ng ữ c ủa bé s ẽ ngày càng b ị ch ậm
trễ, việc biết nói cũng bị chậm l ại và r ất khó khăn. Tuy nhiên, n ếu m ột tr ẻ b ị
điếc do bệnh tật hay bị tổn thương thính giác khi tr ẻ đã phát tri ển ngôn ng ữ
tiếp nhận và ngôn ngữ biểu đạt một cách bình th ường thì ch ỉ b ị ảnh h ưởng
mức độ. Những trẻ này khi bị điếc có kh ả năng g ắn ý nghĩa cho nh ững âm
thanh nghe được hơn là trẻ bị đi ếc b ẩm sinh r ất nhi ều ngay c ả khi âm thanh có
nhỏ hơn hoặc bị nhiễu. Khả năng này còn t ốt h ơn r ất nhi ều n ếu tr ẻ đ ược đeo
máy trợ thính ngay sau khi b ị đi ếc cùng v ới vi ệc gia đình nh ận đ ược s ự h ỗ tr ợ
về chuyên môn để v ượt qua được thời gian khó khăn; đ ược cung c ấp nh ững
thông tin chính xác và đ ược h ỗ tr ợ đ ể ti ếp t ục t ạo ra môi tr ường phát tri ển t ốt
nhất mà họ có thể. Trẻ càng có nhi ều th ời gian “t ắm mình” trong ngôn ng ữ thì
trẻ càng có khả năng tiếp tục phát tri ển ngôn ng ữ.
Chất lượng hiệu chỉnh máy trợ thính sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn
ngữ và lời nói:
Cũng như việc chỉ định đeo kính cho những người có vấn đề về thị giác là
phải đo thị giác, việc chỉ định máy trợ thính cho trẻ có vấn đ ề v ề nghe phải d ựa
vào kết quả của việc đo sức nghe một cách chính xác (Điều này không có nghĩa là
việc hiệu chỉnh máy trợ thính sẽ bù lại sức nghe cũng như cách mà kính có thể bù
đắp cho thị lực. Máy trợ thính chỉ làm cho âm thanh to lên chứ không sửa chữa
được sự méo mó của âm thanh mà trẻ điếc có thể nghe thấy. Tuy nhiên, đ ộ
khuyếch đại của máy trợ thính có thể được điều chỉnh ở các tần số khác nhau để
phù hợp với sự mất thính lực của mỗi trẻ).
Sẽ không có nghĩa gì n ếu l ựa ch ọn máy tr ợ thính v ới nh ững lí do khác
mà không xem máy tr ợ thính đó có phù h ợp v ới s ức nghe c ủa tr ẻ hay không.
Đôi khi máy tr ợ thính đ ược ch ỉ đ ịnh d ựa vào giá máy hay là ch ỉ cho r ằng máy
trợ thính “kỹ thuật s ố” ch ắc ch ắn s ẽ t ốt h ơn, có khi máy tr ợ thính thông
thườ ng và rẻ hơn lại phù h ợp h ơn.
Việc can thiệp sớm hay muộn (hay không can thiệp chút nào) sẽ ảnh hưởng
tới sự phát triển ngôn ngữ và lời nói:



22
Ngôn ngữ có thể phát triển tốt nhất đối với trẻ điếc nếu gia đình nhận
được sự hỗ trợ, thông tin và tư vấn (can thiệp) từ rất sớm. Nếu can thiệp s ớm
được thực hiện trước 6 tháng tuổi thì kết quả thu được sẽ tốt nhất. Nếu gia đình
nhận được sự hỗ trợ và hướng dẫn càng muộn thì sự phát triển ngôn ngữ nói của
trẻ càng bị hạn chế. Nếu gia đình không nhận được sự hỗ trợ nào thì trẻ điếc khó
mà có thể phát triển ngôn ngữ nói tốt được.
Chất lượng của can thiệp sớm sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ
và lời nói của trẻ:
Không chỉ can thiệp sớm là quan trọng mà quan trọng hơn cả là can thiệp có
chất lượng. Một khía cạnh quan trọng nhất của can thiệp sớm là vi ệc h ỗ tr ợ và
hướng dẫn của người thực hiện chương trình để tạo ra cho trẻ một môi trường
tốt nhất. Nếu người thực hiện chương trình cung cấp những thông tin tốt và gia
đình thực hiện theo thì trẻ sẽ phát triển ngôn ngữ một cách tốt nhất. Như vậy làm
thế nào để biết một chương trình can thiệp sớm có chất lượng hay không? Nếu
người thực hiện chương trình nói rằng chương trình can thiệp của họ là có chất
lượng thì không thích đáng. Chúng ta sẽ tìm hiểu về những đặc điểm của một
chương trình can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính có chất lượng ở phần sau.
Trí tuệ của trẻ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ và lời nói của
trẻ:
Trẻ chậm phát triển trí tuệ hay trẻ có những khuyết tật khác thì vi ệc phát
triển ngôn ngữ có thể bị trì trệ. Trí tuệ càng bị ảnh hưởng nặng thì ngôn ngữ càng
có khó khăn. Trẻ khiếm thính kèm theo chậm phát triển trí tu ệ thì có th ể r ất có
khó khăn trong việc phát triển ngôn ngữ.
Thái độ của trẻ có th ể ảnh h ưởng đ ến s ự phát tri ển ngôn ng ữ và l ời nói
của trẻ:
Nếu trẻ khiếm thính có được sự chấp nhận, hỗ trợ của gia đình và gia đình
hiểu được tầm quan trọng vai trò của học trong việc cung cấp môi trường học ngôn
ngữ tốt nhất thì trẻ có cơ hội tốt nhất để phát triển ngôn ngữ.
II. Can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính từ 0-3 tuổi
Can thiệp sớm đơn giản chỉ là làm một cái gì đó để giúp trẻ và gia đình
càng sớm càng tốt. Tại Việt Nam đã có hơn 20 tỉnh triển khai làm can thi ệp s ớm
cho trẻ khiếm thính với số lượng trên 30 chương trình. Hầu hết các chương trình
này hầu hết được đặt ở trường dạy trẻ điếc với nhiệm vụ giúp đ ỡ gia đình tr ẻ
điếc. Bí quyết can thiệp sớm thành công là hãy bắt đầu sớm, càng sớm càng tốt.
1. Nội dung can thiệp sớm

23
Có nhiều trường hợp nội dung can thiệp sớm chỉ bắt đầu làm việc với gia
đình khi trẻ đã được phát hiện và chuẩn đoán là bị điếc. Tuy nhiên phát hiện s ớm
và chuẩn đoán sớm là một phần của công tác can thiệp sớm. Có thể nói, đó là
những bước đi đầu tiên của cả tiến trình giúp đỡ gia đình và trẻ.
1.1. Phát hiện sớm
Trong nhiều trường hợp cha mẹ và gia đình là những người đầu tiên nghi
ngờ sự bất ổn về thính giác của con mình. Gia đình có nhiều cách đ ể nhận bi ết
rằng con mình có vấn đề về thính giác hay không.
- Có một số cơ sở y tế kiểm tra thính giác của trẻ sơ sinh bằng khám sàng
lọc thính giác.
- Gia đình có thể đang sống trong khu vực mà cơ quan y t ế đ ịa ph ương đã
tổ chức khám sàng lọc cho trẻ từ 6-12 tháng.
- Trẻ được khám sàng lọc khi học ở trường Mầm non.
- Đưa trẻ đi khám ở các bệnh viện tai - họng hoặc bác sĩ khi th ấy trẻ đau
hoặc viêm tai. Nếu cần, bác sĩ sẽ đề nghị kiểm tra thính lực.
1.1.1. Những dấu hiệu có nguy cơ bị điếc
- Tiền sử gia đình có người bị điếc từ nhỏ.
- Mẹ bị cúm trong thời kỳ thai nghén hoặc nhiễm khuẩn trước khi sinh.
- Điểm Apgar test: 0-4 sau khi sinh 1 phút, 0-6 sau khi sinh 5 phút.
- Khi sinh cân nặng dưới 1500gam.
- Bệnh vàng da, đầu và cổ bất thường sau khi sinh.
- Sử dụng thuốc có ảnh hưởng tới tai: aspirin liều cao, thuốc kháng sinh
erythromycin và streptomycin.
- Những nhân tố phát sinh về sau: viêm màng não, phát triển thể chất chậm,
sởi, quai bị...
- Cha mẹ hoặc người chăm sóc lo lắng trẻ có vấn đề trong giao ti ếp hay
chậm phát triển.
1.1.2. Phương pháp theo dõi sức nghe và phát hiện điếc ở trẻ em
Có nhiều cách phát hi ện đi ếc ở tr ẻ em. Chúng ta có th ể tham kh ảo m ột
cách được giới thiệu trong cu ốn “Nh ững v ấn đ ề v ề đi ếc và ngh ễnh ngãng, N ội
trú tai mũi h ọng - s ố 2 - B ộ môn tai mũi h ọng, ĐH Y d ược Thành ph ố H ồ Chí
Minh - 1992”.
Nghe hiểu Tuổi Nói
- Trẻ có chú ý nghe tiếng nói không? Mới đẻ - Trẻ có biết từ “à”, “ứ” không?
- Trẻ có giật mình hoặc khóc


24
khi nghe tiếng ồn không ?
- Trẻ có tỉnh giấc lúc có tiếng
động không?
- Trẻ có quay về phía có người - Trẻ có bập bẹ không?
3 tháng
- Trẻ có tiếng khóc khác nhau để
nói không?
- Trẻ có cười với người nói biểu hiện các yêu cầu khác nhau
chuyện không? không?
- Trẻ có ngừng chơi hoặc có tỏ - Trẻ có lặp lại nhiều lần một
ra nhận biết tiếng mẹ đẻ số tiếng nào đó không?
không?
- Trẻ có đáp ứng khi gọi tên không? - Trẻ có bập bẹ theo tiếng mẹ
6 tháng
- Trẻ có chú ý hoặc tìm nguồn tuy không rõ không?
- Trẻ có phát ra nhiều âm khác
phát âm không?
- Trẻ có quay đều về phía có nhau không?
nguồn âm không?
- Trẻ có đáp ứng được vài câu - Trẻ có nói một vài từ (tuy
9 - 12 tháng
đơn giản không? không rõ) không?
- Trẻ có quay đầu hoặc nhìn lên - Trẻ có thích thú khi học nói
khi gọi không? theo không?
- Trẻ có tìm hoặc nhìn quanh khi - Trẻ có phát ra từ lí nhí như
có tiếng ồn lạ không? tiếng nói không?
- Trẻ có hóng chuyện không? - Trẻ có phát ra âm thanh gì để
mẹ chú ý không?
- Trẻ có 2-3 từ lúc 1 tuổi.
- Trẻ có làm theo được 2 yêu cầu 1,5 đến 2 - Trẻ có được 8-10 từ lúc 1,5
không? (lấy quả bóng và đặt lên bàn) tuổi tuổi, 10-15 từ lúc 2 tuổi.
- Trẻ có lặp lại các yêu cầu không?
- Trẻ có đặt câu hỏi 2 từ không?
- Trẻ có dùng câu ghép 2 từ không?
- Trẻ hiểu dễ dàng khi nói 2,5 đến 4 - Trẻ đã nói được đủ tiếng
chuyện không? tuổi không? (có thể thiếu các phụ âm
- Trẻ vẫn nghe được khi ta s, d, l, r...)
ngoảnh lưng lại trong lúc nói - Trẻ có nói lặp lại một vài từ
không? trong câu không?
- Trẻ có biết quay núm vặn đài - Trẻ có vốn từ 200-300 từ không?
to nhỏ vừa phải không? - Trẻ có nói được câu 2-3 từ trở

25
- Có phân biệt các từ đối lập lên không?
- Trẻ đặt câu hỏi tại sao, như
nghĩa không?
- Trẻ có thể chỉ đúng, gọi tên thế nào không?
- Kiểu nói sai từ và nói lắp đã hết
hình trong tranh không?
- Trẻ có chú ý đến các tiếng chưa?
động khác nhau (mèo, chó...) - Trẻ thích gọi tên các đồ vật không?
- Trẻ nghe và hiểu hầu hết các 5 tuổi - Trẻ phát âm đúng mọi thứ
câu chuyện trong gia đình không? tiếng không?
- Trẻ nghe và trả lời ngay các - Trẻ dùng các cấu trúc câu như
câu hỏi không cần lặp lại mọi người trong gia đình không?
- Giọng của trẻ rõ ràng trong
không?
- Trẻ nghe được giọng nói bình sáng như trẻ khác không?
thường không?
- Mọi người thân thuộc đều
nghĩ trẻ nghe bình thường
không?

1.2. Chẩn đoán sớm
Ngay khi nghi ngờ rằng trẻ có vấn đề về thính giác hãy sớm đưa trẻ đi
kiểm tra (đo sức nghe) tại một trung tâm thính học. Tuỳ theo đi ều kiện và đ ộ tuổi
người ta thực hiện những test đo sức nghe khác nhau: quan sát hành vi, đo phản xạ
định hướng có điều kiện, đo đơn âm kết hợp với trò chơi, đo đơn âm, đo trở
kháng, đo âm ốc tai, đo điện thính giác thân não... Nếu kết quả khẳng định trẻ bị
mất thính lực, trung tâm thính học sẽ khuyến nghị gia đình nên cho trẻ tham gia
một chương trình can thiệp sớm.
1.3. Hướng dẫn phụ huynh trẻ khiếm thính
Nếu gia đình được giới thiệu tới một chương trình can thiệp sớm, chương
trình có nhiệm vụ giúp đỡ họ dưới những hình thức sau:
- Hỗ trợ.
- Cung cấp thông tin.
- Hướng dẫn.
- Cho trẻ tham gia các hoạt động của mình.
1.3.1. Hỗ trợ
Khi phát hiện tr ẻ có v ấn đ ề v ề thính giác, gia đình s ẽ có nhi ều nhu c ầu.
Một trong những nhu c ầu lớn nh ất đó là h ọ c ần đ ược h ỗ tr ợ v ề tình c ảm và
tinh thần. Hãy cùng họ vượt qua nh ững ngày tháng khó khăn cho đ ến khi h ọ
26
chấp nhận thực tế rằng con mình bị khuy ết t ật. Nhu c ầu này s ẽ còn kéo dài
trong một khoảng thời gian nh ất đ ịnh và đôi khi nó v ẫn là m ột trong nh ững nhu
cầu quan trong nhất đ ối với gia đình.
- Một chương trình can thiệp sớm tốt phải hiểu rằng gia đình cần được
giúp đỡ và động viên. Với họ, đó là vấn đề cần được ưu tiên nhất trong những
ngày đầu mới tham gia chương trình.
- Một chương trình can thiệp sớm tốt phải hiểu rằng một trong những
nhiệm vụ chính của họ là tạo dựng niềm tin, nâng cao lòng tự trọng cho gia đình.
- Một chương trình can thiệp sớm tốt phải giúp gia đình hiểu rằng họ hoàn
toàn có khả năng tạo một môi trường phát triển hiệu quả cho chính con mình.
- Một chương trình can thiệp sớm tốt phải giúp gia đình trả l ời đ ược câu
hỏi mà họ chắc chắn muốn có lời giải đáp, đó là: “Tại sao điều đó l ại x ảy ra đ ối
với chúng tôi?” Chương trình can thiệp sớm có thể không trả lời được câu hỏi
riêng tư này nhưng hoàn toàn có thể giúp gia đình vượt qua được thắc mắc ấy.
Hãy giúp gia đình dàn xếp công việc. Nếu chương trình can thiệp sớm ở
gần, cán bộ chương trình nên tới thăm gia đình hay đôi khi bố trí để gia đình có dịp
đến để thăm chương trình và giữ liên hệ thường xuyên qua điện thoại hoặc th ư
từ. Tất cả các cán bộ làm can thiệp sớm phải cố gắng xây dựng mối quan hệ tốt
giữa mình với gia đình. Điều này có ý nghĩa là gia đình nên tới thăm trung tâm can
thiệp sớm khoảng một tuần một lần hoặc thưa hơn.
- Một chương trình can thiệp sớm tốt phải bố trí lịch đến thăm gia đình và
sắp xếp để gia đình đến thăm trung tâm. Cần theo dõi công vi ệc tế nhị này cho
phù hợp với gia đình.
- Phải giúp gia đình đưa trẻ đi kiểm tra thính giác, mua máy trợ thính và
những việc cần thiết khác.
1.3.2. Cung cấp thông tin
Gia đình cần biết thông tin liên quan đến tật điếc, cần được giải thích: Vì
sao con họ lại bị điếc? Làm thế nào để tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ, máy tr ợ
thính, các mô hình giáo dục, cuộc sống của người lớn, cơ hội vi ệc làm…? Nhu
cầu này không chỉ tồn tại trong một ngày, hai ngày mà sẽ còn tiếp tục.
Một chương trình can thiệp sớm tốt cần phải:
- Nhạy cảm trước nhu cầu về thông tin của gia đình.
- Cung cấp thông tin chính xác cho gia đình và đ ảm b ảo r ằng chúng d ễ
hiểu, dễ nhớ.



27
- Nhắc lại thông tin nhiều lần là chuyện bình thường. Khi ở trong tình
trạng căng thẳng, gia đình trẻ khiếm thính không phải lúc nào cũng nghe và hi ểu
tất cả những thông tin mà họ được cung cấp và sẽ chỉ thực sự lắng nghe, chấp
nhận những thông tin liên quan tới điều mà họ đang thắc mắc ở một thời đi ểm
nào đó.
1.3.3. Hướng dẫn
Một trong những thắc mắc cơ bản mà gia đình muốn biết là “Chúng tôi có
thể làm gì để giúp con?”. Họ đương nhiên sẽ nghĩ tới “chuyên gia” hay chính là
bác sĩ, cô giáo hoặc những cán bộ chuyên môn, những người mà họ tin là có kh ả
năng “điều trị” hoặc “chữa chạy” cho con mình, nhờ đó trẻ có thể phát tri ển bình
thường. Nhiều người sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng đó không phải là cách tốt
nhất để giúp trẻ khiếm thính. Chính gia đình chứ không phải ai khác là người ảnh
hưởng tích cực nhất đế sự phát triển bình thường cũng như trẻ khiếm thính. Trẻ
điếc sẽ hưởng những cơ hội phát triển tốt nhất nếu sống với gia đình.
- Trong gia đình, tr ẻ th ường đ ược cha m ẹ t ạo d ựng m ột môi tr ường phát
triển phù hợp. Chính đây là n ơi mà t ất c ả tr ẻ em b ắt đ ầu hình thành và phát
triển những kỹ năng cần thiết cho cu ộc s ống sau này nh ư th ể ch ất, xã h ội, tình
cảm, tư duy và giao tiếp.
- Không còn nghi ngờ gì nữa, gia đình là môi trường phát triển tốt nhất c ủa
trẻ bình thường. Ở đây, trẻ dành nhiều thời gian với người thân trong gia đình. Và
hơn ai hết, gia đình cũng hiểu con mình rõ nhất. Điều này đúng với tất cả mọi trẻ
em, trong đó không loại trừ trẻ khiếm thính. Như vậy gia đình là môi trường phát
triển tốt nhất đặc biệt là cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học.
* Trẻ khiếm thính và sự phát triển bình thường:
Phải khẳng định, trẻ khiếm thính trước hết là trẻ em. Giống như những
đứa trẻ bình thường, chúng có nhiều nhu cầu trong đó có giao tiếp. Chúng ta hy
vọng trẻ khiếm thính sẽ trải qua những bước phát triển như của trẻ bình thường.
Chúng ta mong trẻ hình thành chức năng tâm lý và nhận thức bình thường. V ề
ngôn ngữ, chúng ta mong trẻ phát triển theo những cách thức và trật tự nh ư v ẫn
thường diễn ra ở trẻ có nghe được bình thường.
* Môi trường học ngôn ngữ ở gia đình:
Quá trình học ngôn ngữ bắt đ ầu từ lúc tr ẻ m ới chào đ ời. Ngôn ng ữ phát
triển được là nhờ kết quả của hoạt đ ộng giao ti ếp gi ữa cha m ẹ và con cái
trong mọi nếp sinh hoạt th ường ngày nh ư lúc ch ơi, lúc chăm sóc... V ới tr ẻ nh ỏ,
nếp sinh hoạt bình th ường có th ể là t ắm gi ặt, m ặc qu ần áo, ăn u ống, lau nhà,

28
chuẩn bị nấu cơm, s ửa chữa đ ồ dùng ho ặc xe đ ạp, cho chó ăn... Nói cách khác,
đó là bất kỳ hoạt động nào đ ược th ực hi ện m ột cách bình th ường và theo thói
quen của cuộc sống hàng ngày.
Người mẹ trò chuyện với con khi con đang chơi, đang mặc quần áo, đang
tắm, cho con ăn... Lúc đầu, giữa họ chưa hình thành sự luân phiên lần lượt lời nói
trong giao tiếp nhưng người mẹ vẫn nói như thể nó hiểu lời mình và phản hồi
với mọi âm thanh mà trẻ phát ra. Mẹ rất nhạy cảm với sở thích của con.
Tất cả chúng ta đều dễ dàng thực hi ện vai trò ng ười m ẹ nh ư m ột b ản
năng sống. Phần lớn các bà mẹ thường kể hoặc đ ọc chuy ện cho con nghe m ặc
dù chúng còn quá nhỏ và chưa hi ểu đ ược. Thậm chí nhi ều ng ười còn hát cho con
nghe. Tất cả những hoạt động này đều có tác d ụng thúc đ ẩy quá trình hình thành
và phát triển ngôn ngữ.
Thật lý thú khi biết rằng người mẹ không “dạy” con mình. Khi trẻ nói sai,
người mẹ không cố gắng sửa, mẹ không đợi chờ con nhắc lại lời mình nói.
Không có thiết bị hay đồ chơi đặc biệt mà cũng chẳng dùng ph ấn, bảng hay bàn
ghế nhưng bằng chính tình thương yêu và sự chăm sóc chu đáo người mẹ đã t ạo
nền tảng cho trẻ hình thành và phát triển ngôn ngữ.
Dù đang ở đâu và có ít hay nhiều đồ chơi, quá trình học nói của trẻ vẫn cứ
diễn ra. Việc này không ấn định thời gian. Hơn ai hết, người mẹ biết nắm bắt các
tình huống mà khi ấy trẻ tỏ ra sẵn sàng hoặc quan tâm đến một cái gì đó đ ể biến
nó thành chủ đề nói chuyện
Học ngôn ngữ là một quá trình mang đầy tính bản năng và tự nhiên, quá
trình này diễn ra với mọi đứa trẻ. Tất cả chúng đều hình thành thứ ngôn ngữ mà
gia đình mình sử dụng trong cuộc sống hàng ngày và phát tri ển nó trong gia đình
trước khi đến trường.
Trẻ khiếm thính là những trẻ bị mất thính lực, vì v ậy chúng có ít c ơ h ội
học hỏi qua sự tương tác thông thường ngay trong cuộc sống gia đình. Để bù đắp
những thiếu hụt này, trẻ cần được tạo điều kiện “bổ sung”. Đây cũng chính là
trọng tâm của hoạt động can thiệp sớm.
Có hai điều kiện bổ sung là:
- Máy trợ thính: cho trẻ đeo máy trợ thính sớm và phù hợp. Trong suốt thời
gian thức, trẻ phải đeo máy trợ thính và máy phải làm việc tốt có như vậy trẻ mới
có cơ hội tốt nhất để tiếp xúc với ý nghĩa của lời nói, âm thanh mà nó nghe th ấy.
Nhằm phát huy hiệu quả của máy trợ thính, cha mẹ nên ngồi gần khi nói v ới con
và cố chọn nơi yên tĩnh.
- Hãy nói nhi ều v ới tr ẻ: Nên tạo th ật nhi ều c ơ h ội đ ể tr ẻ tham gia vào
những câu chuy ện phù h ợp v ới tình hu ống và m ức đ ộ phát tri ển c ủa tr ẻ. Nói
29
cách khác, cha m ẹ nên c ố g ắng đem l ại c ơ h ội giao ti ếp cho tr ẻ nhi ều h ơn
mức bình th ườ ng.
Nhiều người cho rằng nếu chỉ như vậy thì quá đơn giản. Họ thắc mắc: Kỹ
thuật đặc biệt nằm ở đâu? Có dùng thiết bị, đồ chơi hay sách đặc biệt gì không?
Cần chỉnh âm vào lúc nào? Nên thực hiện chương trình d ạy nói cho trẻ vào lúc
nào? Một số người nói can thiệp sớm là một quá trình phức tạp và rất đ ặc bi ệt.
Nhưng trên thực tế, can thiệp sớm chỉ đem lại hiệu quả và chỉ có tác dụng khi hội
đủ hai điều kiện trên.
Trong các chương trình can thiệp sớm hãy cho trẻ đeo máy trợ thính phù
hợp với độ mất thính lực càng sớm càng tốt. Trong gia đình hãy tạo thật nhiều cơ
hội giao tiếp cho trẻ. Học nói là quá trình tự nhiên do vậy gia đình đóng vai trò nổi
bật. Trong gia đình trẻ dễ dàng học được tiếng mẹ đẻ.
Một chương trình can thiệp sớm tốt trong quá trình hướng dẫn cần:
+ Phải giúp gia đình hiểu rằng các thành viên trong gia đình là những người
tốt nhất đối với sự phát triển của đứa trẻ. Gia đình cần được hỗ trợ rất nhiều
mới tin vào điều này. Với họ, bằng chứng thuyết phục nhất là những kết quả của
chương trình can thiệp sớm. Có nhiều trẻ điếc nặng hoặc sâu mà vẫn có thể giao
tiếp bình thường với gia đình, cộng đồng, trường lớp.
+ Phải khuyến khích gia đình tạo môi trường cho trẻ phát triển bình thường.
+ Phải hướng dẫn gia đình cách tạo môi trường phong phú cho sự phát
triển của trẻ.
+ Một chương trình can thiệp sớm tốt cho trẻ tiền học đường là chương
trình không dành nhiều thời gian làm việc trực tiếp với trẻ trừ khi muốn minh hoạ
cho gia đình thấy cách giúp trẻ phát triển giao tiếp.
1.3.4. Hoà nhập
Theo nguyên tắc can thiệp sớm, trẻ sẽ phát triển tự nhiên nhất nếu sống
trong môi trường bình thường. Với trẻ sơ sinh, môi trường bình thường là gia đình
và cộng đồng.
Một chương trình can thiệp sớm tốt phải khuyến khích, hướng dẫn gia
đình biết thu hút trẻ khiếm thính vào mọi hoạt động sinh hoạt của gia đình và
cộng đồng.
Đến 3 tuổi, trẻ cần được học trong các lớp mẫu giáo với trẻ bình thường.
Cán bộ chương trình can thiệp sớm phải liên hệ chặt chẽ với trường mẫu giáo,
nếu cần thiết tổ chức các buổi trao đổi thông tin bồi dưỡng nghiệp vụ cho những
giáo viên mới dạy hoà nhập ở trường mẫu giáo bình thường trẻ khiếm thính s ẽ

30
tham gia các hoạt động giống như trẻ bình thường. Ngoài ra trẻ khiếm thính cần
được hỗ trợ thêm bằng những tiết dạy học cá nhân.
2. Cách thức hướng dẫn phụ huynh trẻ khiếm thính
2.1. Vai trò của giáo viên trong chương trình hướng dẫn phụ huynh trẻ khiếm thính
- Cung cấp kiến thức và kỹ năng cho phụ huynh về các phát triển kỹ năng
giao tiếp bằng lời nói của trẻ.
- Hỗ trợ và khuyến khích phụ huynh cảm thấy tự tin trong việc giúp đỡ
chính con của mình.
- Giáo viên dần dần xây dựng những kiến thức, kỹ năng và s ự tự tin cho
phụ huynh không tính theo thời gian. Có những phụ huynh tiếp thu kiến thức, kỹ
năng và có được sự tin nhanh chóng hơn những phụ huynh khác.
Giáo viên phải luôn lên kế hoạch làm việc với phụ huynh đồng thời phải
linh hoạt để đáp ứng nhu cầu của trẻ theo chu trình khép kín.




2.2. Cách thức tiến hành một buổi hướng dẫn phụ huynh
Khi tiến hành một buổi hướng dẫn phụ huynh trẻ khiếm thính cần thực
hiện theo các bước sau:
Bước 1: Lập kế hoạch
Với mỗi phụ huynh, mỗi học sinh giáo viên phải xác định được mục tiêu
chung và những mục tiêu cụ thể cần đạt được cho từng buổi hướng dẫn phụ
huynh. Những vấn đề quan tâm đến là: Tâm lý của phụ huynh; Máy trợ thính
(điều kiện nghe); Kỹ năng hội thoại của phụ huynh... Trong kế hoạch cần chú
trọng các nội dung sau:
- Thu nhận thông tin:
+ Cần biết thông tin nào mà lần gặp trước chưa xác định được hoặc chưa
xác định rõ.
+ Cần biết thêm những thông tin nào? Phải quan sát những gì?
- Cung cấp thông tin:
+ Nội dung thông tin cần cung cấp.

31
+ Đối tượng tiếp nhận thông tin chủ yếu là ai?
+ Hình thức cung cấp thông tin.
- Chuẩn bị cho hoạt động:
+ Tài liệu, dụng cụ đồ chơi... cần thiết cho buổi hướng dẫn phụ huynh.
Lưu ý:
+ Giáo viên phải có sự nhạy bén và khả năng ứng xử linh hoạt nhất là vấn
đề nhận diện khó khăn của gia đình mà họ cần giúp đỡ.
+ Giáo viên cần đặt câu hỏi “tại sao?” cho từng nội dung đ ược đ ặt ra khi
lập kế hoạch.
+ Lúc đầu làm quen với việc lập kế hoạch giáo viên cần thực hiện đầy đ ủ
các thao tác cụ thể, dần dần khi đã trở thành thói quen, người giáo viên có thể bớt
thao tác trong quá trình rèn luyện kỹ năng. Đến một lúc nào đó có thể lập kế
hoạch ngay sau khi vừa kết thúc buổi hướng dẫn phụ huynh.
Bước 2: Thực hiện
* Thu nhận thông tin:
- Giáo viên có thể thu nhận thông tin bằng nhiều hình thức khác nhau như:
hỏi đáp, lắng nghe, quan sát thực tế, quay- xem lại băng hình...
- Tiếp nhận được những thông tin đúng là cơ sở để giáo viên nhận biết khó
khăn của phụ huynh đang gặp, những tiến bộ của trẻ. Để lập được kế hoạch cho
lần hướng dẫn tiếp theo có hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của ph ụ huynh, c ủa
gia đình, của trẻ.
Lưu ý: Khi đặt câu hỏi cần phải khéo léo, tế nhị, tránh gây ấn tượng không
thoải mái cho phụ huynh. Cần phân biệt rõ quan sát khác với kiểm soát dò xét.
Muốn tiếp nhận thông tin tốt giáo viên cần có kế hoạch, có mục đích từ trước.
* Cung cấp thông tin:
- Mục đích sau cùng của chương trình can thiệp sớm là: thông qua phụ
huynh và gia đình giúp trẻ phát triển khả năng giao tiếp: nghe - hiểu - nói.
- Giáo viên cần cung cấp thông tin để phụ huynh biết cách hỗ trợ trẻ đạt
được mục tiêu trên.
- Dựa vào quan sát, thu nhận thông tin về trẻ và gia đình mà giáo viên s ẽ
quyết định cung cấp thông tin gì trong buổi hướng dẫn phụ huynh.
- Một số hình thức cung cấp thông tin phổ biến:
+ Sử dụng việc giải thích, giải đáp thắc mắc.
+ Sử dụng tài liệu đã soạn phù hợp với nhu cầu thông tin phụ huynh cần biết.
+ Sử dụng băng hình minh hoạ để chứng minh, thuyết phục.

32
+ Sử dụng thực tế qua việc quan sát, phát hiện ngay tại thời đi ểm h ướng
dẫn phụ huynh hoặc bằng việc làm mẫu.
+ Phụ huynh tiếp xúc với phụ huynh....
Lưu ý:
+ Người làm công tác can thi ệp s ớm c ần ph ải tích lu ỹ cho b ản thân v ốn
kiến thức phong phú, đa d ạng và luôn c ập nh ật nh ưng thông tin liên quan đ ến
việc giáo dục trẻ khi ếm thính nói chung và ho ạt đ ộng can thi ệp s ớm nói riêng.
+ Để thông tin được chọn cung cấp cho phụ huynh một cách hữu ích.
Người giáo viên luôn tìm hiểu lý do vì sao mình chọn thông tin này và cũng như vì
sao mình chọn hình thức này để cung cấp thông tin.
+ Khi cung cấp thông tin cần lưu ý dến trình độ văn hoá, trình độ hiểu biết, khả
năng tiếp nhận thông tin và quan trọng nhất là thái độ, tâm trạng phụ huynh khi ta trao
đổi.
Bước 3: Ghi chép vào hồ sơ
Để nhìn lại, đánh giá buổi hướng dẫn ph ụ huynh, đây là c ơ s ở đ ể l ập k ế
hoạch cho buổi hướng dẫn tiếp theo. Giáo viên cần phải có thói quen ghi chép ở
mỗi buổi hướng dẫn phụ huynh.
Cách ghi chép:
+ Ngắn gọn, đầy đủ, dễ hiểu. Ghi theo mẫu chung để tiện theo dõi.
+ Nếu ghi chép ngay trong giờ hướng dẫn phụ huynh thì giáo viên cần l ưu
ý đến thái độ, tâm trạng của phụ huynh.
III. Tổ chức giáo dục cho trẻ khiếm thính trong lớp mẫu giáo hoà nhập
1. Cách thức xây dựng môi trường phù hợp ở lớp mẫu giáo hoà nhập có trẻ
khiếm thính
Trong lớp mẫu giáo hoà nhập giáo viên cần có kỹ năng tổ chức tốt môi trường
giáo dục cho trẻ khiếm thính bao gồm: môi trường vật chất và tinh thần, môi trường tự
nhiên và xã hội ở trong trường, lớp mầm non và ngoài trường, lớp.
1.1. Môi trường vật chất
Để tạo ra môi trường học tập tốt cho trẻ cần xây dựng môi trường vật
chất trong lớp mẫu giáo có trẻ hoà nhập theo hướng:
- Tổ chức môi trường vật chất với sự đa dạng phong phú của đồ chơi,
động vật, thực vật, tranh ảnh và đặc biệt là sự phong phú của các dạng hoạt động
thực tế mà trẻ có thể tham gia.




33
- Tổ chức các hoạt động, trò chơi, trang trí lớp học tạo điều kiện cho trẻ
khiếm thính học ngôn ngữ và những nội dung kiến thức cần đ ạt trong yêu c ầu
của chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ.
Bên cạnh việc xây dựng cơ sở vật chất, người giáo viên còn phải biết lựa
chọn sắp xếp các hoạt động vào vị trí thích hợp. Việc sắp xếp các góc hoạt động
là một biện pháp để có các hoạt động học tập theo nhóm nhỏ và cá nhân một cách
đồng thời. Góc hoạt động phải được sắp xếp giàu tính giáo dục, thay đổi thường
xuyên theo sự thay đổi của các nội dung giáo dục trẻ.
1.2. Tạo môi trường nghe thích hợp cho trẻ khiếm thính
Môi trường nghe có vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ khiếm thính bi ết
sử dụng sức nghe khi đeo máy trợ thính để phát triển khả năng giao ti ếp và h ọc
ngôn ngữ nói một cách tự nhiên.
Tạo môi trường nghe thích hợp cho trẻ khiếm thính trong lớp mẫu giáo hoà
nhập ta cần lưu ý các yếu tố sau:
- Để giảm bớt tiếng ồn giúp nghe tiếng nói dễ dàng hơn, giáo viên cố gắng
cho trẻ càng ngồi càng xa nơi phát ra âm thanh càng tốt, điều chỉnh âm thanh phát
ra từ ti vi, rađio... khi có thể.
- Khoảng cách: Trẻ sẽ nghe ta nói rõ hơn khi khoảng cách giữa cô và trẻ
càng gần càng tốt. Do vậy cần quan tâm đến việc sắp xếp vị trí của trẻ, giáo viên
trong các hoạt động, bố trí sắp xếp các góc chơi, đồ dùng, đồ chơi.
- Sự yên tĩnh: Môi trường xung quanh càng yên tĩnh, trẻ càng nghe rõ ràng
nhất là khi nghe tiếng nói. Trẻ nghe rất khó khăn trong môi trường ồn ào và trong
phòng có nhiều tiếng vang.
Để giảm bớt tiếng vang, ta có thể sử dụng các vật liệu hút âm thanh bên
trong phòng như trải thảm, chiếu trên sàn nhà, tường treo rèm vải dày...
- Giọng nói: to, rõ, tự nhiên không cường điệu hình miệng, tốc độ nói vừa
phải phù hợp với khả năng ngôn ngữ của trẻ.
Ngoài ra giáo viên còn phải có kỹ năng kiểm tra máy trợ thính, đảm bảo
máy trợ thính hoạt động tốt hỗ trợ cho trẻ.
1.3. Môi trường tâm lý xã hội
Môi trường tâm lý xã hội trong trường, lớp mẫu giáo hoà nh ập đ ược c ấu
thành bởi các mối quan hệ giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với cô giáo, giữa cô với cô...
Cần xây dựng mối quan hệ thân thiện hợp tác giữa trẻ khiếm thính v ới trẻ nghe
bình thường trong lớp, tạo được sự quan tâm ủng hộ từ phía nhà trường và ph ụ
huynh của cả hai đối tượng trẻ trong trường, lớp mẫu giáo.

34
1.4. Môi trường ngôn ngữ
Trẻ khiếm thính do có những khó khăn về giao tiếp bằng ngôn ngữ nói vậy
trẻ sử dụng cả ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ để giao tiếp với mọi người xung quanh.
Vì vậy trong lớp mẫu giáo hoà nhập luôn tồn tại cả hai hình th ức giao ti ếp: giao
tiếp bằng ngôn ngữ và giao tiếp bằng cử chỉ điệu bộ.
Kỹ năng giao tiếp với trẻ khiếm thính trong môi tr ường hoà nh ập là m ột
trong những kỹ năng quan trọng của cô giáo dạy lớp mẫu giáo hoà nh ập có tr ẻ
khiếm thính. Kỹ năng giao tiếp này của giáo viên bao gồm kỹ năng sử dụng các
phương tiện giao tiếp của trẻ khiếm thính đặc biệt là sử dụng giao tiếp tổng hợp.
Kỹ năng khuyến khích khả năng giao tiếp của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ khiếm
thính nẩy sinh nhu cầu giao tiếp và mạnh dạn trong giao tiếp.
Giáo viên cần biết sử dụng ngôn ngữ kí hiệu và có ý thức hỗ trợ trẻ khiếm
thính giao tiếp thông qua đọc hình miệng.
Khi chăm sóc - giáo dục trẻ cần tận dụng các tình huống giao ti ếp đ ể phát
triển ngôn ngữ cho trẻ, sử dụng ngôn ngữ nói trong giao tiếp với trẻ. Khuyến
khích tất cả các trẻ khác trong lớp giao tiếp với trẻ khiếm thính.
2. Một số biện pháp tổ chức các hoạt động giáo dục ở lớp mẫu giáo hoà
nhập có trẻ khiếm thính
2.1. Điều chỉnh nội dung và phương pháp phù hợp với khả năng và đáp ứng
nhu cầu của trẻ khiếm thính
* Nội dung điều chỉnh:
- Điều chỉnh mục tiêu: Căn cứ vào yêu cầu cần đạt của trẻ ở các giai đoạn
khác nhau và khả năng nhu cầu của trẻ, giáo viên điều chỉnh mục tiêu cho phù hợp
với trẻ trong từng hoạt động, từng tiết học. Đặc biệt cần quan tâm đến các mục
tiêu ngôn ngữ và giao tiếp.
Ngoài ra c ần đi ều ch ỉnh yêu c ầu đ ối v ới kh ả năng ti ếp thu c ủa tr ẻ:
Trong lớp học hoà nh ập nhi ều đ ối t ượng, tr ẻ s ẽ lĩnh h ội và v ận d ụng l ượng
tri th ức ở các mức đ ộ khác nhau. Vì v ậy đ ề ra m ục tiêu đa d ạng trong các
hoạt động là yêu c ầu c ần thi ết. Vi ệc xác đ ịnh m ục đích, yêu c ầu cho t ừng tr ẻ
khiếm thính khi ti ến hành bài d ạy và t ổ ch ức ho ạt đ ộng s ẽ t ạo đi ều ki ện cho
giáo viên có đ ịnh h ướng trong các n ội dung đ ưa đ ến cho tr ẻ. Đi ều ch ỉnh yêu
cầu đối với kh ả năng ti ếp thu c ủa tr ẻ là m ột cách làm r ất linh ho ạt đ ể bi ết
trẻ tiếp thu đ ượ c những gì và v ận d ụng trong các ho ạt đ ộng hàng ngày, ch ẳng
hạn trong cùng một bài thì tr ẻ bình th ường và tr ẻ khi ếm thính đ ược tham gia
vào quá trình h ọc tập nh ư nhau nh ưng có th ể đi ều ch ỉnh m ức đ ộ th ực hi ện các

35
hoạt động củng cố, mở r ộng ki ến th ức và đa d ạng hoá các nhi ệm v ụ nh ận
thức của trẻ khi ếm thính cho phù h ợp v ới kh ả năng c ủa tr ẻ.
- Điều chỉnh nội dung: Căn cứ vào nội dung chương trình quy định điều
chỉnh nội dung kiến thức, kỹ năng và các hoạt động sao cho phù hợp với nhận
thức của mỗi đứa trẻ. Với trẻ khiếm thính nên giảm bớt mức độ thông tin trừu
tượng, chỉ yêu cầu trẻ nắm được nội dung chính của bài.
Lựa chọn nội dung, hoạt động thay thế cho các nội dung phức tạp để phù
hợp với trẻ khiếm thính trong lớp.
Trong điều chỉnh nội dung học tập cho trẻ khiếm thính, giáo viên cần chú ý
không nên đánh giá thấp khả năng của trẻ để hạ thấp yêu cầu những nội dung mà
thực ra trẻ có thể đáp ứng được, hiểu được với sự hướng dẫn của giáo viên.
- Điều chỉnh phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động: Dựa vào đặc
điểm đối tượng giáo dục, giáo viên cần lựa chọn phương pháp giảng dạy sao cho
phù hợp với từng trẻ và với từng môn học, bài học. Cần xem xét từng nội dung cụ
thể để lựa chọn áp dụng phương pháp giảng dạy nào, hình thức tổ chức nào cho
phù hợp như: hoạt động cho cả lớp, hoạt động nhóm, dạy cá nhân...
Với trẻ khiếm thính thì hình thức hoạt động nhóm và kèm cặp cá nhân là
cách học tốt để giúp trẻ phát huy khả năng và phát huy tính tích cực c ủa mình.
Hình thức hoạt động nhóm tạo cho trẻ khiếm thính có nhiều cơ hội giao tiếp và
phát triển khả năng giao tiếp.
Tăng cường phương pháp trực quan trong quá trình tổ chức các hoạt động
cho trẻ khiếm thính. Phương tiện trực quan đóng vai trò quan trọng trong quá trình
lĩnh hội kiến thức xung quanh của trẻ khiếm thính, nó là phương thức thu hút các
giác quan của trẻ vào các đối tượng tri giác. Với trẻ khiếm thính vi ệc h ọc thông
qua đồ dùng trực quan sinh động, vật thật, các hiện tượng, sự vật thực tế sẽ giúp
trẻ dễ hiểu và dễ nhớ hơn. Do vậy cần tăng cường tài liệu trực quan để h ỗ trợ
cho những vấn đề mà giáo viên cần trình bày.
Phương tiện trực quan được sử dụng trong trường mầm non chủ yếu gồm
vật thật và đồ vật trong cuộc sống. Đối với trẻ khiếm thính vi ệc thu hút t ất c ả
các giác quan còn lại của trẻ để tri giác đối tượng là rất quan trọng đ ể bù đ ắp l ại
những thiếu hụt khả năng thính giác của trẻ, vì vậy giáo viên c ần chú ý t ổ ch ức
sao cho trẻ sử dụng và phối hợp đồng thời càng nhiều giác quan càng tốt.
Khi sử dụng phương pháp dạy học dùng lời trong lớp mẫu giáo hoà nhập
có trẻ khiếm thính, giáo viên cần lưu ý:



36
- Điều chỉnh cách sử dụng phương pháp dùng lời: giáo viên nói chậm rãi và
rõ ràng. Trình bày ý kiến và sự kiện liên quan đến bài học càng rõ ràng càng t ốt,
đơn giản hoá ngôn ngữ và lời hướng dẫn cần tỉ mỉ hơn cho trẻ khiếm thính.
- Giáo viên dạy trẻ khiếm thính nên thường xuyên chú ý đến vị trí đứng
giảng bài để trẻ khiếm thính có thể tiếp thu thông tin và chú ý đến việc s ắp x ếp
chỗ ngồi để trẻ có thể nhìn rõ. Giáo viên và trẻ khiếm thính nên ở vị trí g ần nhau
và đối diện, mặt của giáo viên được hướng ra phía có ánh sáng, giúp trẻ dễ quan
sát và đọc hình miệng, không nên đi lại trong lúc đang nói.
* Hình thức điều chỉnh:
- Điều chỉnh theo phương pháp đồng loạt: Nội dung điều chỉnh không đáng
kể, áp dụng trong lớp mẫu giáo hoà nhập đối với trẻ khiếm thính loại nhẹ.
- Điều chỉnh theo phương pháp đa trình độ: Tất cả trẻ đều học theo một
chương trình quy định nhưng theo các mục tiêu khác nhau ở các trình độ khác nhau
dựa trên nhu cầu của mỗi trẻ. Dựa trên một chương trình, giáo viên điều chỉnh sao
cho phù hợp với nhu cầu của từng trẻ.
- Điều chỉnh theo phương pháp trùng lặp giáo án: Đối với một số nội dung
trong chương trình không chỉ được dạy cho trẻ khiếm thính trong quá trình tổ
chức các hoạt động chung ở lớp mà có thể lặp lại nội dung đó ở tiết học cá nhân
hoặc trong các hoạt động hỗ trợ cho trẻ.
- Điều chỉnh theo phương pháp thay thế: Đối với những trẻ khuyết tật nặng,
có những nội dung trong chương trình trẻ không đáp ứng được và sau khi đã điều
chỉnh theo các phương pháp trên có thể thay thế nội dung học tập không cùng
chương trình.
Cơ sở điều chỉnh phụ thuộc vào môn học, bài học, kỹ năng cần hình thành
ở trẻ và nhu cầu khả năng của mỗi trẻ.
2.2. Các biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi trong lớp mẫu giáo hoà nhập
Những khó khăn của trẻ khiếm thính như sự hạn chế về ngôn ngữ và khả
năng giao tiếp, hợp tác với các trẻ khác trong các trò chơi và vốn sống... có ảnh
hưởng đến quá trình vui chơi trong lớp mẫu giáo hòa nhập. Do v ậy, khi tổ ch ức
hoạt động vui chơi giáo viên cần thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho trẻ đ ể trẻ
vượt qua những khó khăn và giúp trẻ phát triển.
* Tạo môi trường cho trẻ chơi:
- Môi trường chơi cần phải thích hợp, an toàn, phong phú : Cung cấp một
môi trường chơi tích cực trong đó phải có sự kích thích cho trẻ muốn chơi, thay
đổi nhiều loại khác nhau để hấp dẫn trẻ. Cần có đầy đủ đồ chơi trong đó có s ự

37
đa dạng về hình dạng, chất liệu, có cả các đồ chơi cho trẻ tự chơi, đồ chơi giúp
trẻ khám phá, sáng tạo, đồ chơi để trẻ thực hành, trò chơi để trẻ cùng nhau chơi.
- Tạo môi trường thoải mái trong khi chơi: Dựa vào số trẻ, diện tích phòng
để lựa chọn và sắp xếp các góc chơi, có thể xây dựng các góc: góc phân vai, góc
xây dựng, lắp ghép, góc nghệ thuật, góc học tập, góc sách truyện, góc thiên nhiên,
góc toán, góc khoa học…
* Tổ chức các trò chơi:
Khi tổ chức các trò chơi trong lớp mẫu giáo hoà nhập cần ti ến hành theo
phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo song cần quan tâm đến
các biện pháp hỗ trợ sau:
- Có kế hoạch tổ chức luân phiên các trò chơi trong tháng cho trẻ trong lớp
và chú ý tới việc luân phiên các vai chơi, trò chơi của trẻ khiếm thính sao cho phù
hợp với khả năng của trẻ và mục tiêu giáo dục.
- Sắp xếp góc chơi, nhóm chơi hợp lý cho trẻ cả hai đối tượng nên khuyến
khích trẻ khiếm thính tham gia vào các trò chơi cùng với những trẻ nghe bình
thường trong lớp.
- Bao quát trẻ trong suốt quá trình chơi, đưa ra những gợi ý chơi cho trẻ có
thể là những gợi ý bằng lời, bằng cử chỉ điệu bộ...
- Động viên khuyến khích trẻ khiếm thính tham gia cùng các bạn trong lớp
và các trẻ khác hỗ trợ trẻ khiếm thính trong các nhóm chơi.
- Hướng dẫn, can thiệp kịp thời những hành vi không tốt của cả hai đối
tượng trẻ (trẻ bình thường và trẻ khuyết tật).
- Đánh giá khen ngợi động viên trẻ chơi thân ái, bình đẳng.
2.3. Các biện pháp tổ chức hoạt động học tập cho trẻ khiếm thính trong l ớp
mẫu giáo hoà nhập
* Những vấn đề khó khăn mà trẻ khiếm thính có thể gặp trong quá trình
học tập ở lớp mẫu giáo hòa nhập:
- Trẻ khiếm thính có thể không tiếp nhận đầy đủ thông tin từ phía giáo viên
hay các bạn trong lớp nếu chỉ thông qua việc nghe hay đọc hình miệng. Để bù đắp
lại điều đó trẻ cần dựa vào những thông tin thu được từ thị giác, kinh nghiệm đã
có, những thông tin từ trước...
- Trẻ khiếm thính có thể gặp khó khăn trong việc tập trung chú ý, đôi khi
sự tập trung của nhiều giác quan hỗ trợ giúp trẻ hiểu cũng đòi hỏi trẻ ph ải t ập
trung chú ý và nó cũng chính là nguyên nhân làm cho trẻ mệt mỏi.



38
- Trẻ thường không hiểu được bài do vốn từ có hạn và sự thiếu hụt về ngôn
ngữ.
- Trẻ có thể đã bị thiếu những kiến thức cơ bản cần thiết.
- Trong lớp mẫu giáo có thể rất ồn do sự va chạm của đồ chơi, bàn ghế, sự
đi lại hay trò chuyện của những trẻ khác. Những tiếng động n ền có thể ảnh
hưởng đến sự tiếp nhận ngôn ngữ của trẻ.
- Trẻ khiếm thính gặp khó khăn trong việc ghi nhớ, bởi vì thính giác là một
trong những giác quan giúp con người thu nhận và ghi nhớ thông tin.
* Các biện pháp hỗ trợ trẻ khiếm thính học trong lớp mẫu giáo hoà nhập:
Giáo viên đóng vai trò chủ đạo trong việc h ướng dẫn quá trình nh ận th ức
của trẻ thông qua tổ chức các hoạt động. Trong khi thực hi ện ti ết học trong l ớp
mẫu giáo hoà nhập có trẻ khiếm thính giáo viên cần thực hiện các biện pháp sau:
- Kiểm tra máy trợ thính cho trẻ trước khi vào tiết học, đ ảm bảo máy trợ
thính hay các dụng cụ trợ thính phải hoạt động tốt.
- Sắp xếp vị trí thích hợp cho trẻ khiếm thính ở trong lớp, nên xếp trẻ ngồi
gần giáo viên không nên xếp các trẻ khiếm thính ngồi cạnh nhau.
- Lựa chọn và sử dụng các phương tiện trực quan hỗ trợ cho việc lĩnh hội
kiến thức và phối hợp hoạt động của trẻ khiếm thính trong lớp đó có thể là: v ật
thật, mô hình, tranh ảnh hay các con rối.
- Sử dụng phương pháp đóng vai đặc biệt trong những tiết kể chuyện.
- Chú ý tới trẻ khiếm thính. Hãy nắm bắt những cử chỉ điệu bộ hoặc
những cố gắng giao tiếp và “dịch” ra ngôn ngữ nói thông thường.
- Cố gắng khuyến khích trẻ khiếm thính phát biểu, nắm bắt tri thức và
thực hiện đúng yêu cầu hoạt động. Hãy khuyến khích trẻ diễn đạt ý kiến c ủa
riêng mình có thể miêu tả bằng hình vẽ và cung cấp ngôn ngữ cần thiết cho trẻ.
- Sử dụng hệ thống câu hỏi, lời chỉ dẫn mạch lạc, dễ hiểu, ngắn gọn, xúc
tích và hướng vào những đặc điểm nổi bật của sự vật, hiện tượng mà tr ẻ cần
phải nắm. Đặt câu hỏi phù hợp với trẻ để trẻ tự tin. Hãy nhắc lại câu trả lời của
trẻ khiếm thính cho trẻ bình thường nghe và ngược lại điều này sẽ có lợi cho cả
hai đối tượng.
- Để giúp trẻ khiếm thính ghi nhớ được tốt hơn chúng ta cần thực hiện các
yêu cầu sau:
+ Thông tin cung cấp cho trẻ phải thật cụ thể, hấp dẫn, lôi cuốn, thích hợp
với trẻ. Luôn sử dụng phương pháp trực quan, vật thật, tranh ảnh để giải thích
hoặc liên hệ thực tế.

39
+ Giáo viên cần nêu những điểm chính trong bài giảng và cách tổ chức
những hoạt động thích hợp để trẻ có cơ hội khám phá tìm tòi trên vật thật.
+ Thông tin cung cấp cần lặp đi lặp lại nhiều lần bằng cách tạo ra sự liên
hệ chặt chẽ giữa các nội dung học tập và các hoạt động.
- Để giúp trẻ khiếm thính tập trung tốt hơn cần:
+ Tất cả các những thông tin cung cấp cho trẻ cần phải được tổ chức dưới
các dạng hoạt động hấp dẫn.
+ Lớp học cần yên tĩnh, không quá ồn ào.
+ Giọng nói của giáo viên to, rõ ràng, truyền cảm. Khoảng cách từ giáo viên
đến trẻ không quá 2m.
+ Trước khi bắt đầu một hoạt động nào đó giáo viên cần có bi ện pháp thu
hút sự chú ý của trẻ sau đó mới nêu yêu cầu, giới thiệu nhiệm vụ nhận thức.
+ Cần tổ chức các hình thức thi đua khen thưởng phù hợp trong từng tiết học.
+ Sử dụng các phương pháp, biện pháp tổ chức các hoạt động theo hướng
phát huy tính tích cực độc lập, sáng tạo của mỗi trẻ.
- Tổ chức các hoạt động cho trẻ theo nhóm: Đây là hình thức kết hợp được
sức mạnh của cá nhân và tập thể. Thông qua hình thức hoạt động theo nhóm để cá
thể hoá trong dạy học.
- Động viên khen thưởng kịp thời với những tiến bộ, những cố gắng mà trẻ
khiếm thính đạt được. Hướng dẫn, sửa chữa những hành vi bất th ường của trẻ,
giúp trẻ tuân theo các quy định học tập ở trong lớp.
3. Tổ chức tiết học cá nhân
Trong lớp mẫu giáo hoà nhập trẻ khiếm thính ngoài việc tham gia vào tất
cả các hoạt động trong lớp còn có các tiết học cá nhân dành cho tr ẻ khi ếm thính
hỗ trợ giúp trẻ có thể theo kịp các bạn khác trong lớp.
- Tiết học cá nhân là dạng tiết học giữa một giáo viên và một tr ẻ khi ếm
thính, được tiến hành song song với các hoạt động trong lớp mẫu giáo.
- Mục đích: Nhằm hỗ trợ trẻ về mặt ngôn ngữ, lời nói, tập s ử dụng s ức
nghe còn lại của trẻ, học tập các kỹ năng hoạt động trong lớp mẫu giáo hoà nhập.
- Thời gian: Từ 10 - 15 phút tuỳ thuộc vào khả năng giao tiếp của trẻ.
- Phương pháp tiến hành: Tổ chức hội thoại thông qua các trò chơi các hoạt
động phong phú trong lớp mẫu giáo như: Âm nhạc, Tạo hình...
- Cách tiến hành:




40
+ Tạo môi trường yên tĩnh: Địa điểm tiến hành tiết học cá nhân cần đ ạt
yêu cầu về điều kiện nghe, tách rời khỏi lớp mẫu giáo, chọn thời điểm yên tĩnh
trong trường, lớp mẫu giáo.
+ Chọn một hoạt động thích hợp.
+ Kiểm tra máy trợ thính.
+ Trò chuyện với trẻ về chủ đề đã chọn. Tuỳ thuộc vào trình độ của trẻ để
giáo viên lựa chọn nội dung hoạt động của tiết học cá nhân: có th ể là hoạt đ ộng
chung của cả lớp mà trẻ chưa nắm được, có thể là một nội dung nào đó nh ằm
cung cấp vốn từ, khuyến khích trẻ giao tiếp... Hiện nay chúng ta chưa có đ ược
chương trình cho tiết học cá nhân mà mỗi giáo viên can thiệp sớm tuỳ từng trường
hợp cụ thể để xây dựng nội dung tiến hành.
+ Ghi chép vào hồ sơ cá nhân của trẻ về các thông tin: Thời gian tiến hành,
hoạt động tổ chức, nhận xét (thái độ, ngôn ngữ, lời nói của trẻ) đề nghị sự hỗ trợ
của phụ huynh và giáo viên đứng lớp.
Mẫu ghi chép:
Họ tên trẻ:.............................. Giáo viên thực hiện....................
Thời gian Hoạt Nhận xét Đề nghị hỗ
động tổ trợ
chức
Thái độ Kỹ năng Ngôn ngữ




* Soạn giáo án tiết học cá nhân:
- Tên hoạt động được tổ chức:
- Mục đích:
- Chuẩn bị:
- Kiểm tra máy trợ thính, luyện hơi, luyện lưỡi...
- Tiến hành: Dự kiến các bước tổ chức hoạt động, các trò chơi, các hoạt
động cho trẻ và hệ thống câu hỏi.
- Đánh giá rút kinh nghiệm sau giờ dạy.
* Một số kỹ năng giao tiếp của giáo viên khi thực hiện tiết học cá nhân:
- Nhạy cảm với trẻ:
+ Nắm bắt trạng thái tình cảm, nhu cầu của trẻ.
+ Đưa ra loại hình thích hợp, lôi cuốn trẻ.

41
+ Thể hiện tình cảm thương yêu, thích thú khi chơi với trẻ.
- Đáp ứng những yêu cầu cùng trẻ:
+ Nắm bắt ý và đáp lại những cố gắng của trẻ khi giao tiếp.
+ Cung cấp từ khi trẻ muốn diễn đạt điều gì đó.
+ Mở rộng từ hay câu cho trẻ.
- Hoạt động cùng trẻ:
+ Cùng chú ý đến việc trẻ đang làm.
+ Cùng chơi với trẻ.
- Nói chuyện tự nhiên với trẻ:
+ Giọng điệu, tốc độ, ngữ điệu tự nhiên.
+ Biết lắng nghe và nắm bắt từ mới của trẻ.
4. Chuẩn bị cho trẻ khiếm thính vào lớp 1
4.1. Ý nghĩa
- Chuyển từ trường mẫu giáo sang trường phổ thông là một bước ngoặt
trong đời sống trẻ em. Bước vào trường phổ thông là bước vào một môi trường
sống mới, hoạt động mới với những quan hệ xã hội mới.
- Khi mới vào lớp 1, trẻ chưa thật chủ động trong quan hệ với th ầy, cô
giáo, với bạn bè... Do vậy, nếu được chuẩn bị tốt trẻ sẽ nhanh chóng v ượt qua
khó khăn và thích ứng nhanh với các hoạt động ở trường tiểu học.
- Bước vào trường phổ thông trẻ phải thực hiện một số yêu cầu mới khác
với trường Mầm non, đó là:
+ Biết lĩnh hội nhiệm vụ học tập: phân biệt được nhiệm vụ học tập với
các nhiệm vụ khác (nhiệm vụ trong trò chơi, nhiệm vụ trong gia đình). Chăm ch ỉ
học bài và làm bài đầy đủ. Biết tự đánh giá công việc học tập của mình.
+ Biết cách hoạt động trí tuệ: biết cách quan sát, biết cách ghi nhớ, biết
cách suy nghĩ, biết tập trung chú ý.
+ Thực hiện chế độ sinh hoạt ở nhà và ở lớp phù hợp với hoạt động h ọc
tập và cuộc sống ở trường phổ thông.
+ Biết cách ứng xử của người học sinh trong các m ối quan h ệ xã h ội:
quan hệ với những người lớn h ơn, quan h ệ v ới nh ững em bé h ơn, quan h ệ v ới
bạn cùng lứa tuổi.
- Để đáp ứng được công việc học tập của người học sinh lớp 1 đòi hỏi trẻ
phải có khả năng sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ. Do vậy trẻ khiếm thính cần
phải được chuẩn bị tốt về ngôn ngữ đó là tiền đề quan trọng để giúp cho trẻ học
tập có hiệu quả ở trường phổ thông.

42
Tổ chức chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo vào trường Tiểu học nhằm chuẩn bị để
cho trẻ chuyển từ giai đoạn Mầm non vào trường Tiểu học một cách dễ dàng và
thuận lợi. Không chỉ có trẻ khiếm thính mà tất cả các trẻ khác đều cần có sự
chuẩn bị này, bởi vì môi trường, chương trình và sự yêu cầu của trường Tiểu học
là những thách thức lớn cho tất cả các đối tượng trẻ.
4.2 . Nội dung chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1
Đối với trẻ mẫu giáo khiếm thính, nội dung chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 cần
tập trung ở một số nội dung cơ bản sau:
- Phát triển ngôn ngữ:
+ Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ gồm: Chuẩn bị cho trẻ học đọc, học
viết, mở rộng vốn ngôn ngữ, làm quen với vốn từ được sử dụng trong trường tiểu
học.
+ Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ có thể thực hiện trong các hoạt
động: giờ kể chuyện, môi trường xung quanh, góc sách truyện - nơi trẻ có thể
nhìn và nói chuyện về những cuốn sách với các bạn khác.
+ Tự làm những cuốn truyện bằng tranh vẽ hay ảnh chụp về những hoạt
động đặc biệt.
+ Khuyến khích giao tiếp bằng ngôn ngữ nói mọi thời điểm trong lớp mẫu
giáo. Viết tên trẻ vào những hoạt động tạo hình, những đồ vật trong lớp...
- Định hướng vào xã hội:
+ Chuẩn bị cho trẻ gia nhập vào những mối quan hệ xã hội rộng lớn hơn trước.
+ Giúp trẻ biết cách hợp tác trong lớp, hợp tác trong nhóm, biết chia sẻ,
luân phiên trong các hoạt động... Để phát triển các kỹ năng về xã hội, giáo viên
mẫu giáo có thể thực hiện bằng cách: Tổ chức các hoạt động tạo cơ hội phải có
nhiều trẻ tham gia. Chọn một số trẻ cụ thể tham gia vào một hoạt động. Tổ chức
các hoạt động đòi hỏi trẻ phải thực hiện có thứ tự và có s ự chia s ẻ. Đòi h ỏi tr ẻ
phải sử dụng ngôn ngữ giao tiếp thích hợp như: “xin chào, cảm ơn, xin l ỗi” đ ối
với tất cả trẻ.
- Định hướng vào môi trường xung quanh:
+ Hình thành cho trẻ khả năng định hướng vào không gian, thời gian và mở
rộng hiểu biết về môi trường xung quanh gần gũi trẻ. Hình thành cho trẻ những
kỹ năng học tập ban đầu như: đọc, viết, toán...
Thông thường, các bậc phụ huynh thường cho rằng khi đứa trẻ có được
những kỹ năng về văn hay toán như biết đếm và đọc tên các chữ cái có nghĩa là



43
trẻ đã sẵn sàng đi học được rồi. Tuy nhiên, điều đó không nói lên đ ược k ỹ năng
về văn hay toán của trẻ.
Việc học những kỹ năng đọc, viết và toán học sơ đẳng chương trình lớp mẫu
giáo được chủ yếu thực hiện qua hoạt động vui chơi. Chẳng hạn, những kỹ năng và
khái niệm toán học sơ đẳng được khám phá trong các hoạt động như: góc chơi xếp
khối, trò chơi với nước, đo bằng chén, ống...; chơi với cát, hoạt động bé tập làm nội
trợ cần đến sự đo lường các thành phần, góc trang phục, sử dụng tiền trong chơi bán
hàng...
Có rất nhiều cách để phát triển kỹ năng đọc, viết, làm toán sớm thông qua
các hoạt động vui chơi của lớp mẫu giáo. Tuy nhiên, những kỹ năng ban đ ầu v ề
toán, đọc và viết không bao hàm việc dạy trẻ đếm, đọc bảng chữ cái hay vi ết các
con chữ. Việc học những kỹ năng đọc và viết sẽ được giới thiệu ở chương trình
lớp 1 của trường tiểu học, các phương pháp dạy học hiện đại không phải là dạy
trẻ học thuộc lòng những chữ cái hay các con số... mà trẻ không hiểu gì. Cũng như
ở lớp mẫu giáo, việc học về văn và toán là thông qua các hoạt động mà trẻ có thể
học được các chữ cái và con số trong đời sống thực tế và đầy ý nghĩa đối với trẻ.
+ Làm quen với môi trường trường học và những người làm việc ở đó.
+ Rèn luyện các kỹ năng cá nhân để trẻ tự tin, độc lập hơn khi vào trường
Tiểu học.
Tự lập trong hoạt động như tự quyết định, tự lựa chọn công việc, đồ dùng,
đồ chơi. Biết quản lý đồ dùng cá nhân, máy trợ thính. Biết đ ặt câu hỏi, đề ngh ị
khi có nhu cầu...
Những trẻ tự lập, độc lập trong việc giao tiếp, biết cách phối hợp với tr ẻ
khác, biết tự bảo vệ và bảo quản đồ dùng cá nhân thì thường thành công ở năm
học đầu tiên hơn là những trẻ mà luôn cần đến người lớn để làm hộ mọi vi ệc,
những trẻ chưa thể tách rời được cha mẹ.
Trong chương trình mẫu giáo, giáo viên có thể làm rất nhiều vi ệc để giúp
trẻ trở nên tự tin, độc lập và chan hoà.
Để trẻ trở nên độc lập, giáo viên có thể yêu cầu và khuyến khích trẻ tự làm
những công việc thường ngày như: tự tháo, đi giầy dép, tự lấy nước uống, tự đi
vệ sinh, tự chuyển những thông tin của cô giáo cho cha mẹ...
Ngoài ra, trẻ cũng cần được khuyến khích về mặt tình cảm giúp trẻ tách ra
được khỏi cha mẹ để có thể tiếp xúc được với những người lớn khác như giáo
viên hay người hỗ trợ.



44
Trong quá trình chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 cần quán triệt nguyên tắc cơ bản
là: trẻ học dựa trên hoạt động, thông qua các hoạt động phong phú h ấp dẫn được
tổ chức và được trực tiếp thực hiện.
Chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 không phải dạy trước chương trình mà trẻ s ẽ
học mà là chuẩn bị nền tảng để trẻ học tập tốt trước khi vào lớp 1.
4.3. Biện pháp chuẩn bị cho trẻ khiếm thính vào học lớp 1
- Trong lớp mẫu giáo hoà nhập cần thực hiện tốt các nội dung trong
chương trình nhất là tổ chức tốt các “tiết học”.
- Ngoài hoạt động chung của lớp mẫu giáo hoà nhập trẻ khiếm thính cần
có thêm các tiết học cá nhân, tổ chức hoạt động trong nhóm nhỏ với nội dung chủ
yếu phát triển khả năng giao tiếp, chuẩn bị cho trẻ học đọc, viết, hình thành tính
độc lập, kỹ năng hợp tác.
- Tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ có chủ đích, trên cơ sở đó c ủng
cố những kiến thức về môi trường xung quanh cho phù hợp với đối tượng trẻ
khiếm thính trong lớp.
Giáo viên có thể tổ chức các hoạt động nhằm mở rộng và phát tri ển ngôn
ngữ lời nói cũng như hình thành những kỹ năng chuẩn bị học đọc, viết cơ bản cho
trẻ trước khi đi học và thực hiện các nội dung chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. Song
cần lưu ý khi thực hiện các hoạt động là cần có sự phối hợp giữa giáo viên và trẻ,
giữa trẻ với nhau, giáo viên thực hiện hoạt động cùng với trẻ thay vì tự tay chuẩn
bị sẵn cho các em mọi việc, trẻ sẽ học được nhiều nhất khi trẻ tích c ực tham gia
vào mọi hành động bao gồm làm, trò chuyện, đọc và viết.
5. Phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường
Giáo viên trong lớp mẫu giáo hoà nhập có vai trò vô cùng quan trọng v ừa
đóng vai trò là người giáo viên mẫu giáo bình thường vừa là nhà giáo d ục đ ặc
biệt. Chính giáo viên là người kiến tạo môi trường, áp dụng tài liệu, quyết định
phương pháp học phù hợp nhất cho trẻ, khơi gợi những phản ứng cần thiết và
củng cố những gì cần được khuyến khích.
Để hoàn thành vai trò đa dạng đó đòi hỏi giáo viên cần có những kỹ năng
của cả nhà giáo dục mầm non và một nhà sư phạm đặc biệt. Tuy nhiên, những kỹ
năng cần thiết ở cả hai lĩnh vực này lại giống nhau về cơ bản vì đó là những kỹ
năng làm việc với trẻ em. Song có những lĩnh vực nhất định đòi hỏi có chuyên sâu
về chuyên môn. Ngoài ra, cần có kỹ năng hợp tác với các l ực l ượng giáo dục
nhằm hỗ trợ cho công tác chăm giáo giáo dục trẻ khiếm thính ở trong lớp.
* Phối với với gia đình trẻ:

45
Thuyết phục động viên phụ huynh của trẻ khiếm thính chủ động phối hợp
với nhà trường, cơ quan y tế và các lực lượng khác để thực hi ện chương trình
giáo dục hoà nhập.
Giáo viên vận động và phối hợp cùng cha mẹ, gia đình trẻ và cộng đồng để
thống nhất kế hoạch, nội dung và phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ.
Giáo viên cần có kỹ năng lắng nghe các bậc cha mẹ trẻ một cách linh hoạt
và phát triển mối quan hệ hợp tác giữa cha mẹ trẻ với các chuyên gia trong đó thể
hiện sự hiểu biết về gia đình trẻ.
Thường xuyên thông báo kết quả tiến bộ của trẻ cũng như những đề nghị
cần hỗ trợ cho gia đình trẻ.
Giáo viên kết hợp với gia đình và nhóm hỗ trợ để xây dựng mục tiêu giáo
dục cho trẻ. Trong đó cần phải xác định mục tiêu nào có thể thực hiện được qua
các hoạt động chung và mức độ thực hiện các mục tiêu qua các hoạt động chung
như thế nào và kế hoạch hỗ trợ cá nhân cho trẻ khiếm thính.
Tổ chức nhóm gia đình gồm các gia đình có trẻ khiếm thính đ ể trao đ ổi
thông tin, kinh nghiệm chăm sóc giáo dục trẻ ở nhà. Nhóm này hoạt động dưới sự
hướng dẫn và giúp đỡ của giáo viên.
* Phối hợp với giáo viên hỗ trợ:
Giáo viên Mầm non cần có kỹ năng hợp tác trong công việc với các đồng nghiệp
và làm việc hiệu quả như một thành viên trong nhóm với nhiều chuyên gia cũng như có
những kỹ năng nhận ra giới hạn của bản thân và tìm kiếm sự trợ giúp khi thích hợp.
Giáo viên hỗ trợ là người có chuyên môn sâu về lĩnh vực giáo dục tr ẻ
khiếm thính, do vậy, giáo viên mầm non cần tạo mối quan hệ hợp tác tốt với giáo
viên hỗ trợ để họ dễ dàng hỗ trợ cho giáo viên mầm non v ề các vấn đề nh ư:
cung cấp những thông tin về khoa học giáo dục trẻ khuyết tật; thảo luận, cung
cấp một số thông tin để giúp giáo viên đứng lớp trong việc giảng d ạy, giao ti ếp
và kiểm tra, quản lý máy trợ thính; hướng dẫn giúp đỡ giáo viên đứng l ớp gi ải
quyết các vướng mắc trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật.
Tạo mối quan hệ hợp tác thân thiện, cởi mở, sẵn sàng liên hệ trao đ ổi
thường xuyên để nhận được các hỗ trợ về chuyên môn từ giáo viên hỗ trợ.
- Phối hợp với nhà thính học để thực hiện tốt công tác hỗ trợ thính học cho
trẻ trong quá trình học hoà nhập.
- Phối hợp với các lực lượng khác.
Thiết lập mối quan hệ với các tổ chức xã hội khác như: h ội phụ nữ, m ặt
trận tổ quốc, để vận động cho giáo dục hoà nhập.

46
Tạo mối quan hệ với Ban giám hiệu nhà trường, đồng nghiệp để có đ ược
sự giúp đỡ về vật chất, chuyên môn cần thiết cho công tác chăm sóc giáo dục tr ẻ
khiếm thính ở trong lớp.
IV. Chữ cái ngón tay và phương pháp dạy chữ cái ngón tay
1. Chữ cái ngón tay là gì?
Chữ cái ngón tay là hệ thống chữ cái được biểu thị bằng ngón tay. Mỗi ch ữ
cái được biểu thị bằng một động tác nhất định của các ngón tay.
2. Quy tắc đánh chữ cái ngón tay
- Chỉ dùng một tay (trái hoặc phải), tay để ngang miệng lòng bàn tay hướng
về phía trước. Chỉ chuyển động các ngón tay và cổ tay, không chuyển đ ộng c ả
cánh tay. Vị trí của các ngón tay phải đúng và chính xác.
- Cách đánh:
+Trình tự đánh tương tự như viết.
Ví dụ: từ Hoa: 1 - h; 2 - o; 3 - a
+ Hết một tiếng - nghỉ ngắn.
+ Hết một câu - nghỉ dài.
3. Phương pháp dạy trẻ khiếm thính chữ cái ngón tay
* Dạy theo tiết học riêng:
- Bài tập khởi động: Nhằm làm cho các ngón tay vận động linh hoạt, đúng
vị trí theo ý muốn.
- Học đánh từng chữ cái để thuộc hết bảng chữ cái ngón tay.
- Phân biệt những chữ cái gần giống nhau như: c/o/ô/ơ, n/u/r, l/q, k/g/h…
- Ghép thành tiếng (từ tiếng có 2-3 âm đến tiếng có nhiều âm, có dấu, có
thanh điệu). Ghép thành câu.
- Dạy đánh chữ cái ngón tay rồi dạy đọc chữ cái ngón tay.
* Dạy kết hợp trong các bài học khác, trong sinh hoạt hàng ngày:
- Trong các tiết học làm quen với chữ cái ở Mầm non và tiết h ọc vần ở
Tiểu học, giáo viên nên chú ý dạy thêm cho trẻ chữ cái ngón tay. Đây đ ược coi là
yêu cầu riêng đối với trẻ khi học tiếng Việt.
- Chữ cái ngón tay có thể dạy trong những tiết học khác, trong những hoạt
động ngoài giờ học.
V. Ngôn ngữ ký hiệu
1. Ngôn ngữ kí hiệu là gì?




47
Trong xã hội loài người, ngoài giao tiếp bằng ngôn ngữ nói còn có cách giao
tiếp bằng ngôn ngữ không lời. Ngôn ngữ không lời được khởi xướng với tên gọi
“ngôn ngữ bằng điệu bộ quy ước”.
2. Đặc điểm của ngôn ngữ kí hiệu
- Các kí hiệu: Cử chỉ, điệu bộ; nét mặt; kí hiệu quy ước.
- Đặc điểm của các kí hiệu: Sử dụng cả hai tay và ngón tay, hướng bàn tay
về phía trước. Chuyển động của tay phía trước bụng trong khoảng không gian
không vượt quá bề ngang của cơ thể, tay, ngón tay chuyển động theo các hướng:
lên, xuống, trong, ngoài, tròn theo chiều kim đồng hồ hay ngược, hai tay chuy ển
động cùng chiều hay ngược chiều nhau...
3. Các loại kí hiệu
- Kí hiệu tượng hình: Là những kí hiệu biểu thị giống như tình cảm, s ự
việc hay hành động. Ví dụ: ăn, uống được biểu thị như ăn, uống…
- Kí hiệu tượng hình gián tiếp: Là những kí hiệu biểu thị những đ ặc điểm
nổi bật của sự vật hiện tượng. Ví dụ: Con khỉ được biểu thị bằng hai tay gãi
bụng và mặt như con khỉ hay làm.
- Kí hiệu tự ý: Là những kí hiệu riêng của từng người hoặc từng nhóm nhỏ.
- Kí hiệu tự ý quy ước: Chiếm số lượng khá nhiều trong hệ thống nó được
cả cộng đồng chấp nhận sử dụng.
VI. Giao tiếp tổng hợp
1. Các hình thức giao tiếp của trẻ khiếm thính
Trẻ khiếm thính nhận thức thế giới xung quanh cũng nh ư trong giao tiếp
với mọi người chủ yếu bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt. Trẻ càng lớn lên thì kỹ
năng này càng phát triển.
- Bằng thị giác trẻ có thể tìm hiểu môi trường, sự vật hiện tượng xung
quanh
- Giao tiếp bằng lời nói.
- Trẻ điếc còn có khả năng đọc hình miệng. Trẻ có th ể nhận bi ết lời nói
qua hình miệng của người đối thoại.
2. Giao tiếp tổng hợp
Giao tiếp tổng hợp là sự kết hợp tất cả các cách ti ếp nhận thông tin (nhìn,
đọc hình miệng, nghe...) và diễn đạt thông tin (kí hiệu, cử chỉ, điệu bộ, chữ cái
ngón tay, nói, viết...) của trẻ khiếm thính.


48
Giao tiếp tổng hợp giúp trẻ điếc mở rộng giao lưu với mọi người và
ngược lại, mọi người có thể giao lưu và hiểu nhau hơn.
3. Điều kiện thực hiện giao tiếp tổng hợp trong lớp hoà nhập
* Đối với giáo viên:
Nắm vững đặc điểm giao tiếp của học sinh lớp mình. Giáo viên cần biết
sử dụng ngôn ngữ kí hiệu, chữ cái ngón tay phối hợp với ngôn ngữ nói một cách
thành thạo. Không bao giờ chỉ dùng tiếng nói để giao tiếp với trẻ điếc, bi ết tổ
chức động viên học sinh trong lớp giao tiếp với trẻ bằng mọi cách.
* Đối với trẻ khiếm thính:
- Luôn luôn học nói và tự rèn luyện nói trong giao tiếp với bạn trong l ớp.
Sử dụng máy nghe thường xuyên. Thuộc chữ cái ngón tay và kí hiệu.
* Đối với các bạn trong lớp:
Thường xuyên giao tiếp với bạn khiếm thính, thuộc và sử dụng được kí
hiệu chữ cái ngón tay.
Câu hỏi ôn tập
1. Người ta nói rằng can thiệp sớm bắt đ ầu càng s ớm càng t ốt. V ậy, nh ư
thế nào là sớm?
2. Trong chương trình can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính, các nhà giáo dục
nhấn mạnh đến sự phát triển ngôn ngữ nói. Theo chị, yếu tố nào có thể ngăn chặn
ngôn ngữ nói của trẻ?
3. Phải làm như thế nào để triển khai được chương trình can thiệp sớm cho
trẻ khiếm thính tại địa phương mình?
4. Trong quá trình chăm sóc trẻ khiếm thính tại lớp mẫu giáo hoà nhập cần
phải điều chỉnh những gì? Tại sao phải thực hiện những điều chỉnh đó?
5. Trẻ khiếm thính gặp khó khăn gì khi học tập trong l ớp mẫu giáo hoà
nhập và cần thực hiện các biện pháp nào để hỗ trợ cho trẻ?
6. Mục đích và cách tiến hành một tiết cá nhân cho trẻ khiếm thính.




49
Phần IV
GIÁO DỤC HOÀ NHẬP CHO TRẺ KHIẾM THỊ TUỔI MẦM NON

I. Một số vấn đề về trẻ khiếm thị
1. Định nghĩa về khiếm thị
Trong ngôn ngữ thông thường, ta có thể hiểu trẻ khiếm thị là những trẻ có
khiếm khuyết về thị giác ở các mức độ khác nhau:
Ngành y tế đưa ra các tiêu chí để đánh giá mức độ khiếm thị:
- Thị giác bình thường: một người có thể thực hiện được tất cả các khả
năng nhìn gần và nhìn xa thông thường trong cuộc sống. Cũng có th ể đi ều chỉnh
tật khúc xạ bằng việc đeo kính để có được thị lực bình thường.
- Nhìn kém: là sự suy giảm thị lực nghiêm trọng mà không thể điều chỉnh
được với những chiếc kính thông thường hoặc những thấu kính tiếp xúc mà nó
làm giảm một hoặc nhiều khả năng nào đó về thị giác của con người.
- Mù hoàn toàn: là người không thể nhìn thấy ánh sáng hoặc hoàn toàn
không có khả năng nhìn.
Như vậy, trẻ khiếm thị là trẻ dưới 18 tuổi có khuyết tật thị giác, khi đã có
phương tiện trợ giúp nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động cần sử dụng
mắt.
2. Các khái niệm công cụ
- Thị lực: Là khả năng của mắt phân biệt hai điểm ở g ần nhau nhất trong
một khoảng cách nhất định. Thị lực bình thường của mỗi mắt là một Vis d ưới
50
góc nhìn một phút. Vis là đơn vị đo thị lực của mắt. Thị lực giảm nghĩa là th ị l ực
không đạt một Vis dưới góc nhìn = 1 phút. Muốn nhìn rõ phải tăng góc nhìn.
- Thị trường(còn gọi là trường thị giác): Là khả năng nhìn bao quát của mắt trong
không gian xác định với tơ thế bất động đầu và cầu mắt của con người. Mắt bình
thường, Thị trường ngang của một mắt là 150o, của hai mắt là 180o, thị trường dọc là
110o.
3. Nguyên nhân và một số tật thị giác
3.1. Một số nguyên nhân của tật thị giác
Trẻ bị khiếm thị do nhiều nguyên nhân. Những nguyên nhân chính có th ể
gây tật khiếm thị:
- Do bẩm sinh (từ trong bụng mẹ): do di truyền gen; do bố hoặc mẹ nhiễm
chất độc hoá học; mẹ bị cúm khi mang thai hoặc bị tai nạn gây chấn thương đến thai
nhi.
- Do hậu quả của các bệnh: thiếu vitamin A, đau mắt hột; tiểu đường;
HIV/AIDS...
- Hậu quả của tai nạn: lao động, chiến tranh, đánh nhau, chơi trò nguy
hiểm.
3.2. Tật thị giác thường gặp và ảnh hưởng của tật
* Đục thuỷ tinh thể:
Đục thuỷ tinh thể là do bị sơ hoá ở một phần hoặc toàn bộ nhân mắt. Đục
tinh thể làm cản trở việc tia sáng trên đường đi tới võng mạc. Người bị đục thuỷ
tinh thể có thị giác giống như khi mắt nhìn qua tấm cửa kính bám đầy bụi. Sự
phát triển đục thuỷ tinh thể nhân mắt chuyển biến chậm và ph ải m ất nhiều năm
người ta mới tính đến việc thay thuỷ tinh thể mới.
Đục thuỷ tinh là một trong những nguyên nhân chính gây tật thị giác ở trẻ
nhỏ và người lớn.
Các loại đục thuỷ tinh thể:
- Đục thuỷ tinh thể do tuổi tác: là một phần của quá trình lão hoá.
- Đục thuỷ tinh th ể bẩm sinh xu ất hi ện ở tr ẻ nh ỏ và c ần ph ẫu thu ật
trong vài tháng đầu đ ời. Mặc dù m ột s ố tr ẻ thu ỷ tinh th ể có v ấn đ ề đã đ ược
thay từ rất sớm nhưng bác sĩ vẫn khuyên nên cho tr ẻ đeo kính ho ặc kính áp
tròng để thị giác phát tri ển bình th ường và chúng v ẫn có th ể g ặp nh ững khó
khăn nghiêm trọng v ề thị giác.
- Đục thuỷ tinh thể do chấn thương, xuất hiện do hệ quả của v ết thương
va đập mạnh ở mắt.

51
Điều quan trọng là giáo viên phải có thông tin về bệnh này, vì thị l ực cũng
phụ thuộc vào vị trí, kích cỡ và chiều sâu của thuỷ tinh thể. Trẻ bị đục thuỷ tinh
thể ở vùng ngoại biên cần thêm ánh sáng trong khi trẻ bị mây mù ở các vùng trung
tâm thì cần ánh sáng mờ hơn. Thị giác chức năng của các trẻ bị đục thu ỷ tinh th ể
rất đa dạng ngay cả khi có thị lực bằng nhau.
* Đau mắt hột:
Đau mắt hột là một loại viêm mắt rất dễ lây lan. Những vết thương liên
tục xảy ra sẽ để lại sẹo ở phần mí mắt làm cho lông mi siêu vẹo quặp vào trong.
Lông mi quặp vào làm xước giác mạc dẫn đến viêm loét giác mạc mù mắt. Mặc
dù bệnh này làm tới 6 triệu người bị mù trên cả thế giới nhưng có th ể ki ểm soát
được bằng cách phòng và chữa.
Bệnh đau mắt hột có ảnh hưởng mạnh và khả năng lây lan nhanh. Hơn
10% dân số trên thế giới đang ở trong nguy cơ mù mắt do nguyên nhân đau mắt
hột ở dân cư các khu vực châu Phi, châu Á và các khu vực Trung Đông cũng nh ư
một số nơi ở châu Mĩ La Tinh và Úc. Vì bệnh này gây mù loà ở những năm tháng
quan trọng nhất trong cuộc đời của một con người cho nên nó làm ảnh h ưởng tới
kinh tế của toàn bộ gia đình và cộng đồng. Phụ nữ có nguy cơ bị mù vì bệnh này
cao gấp 2-3 lần so với nam giới.
* Tăng nhãn áp:
Tăng nhãn áp là một điều kiện mà ở đó tế bào thần kinh có chức phận
truyền thông tin thị giác từ võng mạc đến não bị tổn thương. Bệnh này thường do
dịch trong mắt không thoát kịp vì vậy khi ứ lại nó làm tăng áp su ất d ẫn đ ến t ổn
thương thần kinh thị giác và cản trở thông tin thị giác đến não.
Tăng nhãn áp thường ảnh hưởng đến thị giác ngoại biên và có thể gây th ị
giác hình ống hoặc mù hoàn toàn nếu không được chữa trị sớm
Tăng nhãn áp là bệnh mang tính chất gia đình. Nếu một thành viên trong gia
đình bị tăng nhãn áp, tất cả những người khác cần đi kiểm tra mắt thường kỳ, ngay
cả khi họ không đeo kính. Bệnh này có thể kiểm soát nếu được phát hiện sớm
* Bệnh giun chỉ u:
Bệnh này xuất hiện ở 36 nước châu Phi, Bán đảo Ả rập và Mỹ. Bệnh này
thường được gọi là “mù sông”. Bệnh do một loại giun kí sinh, onchocer-ca
volvulus có thể sống đến 14 năm trong cơ thể người. Mỗi con giun cái loại này
thân mỏng nhưng dài tới nửa mét và có thể sinh ra hàng triệu ấu trùng cực nh ỏ.
Chúng sẽ chu du khắp cơ thể và gây hội chứng khiếm thị, trong đó có bị mù; phát



52
ban; thương tổn da; gây ngứa và biến mầu da. Giun chỉ sống kí sinh sau 3 năm
thâm nhập vào cơ thể sẽ phát triển thành bệnh.
* Tiểu đường:
Tiểu đường đôi khi gây ảnh hưởng đến khả năng tập trung của mắt, nó làm
chức năng của mắt bị suy giảm dần. Sau khi bị tiểu đường vài năm, một số thay
đổi ở mắt có thể xuất hiện, thể hiện ở võng mạc. Mạch máu trong mắt có thể dò
rỉ, gây ra những cục máu và sẹo làm giảm thị giác thậm chí biến mắt thành mầu đỏ.
* Thoái hoá võng mạc:
Đây là tình trạng ảnh hưởng đến hoàng điểm và hố trung tâm. Khuyết tật
xuất hiện ở hoàng điểm làm suy giảm thị lực nhìn gần và nhìn xa.
4. Ảnh hưởng của tật khiếm thị đối với sự phát triển trẻ em
Một số lĩnh vực phát triển trở nên khó khăn hơn đối với trẻ khiếm thị do
những ảnh hưởng về tật thị giác. Tuy nhiên, nếu trẻ được can thiệp kịp thời và
hiệu quả thì ảnh hưởng của tật được giảm đi đáng kể.
4.1. Những trở ngại đối với sự phát triển nhận thức
Tật khiếm thị bản thân nó không ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu về mặt
nhận thức của trẻ. Tuy nhiên nó lại ảnh hưởng đến cách tiếp thu của trẻ.
Thị giác đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình tri giác s ự v ật đ ối
với con người. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng 85% thông tin thu đ ược của con
người là nhờ chức năng thu nhận của thị giác chính vì vậy mà s ự thiếu h ụt hoặc
mất đi khả năng thị giác trong quá trình nhận thức là một thiệt thòi gây rất nhiều
khó khăn cho trẻ khiếm thị.
Trẻ khiếm thị hình thành khái niệm về những gì người khác nhìn thấy
chậm hơn so với trẻ sáng mắt do khả năng thị giác khó khăn.
Khả năng hiểu và nhận thức về tình cảm góp phần quan trọng vào việc
hình thành và phát triển của trẻ. Như vậy, vai trò của thị lực trong vi ệc nh ận bi ết
và có thể hiểu tình cảm của người khác có ảnh hưởng đến khả năng tư duy c ủa
trẻ khiếm thị. Có thể nói rằng việc dạy cho trẻ khiếm thị biết xúc cảm và có
phản ứng lại với những cảm xúc đó phù hợp cũng là một mục tiêu quan trọng.
Mặc dù sự phát triển tư duy ở trẻ mắt sáng và trẻ khiếm thị vẫn tuân theo một
quy luật chung, nhưng ở trẻ khiếm thị vẫn không thể tránh được những khó khăn
như:
- Thiếu đi những hình ảnh biểu tượng của thị giác mà những hình ảnh này
thường phong phú đa dạng và mang tính biểu tượng cao. Vì thế mà tư duy hình
tượng của trẻ khiếm thị có nhiều hạn chế.


53
- Thiếu những hình ảnh về sự vật hiện tượng một cách chọn vẹn và hoàn
hảo. Bởi vậy, nhiều biểu tượng và khái niệm của trẻ khiếm thị mang tính hình
thức chắp vá rời rạc.
- Không có cơ hội học ngẫu nhiên, trẻ cũng không thể độc lập tự khám phá
thế giới xung quanh mà cần phải có sự hỗ trợ đặc biệt để học và hiểu khái niệm.
4.2. Những trở ngại về sự phát triển khả năng giao tiếp xã hội
Khi mới sinh, gắn bó tình cảm là một quá trình quan trọng trong sự phát triển
của trẻ. Gắn bó tình cảm là một quá trình mà ở đó trẻ và cha mẹ học cách quan tâm
và yêu thương nhau, hình thành mối quan hệ con người. Nó rất quan trọng bởi vì nó
tạo cảm giác an toàn và hỗ trợ sự phát triển tình cảm ở trẻ khiếm thị.
Phát triển khả năng giao tiếp xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với tất cả
trẻ em trong đó có cả trẻ khiếm thị. Những tình huống khó khăn có thể là:
- Không chủ động giao tiếp với trẻ khác
- Hành vi giao tiếp bất thường
- Ít phản hồi hình ảnh, không liên hệ bằng mắt gây khó khăn cho s ự nhận
biết xem liệu người khác có hiểu hoặc người khác có chú ý đến mình hay không.
- Những ảnh hưởng của tật thị giác khiến cho trẻ khiếm thị có thể có
những hành vi bất thường gây khó chịu cho người giao tiếp.
4.3. Những trở ngại đối với sự phát triển ngôn ngữ
Do ảnh hưởng của chức năng thị giác nên việc sử dụng ngôn ngữ của trẻ
khiếm thị thường gặp những khó khăn như sau:
- Sử dụng từ bị lặp: Giai đoạn sử dụng từ bị lặp của trẻ khi ếm thị bị kéo
dài hơn so với trẻ sáng mắt, ta thường nghe thấy trẻ lặp đi lặp lại các từ nhiều ở
thời kỳ cuối tuổi Mầm non cho đến Tiểu học.
- Trẻ sử dụng ngữ điệu của lời nói thường không hợp lý hoặc áp dụng sai
nguyên tắc. chẳng hạn khi sử dụng ngữ điệu của câu hỏi thì trẻ lại áp dụng ngữ
điệu của câu trả lời hay câu cảm thán.
- Trẻ khiếm thị có xu hướng sử dụng nghĩa của từ một cách quá hẹp hoặc
quá rộng. Chẳng hạn, trẻ thấy “ô tô” có nghĩa là một vật chạy được vì vậy tất cả
những vật gì chạy được ở trên đường đều được gọi là “ô tô” hoặc chỉ những cái
mà đang chạy trên đường thì mới gọi là “ô tô” còn những cái đ ứng yên thì không
phải là “ô tô” nữa. Tuy nhiên phần lớn trẻ khiếm thị thường thu hẹp nghĩa của từ
chứ không hay mở rộng nghĩa của từ.
5. Những trở ngại đối với sự phát triển vận động



54
Tật khiếm thị không ảnh hưởng một cách trực tiếp đến sự kết hợp các vận
động của trẻ khiếm thị nhưng nó khởi phát cho khả năng vận động của trẻ phát
triển theo hai cách sau:
- Thứ nhất: Làm giảm đi đáng kể khả năng vận động của trẻ.
- Thứ hai: Trẻ khiếm thị có thể sẽ có cảm giác thấy sợ vận động vì chúng
cảm thấy không được an toàn, không chắc chắn về những gì có ở xung quanh bản
thân trẻ và cảm thấy ngồi yên thì an toàn hơn. Vì vậy nhiều trẻ khiếm thị có biểu
hiện thích ngồi, ít di chuyển hơn, đây cũng là lí do khiến cho thể chất của trẻ phát
triển kém, việc mở rộng cơ hội cho trẻ giao tiếp với bạn bè cũng ít đi nếu như trẻ
quá thụ động trong hoạt động vận động của mình.
6. Những khó khăn của trẻ khiếm thị trong đời sống
- Trẻ mù bẩm sinh không có khái niệm thực về màu sắc.
- Trẻ khăn trong định hướng, di chuyển: đi chậm, lệch hướng, hay va vấp...
- Trẻ khó khăn trong lao động tự phục vụ và trong sinh hoạt hàng ngày.
- Trẻ khó cảm thụ được vẻ đẹp của thiên nhiên và con người.
- Trẻ khó tham gia các trò chơi vận động, các hoạt động thể dục thể thao.
- Trẻ rất khó khăn trong việc học và làm những nghề cần sự phối hợp giữa
tay và mắt.
7. Những khó khăn của trẻ khiếm thị trong học tập
- Giai đoạn luyện phát âm ở đầu bậc tiểu học do không quan sát được nên
trẻ mù không thể bắt chước luyện theo hình miệng của giáo viên.
- Mặc dù có thể dùng tay sờ để khám phá, thu nhận thông tin để phát tri ển
nhận thức nhưng tay sờ thường chậm hơn và hiệu quả thấp hơn so với sử dụng
mắt. Nhiều hình ảnh trẻ mù rất khó hoặc không thể nhận dạng bằng tay.
- Bằng cách mô tả và quan sát mô nình trẻ mù có thể hiểu được các sự vật
hiện tượng nhưng phải trải qua quá trình rèn luyện đặc biệt và phức tạp hơn
nhiều so với trẻ sáng mắt.
- Vốn từ của trẻ th ường nghèo nàn thi ếu n ội dung c ụ th ể và mang tính
hình thức.
- Trẻ mù viết chữ nổi không khó nhưng các em gặp phải những khó khăn
khi sửa bài viết bằng chữ nổi.
II. Can thiệp sớm cho trẻ từ 0-3 tuổi
1. Phát hiện, chẩn đoán tật khiếm thị
Phát hiện tật khiếm thị là một yếu tố quan trọng nhằm tiến tới đánh giá
chính xác khả năng thị giác của trẻ. Phần lớn những vấn đề về thị giác nghiêm
trọng được phát hiện sớm từ khi mới sinh hoặc trong vòng mấy tháng đầu.
55
Có những khó khăn th ị giác không đ ược b ộc l ộ cho đ ến t ận khi tr ẻ đ ến
trường (trường Mầm non), ở đó nh ững khó khăn th ị giác c ủa tr ẻ có th ể đ ược
phát hiện qua những lần khám đ ịnh kỳ ho ặc th ể hi ện qua nh ững hành vi c ủa tr ẻ
hoặc qua kết quả h ọc tập mà giáo viên có th ể phát hi ện đ ược nh ững khó khăn
về thị giác của trẻ.
1.1. Những dấu hiệu để phát hiện trẻ có vấn đề về thị giác
- Không có sự tiếp xúc bằng mắt.
- Khả năng điều chỉnh, cố định thị giác để theo dõi bằng thị giác kém.
- Không chính xác khi với tới các đồ vật.
- Hai mắt chuyển động không đồng đều.
- Mắt chuyển động ngang hay thẳng đứng quá nhanh (rung, giật nhãn cầu).
- Không có đồng tử trong và đen.
- Thường xuyên ướt nước mắt khi trẻ không khóc.
- Có phản ứng rất không thoải mái với ánh sáng mạnh (chứng sợ sáng).
- Màng két thường xuyên bị đỏ.
- Sụp mí mắt làm che khuất đồng tử.
- Hình dáng, cỡ và cấu tạo mắt bất thường rõ rệt.
- Không có nụ cười phản ứng, không có phản ứng nhìn với nắm đồ vật.
1.2. Những dấu hiệu nhận biết trẻ có phản ứng đối với các kích thích thị giác
- Những phản ứng không thuộc thị giác mà chúng ta có thể quan sát ở tr ẻ
khi có tiếp nhận kích thích thị giác.
+ Thay đổi các hoạt động vận động.
+ Thay đổi hơi thở.
+ Thay đổi độ căng của cơ.
+ Di chuyển đầu về phía có kích thích thị giác.
+ Cười lớn hoặc khóc thét lên.
- Phản ứng thuộc về thị giác.
+ Phản ứng của đồng tử.
+ Cử động tìm kiếm của mắt.
+ Rung, giật nhãn cầu tăng.
+ Nhắm hoặc mở mắt.
+ Thay đổi vị trí của mắt.
+ Đưa mắt về phía ánh sáng.
+ Đưa mắt ra chỗ khác khi có kích thích thị giác.
+ Có liên hệ bằng mắt.
- Quan sát khả năng nhìn cố định.

56
+ Cố gắng nhìn cố định một cái gì đó.
+ Có thể nhìn cố định vào một kích thích thị giác.
+ Có thể cố định, quay đi rồi lại nhìn cố định.
+ Có thể lần lượt nhìn cố định vào kích thích thị giác hai chiều nhìn xa rồi
nhìn gần.
+ Có thể nhìn cố định vào những vị trí và phương hướng khác nhau.
- Nhìn dõi theo.
+ Có thể nhìn theo một kích thích thị giác khi nó được dịch chuyển ngang,
dọc, vòng tròn, chéo...
+ Nhìn theo kích thích chuyển động bằng mắt và sự chuyển động của đầu.
2. Hướng dẫn phụ huynh can thiệp sớm cho trẻ khiếm thị
2.1. Nội dung hướng dẫn
Tật khiếm thị, cha mẹ thường cảm thấy mình có lỗi và phải chịu trách
nhiệm về tật bệnh của con cái. Vì vậy, cần giải thích và hướng dẫn cho cha m ẹ
trẻ dần dần chấp nhận tật khiếm thị của con mình từ đó tạo nên mối quan hệ tốt
giữa họ và trẻ.
Gia đình có ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc sống của trẻ nói chung và của
trẻ khiếm thị nói riêng. Khi trẻ khiếm thị còn nhỏ không nên xem xét trẻ như là
một thực thể riêng lẻ mà phải coi nó là một phần của gia đình, đặt nó trong m ối
quan hệ tương tác của cả gia đình.
Trong những năm tháng đầu đời, từ lúc mới sinh đến 3 tuổi trẻ trải qua một
giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong cu ộc đ ời
con người. Chính trong giai đoạn này đứa trẻ bắt đầu hình thành h ệ thống ngôn
ngữ cho riêng mình về gia đình, về các kỹ năng vận động, nhận thức, tình cảm xã
hội... Đó là những tiền đề cơ bản giúp cho trẻ hoà nhập vào thế giới. Gia đình là
môi trường thích hợp nhất vì ở đó trẻ sẽ phát triển những kỹ năng này.
* Kỹ năng tình cảm xã hội:
Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự phát triển tình cảm tự nhiên
giữa trẻ khiếm thị và cha mẹ. Một trong những yếu tố này là do tình trạng mắt
gây nên. Tiếp xúc cơ thể buộc phải thay thế cho tiếp xúc mắt khi trẻ giao tiếp với
mẹ. Cha mẹ cần ôm ấp, vuốt ve, bế ẵm trẻ khiếm thị nhiều hơn kết hợp với lời
nói dịu dàng, an ủi, động viên để giúp trẻ hình thành tình cảm ràng buộc giữa cha
mẹ với con cái.
Trẻ có nhiều phản ứng với mẹ. Một em bé khiếm thị có thể không có
những cử động sôi nổi, phấn chấn như cha mẹ vẫn mong muốn mỗi khi mẹ ở

57
gần con. Họ cần hiểu rằng lí do khiến con mình thụ đ ộng và im, mỗi khi h ọ ở
cạnh con là bởi vì trẻ đang tập trung lắng nghe họ. Trẻ có thể có nh ững c ử đ ộng
rất khẽ ở ngón tay và các đầu ngón chân, đó cũng chính là phản ứng c ủa chúng
với tiếng nói của cha mẹ nhưng cha mẹ lại rất hay quên điều này.
Khi đưa con đi làm chẩn đoán tật khiếm thị cha mẹ thường cảm thấy mình
có lỗi và phải chịu trách nhiệm về tật của con cái. Vì v ậy cũng cần gi ải thích và
hướng dẫn cho cha mẹ trẻ dần dần chấp nhận tật khiếm thị của con mình. Từ đó
tạo nên được mối quan hệ tốt giữa họ với trẻ.
* Kỹ năng vận động:
Do mắt kém hoặc không nhìn thấy gì nên trẻ khiếm thị bị hạn chế về khả
năng vận động. Việc sinh hoạt hàng ngày như tắm và mặc quần áo cũng như xoa
bóp cơ thể giúp trẻ hiểu rằng nó không tách biệt với thế giới xung quanh. Một
hình ảnh chính xác về cơ thể có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của hoạt
động điều phối, tư thế và vận động sau này.
Trẻ mù thường chỉ có một tư thế nhất định, chúng thiếu động lực đ ể lật,
lẫy, xoay người... Quá trình phát triển tự nhiên này trở nên khó khăn khi trẻ không
nhìn thấy gì và người lớn phải dạy trẻ qua các hoạt động chơi, khuyến khích
dùng những âm thanh, tiếng động hấp dẫn để kích thích trẻ. Ngoài ra cần chú ý:
+ Không nên thay đổi vị trí đồ đạc trong phòng ít nhất là khi trẻ mới tập đi.
+ Khi trẻ đã đi vững cần động viên trẻ tập chạy.
+ Tạo không gian ngoài trời an toàn không có vật cản để làm nơi tr ẻ tập
chạy tự do.
+ Khuyến khích trẻ tham gia vào các trò chơi phát triển vận động.
+ Hãy để trẻ độc lập trong các hoạt động vận động từ đó trẻ sẽ có nhiều
trải nghiệm hơn.
* Kỹ năng xúc giác:
Đôi khi người ta cho rằng trẻ khiếm thị sử dụng các giác quan của nó một
cách tự nhiên, nhưng không phải như vậy. Vì không thể hiểu được thế giới xung
quanh trẻ thường có hướng thu mình để không phải chạm vào vật lạ do đó cần
khuyến khích trẻ dùng tay. Nên thận trọng, đừng đặt đồ vật đột ngột vào tay trẻ.
Điều này có thể làm trẻ thu mình lại và không dám dùng tay. Tốt hơn là người lớn
lên cầm tay trẻ, đưa ra để trẻ chạm vào đồ vật rồi nhẹ nhàng khuyến khích trẻ tự
cầm lấy.
* Kỹ năng thị giác:


58
Điều quan trọng là trẻ khiếm thị cần phải học cách sử dụng phần thị giác
còn lại. Đối với trẻ khiếm thị, chúng dành nhiều thời gian và sức l ực đ ể hi ểu
những gì mình đang nhìn thấy. Thông tin thị giác có thể bị bỏ qua cũng giồng như
khi một số âm thanh không được nghe vì trẻ thấy chúng chẳng có nghĩa.
Cần động viên khuyến khích trẻ khiếm thị hiểu những hình ảnh mờ ảo
hoặc đứt đoạn mà chúng có thể nhìn thấy. Có thể khuyến khích trẻ nhìn bằng
cách sử dụng những đồ vật có ánh sáng, phản chiếu và những hình ảnh đơn giản
có độ tương phản cao và đường viền rõ ràng.
Đặt đồ vật gần để trẻ với tay lấy được về phía trước. Đồ vật và đồ chơi
nên có những âm thanh để báo động cho trẻ mù và chú ý được thị giác của trẻ.
* Phát triển ngôn ngữ:
- Từ trước khi trẻ biết nói cha mẹ nên gọi tên các đồ vật mà trẻ gặp. Cần
nói cho trẻ hiểu hơn về những gì nó trải qua cũng là cách để giúp trẻ d ần hiểu
những gì đang diễn ra trong môi trường xung quanh.
- Âm thanh nền ở nhà là điều ta cần sử lý cho khéo léo vì đi ều này có th ể
cản trở không cho trẻ nghe và hiểu tiếng ồn ở xung quanh trẻ.
- Khi trẻ tập nói, cha mẹ cần dành đủ thời gian để trẻ phản ứng lại những
câu hỏi hoặc câu chuyện của mình. Đừng nên cung cấp câu trả lời ngay, những
câu hỏi có thể kích thích phản hồi của trẻ, những loại câu hỏi này khuyến khích
trẻ tiếp cận với ngôn ngữ có ý nghĩa. Điều quan trọng là sự phát tri ển ngôn ng ữ
có liên quan chặt chẽ đến những trải nghiệm của trẻ và những đồ vật mà nó đã
khám phá.
* Phát triển kỹ năng độc lập:
Mộ t đứ a trẻ đ ộc l ập s ẽ tr ở thành m ột ng ườ i l ớn đ ộc l ập. Ph ải cân
bằng gi ữa vi ệc giúp đ ỡ tr ẻ khi ếm th ị và kh ẳng đ ịnh r ằng chúng cũng ph ải t ự
làm lấy mọi vi ệc.
Dạy trẻ học các kỹ năng tự phục vụ cần lưu ý những điểm sau:
- Khuyến khích trẻ học những kỹ năng này càng sớm càng tốt.
- Trẻ có thể học, thực hành và làm những kỹ năng này lâu hơn.
- Cần dạy trẻ các kỹ năng cụ thể.
- Điều chỉnh đồ dùng, quần áo có thể có tác dụng.
Cần tạo ra được các nếp sinh hoạt phù hợp trong gia đình và duy trì nó lâu dài.
* Một số nguyên tắc cơ bản trong việc nuôi dạy trẻ khiếm thị:
- Thường xuyên vỗ về ôm ấp và gọi trẻ trẻ từ xa.



59
Trẻ khiếm thị, đặc biệt là trẻ mù phụ thuộc vào sự vỗ về, ôm ấp của cha
mẹ nhiều hơn trẻ bình thường. Cha mẹ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
hình thành quan hệ gắn bó an toàn về sự phát triển tình cảm của tr ẻ. Vì v ậy c ần
ghi nhớ phải thường xuyên vỗ về, ôm ấp trẻ, gọi từ xa nhằm giúp trẻ có cảm
giác an toàn và được yêu thương.
- Thông báo từ trước.
Người sáng mắt không bao giờ được nhấc bổng trẻ mù lên, đặt một cái gì
đó vào tay hoặc miệng trẻ đột ngột mà không nói trước. Cũng giống như người
sáng mắt, trẻ mù sẽ bị giật mình. Nếu không nói trước chúng sẽ bị sốc và hình
thành thói quen ám ảnh sợ xúc giác. Có thể báo trước bằng nhiều cách, đi ều quan
trọng là trẻ mù phải nhận biết được một cái gì đó sắp xảy ra với mình.
- Tạo ra tiếng động hoặc lời nói trước bất kỳ cử động nào.
Khi cha mẹ và trẻ tương tác, hãy tạo ra tiếng động hoặc trẻ lớn h ơn thì
dùng lời nói. Cũng như khi trẻ sáng mắt bị kính thích làm một cái gì đó khi quan
sát thấy hành động, cử chỉ, nét mặt của cha mẹ, trẻ mù có th ể bị kích thích đ ể
chơi với đồ chơi khi nghe thấy tiếng động. Bài hát cho trẻ nhỏ, những nhịp điệu
âu yếm và câu nói đơn giản có âm sắc sẽ làm thức tỉnh sở thích và kích thích tham
gia của trẻ.
- Gọi đúng tên đồ vật và hành động.
Vì trẻ khiếm thị khó tri giác trong môi trường hơn nên để so sánh và phân
biệt hãy gọi đúng tên đồ vật và tìm cách mô tả đúng sự khác biệt giữa chúng cho
phù hợp với khả năng tiếp thu của trẻ.
2.2. Các kỹ năng cần thiết khi hướng dẫn phụ huynh
* Kỹ năng giao tiếp mang tính hỗ trợ:
- Là người hỗ trợ cho gia đình trẻ, trước hết giáo viên phải có thái độ biết
lắng nghe, đồng cảm với gia đình trẻ.
- Tạo nhiều cơ hội để gia đình chia sẻ thông tin và đặt câu hỏi, muốn làm như
vậy phải tạo cho gia đình có tâm lý tin cậy vào bạn, coi bạn như một người thân
thiết.
- Khi chia sẻ thông tin với cha mẹ hãy động viên họ sử dụng cách giao tiếp
trực tiếp để bày tỏ những mối quan ngại và các vấn đề ưu tiên của mình.
- Nên cung cấp thông tin chính xác cho anh chị em của trẻ khiếm thị và
khuyến khích chúng trò chuyện cởi mở về những cảm xúc của chính mình.
* Kỹ năng làm việc với trẻ khiếm thị:
- Giáo viên phải có kỹ năng giao tiếp tốt để dễ dàng ti ếp cận với trẻ và
biết cách tổ chức các hoạt động can thiệp cho trẻ.
60
- Giáo viên phải nắm rõ đặc điểm tâm lý đặc trưng của trẻ và hi ểu đ ược
sở thích, điểm mạnh, điểm yếu của trẻ. Nắm rõ các biện pháp chơi, kích thích các
giác quan cho trẻ.
* Kỹ năng tổ chức các buổi thảo luận, cuộc họp với gia đình trẻ:
Khi phát hiện những vấn đề mà giáo viên cần hỗ trợ cho ph ụ huynh, giáo
viên cần phải tổ chức các cuộc họp riêng với từng gia đình trẻ, ở những cuộc họp
này giáo viên sẽ cùng bàn bạc với gia đình thuyết phục họ lựa chọn mục đích
cách thức chăm sóc và giáo dục phù hợp với trẻ nhất. Để các buổi thảo luận, các
cuộc họp thành công giáo viên cần chú ý các kỹ năng sau:
- Chuẩn bị tốt về địa điểm, thời gian.
- Chuẩn bị kỹ nội dung/ tài liệu của cuộc họp/thảo luận.
- Tôn trọng ý kiến của phụ huynh.
- Nêu rõ mục đích của cuộc họp và tập trung vào vào các mục đích chính.
* Kỹ năng chuẩn bị tài liệu hướng dẫn phụ huynh:
Tài liệu hướng dẫn phụ huynh không phải đơn thuần là đưa cho họ những
quyến sách về chuyên môn về giáo dục trẻ khiếm thị mà giáo viên phải biết l ựa
chọn kiến thức, chắt lọc và biên soạn thành các tập tài liệu dễ hi ểu, dễ sử dụng
và phù hợp với nhu cầu của từng phụ huynh. Nó đòi hỏi giáo viên ph ải bi ết l ựa
chọn, biết tự thiết kế tài liệu phù hợp với đối tượng mà mình hướng dẫn. Như
vậy giáo viên cần có các kỹ năng sau:
- Đánh giá được nhu cầu và mức độ hiểu biết của đối tượng hướng dẫn.
- Biết lựa chọn và chắt lọc thông tin.
- Có kỹ năng vi tính để thiết kế các tờ tài liệu đẹp mắt dễ đọc.
- Biết sáng tạo tài liệu có tính thẩm mỹ, logic để hấp dẫn người xem.
III. Tổ chức giáo dục trẻ khiếm thị trong lớp mẫu giáo hoà nhâp
1. Một số biện pháp quan trọng trong công tác tổ chức giáo dục cho trẻ
khiếm thị trong trường Mầm non
1.1. Điều chỉnh và sắp xếp môi trường phù hợp với tật thị giác
Bố trí môi trường lớp h ọc phù hợp s ẽ giúp tr ẻ đ ộc l ập và ham mu ốn
được tự khám phá về thế giới xung quanh, ở đây môi tr ường không ch ỉ là ở
trong lớp học mà còn là cả môi tr ường chung c ủa nhà tr ường. Tr ẻ không ch ỉ
tìm kiếm các thông tin trong l ớp h ọc mà có th ể tr ải nghi ệm, ti ếp xúc và vui
chơi ở vườn trường, sân chơi.
- Môi trường bên trong của lớp học cần được sắp xếp các góc hoạt động một
cách hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ khiếm thị đi lại dễ dàng, không bị quá
nhiều cản trở. Đặc biệt giáo viên sắp xếp chỗ ngồi của trẻ khiếm thị gần cô giáo.
61
- Cần chú ý đến nhu cầu đặc biệt về thị giác của trẻ đ ể điều chỉnh môi
trường lớp học hợp lý mà không bị tốn kém về chi phí:
+ Lượng ánh sáng trong lớp phải vừa đủ và phù hợp.
+ Giáo viên cần chú ý sắp xếp vị trí hợp lý đủ rộng và thuận tiện cho tr ẻ
khiếm thị sử dụng các phương tiện trợ thị.
+ Phóng to hoặc làm tăng độ tương phản của chữ và ảnh.
+ Lựa chọn đồ dùng, dụng cụ trực quan kích thích các giác quan.
+ Vị trí của trẻ khiếm thị trong lớp là dễ tiếp cận với giáo viên và thuận lợi
quan sát các đồ dùng trực quan.
1.2. Xây dựng bầu không khí tích cực ở trường học giúp trẻ khiếm thị có tâm
lý an toàn, tự tin và thoải mái
Trẻ khiếm thị cũng là một trong số những trẻ của lớp học, mỗi trẻ cũng có
những cá tính và nhu cầu riêng. Vì vậy, để đảm bảo không khí bình đẳng và tự tin
cho trẻ khiếm thị trong lớp mẫu giáo hoà nhập, giáo viên cần lưu ý một số vấn đề
sau:
- Sử dụng bình thường tự nhiên các từ như: “nhìn”, “xem”. Những từ này
cũng là một phần trong vốn từ vựng của trẻ khiếm thị và của trẻ khác. Trẻ khiếm
thị cũng sử dụng các từ này bao hàm chỉ cả cách thức trẻ sử dụng để nhìn, chẳng
hạn bằng khả năng sờ hoặc nhìn ở khoảng cách thật gần.
- Giới thiệu về trẻ khiếm thị bình thường như cách bạn vẫn làm với trẻ khác.
- Khen ngợi trẻ khiếm thị cũng cần được sử dụng giống như đối với các
bạn khác trong lớp.
- Khuyến khích trẻ khiếm thị di chuyển trong lớp học để có thông tin về đồ
dùng hoặc các thông tin về thị giác.
- Trẻ khiếm thị có thể không nhận biết được sự biểu hiện của ánh mắt, nét
mặt, gật đầu, tay cô đưa lên... Vì vậy sử dụng tín hiệu lời nói lúc này là rất cần thiết.
- Để các bạn khác trong lớp cũng hiểu về tật khiếm thị hãy để trẻ tham gia
các chủ đề liên quan đến thị lực và khiếm thị.
- Nên khuyến khích trẻ sử dụng các phương tiện trợ thị và trả lời bất kỳ
câu hỏi nào của trẻ về phương tiện đó.
- Khi tiếp xúc với trẻ cô luôn luôn phải xưng tên của mình.
- Trẻ mù hoặc trẻ khiếm thị có thể sẽ có những hành vi bất th ường. B ạn
nên khuyến khích trẻ có những tư thế đúng và giúp trẻ hạn chế những hành vi
không thích hợp.
- Nâng cao khả năng độc lập của trẻ, hãy để trẻ khiếm thị tự làm mọi việc
bất kỳ lúc nào khi có thể.
62
1.3. Xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ khiếm thị
Mỗi trẻ em là một thực thể riêng biệt. Trẻ khác nhau ở mức độ linh hoạt
của tư duy, vốn sống kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, nhu cầu h ọc h ỏi. Vì v ậy,
trong quá trình dạy học hoà nhập cho trẻ khiếm thị phải chú ý đến việc tiếp cận
cá biệt đối với từng trẻ.
- Tìm hiểu khả năng nhận thức, kỹ năng của từng trẻ. Từ đó đ ưa ra đ ược
mục tiêu cá nhân trong một thời gian nhất định. Đối với trẻ khiếm thị, giáo viên có
thể trên cơ sở đánh giá khả năng cá nhân mà điều chỉnh mục tiêu phù hợp với khả
năng của từng trẻ.
- Tiếp cận cá biệt về nhu cầu hứng thú hoạt động nhờ vậy yêu cầu c ủa
giáo viên đối với trẻ không bị quá cao hay quá thấp so với khả năng của từng trẻ.
- Cần tạo điều kiện để trẻ vận dụng và tìm kiếm những phương thức học
tập phù hợp với khả năng và ý đồ của trẻ và tạo điều kiện để trẻ độc lập và chủ
động thực hiện ý đồ của mình.
- Xây dựng kế hoạch học tập cho t ừng tr ẻ. Trong k ế k ế ho ạch đó th ể
hiện tính lôgíc, hệ th ống của quá trình, tính đa d ạng, phong phú c ủa các ho ạt
động và quan tâm đ ến sự phát tri ển cá nhân c ủa m ỗi tr ẻ. M ột k ế ho ạch giáo
dục cá nhân bao g ồm:
+ Những thông tin về trẻ: tình trạng thị giác, tiền sử bệnh tật trong gia
đình, chuẩn đoán, kết luận và chỉ định của bác sỹ nhãn khoa, đánh giá v ề thị giác
chức năng, những nhu cầu cần được đáp ứng và hỗ trợ.
+ Thiết lập mục tiêu: là kỳ vọng của chúng ta về những điều mà đứa trẻ có
thể thực hiện được sau thời gian nhất định nhằm giải quyết những điểm còn yếu
hoặc tăng cường những điểm mạnh đã được xác định trong tình trạng ban đầu
của trẻ. Mục tiêu của một năm có thể có một số mục tiêu dài hạn và trong đó bao
gồm các mục tiêu ngắn hạn.
+ Thời gian thực hiện: giáo viên phải xác định được thời gian thực hiện cho
mỗi mục tiêu.
Ngoài các yếu tố trên giáo viên cần qua tâm đến các dịch v ụ, ph ương ti ện
để đạt được các mục tiêu đặt ra và lên được kế hoạch đánh giá các mục tiêu đã
được đề ra để có được kế hoạch giáo dục cho các giai đoạn tiếp theo.
1.4. Sử dụng các công cụ hỗ trợ
Sử dụng công nghệ hỗ trợ đóng vai trò thiết yếu trong việc hạn chế tối đa
cản trở của tật khiếm thị đối với bản thân trẻ và giúp trẻ khiếm thị có khả năng
độc lập hơn. Vì vậy, khi trẻ đã được chỉ định công cụ hỗ trợ nào đó thì giáo viên


63
cần khuyến khích động viên trẻ sử dụng thường xuyên và có ý thức giữ gìn bảo
quản chúng. Hệ thống các công cụ hỗ trợ có thể bao gồm:
* Thiết bị trợ giúp quang học:
Thiết bị trợ giúp quang học nhằm giúp trẻ nhìn kém tận dụng được tối ưu
khả năng thị giác còn lại, vì vậy khi trẻ đã được chỉ định sử dụng một loại thiết bị
trợ giúp nào đó thì giáo viên cần khuyến khích trẻ luôn luôn sử dụng thiết bị trợ thị.
- Kính phóng đại: kính phóng đại cầm tay và kính phóng đại có chân dùng
để đọc các tài liệu như thư, bản đồ, số điện thoại…
- Kính viễn vọng: có loại cầm tay và có loại hai mắt kính dùng đ ể xem đồ
vật ở xa như nhìn bảng, theo dõi sự kiện thể thao, số xe buýp… có thể điều chỉnh
tiêu cự để nhìn xa hoặc nhìn gần, có kẹp để kẹp vào kính mắt.
- Kính mắt: Kính phóng đại lớn dùng để đọc sách hoặc viết trong th ời gian
dài và những công việc đòi hỏi kỹ nanưg tinh xảo như khâu vá.
- Kính phóng đại điện tử, ti vi chuyên dụng dùng cho những người bị thu hẹp trường
thị.
- Công nghệ máy tính và máy in: Dùng để điều chỉnh kích cỡ tài liệu, độ
tương phản và màu sắc.
- Kính lọc hoặc kính râm để kiểm soát ánh sáng chói
* Thiết bị trợ giúp phi quang học:
Các dụng cụ phi quang học nhằm giúp trẻ rút ngắn khoảng cách khi đ ọc
hoặc có tư thế ngồi phù hợp. Ngoài ra, có những thiết bị chỉ đơn gi ản, r ẻ ti ền
nhưng lại giúp tăng độ tương phản của hình ảnh.
- Giá đọc: dùng để khắc phục tư thế không thoải mái cho trẻ, với nó sách
vở được đưa lại gần mắt hơn.
- Bút dạ: Thường có mầu đen dùng để vẽ đường nét đậm, dùng các loại bút
gạch dòng có nhiều mầu sắc để giúp trẻ đánh dấu được những phần quan trọng.
- Bút gạch dòng: thường nên chọn mầu vàng chanh, nét chữ in sẽ trở nên
sậm mầu hơn, độ tương phản của chữ trên nền giấy cũng cao hơn.
- Sách khổ lớn: Đối với những trẻ không đọc được với kích thước thông
thường trong khoảng cách gần ngay cả khi dùng thiết bị trợ thị quang học thì cách
này sẽ có tác dụng.
- Giấy có dòng kẻ đậm.
- Khung khống chế: Dụng cụ này có thể có tác dụng đặc bi ệt đối với trẻ
không thể tập trung vào một từ hoặc nhìn một dòng chữ in.
Với sự ra đời c ủa công ngh ệ thông tin ng ười khi ếm th ị có th ể dùng
đượ c cả điện thoại và nhi ều loại đ ồ dùng trong gia đình. Nh ững đ ồ dùng này
64
cần một s ố hình th ức hoạt đ ộng riêng h ỗ tr ợ cho ng ười khi ếm th ị ch ẳng h ạn
như:
- Đồng hồ biết nói.
- Nhiệt kế và máy tính biết nói.
- Phần mềm đọc chữ in cỡ lớn...
1.5. Tận dụng tối đa các giác quan còn lại của trẻ khiếm thị
Việc tận dụng các giác quan khác có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong vi ệc
khám phá và thực hiện các hoạt động chức năng của trẻ khiếm thị.
- Xúc giác giúp trẻ tìm hiểu đặc tính của sự vật. Đối với trẻ mù xúc giác là
công cụ để trẻ học chữ nổi Bralle.
- Thính giác giúp trẻ khiếm thị định hướng trong không gian, âm thanh cũng
giúp trẻ phản ánh thuộc tính của các vật.
Trong các hoạt động hàng ngày của trẻ ta cần chú ý kết hợp vi ệc tận d ụng
khả năng của tất cả các giác quan để bù trừ cho khả năng thị giác đã bị thi ếu hụt
của trẻ.
1.6. Phối kết hợp các lực lượng giáo dục
Sự phối hợp giữa cha mẹ, các nhà chuyên môn thuộc các chuyên nghành
khác nhau như nhà tâm lý, bác sỹ nhãn khoa có vai trò quan trọng trong vi ệc thi ết
lập một mô hình dịch vụ phối hợp hoàn chỉnh cho trẻ khiếm thị.
Một yếu tố tạo nên thành công của việc hoà nhập cho trẻ ở trường Mầm
non là mối quan hệ của trẻ khiếm thị với các trẻ khiếm thị khác, trẻ bình thường,
phụ huynh trẻ khiếm thị với nhau và phụ huynh trẻ bình thường trong lớp, trong
trường, Ban giám hiệu nhà trường, các giáo viên, cán bộ phục vụ trong trường và
sự phối kết hợp của nhà trường với các tổ chức xã hội khác.
* Khuyến khích sự tham gia của phụ huynh:
Gia đình là một thành tố không thể thiếu đóng góp vào quá trình nuôi d ạy
trẻ. Phụ huynh ủng hộ việc đưa trẻ đến trường mẫu giáo hoà nhập là một quá
trình thuận lợi cho việc hỗ trợ trẻ.
Phụ huynh cần nhận thức rõ vai trò quan trong của mình trong vi ệc chăm
sóc và dạy dỗ trẻ khiếm thị, họ có vai trò là một thành viên tích cực trong đ ội ngũ
những người giáo dục con em mình.
Để phối hợp tốt với gia đình trẻ khiếm thị giáo viên cần phải hiểu, thực sự
thông cảm và tôn trọng ý kiến mong muốn của gia đình về trẻ khiếm thị, th ực s ự
là người biết “lắng nghe” và tận dụng mọi cơ hội để chia sẻ kinh nghiệm v ới
phụ huynh về cách hỗ trợ trẻ khiếm thị

65
* Phối kết hợp giữa các giáo viên:
Giáo viên cần phải có sự hỗ trợ với các giáo viên khác về cách chuẩn bị đồ
dùng, phương pháp, cách sử dụng các công cụ hỗ trợ để giúp phụ huynh xây dựng
được mục tiêu giáo dục phù hợp đáp ứng được nhu cầu của trẻ khiếm thị.
* Hợp tác với các nhà chuyên môn:
Giáo viên cần có sự tham khảo ý kiến, thảo luận với các nhà chuyên môn
để đưa ra được kế hoạch giáo dục phù hợp nhất với trẻ khiếm thị.
* Phối hợp với các tổ chức khác trong xã hội: Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên...
Làm tốt công tác phối hợp các lực lượng giáo dục cũng góp phần giúp tr ẻ
được hưởng thêm nhiều sự quan tâm chăm sóc và là một yếu tố quan trọng góp
phần cho thành công của công tác giáo dục hoà nhập trẻ khiếm thị.
2. Hoạt động giáo dục hoà nhập trong trường học cho trẻ khiếm thị tuổi mầm
non
2.1. Tổ chức một số hoạt động chung trong lớp hoà nhập cho trẻ khiếm thị
* Cho trẻ làm quen với biểu tượng toán học:
Nội dung của hoạt động cho trẻ làm quen với toán trong giai đoạn tuổi
Mầm non là:
- Học đếm: Trước khi trẻ học được các khái niệm về các con số, trẻ khiếm
thị cần luyện tập nhiều để so sánh “nhiều hơn”, “ít hơn”...
- Phân loại, nhóm, phân biệt: trẻ khiếm thị sẽ gặp khó khăn hơn khi không
có các kinh nghiệm học ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày vì vậy chúng ta
cần tạo điều kiện để hàng ngày trẻ được luyện tập.
- So sánh (dài - ngắn; to - nhỏ; nhiều - ít): Khả năng sử dụng ngôn ngữ toán
về độ dài - ngắn; kích cỡ, chiều rộng là rất cần thiết cho trẻ khi ếm th ị. Vì v ậy
cần cho trẻ có nhiều trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày.
- Màu sắc: Với trẻ mù ta không thể bắt buộc trẻ phải phân biệt được màu
sắc mà chỉ dạy cho trẻ hiểu khi một người sử dụng một từ chỉ màu s ắc thì nó
tương đương với ý nghĩa, biểu hiện của màu sắc ấy như thế nào.
- Khoảng cách và không gian: Khái niệm không gian là một nội dung rất khó
khăn cho trẻ khiếm thị có thể hiểu được. Giáo viên cần chú ý tạo mọi cơ hội để dạy
trẻ.
- Nhận biết các hình: Trẻ khiếm thị cần được dạy so sánh, nhận biết các
hình đơn giản trước để hiểu rõ về từng khái niệm của hình đó đ ể có th ể phân
biệt được với hình khác.
Có thể dạy trẻ làm quen với biểu ượng toán là khó, nó đòi hỏi giáo viên
phải có nhiều biện pháp linh hoạt trong lớp học như:
66
+ Chuẩn bị bài dạy tốt.
+ Có cách tiếp cận cá biệt.
+ Dạy một cách cụ thể, thực tế.
+ Lồng ghép theo các chủ đề.
+ Chuyển dịch bài tập sang mô hình nổi.
+ Khuyến khích trẻ bình thường giải thích cho trẻ khiếm thị...
* Cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh:
Cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh là một nội dung quan trọng
trong chương trình Giáo dục Mầm non. Điều quan trọng trong mục đích giáo dục
là làm thế nào để trẻ khiếm thị có kiến thức về cuộc sống xung quanh và có thể
học cách sống độc lập trong môi trường của mình, trẻ khiếm thị phải tự khám
phá, có nhiều cơ hội thực hành, sử dụng các giác quan để hiểu biết về môi trường
xung quanh. Giáo viên cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Giáo viên giải thích cho cả lớp: Sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, dùng từ dễ
hiểu phù hợp với mức độ trải nghiệm của trẻ.
- Kết hợp minh hoạ lời và hình ảnh: Giải thích cho trẻ rõ ràng về các đ ồ
dùng minh hoạ, có thể kết hợp sử dụng nghe băng, băng video cho trẻ xem...
- Hiểu khái niệm: Tất cả những kiến thức mới giáo viên cung cấp cho trẻ
làm quen với môi trường xung quanh.
- Tổ chức các nhóm hoạt động: Trong các nhóm này, sẽ giúp cho trẻ khiếm
thị hiểu rõ về những gì đang xảy ra, trẻ sẽ phải thực hiện nhiệm vụ gì. Điều
chỉnh phù hợp cho trẻ khiếm thị, chẳng hạn cho phép trẻ có lượng thời gian v ừa
phải và chú ý đến kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của trẻ.
* Tổ chức hoạt động âm nhạc cho trẻ khiếm thị:
Mục đích của tổ chức hoạt động âm nhạc ở trường Mầm non cho trẻ
khiếm thị là giúp trẻ yêu thích âm nhạc, nhận biết, phân biệt các âm thanh từ các
dụng cụ âm nhạc, trẻ biết vận động theo nhịp điệu của bài hát và qua âm nhạc trẻ
thêm yêu thương quê hương, yêu con người và yêu cuộc sống. Để đạt được mục
đích trên, khi tổ chức hoạt động âm nhạc cho trẻ khiếm thị giáo viên cần sử dụng
các phương pháp sau:
- Cung cấp cho trẻ các loại dụng cụ âm nhạc khác nhau để nhận biết các âm
thanh.
- Sử dụng trò chơi âm nhạc để phát triển thính giác của trẻ.
- Khi giới thiệu bài hát mới giáo viên cần giới thiệu từng câu một và cho trẻ
đọc theo.
- Đề nghị các bạn khác cùng tham gia biểu diễn với trẻ khiếm thị.
67
- Giáo viên có thể giới thiệu bài hát cho trẻ khiếm thị trước.
* Phát triển kỹ năng vận động:
Luyện tập vận động không chỉ là các hoạt động phát triển thể chất riêng
biệt mà còn có thể thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi. Điều quan trọng là cần chú ý
đến chất lượng của khả năng vận động của trẻ khiếm thị.
Mục đích của phát triển kỹ năng vận động ở giai đoạn này là: trẻ hiểu biết
về các bộ phận trên cơ thể, các bộ phận vận động như thế nào, vận động của cơ
thể theo nhiều hình thức, tốc độ khác nhau, tập định hướng khi di chuyển, tham
gia vào các hoạt động thể chất cùng các bạn.
Rèn luyện kỹ năng vận động tinh và vận động thô cho trẻ khi ếm th ị cần
được thực hiện tích hợp thông qua nhiều hoạt động:
- Thông qua hoạt động sinh hoạt hàng ngày:
+ Khi còn nhỏ, trẻ cần tập tự mặc quần áo, điều chỉnh cúc, khoá, tập cầm
thìa, cầm bút, sử dụng một số đồ dùng đơn giản.
+ Nên dạy trẻ từng bước để trẻ tự làm bước cuối cùng, sử dụng lời hướng
dẫn đơn giản, tuần tự công việc.
- Thông qua trò chơi và các bài hát:
+ Nhớ gọi tên các ngón tay và chơi với các trò cử động tay chân với các con rối.
+ Cho trẻ chơi với đất nặn, cát, nước, các vật liệu có trong thiên nhiên...
+ Chơi xâu hạt, xếp hình, logo…
+ Tạo nhiều cơ hội cho trẻ thay đổi tư thế vận động trong bài hát, trò chơi...
- Thông qua hoạt động ngoài trời:
Hoạt động ngoài trời không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển
tình cảm xã hội, nhận thức mà còn có hiệu quả phát triển kỹ năng vận động, thể
hiện ở:
+ Phát triển kỹ năng vận động tinh, thô.
+ Tăng cường khả năng thăng bằng, khả năng nhận biết về không gian.
- Thông qua hoạt động phát triển thể chất:
+ Hiểu và tuân theo các quy định, ký hiệu an toàn trong quá trình luyện tập.
+ Biết lựa chọn cách ăn mặc phù hợp, không gây nguy hi ểm trong khi
luyện tập, vận động, di chuy ển. Bi ết cách c ầm đ ặt đ ể c ất d ụng c ụ luy ện t ập
đúng nơi quy định.
+ Trẻ cần nhận rõ và biết về khoảng không gian mà trẻ luyện tập.
+ Đối với trẻ khiếm thị, giáo viên cần gọi tên trẻ và đưa ra lời chỉ dẫn giải
thích về các hoạt động một cách rõ ràng, cần tạo điều kiện để trẻ giao tiếp với trẻ
khác.
68
+ Giáo viên cần nắm thông tin rõ ràng về tình trạng mắt và các thông tin y
tế khác có liên quan đến trẻ.
+ Hướng dẫn một số trẻ sử lý kính đeo khi luyện tập.
+ Giáo viên cần d ạy tr ẻ khi ếm th ị c ần bi ết các đi ều ki ện môi tr ường
khác nhau có th ể ảnh h ưởng đ ến c ầu m ắt c ủa tr ẻ. Ch ẳng h ạn, các m ức đ ộ
ánh sáng nào thì không phù h ợp v ới tr ẻ ho ặc ánh n ắng m ặt tr ời có th ể làm cho
một số trẻ bị nhức mắt ho ặc không tho ải mái. M ặt sân có th ể b ị loá làm cho
trẻ khó bắt, nhận bóng hoặc s ử d ụng bóng dâm ở sân vào th ời đi ểm nào thì có
thể đượ c.
+ Điều chỉnh dụng cụ luyện tập: dán màu vào đồ dùng để trẻ dễ nhận biết...
+ Giáo viên cần hướng dẫn trẻ hiểu được luật chơi, khuyến khích tr ẻ
khiếm thị và hướng dẫn trẻ sáng mắt cách cùng chơi với trẻ khiếm thị như thế
nào. Với sự hướng dẫn và điều chỉnh về môi trường và phương pháp, trẻ khiếm
thị hoàn toàn có thể tham gia vào các đội chơi cùng trẻ sáng một cách thành công.
+ Giáo viên cần theo dõi sự phát triển kỹ năng vận động. Việc đánh giá khả
năng vận động nằm trong kế hoạch theo dõi về các mặt phát triển của học sinh trong
trường.
* Hướng dẫn trò chơi:
Trẻ khiếm thị nặng thường chậm hiểu hơn và có nhiều sai sót trong khả
năng chơi so với trẻ khuyết tật khác, nhất là các trò chơi biểu tượng. Vì v ậy mà
việc chú ý sử dụng các biện pháp tác động khi tổ chức trò chơi cho trẻ khi ếm thị
ở trường mầm non đóng vai trò rất quan trọng. Khi hướng dẫn trò chơi giáo viên
cần chú ý:
- Hướng dẫn cụ thể các kỹ năng chơi.
- Kích thích hứng thú muốn khám phá đồ chơi.
- Nên cung cấp đồ vật thật để cho trẻ khám phá.
* Một số biện pháp hướng dẫn trò chơi cho trẻ khiếm thị:
- Gợi mở khuyến khích trẻ tham gia vào trò chơi.
- Chơi mẫu.
- Gợi ý mời trẻ tham gia.
- Kích thích để trẻ có hứng thú chơi.
- Bắt đầu chơi giáo viên có thể gợi mở hoặc chơi trước.
- Sử dụng lời nói để sắp xếp trò chơi. Tuy nhiên cần chú ý để trẻ có cơ hội
được tập trung vào trò chơi hơn. Nên sử dụng lời nói kết hợp với thái độ, cử chỉ
điệu bộ, sử dụng âm lượng ngữ điệu biểu lộ tình cảm và khuyến khích trẻ.
- Mở rộng ý tưởng mới trong khi chơi.
69
- Giúp trẻ vượt qua những cản trở trong khi chơi.
- Trợ giúp trẻ khi trẻ không tìm được đồ chơi phù hợp do ảnh hưởng của tật.
2.2. Tổ chức tiết học cá nhân cho trẻ khiếm thị trong lớp hoà nhập
- Mục đích: Nhằm hỗ trợ cho trẻ kỹ năng các mặt: Định hướng di chuyển,
giao tiếp xã hội, phát triển các giác quan, luyện tập thị giác
- Thời gian: 10 - 15 phút tuỳ thuộc vào sự hứng thú và nội dung hướng dẫn.
- Phương pháp:
+ Dựa trên mục đích của tiết học cá nhân mà giáo viên quyết định cách thức
tiến hành tiết học cá nhân cho trẻ.
+ Giáo viên có thể tổ chức tiết học cá nhân cho trẻ khiếm thị thông qua các
hoạt động như: trò chơi, âm nhạc...
- Cách tiến hành:
+ Chọn một hoạt động phù hợp với mục đích tiết học.
+ Lựa chọn địa điểm đảm bảo trẻ tập trung tốt không bị ảnh h ưởng bởi
các yếu tố khác.
+ Lựa chọn điều chỉnh đồ dùng đồ chơi cho phù hợp.
+ Kiểm tra các công cụ trợ giúp.
+ Tiến hành hướng dẫn nội dung đã lựa chọn cho trẻ khiếm thị.
+ Ghi chép lưu giữ các thông tin, nhận xét của giáo viên vào hồ sơ cá nhân
của trẻ.
* Một số lưu ý khi thực hiện tiết học cá nhân cho trẻ khiếm thị:
- Đáp ứng được nhu cầu của trẻ.
- Thường xuyên chú ý đến việc kích thích thị giác và phối hợp các giác quan
của trẻ.
- Linh hoạt, nhạy cảm với sở thích, hứng thú của trẻ.
2.3. Chuẩn bị cho trẻ đi học lớp 1
2.3.1. Chuẩn bị các kỹ năng tiền học đọc - tiền học viết
* Trẻ nhìn kém - đọc chữ thường:
Đối với trẻ nhìn kém mà đọc viết chữ thường thì ngoài các kỹ năng cần
thiết như trẻ bình thường (dõi theo dòng chữ, nhận biết sự khác nhau chi tiết,
điều phối tay mắt...), trẻ cần phải chú ý trong luyện tập các kỹ năng như: dõi theo
dòng kẻ, phối hợp tay mắt nhịp nhàng, điều chỉnh khoảng cách nhìn phù hợp, tập
sử dụng thị giác tránh bị mệt mỏi.
Đến cuối tuổi mẫu giáo, giáo viên cũng cần cung cấp cho trẻ nhìn kém
nhận biết được các chữ cái và con số tự nhiên. Vì vậy, giáo viên phải chú ý nh ư
sau:
70
- Khuyến khích trẻ nhìn kém tham gia vào các hoạt động làm quen với chữ
cái cùng với các bạn sáng mắt.
- Dành nhiều thời gian hơn để phát hiện ra chữ cái và con số.
- Tăng cường ánh sáng cho trẻ nhìn kém khi làm quen với chữ và số.
- Cho trẻ tập làm quen với các chữ cái từ những sự vật gần gũi với trẻ: tên
trẻ, tên bạn thân, tên các thành viên trong gia đình, tên các dụng cụ...
* Trẻ sử dụng chữ nổi Braille (trẻ mù):
Trẻ mù cần có kỹ năng tinh xảo để hiểu các ký hiểu nổi như hiểu bản đồ,
biểu đồ sử dụng trong học tập và trong nhiều chương trình học.
Chương trình dạy học ngày càng đòi hỏi giáo viên sử dụng các đồ dùng như
biểu đồ và dụng cụ minh hoạ.
Trong những năm học ở trường Tiểu học, mức độ tinh xảo của đồ dùng và
tài liệu dạy cho học sinh sẽ nâng dần lên, nhất là đ ối với những h ọc sinh ch ỉ s ử
dụng xúc giác nhằm giúp các em phát triển khả năng diễn giải thông tin. Trẻ tuổi
Mầm non cần được cung cấp những kỹ thuật cần thiết để tăng cường vi ệc sử
dụng vật dụng xúc giác chính xác hơn.
Để tăng cường kỹ năng tiền đọc cho trẻ mù, trước hết giáo viên cần cho
trẻ tập luyện các bài tập về xúc giác theo mức độ từ dễ đến khó như:
- Gọi tên chất liệu.
- Phân loại chất liệu.
- Phân biệt và so sánh các chất liệu.
- Định dạng đồ vật.
- Miêu tả cấu trúc sơ đồ/đồ vật.
- So sánh cấu trúc, kết cấu một sơ đồ/đồ vật.
Khi học bất kỳ chữ cái nào trẻ mù không phải đầu tư nhiều thời gian cho
việc làm quen với ký hiệu ghi âm chữ Braille và cách viết chữ nổi. Vì v ậy giáo
viên cần tạo điều kiện cho trẻ có nhiều thời gian hơn và chú ý tăng cường các kỹ
năng này trong các tiết học cá nhân cho trẻ khiếm thị.
Cần khuyến khích kỹ năng tiền viết cho trẻ khiếm thị như:
- Kỹ năng cầm nắm.
- Tư thế ngồi.
- Khuyến khích trẻ tự sáng tác các câu chuyện của mình và có sử dụng
tranh xúc giác để minh hoạ về các chủ đề khác nhau.

Câu hỏi ôn tập
1. Hãy phân loại các mức độ của tật thị giác theo tổ chức y tế thế giới.
71
2. Trình bày nguyên nhân gây tật khiếm thị và một số bệnh mắt thường
gặp.
3. Ảnh hưởng của tật khiếm thị đến các mặt phát triển của trẻ.
4. Làm thế nào để có thể phát hiện và chẩn đoán s ớm tật khi ếm th ị ở tr ẻ
nhỏ?
5. Nội dung hướng dẫn phụ huynh trong giai đoạn trẻ khiếm thị từ 0-3 tuổi là
gì?
6. Giáo viên cần có những kỹ năng quan trọng nào đ ể hướng d ẫn phụ
huynh có trẻ khiếm thị?
7. Theo bạn, các biện pháp quan trọng trong công tác giáo dục hòa nhập cho
trẻ khiếm thị là gì?
8. Là một giáo viên đứng lớp dạy hòa nhập cho trẻ khiếm thị, theo bạn
biện pháp nào là cần thiết nhất? Vì sao?
9. Cần lưu ý những vấn đề gì để tổ chức các hoạt động chung trong l ớp
học hòa nhập cho trẻ khiếm thị?
10. Mục đích của tiết học cá nhân cho trẻ khiếm thị.Thực hiện tiết học cá
nhân như thế nào?




Phần V
TỔ CHỨC CAN THIỆP SỚM
VÀ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP CHO TRẺ KHÓ KHĂN VỀ NGÔN NGỮ

I. Một số vấn đề về trẻ khó khăn ngôn ngữ
1. Khái niệm về trẻ khuyết tật ngôn ngữ
Trong quá trình sử dụng một hình thức ngôn ngữ nào đó ở trẻ em thường
xuất hiện những khuyết tật về ngữ âm, ngữ pháp hoặc từ vựng. Nếu những
khuyết tật ngôn ngữ ở trẻ đã kéo dài và ổn định thì gọi là trẻ bị tật ngôn ngữ.
2. Bộ máy phát âm và những khiếm khuyết
72
Lời nói được sản sinh ra bởi sự phối hợp hoạt động của rất nhiều cơ quan
trọng trong bộ máy phát âm. Bất cứ biểu hiện khiếm khuyết nào của bộ máy phát
âm cũng gây ra những lệch lạc trong lời nói và tạo ra các tật về ngôn ngữ.
Những khuyết tật và dị dạng của bộ máy phát âm:
- Các khuyết tật của môi: môi quá dầy, môi bị rách, vận động yếu...
- Các khuyết tật của hàm: hàm lệch về một phía, co cứng, vận động kém...
- Các khuyết tật của răng: răng thưa hoặc thiếu, hàng răng bị vẩu không đều...
- Các khuyết tật của lưỡi: lưỡi ngắn, quá dày, dây hãm lưỡi quá ngắn, đ ầu
lưỡi tù...
- Các khuyết tật của vòm mi ệng: ng ạc quá cao hay quá c ứng, l ưỡi con
không có...
- Các khuyết tật của mũi: mũi bị rách, viêm mũi phì đại...
- Thanh quản: thanh quản bị viêm, bị tổn thương hoặc bị hỏng.
- Các khuyết tật của cơ quan hô hấp: viêm phế quản, viêm phổi, hen xuyễn...
3. Những nguyên nhân gây khó khăn về ngôn ngữ ở trẻ em
- Do sự phát triển không bình thường về cơ thể hoặc giác quan.
- Do thai nghén, sinh đẻ.
- Do bệnh tật, dùng thuốc, chấn thương.
- Do môi trường ngôn ngữ và đặc điểm chăm sóc giáo dục.
4. Một số dạng tật ngôn ngữ thường gặp ở trẻ mẫu giáo
4.1. Tật nói ng ọng
Là d ạng t ật khá ph ổ bi ến ở tr ẻ tu ổi m ẫu giáo và ti ểu h ọc. Bi ểu hi ện
là khi trẻ nói thì t ất c ả ph ần đ ầu c ủa âm ti ết đ ều đ ồng nh ất thành m ột âm.
Nguyên nhân của tật nói ngọng là do có khiếm khuyết của môi và hàm ếch
hoặc là do tâm lý: trẻ được bố mẹ và người lớn quá nuông chiều.
4.2. Tật nói lắp
Là dạng tật ngôn ngữ chủ yếu là rối loạn về âm điệu, nhịp điệu và tính lưu
loát của lời nói, kèm theo sự nảy sinh các cơn co giật ở các cơ tham gia cử động lời
nói.
- Nguyên nhân: Do hệ thần kinh yếu hoặc không ổn định từ lúc bẩm sinh
hoặc do những bệnh truyền nhiễm; Có thể do trẻ bị suy nhược về thể lực hoặc
do những tổn thương về tâm lý hoặc do chậm phát triển tiếng nói.
- Tật nói lắp thường xuất hiện nhiều ở trẻ từ 3-5 tuổi.
- Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ nói lắp là âm điệu và nhịp điệu, tính lưu loát của
lời nói bị rối loạn: Lời nói bị ngắt quãng, xuất hiện những chỗ nghỉ không hợp lý...


73
4.3. Tật nói giọng mũi
Là một dạng tật ngôn ngữ khá phức tạp thường là do các dị tật của các bộ
phận trong khoang miệng và khoang mũi làm biến dạng cấu trúc tự nhiên giữa
khoang miệng và khoang mũi, tiêu biểu là là hiện tượng khuyết lưỡi con.
- Đặc điểm chung của tật này là l ời nói phát ra mang n ặng đ ặc tr ưng mũi
vì không có van th ứ 2 để đóng m ở khoang mũi. Do đó tr ẻ b ị t ật nói gi ọng mũi
thường không phân biệt đ ược phụ âm mi ệng và ph ụ âm mũi ho ặc phát âm l ẫn
lộn 2 phụ âm ấy.
4.4. Tật nói khó
Là một trong những dạng ngôn ngữ nặng chủ yếu bị phá huỷ nặng về âm
thanh của ngôn ngữ. Nó không chỉ bị rối loạn về phát âm mà còn rối loạn c ả các
thành phần ngữ âm khác như thanh điệu, ngữ điệu, nhịp điệu...
- Biểu hiện: Rối loạn vận động, cơ giác vận đ ộng c ấu âm bị tổn th ương
nặng, các cơ quan của bộ máy phát âm bị liệt, trương lực cơ yếu hoặc bị co
cứng... do đó trẻ phát âm sai phần lớn các phụ âm. Trẻ có thể phát âm đ ược các
nguyên âm đơn nhưng không rõ ràng và mang sắc thái giọng mũi.
Tóm lại: Tật ngôn ngữ rất đa dạng và muôn hình, muôn vẻ. Tuy nhiên căn
cứ vào thực trạng phá huỷ ngôn ngữ ta có thể phân ra làm hai mức nặng nhẹ khác
nhau đối với từng loại tật. Trẻ khuyết tật về ngôn ngữ ử mức độ nào vẫn có thể
tham gia học tập trong lớp mẫu giáo hoà nhập.
5. Ảnh hưởng của tật ngôn ngữ đến sự phát triển của trẻ
* Hạn chế khả năng giao tiếp:
- Trẻ có thái độ tự ti mặc cảm mỗi khi sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, trẻ ít
có ngôn ngữ mạch lạc.
- Trẻ thường rất nhút nhát, sống khép mình, ít giao tiếp với bạn bè, người thân.
* Hạn chế khả năng nhận thức, tư duy tưởng tượng:
- Khả năng tư duy, trí nhớ, tưởng tượng ở trẻ có khuyết tật về ngôn ngữ
là rất kém quá trình tri giác diễn ra chậm hơn nhiều so với trẻ bình th ường cùng
độ tuổi (trẻ gặp những khó khăn nhất định trong quá trình học tập các em thường
được coi là đối tượng chậm khôn, kết quả học tập thường không cao).
- Sự phát triển chung của trẻ sẽ bị chậm so với độ tuổi về tất cả các mặt:
Thể chất, tư tưởng, tình cảm…
- Khả năng hoà nhập và thích ứng kém.
II. Can thiệp sớm cho trẻ khó khăn ngôn ngữ 0-3 tuổi
1. Phát hiện, chẩn đoán sớm trẻ khó khăn về ngôn ngữ

74
1.1. Trẻ học nói như thế nào?
Trước khi biết nói trẻ học cách giao tiếp không lời. Việc giao tiếp của trẻ
diễn ra rất sớm dưới nhiều hình thức khác nhau:
- Khóc: hình thức giao tiếp này bắt đầu từ khi trẻ sinh ra. Bằng việc hiểu
được tiếng khóc của trẻ, phụ huynh đã cho trẻ biết rằng những âm thanh do trẻ
tạo ra có ý nghĩa quan trọng và họ sẽ để ý đến điều đó.
- Liên hệ bằng mắt: rất nhanh sau khi sinh, trẻ thích thú tìm kiếm ánh mắt
của mẹ, đặc biệt là khi mẹ trò chuyện với trẻ. Khi muốn nằm yên, im lặng hoặc khi
không thích những gì mẹ làm, trẻ thường sẽ báo cho mẹ biết bằng cách nhìn đi chỗ
khác.
- Liên hệ bằng cơ thể: Khi bế trẻ, cho trẻ bú và cho trẻ ngủ, trẻ không chỉ
cảm nhận được sự ấm áp dễ chịu của vòng tay mẹ, mà còn cảm nhận được tình
cảm của mẹ. Trẻ cũng thông báo cho người mẹ biết trẻ cảm thấy như thế thông
qua sự căng chùng của cơ thể trẻ.
- Liên hệ bằng các tín hiệu: Khi trẻ thỏa mãn, trẻ sẽ sẽ phấn chấn khua
chân, khua tay. Nếu trẻ không thỏa mãn, hoặc cần sự thay đổi nó có thể bực bội và
quay mặt đi. Trẻ khó khăn về ngôn ngữ cũng có những hình thức giao tiếp, liên hệ
này.
Khi người lớn hiểu được các tín hiệu này của trẻ thì trẻ lại càng có hứng
thú hơn trong việc tìm kiếm những cách giao tiếp mới, nói cách khác là học nói.
Nếu người lớn không quan tâm đến các tín hiệu này của trẻ, trẻ sẽ chán d ần
trong việc cố gắng làm cho người lớn hiểu mình. Lâu dần, những trẻ như thế sẽ
trở nên ít nói, rụt rè hoặc xa lánh bạn bè.
Khoảng cách giữa tháng tuổi thứ ba và tháng tuổi thứ sáu, trẻ bắt đầu phát
ra các âm thanh. Trẻ gừ gừ hoặc lặp đi lặp lại các âm thanh (baba, mama…).
Những âm thanh này chỉ hạn chế ở một số lượng nhất định và gần giống nhau dù
trẻ là người nước nào.
Mọi đứa trẻ đều phát ra những âm thanh này, kể cả những trẻ đi ếc, trẻ
không nghe được. Sau khoảng thời gian này, nếu trẻ không nghe được thì việc
phát ra và lặp lại các âm thanh sẽ yếu dần và dừng hẳn
1.2. Trẻ học cách hiểu nghĩa của từ như thế nào?
Khi học nói trẻ thường nghe các câu nói của người khác. Trẻ hiểu được
âm thanh (từ) thay cho vật hoặc hành động.
Đầu tiên trẻ dùng các từ đơn để thể hiện cảm xúc hay ý muốn của mình
sau đó trẻ có thể sử dụng câu 2-3 từ để diễn đạt những gì mà trẻ thấy. Chúng ta
cần để ý đến các cử chỉ, điệu bộ và bối cảnh câu nói của trẻ để hiểu ý trẻ muốn
75
nói cái gì.
Những từ đầu tiên của trẻ dùng để chỉ người và đồ vật mà trẻ quen thuộc
và trẻ có thể nhìn thấy, sờ thấy và tác động qua lại được. Khoảng 2 tuổi tr ẻ đã
nói được câu 2 từ và trẻ đã có khoảng 200 từ. Trẻ biết nguyên tắc cấu tạo của từ
tức là hiểu được ngữ pháp của từ. Trẻ 3 tuổi trẻ đã nói được những câu tương
đối đầy đủ các thành phần. Trẻ đã biết khoảng hơn 2000 từ. Tr ẻ 5 tu ổi thì kh ả
năng ngôn ngữ của trẻ đã khá đầy đủ để trẻ có thể có khả năng lĩnh hội tri thức
học đường.
Trẻ hiểu được từ trước khi nói được từ vì vậy, người chăm sóc trẻ phải
tích cực hoá vốn từ của trẻ thông qua trò chuyện trực tiếp với trẻ.
1.3 Các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ
Trẻ Mầm non trải qua 3 giai đoạn phát triển ngôn ngữ:
+ Giai đoạn tiền ngôn ngữ.
+ Giai đoạn ngôn ngữ sơ bộ.
+ Giai đoạn ngôn ngữ thông dụng.
Sau này khi sang tuổi tiểu học giai đoạn thứ tư phát triển: Giai đoạn phát
triển ngôn ngữ văn hoá.
Những vấn đề về ngôn ngữ cần phải được phát hiện sớm ngay từ những
năm đầu đời. Việc chẩn đoán sớm trẻ khuyết tật ngôn ngữ n ếu đ ược th ực hi ện
sẽ giúp cải thiện được tình trạng khuyết tật của trẻ thông qua các biện pháp giáo
dụcvà can thiệp y tế.
1.4. Điểm khác biệt giữa những từ trẻ có thể hiểu được và những t ừ trẻ có
thể nói được
Trẻ có thể hiểu đ ượ c từ trướ c khi nói đ ược và nh ững t ừ tr ẻ hi ểu
nhiều hơn những từ tr ẻ nói đ ược. B ởi vì tr ẻ hi ểu t ừ tr ước khi nói đ ược t ừ
nên cần phải nhớ sự quan tr ọng c ủa vi ệc trò chuy ện v ới tr ẻ tr ước khi tr ẻ có
thể trẻ trò chuyện l ại cùng v ới chúng ta, v ới tr ẻ có v ấn đ ề v ề ngôn ng ữ đi ều
này lại càng quan tr ọng.
1.5. Những giai đoạn học nói của trẻ
Những kỹ năng ngôn ngữ Mốc thời gian
thông thường
Cười 1,5 - 3 tháng
Quay đầu về phía có tiếng nói 4 - 8 tháng
Bắt chước các âm 6 - 11 tháng
Gọi bố gọi mẹ 9 - 11 tháng
Nói 3 từ 12 - 21 tháng
Nói câu 2 từ 14 - 24 tháng

76
Gọi được tên một bộ phận cơ thể 14 - 23 tháng
Học từ mới rất nhanh. Biết bắt chước cách nói của người 15 - 36 tháng
lớn. Người lạ cũng có thể hiểu được lời nói của trẻ. Bắt đầu
biết sử dụng phủ định. Bắt đầu biết đặt câu hỏi. Vốn từ
vựng tăng lên, trẻ nhận biết được các bộ phận c ủa cơ thể,
tên của các đồ
Nhận biết và hiểu được những bài hát, bài thơ phù hợp với
tuổi
1.6. Cách phát hiện những khó khăn về ngôn ngữ của trẻ
Những vấn đề về ngôn ngữ của trẻ cần phải được phát hiện sớm ở
những năm đầu đời này, phụ huynh có thể đặt ra các câu hỏi sau:
-Trẻ có phát ra các âm bập bẹ trong vòng 6-7 tháng tuổi không? Nếu lúc
đầu trẻ phát âm bập bẹ và sau đó dừng không phát ra các âm nữa thì đó là d ấu
hiệu phải lo lắng.
- Trẻ có nói được những từ đầu tiên vào lúc 18 tháng tuổi không?
- Trẻ có nói được câu 2 từ vào lúc 30 tháng tuổi không?
- Có khi nào trẻ bị viêm tai không? Những viêm nhiễm về tai có thể là nguyên
nhân gây điếc hay khiếm thính dẫn đến những khó khăn về ngôn ngữ cho trẻ.
- Trẻ có hiểu được những câu nói hoặc định hướng đơn giản không?
- Trẻ có kể cho bạn những gì trẻ muốn không? Một số trẻ không nói mà
dùng cử chỉ điệu bộ để nói lên ý muốn của mình, những trẻ này đều nói chậm.
2. Hướng dẫn phụ huynh can thiệp sớm cho trẻ khó khăn về ngôn ngữ
2.1. Phụ huynh cần được tư vấn để có kiến thức và kỹ năng
- Các giai đoạn hình thành và phát triển ngôn ngữ ở trẻ em.
- Các dạng tật ngôn ngữ thường gặp ở trẻ nhỏ để có thể tự kiểm tra, đánh
giá mức độ khuyết tật của con mình.
- Cách thức giao tiếp với trẻ để kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ nói.
- Phương pháp sửa tật ngôn ngữ cho trẻ.
2.2. Nhiệm vụ của giáo viên
- Hướng dẫn phụ huynh tự kiểm tra các khuyết tật trong các cơ quan của
bộ máy phát âm. Nếu phát hiện khiếm khuyết thì cần có những trị liệu v ề mặt y
tế trước khi dạy phát âm cho trẻ.
- Huấn luyện kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật ngôn ngữ cho người
chăm sóc trẻ. Hướng dẫn dạy trẻ nói phù hợp với từng tình huống cách th ức s ử
dụng ngôn ngữ cụ thể. Rèn luyện khả năng phát âm cho trẻ: Dạy trẻ nói đúng
chính âm và thanh điệu, nói diễn cảm. Phát triển vốn từ, phát triển t ừ khái quát.

77
Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, rèn luyện ngôn ngữ mạch lạc, biểu cảm, các hành vi
cử chỉ văn hoá. Đảm bảo ngôn ngữ giao tiếp với trẻ rõ ràng, dễ hiểu và đạt chuẩn
ngôn ngữ tiếng việt. Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ, nói rõ ràng d ễ nghe,
phong cách nói năng tự tin, tự chủ và thể hiện ý thức đối với người nghe.
- Địa điểm tổ chức hướng dẫn: Tại gia đình hoặc trường Mầm non.
- Hình thức hướng dẫn:
+ Trao đổi thông tin: Tìm hiểu cách thức chăm sóc và giáo dục trẻ tại gia
đình; sở thích, hứng thú của trẻ...
+ Cung cấp thông tin: Các giai đoạn phát triển ngôn ngữ c ủa tr ẻ, tật ngôn
ngữ mà trẻ mắc phải, biện pháp can thiệp về trị liệu ngôn ngữ và y tế.
2.3. Các kỹ năng cần thiết khi hướng dẫn phụ huynh
- Giáo viên cần tôn trọng phụ huynh và gia đình trẻ, động viên khuyến
khích gia đình.
- Giáo viên cần phải kiên trì trong việc thuyết phục gia đình cùng cộng tác
để sửa tật ngôn ngữ cho trẻ.
- Động viên nỗ lực của gia đình trẻ cho họ thấy được kết quả khả quan về
phát triển ngôn ngữ của con họ.
- Có thái độ trìu mến, yêu thương chăm sóc trẻ.
- Có kiến thức vững vàng về ngữ âm, về phương pháp sửa tật ngôn ngữ cho
trẻ.
2.4. Nội dung hướng dẫn
Phụ huynh cần phải phát hiện sớm và sớm chỉnh sửa những khiếm khuyết
của bộ máy phát âm cho trẻ.
- Hướng dẫn, dạy trẻ nói phù hợp với từng tình huống, cách thức sử dụng
ngôn ngữ cụ thể.
- Rèn luyện phát âm và phát triển thính giác ngôn ngữ cho trẻ.
- Phát triển vốn từ cho trẻ.
- Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, rèn luyện ngôn ngữ mạch lạc, biểu cảm, các
hành vi cử chỉ khi kể chuyện.
- Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ. Nói rõ ràng, dễ nghe, phong cách nói
năng tự tin, tự chủ và thể hiện ý thức đối với người nghe, chẳng hạn thông qua
việc sử dụng các câu giao tiếp thông thường như: “xin mời” và “cảm ơn”...
- Chuẩn bị một số kỹ năng cần thiết về “đọc” và “viết”, chủ yếu là tạo ra
hứng thú đối với việc đọc và viết, tạo môi trường giàu ngôn ngữ nói, viết cho trẻ,
đọc cho trẻ nghe, hướng dẫn trẻ cách cầm sách, giở sách và đọc sách, kết h ợp
cho trẻ biết được ý nghĩa của chữ trong sách.
2.5. Các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ
78
Trẻ học nói từ mẹ, từ những người gần gũi với trẻ hoặc từ nhóm trẻ. Vì vậy:
- Hãy trò chuyện với trẻ.
- Khuyến khích trẻ nói chuyện với nhau.
- Từ 6 tháng tuổi, trẻ đã sẵn sàng để nghe đọc những câu chuyện đơn
giản. Việc đọc sách cho trẻ nghe còn tạo ra sự liên h ệ giữa nói và vi ết các t ừ.
Việc đọc sách sẽ có hiệu quả hơn nếu cho phép trẻ đặt ra các câu hỏi hoặc phụ
huynh đặt các câu hỏi về nội dung câu chuyện được đọc.
- Kể chuyện theo tranh có chủ đề.
- Kể chuyện theo đồ vật, đồ chơi.
- Kể chuyện tiếp nối theo câu chuyện của cô.
- Các trò chơi phát triển ngôn ngữ.
- Đọc sách tranh, v ẽ tạo ra một câu chuy ện t ừ b ức v ẽ, l ập góc th ư vi ện,
góc viết, tạo môi trường chữ vi ết, làm sách nh ằm chu ẩn b ị các k ỹ năng c ần
thiết về đọc, viết.
* Những lưu ý trong khi giao tiếp với trẻ:
- Tạo giao tiếp bằng mắt.
- Ngồi với trẻ để trẻ có thể cảm thấy bạn không vội vàng bỏ đi.
- Dành thời gian để trẻ trả lời, không ngắt lời trẻ, khuyến khích trẻ nói
bằng cách tỏ ra bạn rất chú ý lằng nghe. Không thúc giục trẻ nói nhanh. S ửa l ỗi
ngữ pháp cho trẻ.
- Hỏi những câu hỏi mở.
- Phải chắc chắn rằng bạn nói rõ ràng và đúng.
III. Tổ chức giáo dục hoà nhập cho trẻ khó khăn về ngôn ngữ
1. Điều chỉnh chương trình
Những điều chỉnh chương trình, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình
thức... phải căn cứ vào:
- Khả năng của trẻ (trẻ thuộc loại tật ngôn ngữ nào, mức độ khuyết tật,
khả năng phục hồi...).
- Nhu cầu của trẻ.
- Mục tiêu cấp học.
- Điều kiện thực hiện.
2. Một số biện pháp tổ chức các hoạt động giáo dục
- Giáo viên biết cách tổ chức các hoạt động của trẻ hợp lý, cũng như bi ết
cách lựa chọn các trò chơi, các đồ chơi nhằm giúp trẻ chơi cùng nhau.
- Giáo viên cần biết khó khăn về ngôn ngữ của trẻ là do loại tật nào gây ra
để có cách dạy phù hợp vì mỗi loại khuyết tật của trẻ lại có cách dạy khác nhau.

79
Cụ thể nếu trẻ có khó khăn về ngôn ngữ là do trẻ khiếm thính thì cách tổ ch ức
hoạt động chung có thể được tiến hành như sau:
2.1. Cách tổ chức tiết học (hoạt động chung) với tr ẻ khó khăn v ề ngôn ng ữ
do bị khiếm thính
- Giáo viên biết cách kiểm tra, điều chỉnh máy trợ thính của trẻ (nếu có)
để sao cho trẻ có thể nghe rõ. Giảm bớt tiếng ồn khi trẻ học.
- Cho trẻ ngồi học ở vị trí mà có thể nghe giáo viên nói và nhìn khuôn
miệng giáo viên rõ nhất.
- Những trẻ này có thể tham gia vào các hoạt động tạo hình, thể dục, làm
quen biểu tượng toán học như những trẻ bình thường trong lớp. Giáo viên chỉ cần
lưu ý:
+ Trước khi bắt đầu một hoạt động nào đó, phải cho trẻ chú ý, bằng cách
rung chuông, gõ vào bàn... sau đó mới nêu các yêu cầu, nội dung cần thực hiện.
+ Giáo viên nói rõ ràng, kết hợp các cử chỉ, điệu bộ của nét mặt, chân tay...
Nhấn mạnh một câu thì tốt hơn là nhắc đi nhắc lại câu đó. Nhắc những trẻ bình
thường nói to, chậm và rõ khi trả lời câu hỏi của giáo viên.
+ Yêu cầu trẻ khiếm thính giơ tay làm hiệu khi trẻ không hi ểu cách làm,
không hiểu câu hỏi của cô.
+ Giáo viên cố gắng sử dụng các dụng cụ trực quan như: tranh ảnh, đồ vật...
- Riêng với môn văn học, chuyện kể, thơ, âm nhạc giáo viên cần quan tâm
đến trẻ khiếm thính hơn, bằng cách:
+ Kể trước một cách ngắn gọn, rõ ràng các ý chính của câu chuyện trong
tiết cá nhân; đặt câu hỏi để trẻ trả lời về tên truyện, tên nhân vật và các hành
động chính của các nhân vật...
+ Đọc (hát) trước bài thơ (bài hát) cùng trẻ, vừa đọc (hát) vừa sử dụng các
dụng cụ âm nhạc, hoặc vỗ nhẹ vào tay, vào đùi trẻ.
2.2. Cách tổ chức tiết học (hoạt động chung) với tr ẻ khó khăn v ề ngôn ng ữ
do sự khuyết tật về vận động
Giáo viên phải biết trẻ có thể làm được gì và cái khi không làm được về
vận động. Phải tiến hành dạy trẻ và cho trẻ chơi theo tư thế phù hợp với trẻ
(ngồi, đứng hoặc nằm). Hãy giúp và khuyến khích trẻ tự vận động. Cho phép trẻ
thay đổi tư thế, được di chuyển trong quá trình lớp thực hiện các hoạt đ ộng. Trẻ
chậm phát triển vận động vẫn có thể tham gia cùng cả lớp các hoạt động chung.
Tuy nhiên, giáo viên phải dựa vào khả năng vận động, khả năng nói của trẻ để có
nội dung, cách hướng dẫn phù hợp. Trẻ chậm phát triển vận động sẽ gặp nhiều
khó khăn với hoạt động thể dục. Vì vậy, giáo viên cần quan tâm đến tr ẻ nhiều

80
hơn.
2.3. Sử dụng đồ chơi cho trẻ khuyết tật ở lớp mẫu giáo hòa nhập
Với trẻ bình thường, cứ có đồ chơi là trẻ có thể tự chơi được, nhưng với
trẻ khuyết tật thì lại khác, có đồ chơi chưa chắc trẻ đã tự chơi được. Đi ều này
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
- Đồ chơi có gợi mở, hướng trẻ tới hoạt động không?
- Đồ chơi có phù hợp với tuổi khôn của trẻ không?
- Đồ chơi đó trẻ có tự chơi được để luyện tập các kỹ năng, phát huy s ự
sáng tạo hay phải nhờ cô giáo?
Do vậy giáo viên cần phải chú ý:
- Với loại đồ chơi để trẻ khuyết tật tự chơi: giáo viên ph ải s ắp xếp
những đồ chơi này sao cho trẻ dễ nhìn, dễ lấy, dễ cầm và quan tr ọng hơn là đ ồ
chơi phải gợi mở những hoạt động chơi cho trẻ.
- Đồ chơi giúp trẻ khuyết tật khám phá, sáng tạo: để khám phá sáng tạo
qua đồ chơi thì trẻ khuyết tật phải sử dụng tất cả những giác quan còn l ại c ủa
mình. Vì vậy, giáo viên phải lựa chọn những đồ chơi đáp ứng được nhu cầu này
của trẻ khuyết tật.
3. Tổ chức tiết học cá nhân cho trẻ khuyết tật về ngôn ngữ
* Việc tổ chức tiết cá nhân cho trẻ khuyết tật ngôn ngữ nhằm:
- Rèn luyện khả năng phát âm và phát triển tiếng nói cho trẻ.
- Phát triển vốn từ.
- Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp.
- Sửa các tật về ngôn ngữ cho trẻ để trẻ có thể học hoà nhập cùng các bạn trong
lớp
* Cách thức thực hiện:
Chủ yếu thông qua hoạt động vui chơi, giáo viên có thể căn cứ trên từng
loại tật mà trẻ mắc phải, mức độ khuyết tật để thiết kế những nội dung phù
hợp.
* Địa điểm: Tại trường hoặc tại nhà
* Thời gian: Khoảng 10 - 15 phút/tiết.
Lưu ý: Nếu dạy tiết học cá nhân tại nhà thì cần thiết phải có sự tham gia
của phụ huynh và những người chăm sóc trẻ.
4. Chuẩn bị cho trẻ khuyết tật ngôn ngữ vào lớp 1
Các cô mẫu giáo cần rèn kỹ cho trẻ các kỹ năng sau:
- Các lỗi phát âm phải được sửa trước khi vào học l ớp 1. Định hình phát
âm cho trẻ.
81
- Hình thành và phát triển cho trẻ khả năng phát âm đúng, sử dụng đúng từ,
câu đúng ngữ pháp tiếng Việt.
- Hình thành ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
- Chuẩn bị cho trẻ kỹ năng học tập ở trường phổ thông: Khả năng chú ý
lắng nghe, khả năng tư duy ngôn ngữ.
- Hình thành các kỹ năng cơ bản cho việc đọc và viết.
5. Sự hợp tác của phụ huynh
Phụ huynh có vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ khuyết tật.
Phụ huynh phải chia sẻ trách nhiệm giáo dục trẻ với nhà trường, lập kế
hoạch giáo dục cá nhân phù hợp với từng trẻ để phát tri ển tối đa các ti ềm năng
của trẻ khuyết tật.

Câu hỏi ôn tập
1. Có những nguyên nhân nào khiến trẻ khó khăn về ngôn ngữ?
2. Làm thế nào để phát hiện trẻ khó khăn về ngôn ngữ?
3. Phải làm như thế nào để trẻ hiểu nghĩa của từ?
4. Hãy trình bày và minh họa cách dạy trẻ khó khăn về ngôn ngữ.




TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Can thiệp sớm và giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật Mầm non , Bộ Giáo
dục và đào tạo, Hà Nội 2005.
2. Giáo dục trẻ khuyết tật Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu giáo dục trẻ
khuyết tật - NXB chính trị quốc gia.
3. Giáo dục trẻ khuyết tật thính giác, Trung tâm nghiên cứu giáo dục trẻ
khuyết tật - NXB chính trị quốc gia.


82
4. Giải phẫu sinh lý người, Dự án giáo viên THCS - NXB Đại học Sư phạm Hà
Nội.
5. Tài liệu tập huấn giáo dục hoà nhập của tổ chức CRS - Viện chiến lược
và chương trình giáo dục biên soạn.
6. Tài liệu tập huấn GDHN của tổ chức PDNC - Viện chiến lược và
chương trình giáo dục.
7. Trần Thị Lệ Thu, Đại cương giáo dục đặc biệt cho trẻ chậm phát triển
trí tuệ - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
8. Lại Kim Thuý, Tâm bệnh học trẻ em - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
9. V.A Siniak - M.N Nudenmam, Những đặc điểm của sự phát triển tâm lý
trẻ điếc - NXB chính trị quốc gia.




83
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản