Chuyên đề giáo dục hoà nhập (97-2003)

Chia sẻ: Minh Anh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:83

0
79
lượt xem
25
download

Chuyên đề giáo dục hoà nhập (97-2003)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Can thiệp sớm là những chỉ dẫn ban đầu và các dịch vụ dành cho trẻ và gia đình trẻ khuyết tật trước tuổi tiểu học nhằm kích thích và huy động sự phát triển tối đa ở trẻ, tạo điều kiện và chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào hệ thống giáo dục bình thường và cuộc sống sau này. Can thiệp sớm là việc trợ giúp nhằm vào tất cả các trẻ em có nguy cơ hoặc đã bị khuyết tật. Việc trợ giúp này bao gồm toàn bộ giai đoạn từ chẩn đoán trước khi sinh cho đến lúc trẻ đến tuổi...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyên đề giáo dục hoà nhập (97-2003)

  1. Phần I CAN THIỆP SỚM CHO TRẺ KHUYẾT TẬT, CÁC NGUYÊN TẮC CỦA CAN THIỆP SỚM I. Khái niệm chung Can thiệp sớm là những chỉ dẫn ban đầu và các dịch vụ dành cho trẻ và gia đình trẻ khuyết tật trước tuổi tiểu học nhằm kích thích và huy động sự phát triển tối đa ở trẻ, tạo điều kiện và chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào hệ thống giáo dục bình thường và cuộc sống sau này. Can thiệp sớm là việc trợ giúp nhằm vào tất cả các trẻ em có nguy cơ hoặc đã bị khuyết tật. Việc trợ giúp này bao gồm toàn bộ giai đoạn từ chẩn đoán trước khi sinh cho đến lúc trẻ đến tuổi đi học; việc phát hiện và chẩn đoán sớm cho đến lúc hướng dẫn. Can thiệp sớm có liên quan đến cả đứa trẻ lẫn cha mẹ, gia đình và mạng lưới rộng lớn. Tuy nhiên, cho tới nay, chúng ta vẫn chưa coi tr ọng vi ệc chẩn đoán trước khi sinh là một bộ phận không thể tách rời của can thiệp sớm. II. Các nguyên tắc cơ bản 1. Mọi trẻ đều có khả năng học tập Trẻ khiếm thính hay khiếm thị vẫn có trí tuệ bình thường. Mục tiêu giáo dục đặt ra cho trẻ khuyết tật cũng giống như cho trẻ bình thường. Công việc của trẻ khuyết tật cũng giống như công việc của trẻ bình thường, trừ những công việc đòi hỏi trẻ phải có khả năng nghe bình thường hoặc khả năng nhìn tốt. Ví dụ, một người mù không thể lái xe ô tô được; trẻ chậm phát tri ển trí tuệ phát triển chậm hơn (và có những hạn chế do khuyết tật gây ra), nhưng vẫn có th ể học được. Ngày nay, học tập đã trở thành quyền lợi của trẻ em bình thường cũng như trẻ khuyết tật. 2. Trẻ khuyết tật cũng phải học các kỹ năng mà trẻ bình thường học và sử dụng Trẻ khuyết tật tr ướ c h ết là m ột đ ứa tr ẻ, s ự phát tri ển c ủa tr ẻ khuy ết tật cũng tuân theo ti ến trình, quy lu ật nh ư tr ẻ bình th ường, tuy nhiên có ch ậm hơn ở những khía cạnh nh ất đ ịnh. Tr ẻ khuy ết t ật càng h ọc đ ược nhi ều k ỹ năng như ở trẻ bình th ường thì chúng càng có kh ả năng tham gia vào nhi ều hoạt động h ơn trong gia đình cũng nh ư xã h ội, tr ẻ khuy ết t ật càng d ễ dàng đượ c chấp nhận hơn trong c ộng đ ồng n ếu nh ư nh ững hành vi c ủa chúng càng giống trẻ bình thường. Vì vậy, trẻ khuyết tật cần phải học các kỹ năng như trẻ bình thường. 3. Những năm đầu tiên rất cần thiết để trẻ học tập 1
  2. Năm năm đầu tiên trong cuộc đời một con người là những năm tháng rất quan trọng, đây là thời gian mà nền tảng cho cuộc sống được hình thành. Một nền tảng tốt tạo cho đứa trẻ cơ hội có một cuộc sống hạnh phúc và có ý nghĩa, đồng thời để chúng trở thành một thành viên có ích cho xã hội. Những năm này rất quan trọng đối với trẻ và đặc biệt quan trọng đối với trẻ khuyết tật. Việc bắt đầu can thiệp càng sớm càng tốt là rất cần thiết. Bắt đầu diễn ra từ khi cha mẹ trẻ cho rằng trẻ có vấn đề, điều này có thể hạn chế những vấn đề về giáo dục và cư xử sau này trong cuộc sống của trẻ. 4. Cha mẹ là những người quan trọng nhất đối với sự phát triển của trẻ Với việc can thiệp sớm, các giáo viên cần phải cung cấp tri th ức, h ướng dẫn phụ huynh cách chăm sóc, giáo dục trẻ. Phụ huynh không chỉ là người ti ếp xúc với trẻ nhiều hơn giáo viên hoặc chuyên gia mà còn là người hi ểu trẻ, chăm sóc trẻ bằng cả tình yêu thương ruột thịt của mình. Ở Việt Nam, ông bà, cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình có vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ, đặc biệt là trẻ khuyết tật. 5. Mỗi trẻ và mỗi gia đình đều khác nhau Một đặc trưng cơ bản trong giáo dục đặc biệt là tính cá thể hoá cao. Ngay với trẻ bình thường thì mỗi đứa trẻ là một con người riêng biệt. Mỗi trẻ có ti ền đề phát triển khác nhau, có tốc độ phát triển, có kh ả năng lĩnh h ội, có đ ặc đi ểm khí chất… khác nhau. Do vậy không thể có một cách chăm sóc giáo dục giống nhau cho mọi đứa trẻ, ngay cả đối với trẻ ở cùng một nhóm khuyết tật. Mặt khác, trình độ hiểu biết của mỗi gia đình khác nhau, mức độ quan tâm đ ến con cái khác nhau và mỗi gia đình có hoàn cảnh và điều kiện khác nhau, do đó chúng ta không thể xây dựng một chương trình can thiệp sớm cho mọi đối tượng. Can thiệp sớm tập trung vào nhu cầu của trẻ và gia đình trẻ, mỗi trẻ cần có một chương trình cá nhân riêng, chương trình này phải được xây dựng trên cơ sở khả năng, nhu cầu của trẻ và phải phù hợp với quan điểm giáo dục của phụ huynh, nhu cầu và khả năng của gia đình. III. Ý nghĩa của can thiệp sớm 1. Ý nghĩa đối với trẻ Can thiệp sớm có thể ngăn ngừa những nhân tố nguy hiểm tới đứa trẻ hay những nguyên nhân dẫn đến sự chậm phát triển hoặc rối loạn chức năng. Đi ều này có thể đạt được bằng cách giúp cho trẻ có được sự kích thích và tác động qua lại một cách đúng đắn với môi trường xung quanh ở ngay giai đoạn đầu c ủa s ự phát triển của trẻ. Can thiệp sớm để đồng thời thực hiện chức năng chữa bệnh. 2
  3. Can thiệp sớm sẽ giảm các ảnh hưởng của những bệnh mãn tính và khuyết tật chức năng lâu dài. Có thể ngăn cản sự chậm phát tri ển cũng như các khuy ết tật khác gia tăng. 2. Ý nghĩa đối với cha mẹ Can thiệp sớm là những phương pháp hiệu quả để giúp cha mẹ cư xử với đứa trẻ khuyết tật của họ. Chương trình can thiệp sớm chủ động lôi cuốn cha mẹ vào quá trình can thiệp cho trẻ nên họ có thể tự phát hiện ra khả năng và năng lực của chính mình về khả năng để xử lý, hướng dẫn và điều trị chăm sóc trẻ. Can thiệp sớm giúp cha mẹ không cần phải căng thẳng về vấn đề tình cảm của mình, do đó góp phần quan trọng vào quá trình chấp nhận. Can thiệp sớm làm cho giảm bớt hay loại trừ sự bất lực của nhiều cha mẹ trong vi ệc xử lý các v ấn đề của trẻ, cải thiện mối quan hệ cha mẹ và đứa con, mối quan hệ v ề m ặt tình cảm được cân bằng hơn và tránh được một số công việc chăm sóc trẻ không cần thiết. Can thiệp sớm sẽ tránh được việc cha mẹ không cung cấp thông tin. Những thông tin này liên quan đến: - Việc chẩn đoán, nguyên nhân khuyết tật và dự đoán tiến triển của bệnh. - Kiến thức về sự phát triển bình thường và cần phải thúc đẩy s ự chậm phát triển hoặc điều chỉnh sự phát triển không bình thường như thế nào. - Hệ thống hỗ trợ của xã hội mà họ được hưởng. 3. Ý nghĩa đối với gia đình Can thiệp s ớm có thể tránh cho anh ch ị em trong gia đình r ơi vào tình thế không thuận l ợi d ẫn đ ến kết qu ả là chính s ự phát tri ển c ủa chúng l ại b ị cản trở và một số vấn đề v ề hành vi có th ể n ảy sinh. Can thi ệp s ớm có th ể đảm bảo rằng h ệ th ống gia đình bi ết cách t ự đi ều ch ỉnh hành vi c ủa mình cho phù hợp với hoàn cảnh là có m ột đ ứa tr ẻ khuy ết t ật trong nhà. Can thi ệp s ớm làm nhẹ gánh n ặng cho gia đình là t ạo ra s ự giúp đ ỡ cho gia đình nh ư quan tâm hàng ngày và các ph ương ti ện khác. 4. Ý nghĩa đối với xã hội - Can thiệp s ớm làm cho xã h ội nh ận bi ết đ ược th ực t ế là còn có nh ững đứa trẻ bị khuyết tật, chúng cũng là m ột b ộ ph ận c ủa c ộng đ ồng và có quy ền đượ c giúp đỡ. Can thi ệp s ớm giúp m ở r ộng c ơ h ội cho tr ẻ em vì chúng h ọc đượ c qua trường phổ thông một cách có hi ệu qu ả h ơn. Chúng có th ể không phải nhờ cậy nhiều vào quỹ công cho khuy ết t ật hay d ựa vào phúc l ợi. Khi đứa trẻ l ớn dần lên, cha m ẹ không c ần h ướng d ẫn nhi ều nh ư tr ước b ởi vì 3
  4. ngay từ đầu họ đã đ ược h ướng d ẫn cách th ức đ ể h ọ x ử lý nh ững v ấn đ ề c ủa trẻ. IV. Các giai đoạn của can thiệp sớm Hầu hết các chương trình can thiệp sớm ở trẻ đều tiến hành theo 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Phát hiện, chẩn đoán và giới thiệu trẻ vào chương trình. Giai đoạn 2: Thực hiện chương trình, bao gồm các hoạt động liên quan tới việc cung cấp các dịch vụ. Giai đoạn 3: Kết thúc, tập trung vào các hệ thống chuyển tiếp cho trẻ từ chương trình can thiệp sớm tới những can thiệp tiếp theo. 1. Giai đoạn 1 * Phát hiện: là tìm tòi các dấu hiệu và tín hiệu cho thấy sự phát triển của trẻ có nguy cơ hoặc đang tiến triển một cách không bình thường. Phát hiện bao gồm việc quan sát các dấu hiệu, tín hiệu nói trên và các chương trình khám sàng lọc. Kết quả không phải là một sự chẩn đoán, trẻ em được sàng lọc ra để kiểm tra tiếp. Hiện nay ở Việt Nam, hệ thống dịch vụ khám sàng lọc cho trẻ sơ sinh hoặc chẩn đoán để phát hiện trẻ có vấn đề hoặc nguy cơ vẫn còn thiếu. Đây là một thiệt thòi lớn cho trẻ khuyết tật. Vì như ta đã biết, những năm tháng đầu tiên trong cuộc đời có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng cho sự phát triển. Trẻ bị phát hiện chậm tháng nào trong những năm đầu đời này thì sự trì hoãn trong sự phát triển chung của trẻ sau này sẽ được tính bằng cấp số nhân. * Chẩn đoán: bao gồm việc nhận ra m ột khuy ết t ật v ề phát tri ển cùng với các nguyên nhân đ ược đ ặt ra. Vi ệc ch ẩn đoán đ ược th ực hi ện theo k ết quả của việc phát hi ện các d ấu hi ệu và tín hi ệu cho th ấy s ự l ệch l ạc hay có nguy cơ v ề mặt phát tri ển. Phát hi ện, ch ẩn đoán s ớm m ới có hy v ọng đi ều tr ị, ngăn chặn tật và đ ể kịp th ời ti ến hành ph ục h ồi ch ức năng. Trẻ em đ ượ c phát hi ện qua khám sàng l ọc đ ược đ ưa t ới các đ ịa ch ỉ thích h ợp để th ực hi ện các ch ẩn đoán toàn di ện và sâu h ơn. Tr ước khi tham gia vào chươ ng trình giáo d ục đ ặc bi ệt, tr ẻ em đ ược đánh giá ch ẩn đoán và đánh giá toàn di ện v ề các nhu c ầu giáo d ục c ủa chúng. M ục đích chính c ủa quá trình này là đ ể xác đ ịnh tr ẻ b ị khuy ết t ật nh ư th ế nào và n ếu có th ể cũng xác định ph ạm vi, cách th ức giáo d ục và d ịch v ụ c ần thi ết đ ể can thi ệp. Quá trình đánh giá đó ph ải đa d ạng và do nhi ều ngu ồn, ph ải đ ược k ết lu ận b ằng nhóm chuyên gia đa ch ức năng. Các thành viên c ủa nhóm này ph ải đa d ạng tuỳ theo đ ặc điểm riêng c ủa m ỗi tr ẻ. 2. Giai đoạn 2 4
  5. Các nhân viên của chương trình dùng các công c ụ đánh giá và các quy trình khác nhau đ ể xây d ựng kế ho ạch giáo d ục cá nhân cho tr ẻ tham gia chương trình. Việc xây d ựng kế hoạch giáo d ục cá nhân là b ước n ối ti ếp c ủa đánh giá ban đầu trong chu ỗi làm vi ệc liên t ục c ủa ch ương trình can thi ệp s ớm. Quy trình th ực hiện kế hoạch cá nhân cũng t ương t ự nh ư t ất c ả các ch ương trình can thi ệp s ớm. Kế ho ạch giáo d ục cá nhân là s ự xác đ ịnh rõ m ục tiêu giáo dục, biện pháp thực hi ện để đ ạt đ ược những mục tiêu này. Một vấn đề khác có trong giai đoạn 2 là sự đánh giá. Nội dung được thông qua của chương trình tập trung vào trẻ thường đưa ra những kết quả đánh giá rộng. Đánh giá này có hai nội dung chủ yếu: đánh giá để thấy rõ quy trình c ủa trẻ với mục đích định hướng và đánh giá kết quả trên toàn cầu để xác định tác động của chương trình (chủ yếu những thay đổi trong chỉ số IQ hay mức độ phát triển). 3. Giai đoạn 3 Đây là giai đoạn chuyển sang môi tr ường k ế ti ếp c ủa tr ẻ, giai đo ạn này thường rất ít khi nhận đ ược s ự quan tâm c ủa nhà tr ường. Tuy nhiên giai đo ạn chuyển tiếp là giai đoạn liên quan đ ến các ch ương trình can thi ệp s ớm. H ơn thế nữa việc chăm sóc trẻ trong th ời gian chuy ển ti ếp có th ể t ạo ra s ự khác biệt về sự thành công hay thất b ại trong các b ước ti ếp theo. Ph ần l ớn nh ững chương trình can thiệp sớm th ực hi ện quy trình chuy ển ti ếp không chính th ức nhưng cũng có những chiến l ược đáng k ể. Nh ững ch ương trình nh ư th ế có th ể sẽ có ích trong vi ệc l ập kế ho ạch và th ực hi ện giai đo ạn chuy ển ti ếp v ới cha mẹ và con cái giữa các ch ương trình. Tóm lại: Can thiệp sớm đối với trẻ khuyết tật là một quá trình bao gồm các giai đoạn. Các giai đoạn này là: phát hiện (khám sàng lọc), chẩn đoán, các đánh giá ban đầu, xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân, thực hiện theo kế hoạch, đánh giá và chuyển sang các môi trường tiếp theo. Mặc dù các giai đoạn liệt kê ở đây là theo thứ tự logic, trong thực tế chúng hoà nhập và đan xen lẫn nhau mà không thể tách biệt rõ rệt. Các giai đoạn của chương trình can thiệp sớm có thể giống nhau. Tuy nhiên, có những khác biệt rất lớn trong từng bước chi tiết. Các công cụ, các quy trình đánh giá được sử dụng để xây dựng chương trình cá nhân, kỹ thuật đánh giá, chất lượng sử dụng nguồn nhân lực, sự phối hợp các lực lượng… trong mỗi chương trình can thiệp sớm có thể khác nhau. Câu hỏi ôn tập 1. Khái niệm can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật. 2. Tại sao phải can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật? 5
  6. 3. Công tác can thiệp sớm tại địa phương. Những thuận lợi và khó khăn. Đề xuất kế hoạch thực hiện để có chương trình can hiệu đạt hiệu quả. Phần II CÁC KHUYẾT TẬT THƯỜNG GẶP Ở TRẺ MẦM NON NGUYÊN NHÂN, CÁCH PHÒNG TRÁNH VÀ CÁC DẤU HIỆU PHÁT HIỆN SỚM TRẺ KHUYẾT TẬT I. Khái niệm về trẻ khuyết tật và các loại tật 1. Thế nào là trẻ khuyết tật? Trẻ khuyết tật là những trẻ bị giảm hoặc mất một phần khả năng về nghe, nhìn, nói, vận động, phát triển trí tuệ hoặc có những cấu tạo và hành vi b ất thường không giống những trẻ bình thường khác. 2. Các loại tật thường gặp ở trẻ Mầm non - Trẻ có khó khăn về vận động. - Trẻ có khó khăn về nghe: khiếm thính, điếc. - Trẻ có khó khăn về nhìn: khiếm thị. - Trẻ chậm phát triển về trí tuệ và hành vi không thích ứng. - Trẻ khó khăn về nói và ngôn ngữ. - Rối loạn tình cảm, không quản lý được hành vi. - Trẻ tự kỷ. - Trẻ có khuyết tật khác về sức khỏe. - Trẻ khiếm thính kết hợp với khiếm thị. - Trẻ đa tật. - Trẻ có khó khăn trong học tập. 3. Khái niệm về các loại tật thường gặp 3.1. Tật vận động Là tật của cơ quan vận động làm ảnh hưởng đến chức năng v ận động đi đứng, ngồi nằm, sờ mó, cầm nắm của cơ thể. Trường hợp nặng: biểu hiện liệt toàn thân hoặc liệt tay chân, nằm ngồi, đi lại khó khăn. Trường hợp nhẹ: bị giảm chức năng vận động của một trong các bộ phận của cơ thể, đi lại, vận động, cầm nắm khó khăn. 3.2. Tật về thính giác hay còn gọi là khó khăn về nghe: khiếm thính, điếc 6
  7. Là tật ảnh hưởng đến bộ phận nhạy cảm, truyền dẫn và phân tích âm thanh của con người. Có nhiều mức độ: - Mức độ nặng (điếc): trẻ không nghe được tiếng động to như sấm, tiếng trống cách tai 30-50cm; không nghe được tiếng thét gần tai và không nói được (câm). - Mức độ nhẹ (nghễnh ngãng): trẻ điếc một tai, không nghe được tiếng nói bình thường nhưng gọi to cách xa 1m có thể nghe được. 3.3. Tật thị giác - khó khăn về nhìn Là tật làm ảnh hưởng đến chức năng nhìn của mắt. Trường hợp nặng: mù cả hai mắt, không phân biệt được sáng tối. Trường hợp nhẹ hơn: trẻ phân biệt được ánh sáng nhưng không phân biệt được màu sắc, không nhận rõ hình dạng các vật, không đếm được ngón tay khi ở cách xa 30cm, đi lại dò dẫm, dùng tay lần sờ, không đọc được chữ viết bình thường. Mức độ nhẹ hơn như mắt lác (lé); mắt có sẹo giác mạc che l ấp đ ồng tử ảnh hưởng đến chức năng nhìn; trẻ bị quáng gà do thiếu Vitamin A; tật sụp mi; tật giảm thị lực một hoặc hai mắt... Trong những trường hợp này trẻ còn nhìn được vật lờ mờ, có thể phân biệt được màu, đọc được chữ khi ghé sát mắt. 3.4. Tật thiểu năng trí tuệ hay còn gọi là chậm phát triển trí tuệ Là tật của hệ thần kinh trung ương làm ảnh hưởng đến chức năng nhận biết và tư duy. - Trường hợp nặng: trẻ có khó khăn về nhận thức và hiểu biết nên rất khó khăn trong học tập. Thường tật này đi kèm với một số dị tật bẩm sinh khác: bại não, não bé bẩm sinh... - Trường hợp nhẹ: trẻ nhớ khó khăn, khả năng tư duy kém, tư duy theo l ối trực diện, hay quên, học thường lưu ban do không tiếp thu được bài. 3.5. Tật ngôn ngữ - khó khăn về nói Là tật gây ảnh hưởng đến khả năng nói của trẻ làm cho trẻ không thể diễn đạt bằng lời nói về ý muốn của mình hoặc diễn đạt khó khăn do bộ phận phát âm có tật. - Trường hợp nặng: mất ngôn ngữ, ngôn ngữ bị ảnh hưởng trầm trọng, khó khăn trong giao tiếp. - Trường hợp nhẹ: trẻ nói ngọng, nói lắp, diễn đạt khó khăn làm ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp. 3.6. Tật về rối loạn tình cảm, hành vi bất thường Trẻ có tổn thương não hoặc do cấu trúc gen làm cho trạng thái tâm lý, tình cảm của trẻ quá hưng phấn hoặc trầm cảm. Nhiều trường hợp trẻ quá hưng phấn có những hành vi bất thường, đứng, ngồi không yên, không kiểm soát được hành vi và không thích ứng với môi trường làm cho trẻ gặp nhiều khó khăn trong 7
  8. cuộc sống. 3.7. Trẻ tự kỷ Là bệnh thuộc hệ thần kinh trung ương có thể do gen hoặc nguyên nhân khác chưa được biết. Trẻ mắc bệnh này có biểu hiện rất khác nhau như: thờ ơ, lãnh đạm, không quan tâm với môi trường xung quanh, không có giao tiếp bằng mắt và sống trong thế giới riêng của mình, hoặc có những hoạt động vận động tăng động. Trẻ ưa các hoạt động mạnh như: chạy nhảy, gõ tiếng động; hoạt động theo ý thích của riêng mình. Trẻ tự kỷ chỉ thích âm nhạc, có trẻ chỉ thích màu đỏ… 3.8. Các tật khác về sức khỏe Tật động kinh do tổn thương hệ thần kinh, gây co giật toàn th ân hoặc một vài bộ phận; co giật có thể thành cơn theo chu kỳ hoặc không theo chu kỳ. Trẻ bị thiếu hụt một bộ phận nào đó của cơ thể gây ảnh hưởng đến chức năng các cơ quan của cơ thể. 3.9. Trẻ khiếm thính kết hợp với khiếm thị Đây là một khuyết tật nặng, trẻ đồng thời thiếu hụt chức năng của hai bộ phận giác quan quan trọng nghe và nhìn nên trẻ sẽ có khó khăn hơn những trẻ chỉ bị một loại tật. 3.10. Trẻ đa tật Khi trẻ có từ hai tật trở lên. 3.11. Trẻ có khó khăn về học Trẻ có chỉ số IQ thấp hơn mức bình thường và cao hơn mức bình th ường đều có thể đưa đến cho trẻ những khó khăn trong học tập và cuộc sống. II. Nguyên nhân gây ra khuyết tật 1. Nguyên nhân trong thời kỳ mẹ mang thai - Mẹ bị mắc một sô bệnh trong 3 tháng đầu của thời kỳ mang thai do siêu vi trùng, cúm, sốt phát ban... - Mẹ dùng thuốc không đúng chỉ định. - Ngộ độc thai nghén; ngộ độc hóa chất độc hại. - Mẹ mắc một số bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng trong thời kỳ mang thai: sốt rét, lao, nhiễm trùng cấp, viêm họng, viêm phế quản... - Mẹ bị ốm, dinh dưỡng kém. 2. Nguyên nhân trong khi sinh - Mẹ đẻ khó, phải can thiệp bằng dụng cụ. - Mẹ chuyển dạ lâu trẻ bị ngạt. - Mẹ đẻ quá nhanh gây sang chấn cho trẻ trong khi sinh. - Trẻ ngôi ngược; ngôi ngang sa tay, sa chân. 8
  9. - Trẻ bị đẻ non, thiếu tháng. - Trẻ thiếu cân dưới 2500gr. 3. Nguyên nhân sau khi sinh và quá trình nuôi dưỡng - Trẻ bị vàng da tan máu kéo dài. - Trẻ bị dị tật bẩm sinh. - Trẻ bị suy dinh dưỡng do quá trình nuôi dưỡng: thiếu sữa mẹ, nuôi không đúng cách, thiếu các vi chất dinh dưỡng... - Trẻ bị mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính: viêm phế quản c ấp, ỉa chảy cấp, bại liệt, lao, ho gà, uốn ván, bạch hầu, viêm não... gây tổn thương não và các cơ quan bộ phận. - Trẻ bị tai nạn: + Ngã gãy xương, trật khớp, cứng khớp, cong vẹo tay chân do không được xử trí kịp thời. + Tai nạn chấn thương não và nhiều bộ phận khác mà không đ ược phán đoán điều trị kịp thời. Đặc biệt trong các tai nạn như đuối nước cấp cứu chậm gây tổn thương não. + Ngộ độc hóa chất, ngộ độc ăn uống gây tổn thương hệ thống thần kinh. + Trẻ bị bỏng sẹo dúm co cứng cơ xương khớp vùng sẹo bỏng gây hạn chế cử động chân tay, đi đứng... III. Cách phòng tránh và hạn chế khuyết tật 1. Thực hiện chăm sóc bà mẹ trong thời gian mang thai - Bà mẹ cần khám thai đúng quy định c ủa y t ế: 3 l ần trong chín tháng mang thai; theo dõi ki ểm soát quá trình tăng cân trong th ời kỳ mang thai; th ực hiện tiêm phòng u ốn ván cho m ẹ đ ầy đ ủ; h ướng d ẫn v ệ sinh thai s ản; ngh ỉ ngơi lao động hợp lý. - Bà m ẹ mang thai c ần chú ý ch ế đ ộ dinh d ưỡng h ợp lý, đ ầy đ ủ, tăng c ườ ng viên s ắt, Vitamin A... nh ằm tránh suy dinh d ưỡng cho tr ẻ t ừ trong bụng m ẹ. - Bà mẹ cần được nghỉ ngơi hợp lý, lao động vừa sức tránh sinh non thiếu tháng ảnh hưởng đến trẻ; sống khỏe mạnh, vui tươi trong tình cảm yêu thương của gia đình và người thân. 2. Chăm sóc bà mẹ trong khi sinh - Bà mẹ cần đến theo dõi và sinh tại các cơ sở y tế đ ể giúp phát hiện sớm những bất thường của thai nhi và sức khỏe của bà mẹ. - Đặc biệt các bà mẹ cần sinh tại các trung tâm y tế sẽ giúp tránh được các tai biến sản khoa có thể để lại những di chứng tật nguyền cho bé như ngạt, chấn 9
  10. thương sọ não, đẻ khó, gãy tay, gãy chân, uốn ván rốn... 3. Chăm sóc trẻ sơ sinh và bà mẹ sau khi sinh - Trẻ sinh ra cần được kiểm tra, phát hiện sớm các dị tật. Nếu phát hi ện trẻ bị dị tật cần liên hệ với các trung tâm can thi ệp s ớm hoặc khoa nhi đ ể đ ược hỗ trợ can thiệp kịp thời càng sớm càng tốt. - Chăm sóc bà mẹ để đảm bảo nguồn sữa mẹ đủ cung cấp nuôi trẻ giúp phòng tránh suy dinh dưỡng. Tăng cường đủ các vi chất dinh dưỡng vào khẩu phần ăn của mẹ và trẻ. - Tiêm phòng các loại vacxin trong chương trình tiêm chủng mở rộng. - Yêu thương chăm sóc nuôi dưỡng và đáp ứng các nhu cầu của trẻ trong đó có nhu cầu giao tiếp, tình cảm. 4. Phòng tránh tai nạn thương tích và bệnh tật cho trẻ - Ngoài việc chăm sóc nuôi dưỡng đáp ứng các nhu c ầu của tr ẻ, mọi gia đình và trường lớp Mầm non cần đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ. - Giường tủ trong gia đình, trường, lớp Mầm non phải được kê vững chắc, có chấn song chắn và không kê cao tránh để trẻ bị ngã đau. - Tiêm đủ các loại vacxin phòng bệnh cho trẻ. - Không để trẻ chơi một mình những nơi gần sông suối, gần đường xe cộ, gần các vật nhọn như dao, phích nước sôi, bếp lửa, lò sưởi, ổ cắm đi ện đ ể xa tầm với trẻ. - Khi trẻ bị ngã, gẫy xương cần băng bó xử lý kịp thời để tránh sai lệch xương. - Với các trẻ nhỏ dị tật bẩm sinh cần được cơ quan y tế quan tâm chăm sóc, phục hồi sớm cho trẻ. - Trẻ có bệnh cần được khám phát hiện và đi ều trị kịp thời không đ ể kéo dài mãn tính ảnh hưởng đến các bộ phận chức năng. Ví dụ: Viêm tai mũi họng kéo dài và điều trị không kịp th ời d ứt đi ểm s ẽ đưa đến viêm tai xương chũm gây điếc, hạn chế sức nghe, trẻ bị điếc s ẽ ảnh hưởng đến tập nói. IV. Phát hiện sớm trẻ khuyết tật 1. Mục tiêu của phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ Mầm non Phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ nhằm giúp giáo viên Mầm non và gia đình trẻ sớm nhận biết được các dấu hiệu bất thường ở trẻ và đưa đi khám phát hiện can thiệp sớm kịp thời. Phát hiện sớm khuyết tật và can thi ệp sớm cho tr ẻ giúp tránh đ ược các hạn chế của khuyết tật làm ảnh hưởng đ ến sự phát tri ển c ủa tr ẻ, giúp tr ẻ s ớm được học hòa nhập, sống hòa nhập với xã hội, không còn là gánh nặng của gia 10
  11. đình và xã hội. Ví dụ: đối với một tr ẻ b ị khi ếm thính, n ếu đ ược phát hi ện s ớm ở giai đoạn sơ sinh, trẻ được can thiệp s ớm b ằng c ấy đi ện c ực ốc tai ho ặc cho đeo máy trợ thính sớm. Đặc biệt trong giai đo ạn tr ẻ h ọc nói s ẽ giúp can thi ệp và hướng dẫn trẻ tập nói kịp thời đúng lúc. Vì vậy, vi ệc h ọc nói và phát tri ển ngôn ngữ lời nói của trẻ không bị chậm, không ảnh hưởng đ ến ngôn ng ữ giao ti ếp l ời nói trong cuộc sống sau này. 2. Phát hiện sớm trẻ khuyết tật Mầm non qua hình dạng và các dấu hiệu chỉ điểm của các loại khuyết tật 2.1. Trẻ bị khó khăn về vận động - Trẻ đẻ ra bị vàng da dẫn đến bại não: trương lực cơ giảm, phản xạ gân xương yếu, trẻ không cử động nâng được tay, chân, đầu, cổ. Trẻ không thể lẫy, trườn, bò được như các trẻ cùng độ tuổi. Hoặc trẻ bị co cứng cơ toàn thân bất thường do bại não thể co cứng. Tay chân, một phần cơ thể bị co cứng, rung giật từng cơn hoặc liên tục, có thể gặp trong bại não thể múa vờn. Trẻ đi lại khó khăn nhón ngón chân do loạn dưỡng cơ, bại não thể co cứng. - Trẻ 10 tháng tuổi không tự ngồi được một mình khi không có sự giúp đỡ. Trẻ 2 tuổi không có khả năng tự đi một mình nếu không có sự giúp đ ỡ. Tr ẻ 3-4 tuổi đi lại di chuyển khó khăn do teo cơ, cứng khớp. - Trẻ đi lại bàn chân đơ do bại não liệt cứng nửa người. - Trẻ bị dị tật tay, chân: khoèo tay, khoèo chân; dính ngón, dính khoeo chân; chân tay cụt, teo nhỏ cơ do bẩm sinh hoặc do tai nạn tổn thương mắc phải trong quá trình nuôi dưỡng. - Trẻ bị dị tật vùng đầu cổ, tăng trương lực cơ, cơ co cứng trong một số di chứng của bệnh có tổn thương não, trẻ không cử động được tay chân và thân mình. - Trẻ đẻ ra có hai bàn chân hoặc một bàn chân bị xoay vào trong hoặc xoay ra sau hoặc hai bàn tay bị cứng khớp xoay chệch vị trí bình thường. - Trẻ có bàn chân khoèo và đốt sống có túi thần kinh hoặc không, có những trẻ không cử động hoặc mất cảm giác bàn chân, bàn chân gập mu vào trong. - Trẻ bị yếu một tay hoặc tư thế bất thường do tổn thương đám rối thần kinh cánh tay trong khi sinh. - Trẻ bị trật khớp háng, sơ cứng khớp, chân ở tư thế khác nhau, chi ngắn, chi dài, bệnh do tổn thương trong thời kỳ bào thai. - Trẻ bị liệt cơ mềm nhũn, đặt đâu nằm yên một chỗ không cựa quậy tay, chân hoặc chỉ một nửa người cựa quậy được: có thể bị liệt do tổn thương thần kinh. - Trẻ bị di chứng của bại liệt: liệt nhóm cơ ở gốc chi sau một cơn s ố t, thường liệt chân, tay không đối xứng. 11
  12. - Tay chân hoặc một phần cơ thể có cử động bất thường không kiểm soát được, có khi co giật, tím tái, sùi bọt mép sau vài phút trở lại bình thường gặp trong động kinh.. - Trẻ bị giảm trương lực cơ, cơ teo nhẽo từ từ: do bệnh teo cơ, th ường do di truyền hoặc tổn thương tủy sống. - Trẻ bị liệt tứ chi từ từ do lao màng não, lao đốt sống. - Trẻ bị đau khớp, cứng khớp, đi lại vẹo lệch một bên do bại li ệt, bại não, viêm xơ cứng khớp. - Trẻ đứng hoặc đi lại đầu gối chụm, bàn chân choãi xa nhau: chân chữ X do còi xương nặng, biến dạng. - Trẻ đi lại phải chống chân do bại liệt, loạn dưỡng cơ, viêm đau khớp. - Cong vẹo cột sống, ưỡn cột sống, gù do bệnh viêm xương, viêm kh ớp, viêm khớp đốt sống thay đổi tư thế nằm ngồi gặp khó khăn. - Trẻ mất một phần hoặc một bộ phận cơ thể do tật bẩm sinh từ trong bụng