Chuyên đề thực tập - Tình hình trộm cắp

Chia sẻ: Bích Phượng Bích Phượng | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:22

0
260
lượt xem
88
download

Chuyên đề thực tập - Tình hình trộm cắp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đất nước ta đang trong giai đoạn phát triển và hội nhập .Hòa nhịp chung với xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới,nước ta đang vững bước đi lên để trở thành một nước cộng nghiệp hóa - hiện đại hóa

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyên đề thực tập - Tình hình trộm cắp

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội 1 Chuyên đề thực tập A.LỜI MỞ ĐẦU Đất nước ta đang trong giai đoạn phát triển và hội nhập.Hoà nhịp chung với xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới, nước ta đang vững bước đi lên để trở thành một nước công nghiệp hoá - hiện đại hoá và bước đầu của thời kỳ hội nhập chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Hoà nhập cùng đất nước trong công cuộc đổi mới Hà Nam cũng đã và đang có sự phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực.Song sự phát triển của nền kinh tế luôn kéo theo mặt trái của nó khiến cho tệ nạn xã hội và các loại hình tội phạm ngày càng gia tăng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đời sống của nhân dân ngày càng được nâng lên, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình dịch vụ giải trí. Nhưng không phải loại hình giải trí nào cũng lành mạnh vì thế nên đã dẫn đến sự tha hoá về lối sống và đạo đức ngày càng gia tăng. Sự xuất hiện của một bộ phận người dân có lối sống tiêu cực lệch lạc về nhận thức. Muốn hưởng thụ cuộc sống nhưng không chịu lao động nên đã sớm dấn thân vào con đường phạm tội. Trên địa bàn của cả nước nói chung và địa bàn tỉnh Hà Nam nói riêng. Trộm cắp tài sản hiện nay luôn là một vấn đề nhức nhối đáng báo động. Một loại hình tội phạm đang có chiều hướng gia tăng và ngày càng diễn biến phức tạp. Để đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Đảm bảo nền văn hoá đậm đà bản sắc của dân tộc. Đảm bảo tính mạng sức khoẻ và đời sống của nhân dân. Bên cạnh việc đề cao cảnh giác chúng ta cần phải có những biện pháp tích cực để ngăn chặn loại hình tội phạm này. Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  2. Trường Đại học Luật Hà Nội 2 Chuyên đề thực tập Nhận biết được vai trò tầm quan trọng của đề tài trong thực tiễn với những kiến thức được trang bị trong nhà trường và những tìm hiểu thực tế trong đợt thực tập cuối khoá tại toà án nhân dân tỉnh Hà Nam em đã chọn đề tài: “Tình hình trộm cắp tài sản tại địa phương nơi sinh viên thực tập và các biện pháp đấu tranh phòng chống loại tội phạm này” làm bài viết cho chuyên đề cuối khóa của mình. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ và kinh nghiệm hiểu biết thực tế còn nhiều hạn chế nên chuyên đề khó có thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp và chỉ bảo của các thầy cô cùng các bạn quan tâm để cho chuyên đề của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên thực hiện Nguyễn Thành Hoan Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  3. Trường Đại học Luật Hà Nội 3 Chuyên đề thực tập B. PHẦN NỘI DUNG Chương I TÌNH HÌNH TRỘM CẮP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1. Nhận xét chung 1.1 Đặc điểm địa bàn tỉnh Hà Nam Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng Sông Hồng. Có 5 huyện và 1 thị xã, về vị trí địa lý Hà Nam nằm giáp với các tỉnh: Hoà Bình, Hà Tây, Nam Định và Ninh Bình. Là một tỉnh có tổng diện tích đất nhỏ, dân số lại đông. Được biết đến đây là một trong những tỉnh nghèo và chậm phát triển của nước ta. Nhưng trong những năm gần đây nhờ thực hịên đúng đắn các chính sách kinh tế xã hội của Đảng và nhà Nước. Hà Nam đang từng bước đổi mới và bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên chính quyền tinh Hà Nam cũng đang đứng trước không ít khó khăn và thách thức. Do diện tích toàn tỉnh nhỏ, dân số đông nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp dẫn đến tỉ lệ người lao động thất nghiệp khá cao. Đại bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó sự hiểu biết về pháp luật của dân cư còn nhiều hạn chế, đặc biệt là đại bộ phận giới trẻ. Những khó khăn và thách thức nêu trên chính là những nguyên nhân dẫn đến phát sinh tội phạm. Xét về tổng thể Hà Nam có một vị trí địa lý rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế. Đặc biệt là các chiến lược phát triển kinh tế lâu dài cũng như về vấn đề an ninh, quốc phòng. Là nơi tiếp giáp và trung chuyển của nhiều đầu mối giao thông quan trọng. Với những thuận lợi nêu trên Hà Nam có những lợi thế đặc biệt để phát triển song nó cũng đặt ra những thách thức cho chính quyền tỉnh trong việc quản lý trật tự an toàn xã hội. Trong quá trình phát triển tỉnh Hà Nam cần phải phát huy những mặt thuận lợi đồng thời phải có những giải pháp tích Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  4. Trường Đại học Luật Hà Nội 4 Chuyên đề thực tập cực để khắc phục những khó khăn giải quyết triệt để những vấn đề xã hội đang tồn đọng. 1.2. Tình hình tội phạm hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Nam Từ 2004 cho đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Nam tình hình tội phạm diễn biến khá nghiêm trọng và phức tạp. Số vụ tội phạm trong những năm 2004,2005,2006,2007 không có chiều hướng giảm mà ngày càng gia tăng (Bảng 1). Nếu như năm 2004 tổng số các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Nam là 1672 vụ thì 2005 là 1684 vụ, 2006 là 1705 vụ, 2007 là 1721 vụ. Như vậy so với 2004 thì số vụ tội phạm trong năm 2007 tăng 49 vụ. Đặc biệt đó là sự tham gia ngày càng nhiều của bị cáo trong số các vụ án. Điều đó cho thấy được tính chất nguy hiểm, tính đồng phạm và có tổ chức ngày càng cao. Cụ thể năm 2004 số vụ án là 1672 chỉ có 1755 bị cáo phạm tội, tỉ lệ số bị cáo trên 1 vụ án là 1.05. Đến 2007 số vụ án là 1721 có tới 1911 bị cáo phạm tội chiếm tỉ lệ 1.2 bị cáo trên 1 vụ án. Nguyên nhân là do đời sống dân cư còn nhiều bất ổn,do sự hiểu biết về pháp luật còn nhiều hạn chế. Do một số bộ phận giới trẻ có lối sống tiêu cực lệch lạc nên đã bị lôi cuốn và dấn thân vào con đường phạm tội. Những hành vi nguy hiểm, những vụ án có tính chất đồng phạm ngày càng gia tăng. Đáng kể đến là các tội: Tội giết người (điều 93), tội cố ý gây thương tích (điều 104), tội cướp tài sản (điều 133), tội trộm cắp tài sản (điều 138)… Bảng 1 Năm Mới thụ lý Vụ án Bị cáo 2004 1672 1755 2005 1684 1820 2006 1705 1890 2007 1721 1911 Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  5. Trường Đại học Luật Hà Nội 5 Chuyên đề thực tập (Báo cáo tổng kết ngành Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam 2007) 2. Tình hình trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam 2.1. Tình hình trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam Tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam diễn biến ngày càng phức tạp. Theo thống kê số vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh từ 2004 đến 2007 như sau: Bảng 2 Năm Mới thụ lý Vụ án Bị cáo 2004 416 503 2005 472 538 2006 498 556 2007 521 593 (Báo cáo tổng kết ngành toà án nhân dân tỉnh Hà Nam 2007) Qua tìm hiểu và nghiên cứu tình hình trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam từ 2004 đến 2007. Dựa vào những số liệu thống kê thực tế của báo cáo tổng kết ngành toà án nhân dân tỉnh Hà Nam. Ta thấy tình hình trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh không có chiều hướng giảm mà ngày càng gia tăng. Từ bảng số liệu ta thấy, năm 2004 số vụ trộm cắp tài sản là 416 vụ thì đến 2007 số vụ tội phạm đã là 512 vụ tăng 105 vụ so với 2004. Chỉ có từ 2006 đến 2007 số vụ tội phạm có tăng nhưng tăng không đáng kể, năm 2006 số vụ phạm tội là 498 vụ thì đến 2007 chỉ là 521 vụ tăng( 23 vụ). Nếu như trước đây các vụ trộm cắp tài sản có quy mô nhỏ thì hiện nay đã có quy mô lớn và ngày càng lan rộng. Tội phạm lại được thực hiện bằng những thủ đoạn đa dạng và tinh vi hơn, táo bạo hơn…Một thực trạng đáng buồn hơn Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  6. Trường Đại học Luật Hà Nội 6 Chuyên đề thực tập nữa là có nhiều vụ phạm tội do bị cáo là người có điều kiện kinh tế qua khó khăn hoặc có trường hợp bị cáo là người không hiểu biết về pháp luật nên đã dẫn đên hậu quả phạm tội. Ví dụ: Như bản án phúc thẩm số 490/HSPT ngày 14/07/2007 bị cáo Phạm Minh Tùng sinh năm 1986 trú tại xóm 10 Xã Châu Sơn Phủ Lý Hà Nam. Vào hồi 12h trưa ngày 16/12/2006 Phạm Minh Tùng đi qua xóm 7 Châu Sơn Phủ Lý Hà Nam thấy một chiếc xe tải do anh Trần Đức Sơn làm tài xế.Anh Sơn đỗ xe ở bãi đất trống để đi ăn cơm trưa, lợi dụng vì không thấy có người ở đó Tùng đã vào tháo trộm 2 chiếc bình Acquy của chiếc xe tải, 10 phút sau anh Sơn quay về thì phát hiện 2 chiếc bình Acquy đã bị mất.Ngay lập tức anh Sơn đến cơ quan công an trình báo. Khoảng 15h cùng ngày Phạm Minh Tùng đã bị bắt tại nơi y đang tiêu thụ tài sản. 2.2. Đặc điểm của đối tượng Đối tượng phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam chủ yếu là những người trong địa bàn tỉnh. Hầu hết các đối tượng này thường ở độ tuổi từ 16 đến 30, những đối tượng này chủ yếu là những người có trình độ văn hoá thấp. Chúng thường không có nghề nghiệp hoặc có nhưng không ổn định dẫn đến không có thu nhập hoặc thu nhập thấp, trong khi rất cần tiền để phục vụ cho các nhu cầu, các tệ nạn xã hội.Có nhiều vụ án mà tuổi đời của bị cáo còn rất trẻ, nhiêư trường hợp bị cáo vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường. Do thích ăn chơi đua đòi, lười lao động, không chịu học tập nên đã liên tục phạm tội, có nhiều tiền án. Đây chính là một trong những yếu tố dẫn đến hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh. Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  7. Trường Đại học Luật Hà Nội 7 Chuyên đề thực tập Ví dụ: Tại bản án số 260/HSPT ngày 3/10/2005 bị cáo Bùi Đức Linh sinh 1989 trú tại Bắc Lý- Lý Nhân- Hà Nam. Linh đã phạm tội ở độ tuổi 16 khi vẫn còn là học sinh lớp 10 của trường THPT Bắc Lý. 2.3. Về thời gian địa điểm, phương pháp thủ đoạn trộm cắp tài sản. Các bị cáo thường lợi dụng vào ban đêm khi mọi người đã ngủ say hoặc ban ngày khi các gia đình đi vắng nên đã cậy cửa thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Chúng theo dõi tiếp cận tài sản,thủ đoạn chủ yếu là phá cửa cắt khoá,trèo tường vào nhà…Hoặc chúng lợi dụng sơ suất của người dân để thực hiện hành vi bất kỳ lúc nào. Chẳng hạn tại bản án số 119/HSPT ngày 22/05/2006 bị cáo Đỗ Văn Đại sinh ngày 03/10/1975. Khoảng 16h ngày 19/02/2006 Đại đi qua cửa hang tạp hoá tại khu phố 4 phường Lê Hồng Phong thị xã Phủ Lý - Hà Nam thấy 1 chiếc xe máy của chị Lại Thị Dung dựng ở vỉa hè. Do sơ ý bất cẩn, chị Dung vẫn để chìa khoá ở xe vào mua hàng. Đại đi bộ ngang qua thấy vậy liền vào dắt chiếc xe máy đi khoảng 20m rồi nổ máy tẩu thoát. Đến khoảng 20h ngày 1/3/2006 Đỗ Văn Đại đã bị bắt. Trên đây là một số đặc điểm cơ bản về tình hình trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Tìm hiểu và nắm chắc tình hình của loại tội phạm này chúng ta mới có cơ sở để đề xuất các biện pháp đấu tranh phòng chống loại tội phạm này. Chương II NGUYÊN NHÂN PHÁT SINH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  8. Trường Đại học Luật Hà Nội 8 Chuyên đề thực tập Qua quá trình nghiên cứu thực tế cho thấy nguyên nhân của tội trộm căp tài sản rất đa dạng và phong phú. Nó có thể là nguyên nhân bên trong nội tại của nó và cũng có thể là những nguyên nhân bên ngoài. Tất cả những nguyên nhân đó ở mỗi khía cạnh, mỗi chừng mực khác nhau sẽ tác động đến tình hình tội phạm ở một mức độ khác nhau. 1.Nguyên nhân về kinh tế: Sự chênh lệch mức sống của dân cư ngày một cao, giữa thành thị và nông thôn. Một bộ phận nhỏ người dân giầu lên còn lại đa số người lao động phải sống vất vả với cuộc sống gặp không ít khó khăn. Cơ sở hạ tầng của tỉnh còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được nhu cầu công ăn việc làm cho con em trong tỉnh, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp gia tăng. Đây chính là tiền đề dẫn đến hành vi phạm tội nói chung và hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Cùng với nguyên nhân về kinh tế - nguyên nhân trực tiếp của tội trộm cắp tài sản, nguyên nhân về mặt xã hội cũng có ý nghĩa tác động quan trọng tới hành vi phạm tội này. Đó là sự gia tăng dân số trên địa bàn, số lượng người lao động thất nghiệp, rất đông trong số này là những học sinh sinh viên mới rời ghế nhà trường, những người đang ở đọ tuổi lao động. 2. Nguyên nhân về tuyên truyền và công tác giáo dục: 2.1. Nguyên nhân về tuyên truyền Tuyên truyền giáo dục pháp luật là đưa pháp luật đến mọi người, để mọi người hiểu và tuân theo pháp luật. Mặc dù đã có nhiều cố gắng xong công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong thời gian qua vẫn còn hạn chế nhất định. Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  9. Trường Đại học Luật Hà Nội 9 Chuyên đề thực tập Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân trên địa bàn còn nghèo nàn về nội dung, nặng tính hình thức nên hiệu quả của công tác chưa cao. Ở một số vùng nông thôn, trình độ văn hoá của người dân còn thấp cộng với cuộc sống còn khó khăn, lại thiếu cơ sở vật chất như đài loa phát thanh, bản tin, tài liệu pháp luật… vì thế công tác này càng gặp khó khăn hơn. Do sự thiếu hiểu biết về pháp luật nên trong các vụ án trình bày ở trên các bị cáo nghĩ rằng hành vi của mình chỉ là “Trộm cắp tài sản” thông thường, lấy trộm mà người ta phát hiện trả lại là xong. Không xác định được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội. 2.2. Nguyên nhân về công tác giáo dục Như vậy phân tích ở trên thân nhân người phạm tội trong các vụ án về tội trộm cắp tài sản hầu hết là những người có trình độ văn hoá thấp. VÌ thế trình độ văn hoá là một yếu tố có ảnh hưởng rất sâu sắc đến hành vi phạm tội của người phạm tội. Mỗi người chịu sự tác động giáo dục của tất cả các môi trường, từ môi trường giáo dục trong gia đình đến môi trường giáo dục ngoài xã hội nên chúng ta cần phải xem xét một cách tổng quát sự tác động của các môi trường này. • Đối với môi trường giáo dục gia đình Gia đình là nơi hình thành các chuẩn mực và giá trị xã hội, là nơi kiến tạo môi trường cho mỗi cá nhân phát triển. Mỗi gia đình giữ gìn và phát huy được vẻ đẹp truyền thống trong số đó mỗi cá nhân đều sống gương mẫu, chan hoà, yêu thương lẫn nhau…thì hình thành được nnhân cách tích cực ở mỗi thành viên trong mỗi gia đình. Nhưng thực tế hiện nay, không ít gia đình ở Hà Nam đã không chăm lo, quan tâm đến con cái, chỉ lo kiếm tiền, có gia đình thì gặp khó Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  10. Trường Đại học Luật Hà Nội 10 Chuyên đề thực tập khăn mải lo cuộc sống mưu sinh không có thời gian để chăm lo cuộc sống cho gia đình. Việc giáo duc trong gia đình không còn được chú trọng như trước những bậc phụ huynh này lại khoán trắng sự giáo dục đó cho thầy cô, cho nhà trường, mặt khác họ lại cho con cái tiếp xúc với đồng tiền, quá nuông chiều chúng…Vì thế đã hình thành nhân cách xấu cho chúng và đưa chúng đến những hành vi trái với chuẩn mực xã hội, những hành vi trộm cắp tài sản. • Đối với môi trường giáo dục xã hội Môi trường xã hội có tác động khá sâu sắc đến quá trình hình thành nhân cách của mỗi cá nhân, cũng như có ảnh hưởng khá lớn đến những hành vi của họ. Trong những năm gần đây, công tác giáo dục xã hội trên địa bàn tỉnh chưa thực sự đạt kết quả cao, các phong trào đã phát động còn nặng tính hình thức mà chưa có sự sâu sắc về nội dung. Là một trong những “công cụ” của giáo dục xã hội và có sự tác động nhanh chóng đến nhận thức của con người, đó chính là “dư luận xã hội”. Những hành vi trái với luân thường đạo lý, trái với pháp luật sẽ bị dư luận xã hội lên án một cách gay gắt, sẽ bị tảy tray ra khỏi cuộc sống, đó là mặt tích cực của nó. Nhưng công cụ này có mặt tiêu cực đó là sự mặc cảm, sự tác động của xã hội đối với những con người lầm lỗi, khi họ muốn hướng tới cuộc sống lương thiện, nhưng xã hội khó có thể chấp nhận họ. Do đó đã tạo ra cho những đối tượng này tâm lý chán trường, bất cần, vì thế họ lại trở về cuộc sống phạm tội trước kia. 3. Nguyên nhân xuất phát từ công tác quản lý xã hội Nhìn chung Hà Nam chậm đề ra và thực hiện những chiến lược tổng thể để khắc phục sự gia tăng của tình hình tội phạm nói chung và trộm cắp tài sản nói riêng. Với tỉnh Hà Nam, những chính sách xã hội mới chỉ dừng lại ở chủ trương, Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  11. Trường Đại học Luật Hà Nội 11 Chuyên đề thực tập chưa có cơ chế bảo đảm cho nó thực hiện hoặc thiếu các biện pháp đồng bộ, cụ thể giữa các cơ quan ban ngành. Bên cạnh đó, chính sách xã hội còn ít nhiều ảnh hưởng bởi tư tưởng bao cấp, chưa phát huy được vai trò cộng đồng và trách nhiệm cá nhân, chưa phát huy được tính năng động sáng tạo của mỗi người. Bởi vậy các chính sách đó chưa thực sự đi sâu vào cuộc sống, tính khả thi chưa cao, hiệu quả thấp. Cũng phải nói đén hệ thống chính sách xã hội đã đề ra trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển nói chung là chậm chưa phù hợp cho mỗi giai đoạn, đặc biệt là chính sách hướng trực tiếp vào việc đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, trộm cắp tài sản…làm cho tình hình tội phạm trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế vẫn tăng nhanh và diễn biến phức tạp. Trước sự phát triển của các loại tội phạm ngày càng tinh vi đa dạng, những chính sách đề ra chậm thay đổi của xã hội, các loại văn bản pháp luật vừa đề ra chưa được thực hiện rỗng rãi đã phải sửa đổi bổ sung vì không đáp ứng được yêu cầu phát triển tại các địa phương thì bộ luật hình sự 1999 ra đời (thay thế bộ luật hình sự của quốc hội thông qua năm 1985 và các luật sửa đổi, bổ sung của bộ luật hình sự của quốc hội thông qua ngày 28/12/1989, ngày 12/8/1991, 22/12/1992 và ngày 10/5/1997) là một bước phát triển có tầm chiến lược lâu dài về các chính sách xử lý tội phạm. Việc quy định các loại tội phạm cụ thể với những khung hình phạt nghiêm khắc trong các điều luật thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời giúp các cơ quan chức năng giải quyết nhanh chóng kịp thời đối với các loại tội phạm. Điều 138 Bộ luật hình sự quy định rất rõ về tội “Trộm cắp tài sản”. Khoản 1 điều 138 có quy định: Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  12. Trường Đại học Luật Hà Nội 12 Chuyên đề thực tập Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 500.000 nghìn đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 500.000 nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoặt hoặc bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Đây là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng giúp các nhà làm luật khi truy cứu trách nhiệm hình sự, khi xét xử tội phạm “trộm cắp tài sản” đúng quy định của pháp luật hiện hành. 4. Nguyên nhân về quản lý tài sản của chủ sở hữu Trong việc quản lý tài sản,không ít người dân hoặc những người được giao trách nhiệm quản lý tài sản còn nhiều sơ hở và chưa cảnh giác nên dã tạo ra cơ hội cho bọn tội phạm trộm cắp tài sản dễ dàng thực hiện hành vi của chúng,chẳng hạn như: Để tài sản không có người trông coi, khi ra khỏi nhà quên không khoá cửa, xe máy , xe đạp để nơi công cộng không khoá an toàn . Đặc biệt những người có trách nhiệm quản lý tài sản như: Nhân viên bảo vệ, chủ kho… họ đã rời bỏ vị trí và trách nhiệm của mình tạo điều kiện cho bọn tội phạm dễ bề thực hiện hành vi phạm tội. Chương III TÌNH HÌNH ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM TẠI HÀ NAM Theo báo cáo tổng kết 2007 và phương hướng nhiệm vụ công tác 2008 của ngành toà án tỉnh Hà Nam, công tác xét xử các loại án trong tỉnh như sau: Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  13. Trường Đại học Luật Hà Nội 13 Chuyên đề thực tập 1.Công tác giải quyết các loại án trong tỉnh. Năm 2007, nghành toà án nhân dân tỉnh Hà Nam đã thụ lý 3682 vụ án các loại giải quyết 3417 vụ / 3617 bị cáo, đạt tỉ lệ 88,5% Trong đó : Toà án nhân dân tỉnh : Thụ lí 980 vụ / 1012 bị cáo , đã giả quyết 963/980 đạt tỉ lệ 98,3% số vụ thụ lí. Còn lại 17/34 bị cáo , những vụ đã giả quyết gồm : đưa ra xét xử 920/933 bị cáo , đình chỉ 6 vụ /9 bị cáo , hoàn viện kiểm sát 37 vụ / 38 bị cáo. Hình phạt áp dụng đối với các bị cáo : xử phạt tử hình 25 bị cáo , phạt tù chung thân 30 bị cáo, phạt tù từ 20 đến 30 năm 168 bị cáo ; phạt tù từ 15 đến 20 năm 179 bị cáo , phạt tù từ 7 đến 15 năm 230 bị cáo ; phạt tù từ 3 đến 7 năm 190 bị cáo , phạt dưới 3 năm tù 92 bị cáo ; phạt tù nhưng cho hưởng án treo 66 bị cáo. Toà án nhân dân cấp huyện : thụ lí 850 vụ /1036 bị cáo , đã giải quyết 842 vụ / 1020 bị cáo ; tỉ lệ giả quyết đạt 84,6% , còn lại 8 vụ /16 bị cáo . Hình thức giải quyết các vụ án là : Đưa ra xét xử 772vụ / 885 bị cáo . Hoàn viện kiểm sát 63 vụ / 120 bị cáo . Đình chỉ 10 vụ / 15 bị cáo , chuyển lên toà án tỉnh 5 vụ / 16 bị cáo . Hình phạt áp dụng đối với các bị cáo : Phạt từ 7 đến 15 năm tù 30 bị cáo ;phạt từ 3 đến 7 năm tù 121 bị cáo ; Phạt dưói 3 năm tù 450 bị cáo . Phạt tù nhưng cho hưởng án treo 316 bị cáo , phạt cải tạo không giam giữ 10 bị cáo , phạt cảnh cáo 8 bị cáo , áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đói với 85 bị cáo . 1.2 Án hình phạt phúc thẩm Toà án tỉnh thụ lí phúc thẩm 200 vụ / 230 bị cáo, đã giải quyết 190 vụ / 210 bị cáo , tỷ lệ đạt 97,5% số vụ đã thụ lí , còn lại 10 vụ /20 bị cáo . trong số vụ án đã giải quyết : Đưa ra xét xử 150 vụ / 162 bị cáo , có 40 vụ / 41 bị cáo rút Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  14. Trường Đại học Luật Hà Nội 14 Chuyên đề thực tập kháng cáo 10 vụ / 27 bị cáo rút kháng nghị chấp nhận án sơ thẩm. Toà phúc thẩm đã xử y án 115 bị cáo, sửa án sơ thẩm đối với 80 bị cáo , huỷ án đối với 5 bị cáo. Bảng 3 Tổng hợp công tác giải quyết các loại án tỉnh Hà Nam từ năm 2004-2007 CTXX Toàn tỉnh Các huyện PT Tỷ lệ giải quyết Thụ lí Giải Thụ lí Giải Thụ lí / Chung ST PT quyết quyết Giải quyết Năm 2004 1721 1672 1532 1460 336/320 97% 97 95 2005 1870 1811 1621 1573 365/342 96% 96 96 2006 2538 2281 2330 1998 389/376 89% 90 96 2007 3682 3617 3211 2980 420/403 98% 98 96 Qua bảng tổng kết trên ta thấy việc thụ lí giải quyết các loại án đến năm 2007 có chiều hướng tăng lên một cách đáng kể , nhưng tỷ lệ giải quyết ta có thể nói rằng các vụ án tăng lên nhưng chất lượng xét xử vẫn được nâng lên, đảm bảo đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm , không để tồn đọng kéo dài . Đó là một sự cố gắng mà các toà án tỉnh làm được. 3. Công tác xét xử và giải quyết các vụ án hình sự tại Toà án nhân dân tỉnh Hà nam Theo báo cáo tổng kết năm 2007 của ngành Toà án nhân dân tỉnh hà Nam. Trong năm 2007 đã thụ lí 980 vụ ,1012 bị cáo, đã giải quyết 963 vụ, 980 bị cáo đạt tỷ lệ 98,3%. - Tội về ma tuý :52 vụ , 60 bị cáo - Tội cướp tài sản : 83 vụ,110 bị cáo. - Tội giết người :31 vụ , 38 bị cáo. Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  15. Trường Đại học Luật Hà Nội 15 Chuyên đề thực tập - Tội trộm cắp tài sản 120 vụ 140 bị cáo. Chương IV NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 1. Nhận xét chung 1.1 Đối với công tác xét xử hình sự Nhìn chung công tác giải quyết các loại án của ngành toà án tỉnh đạt kết quả tốt, các đồng chí thẩm phán, thư kí đã nêu cao tinh thần trách nhiệm trong quá trình thụ lí, giải quyết các vụ án , thực hiện các thủ tục tố tụng, coi trọng việc tranh tụng tại phiên toà nên tỉ lệ giải quyết các vụ án của ngành vượt chỉ tiêu đề ra và chất lượng xét xử được nâng lên. Công tác giải quyết án hình sự đúng người, đúng tội, không bị oan và hạn chế sai sót. Ngành Toà án tỉnh đã tích cực phối hợp với các cấp, các ngành tổ chức nhiều phiên toà lưu động để tuyên truyền giáo dục pháp luật cho nhân dân , góp phần phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của địa phương. 1.2 Đối với công tác giám đối kiểm tra và thi hành án hình sự. Trong năm 2007 toà án nhân dân đã kiểm tra công tác xét xử thi hành án hình sự của 5/5 đơn vị cấp huyện với 1560 hồ sơ vụ án. Trong đó hồ sơ hình sự 570 vụ, án dân sự 607, việc dân sự 116 vụ, án hôn nhân và gia đình 205 vụ, án lao động 35 vụ, án kinh tế 27 vụ. Ngành toà án tỉnh đã ra quyết định thi hành án tử hình 25/25, án phạt tù chung thân, ra quyết định thi hành án đối với 1322 bản án , đạt tỷ lệ 100% đảm bảo kịp thời, đúng quy định của pháp luật, không để án tồn đọng , không có án xử oan hoặc bỏ lọt tội phạm. 1.3 . Những tồn tại Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  16. Trường Đại học Luật Hà Nội 16 Chuyên đề thực tập • Về chủ quan. - Một số ít thẩm phán chưa nêu cáo tinh thần trách nhiệm trong công tác xét xử, thiếu tôn trọng , dẫn đến tình trạng có nhiều thiếu sót về các thủ tục tố tụng , điều khiển phiên toà và viết bản án. - Một số đơn vị công tác quản lí cán bộ , quản lí nghiệp vụ chưa tốt, không có quy chế, do đó việc kiểm tra uốn nắn những sai sót trong nghiệp vụ, những biểu hiện không khách quan, không vô tư. Thẩm phán , cán bộ xử lí chưa kịp thời. Chưa có biện pháp quản lí thật tốt công tác nghiệp vụ chính là hạn chế sai sót các tiêu cực có thể xảy ra trong vụ án. - Về kiến thức pháp luật của hội thẩm nhân dân tham gia xét xử các loại án vẫn còn hạn chế. Trình độ năng lực của thẩm phán, cán bộ hiện nay chưa đồng đều, một số ít thẩm phán, cán bộ chưa tích cực học tập nghiên cứu văn bản hoặc có trường hợp do tình cảm đã dẫn đến sai sót khi giải quyết vụ án. • Về khách quan - Hệ thống pháp luật của nhà nước chưa hoàn thiện nên thường xuyên sửa đổi, bổ xung. Một số văn bản của liên ngành cấp trên chưa kịp thời hoặc có hướng dẫn nhưng một số quy định trong văn bản chưa phù hợp với thực tiễn nên khó khăn trong việc áp dụng trong xét xử. - Công tác tập huấn , hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn và tổng kết rút kinh nghiệm của toà án cấp trên, hoặc từng địa phương còn hạn chế cho nên có phần ảnh hưởng đến kết quả công tác xét xử. - Về cơ sở vật chất , điều kiện làm việc còn thiếu nên ít nhiều hạn chế đến chất lượng công tác, hoặc việc phối hợp công tác của một số cơ quan địa phương, của cơ quan Nhà nước và của dân đối với Toà án chưa cao nên chậm trả lời cung cấp tài liệu xác minh. Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  17. Trường Đại học Luật Hà Nội 17 Chuyên đề thực tập 2. Một số kiến nghị và đề xuất Qua thực tế nghiên cứu việc đấu tranh phòng chống tội phạm ở địa phương nhận thấy vẫn còn tồn tại một số vấn đề , xin được đề xuất để tham khảo : - Cần tổ chức một bộ máy chuyên trách phòng chống tệ nạn xã hội theo từng loại tội phạm cụ thể từ trung ương đến cơ sở ( xã phường, thị trấn) đủ về số lượng , tinh thông về chất lượng, được trang bị phương tiện hiện đại mới có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong thời đại mới. - Trong công tác trước khi xét xử cần phân công cụ thể , từng nhiệm vụ cho từng thẩm phán và mỗi thư kí. - Tập trung xét xử thật nghiêm minh và thật nhanh chóng các vụ án trộm cắp tài sản. Khi nhận được hồ sơ vụ án thẩm phán được giao nhiệm vụ có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ thật kĩ và quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn luật định. - Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam cần tăng cường hơn nữa sự phối hợp chặt chẽ với các ngành công an, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, đảm bảo việc xét xử diễn ra nhanh chóng, an toàn , đặc biệt phải thực thi theo đúng pháp luật. - Toà án tỉnh Hà Nam cần tăng cường việc tổ chức các phiên toà xét xử lưu động những vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn. Xét xử điểm các vụ án lớn về tội phạm trộm cắp tài sản, để răn đe phòng ngừa tội phạm và để động viên , khích lệ nhân dân tham gia vào công tác đấu tranh chống tội phạm này. - Tăng cường tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác của nhân dân , bảo vệ tài sản của Nhà nước cũng như của nhân dân, chẳng hạn toà tổ chức phát huy sức mạnh của đoàn thanh niên, phối hợp với các đoàn Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  18. Trường Đại học Luật Hà Nội 18 Chuyên đề thực tập thanh niên của các phường xã xây dựng các đội tự vệ bảo vệ tài sản đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, khu phố. - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục trong mọi tầng lớp nhân dân sử dụng đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền cả về bề rộng lẫn chiều sâu, đến tận từng đối tượng , gia đình, cộng đồng, gia tộc và phù hợp với trình độ nhận thức tâm lí từng lứa tuổi trong các tầng lớp nhân dân. - Đề nghị Quốc hội sửa đổi bổ xung một số nội dung trong Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh thi hành án phạt tù theo hướng thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác phòng chống tội phạm, đồng thời xây dựng một số trung tâm bảo trợ xã hội để nuôi dạy các cháu là con của các đối tượng phạm tội khi cần áp dụng các biện pháp tạm giam và thi hành án phạt tù. - Việc thực hiện các nội dung phòng chống tội phạm phải được lồng ghép vào chương trình kế hoạch chuyên môn và gắn với tiêu chuẩn thi đua hàng năm của các cấp , các ngành và các danh hiệu đơn vị văn hoá. Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  19. Trường Đại học Luật Hà Nội 19 Chuyên đề thực tập C. KẾT LUẬN Việc đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản là nhằm đạt được mục đích bảo vệ thành quả lao động của Nhà nước , của công dân nên nó có ý nghĩa rất to lớn. Nhận thức sâu sắc đựoc ý nghĩa và vai trò của công tác này Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Nam đã không ngừng đẩy mạnh việc nghiên cứu những đặc điển , bản chất của tình hình phạm tội trộm cắp tài sản để từ đó xây dựng và thực hiện các biện pháp phòng chống chúng một cách hữu hiệu nhất. Trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung , tội trộm cắp tài sản nói riêng, với vai trò riêng toà án nhân dân tỉnh Hà Nam đã duy trì thường xuyên công tác kiểm tra và tổ chức các buổi rút kinh nghiệm giữa Toà án tỉnh và toà án các huyện có án bị huỷ, sửa. Thực hiện tốt kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho thẩm phán , hội thẩm nhân dân ở cả 2 cấp. Vì thế , công tác đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh,với mong muốn có thể nâng cao hiệu quả công tác và phần nào khắc phục Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
  20. Trường Đại học Luật Hà Nội 20 Chuyên đề thực tập những mặt còn hạn chế , em đã đưa ra một số biện pháp và kiến nghị cụ thể đối với công tác. Hy vọng rằng những kiến nghị đó sẽ hữu ích. Em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn cho chuyên đề. Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy cô, cảm ơn các cô, chú , anh chị tại toà hình sự Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành chuyên đề này. MỤC LỤC A- PHẦN MỞ ĐẦU 1 B- PHẦN NỘI DUNG Chương I. Tình hình trộm cắp trên địa bàn tỉnh Hà Nam 3 1. Một số nhận xét chung 2. Tình hình trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Chương II. Nguyên nhân phát sinh tội trộm cắp tài sản 7 1. Nguyên nhân về kinh tế 2. Nguyên nhân về tuyên truyền và công tác giáo dục 3. Nguyên nhân xuất phát từ công tác quản lí xã hội Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thành Hoan L ớp: KT29B
Đồng bộ tài khoản