Chuyên đề tốt nghiệp: “Đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch Trung Quốc và một số giải pháp thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Chi nhánh Công ty Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam”

Chia sẻ: Minh Tuan | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:66

0
71
lượt xem
24
download

Chuyên đề tốt nghiệp: “Đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch Trung Quốc và một số giải pháp thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Chi nhánh Công ty Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'chuyên đề tốt nghiệp: “đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch trung quốc và một số giải pháp thu hút khách du lịch trung quốc tại chi nhánh công ty du lịch dịch vụ dầu khí việt nam”', luận văn - báo cáo, kinh tế - thương mại phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyên đề tốt nghiệp: “Đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch Trung Quốc và một số giải pháp thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Chi nhánh Công ty Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam”

  1. Chuyên đề tốt nghiệp Luận văn: “Đặc điểm tiêu dùng của khách du lịch Trung Quốc và một số giải pháp thu hút khách du lịch Trung Quốc tại Chi nhánh Công ty Du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam” Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  2. Chuyên đề tốt nghiệp LỜI MỞ ĐẦU Hội nhập vào xu thế chung của thế giới, ngành du lịch ngày càng phát triển nhanh, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và được coi là một ngành kinh tế mũi nhọn. Trong hoạt động kinh doanh du lịch thì hoạt động lữ hành, đặc biệt hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế hết sức quan trọng. Trong những năm qua do những chính sách mở cửa nền kinh tế cùng với những chính sách, biện pháp của Đảng và Nhà nước nhằm thúc đẩy nền kinh tế đi lên đã tạo điều kiện phát triển du lịch lữ hành quốc tế vào Việt Nam và lượng khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài. Tuy nhiên, lượng khách quốc tế đến Việt Nam còn quá thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Sự kém phát triển này là do sản phẩm du lịch của Việt Nam còn nghèo nàn, chưa hấp dẫn du khách, các công ty lữ hành quốc tế còn yếu về kinh nghiệm quản lý, chưa xây dựng được sản phẩm đặc trưng, các chương trình du lịch chưa đa dạng phong phú; đồng thời chưa đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường, tổ chức quảng cáo khuếch trương sản phẩm còn hạn chế. Tình hình đó đã đặt ra cho các công ty lữ hành quốc tế Việt Nam một loạt vấn đề cần giải quyết cho sự tồn tại và phát triển của chính bản thân mình. Giống như các Công ty lữ hành quốc tế khác, công ty lữ hành Hanoitourist cũng gặp những thách thức lớn khi hoạt động trên thương trường. Sau thời gian học tập và tìm hiểu tại công ty lữ hành Hanoitourist, xuất phát từ những suy nghĩ và bằng kiến thức thu được trong quá trình học tập và thực tế hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế của công ty lữ hành Hanoitourist, em đã chọn đề tài "Đẩy mạnh hoạt động khai thác thị trường khách du lịch Mỹ tại công ty lữ hành Hanoitourist" làm chuyên đề tốt nghiệp, nhằm thử nghiệm phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh hoạt động khai thác thị trường khách du lịch Mỹ của công ty. Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  3. Chuyên đề tốt nghiệp Kết cấu của chuyên đề ngoài lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, gồm ba chương: Chương I: Cơ cở lý luận và một số vấn đề có liên quan. Chương II: Thực trạng hoạt động khai thác thị trường khách du lịch Mỹ tại công ty lữ hành Hanoitourist. Chương III: Một số đóng góp nhằm đẩy mạnh hoạt động khai thác thị trường khách du lịch Mỹ tại công ty lữ hành Hanoitourist. Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  4. Chuyên đề tốt nghiệp Chương 1: Cơ sở lý luận và một số vấn đề liên quan 1.1. Các khái niệm cơ bản: 1.1.1 Khái niệm du lịch: Thực tế hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Ngay trong thời kỳ cổ đại với các nền văn hóa lớn như Ai Cập, Hy Lạp đã xuất hiện hình thức đi du lịch tuy đó chỉ là hoạt động mang tính tự phát, đó chỉ là các cuộc hành hương về các thánh địa, đất thánh, đền chùa, các nhà thờ Kitô giáo, các cuộc du ngoạn của các vua chúa và quý tộc… Đến thế kỷ XVII, thời kỳ phục hưng ở các nước châu Âu, kinh tế - xã hội phát triển, các lĩnh vực như thông tin, giao thông vận tải theo đó phát triển nhanh chóng, điều đó càng thúc đẩy du lịch phát triển mạnh mẽ. Đến thời kỳ hiện đại cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, sự ra đời của các phương tiện giao thông mới, du lịch có điều kiện để phát triển mạnh, con người có thể đi từ nơi này đến nơi khác trong thời gian ngắn. Sống trong không gian “bê tông”, “máy tính”, tác phong công nghiệp đã quá mệt mỏi, con người nảy sinh nhu cầu trở về với thiên nhiên, về với cội nguồn văn hóa dân tộc hay chỉ đơn giản là để nghỉ ngơi sau những quãng thời gian lao động. Như vậy du lịch đã dần trở thành một hoạt động quen thuộc trong đời sóng của con người và càng phát triển phong phú cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Theo Tổ chức du lịch Thế giới thì năm 1998 khách du lịch toàn cầu là 625 triệu lượt người, thu nhập là 448 tỷ đô la Mỹ; năm 2000 là 698 triệu lượt người, thu nhập là 467 tỷ đô la Mỹ; năm 2002 lượng khách là 716,6 triệu lượt, thu nhập là 474 tỷ đô la Mỹ. Và dự báo đến năm 2010 lượng khách là 1.006 triệu lượt với thu nhập là 900 tỷ đô la Mỹ. Vậy từ đó ta đặt ra câu hỏi du lịch là gì? Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  5. Chuyên đề tốt nghiệp Mặc dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ nhanh như vậy, song cho đến nay khái niệm “du lịch” được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau. Theo định nghĩa của Kuns, người Thụy Sỹ cho rằng: “Du lịch là hiện tượng những người ở chỗ khác, ngoài nơi ở thường xuyên, đi đến bằng các phương tiện giao thông và sử dụng các xí nghiệp du lịch”. Theo định nghĩa của hai vị giáo sư, tiến sỹ Hunziker và Krapf: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”. Định nghĩa trong Từ điển Bách khoa về Du lịch (Viện hàn lâm): “Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch…Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ”. Định nghĩa của Đại học kinh tế Praha (Cộng hòa Séc): “Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường kỳ”. Ngược lại với những định nghĩa trên, ông Michael Coltman (Mỹ) đã đưa ra một định nghĩa rất ngắn gọn về du lịch: “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch”. Có thể thể hiện mối quan hệ đó bằng sơ đồ sau: Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  6. Chuyên đề tốt nghiệp Du khách Nhà cung ứng dịch vụ du lịch Chính quyền Dân cư sở tại địa phương nơi đón khách Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả các hoạt động của một cá nhân đi đến là lưu trú tại những điểm ngoài nơi ở thường xuyên của họ trong thời gian không dài hơn một năm với muc đích nghỉ ngơi, công vụ và mục đích khác” Ở Việt Nam, khái niệm du lịch được nêu trong Pháp lệnh du lịch như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyêncủa mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Từ các định nghĩa trên cho ta thấy du lịch là một hoạt động liên quan đến một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ bằng các cuộc hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi khác với mục đích chủ yếu không phải là kiếm lời. Quá trình đi du lịch của họ được gắn với các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ, hiện tượng ở nơi họ đến. 1.1.2 Nhu cầu du lịch 1.1.2.1 Khái niệm nhu cầu du lịch: Người ta đi du lịch với mục đích “sử dụng” tài nguyên du lịch mà nơi ở thường xuyên của mình không có. Muốn “sử dụng” tài nguyên du lịch ở nơi nào đó người ta pahỉ mua sắm và tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ khác phục vụ cho chuyến hành trình của mình. Trong sự phát triển không ngừng của nền sản xuất xã hội du lịch đã trở thành một đòi hỏi tất yếu của con người. Du lịch đã trở thành nhu cầu của con người khi trình độ kinh tế, xã hội và dân trí đã phát triển . Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  7. Chuyên đề tốt nghiệp Vậy thế nào là nhu cầu du lịch? Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người, nhu cầu này được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu sinh lý (sự đi lại) và các nhu cầu tinh thần (nhu cầu nghỉ ngơi, tự khẳng định, nhận thức, giao tiếp). Nhu cầu du lịch phát sinh là kết quả tác động của lực lượng sản xuất trong xã hội và trìng độ sản xuất xã hội. Trình độ sản xuất xã hội càng cao, các mối quan hệ xã hội càng hoàn thiện thì nhu cầu du lịch của con người càng trở nên gay gắt. “Du lịch là một hoạt động cốt yếu của con người cà của xã hội hiện đại. Bởi một lẽ du lịch đã trở thành một hình thức quan trọng trong việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của con người đồng thời là phương tiện giao lưu trong mối quan hệ giữa con người với con người” (Tuyên bố La Hay về du lịch). Ngành du lịch ngày nay phát triển là vì nhu cầu du lịch của con người ngày càng phát triển. Sự phát triển đó của nhu cầu du lịch là do các nguyên nhân sau: + Đi du lịch đã trở thành phổ biến với mọi người. + Xu hướng dân số theo kế hoạch hóa gia đình do vậy tạo điều kiện đi du lịch dễ dàng hơn. + Cơ cấu về độ tuổi. + Khả năng thanh toán cao. + Phí tổn du lịch giảm. + Mức độ giáo dục cao hơn. + Cơ cấu nghề nghiệp đa dạng. + Đô thị hóa. + Các chương trình bảo hiểm, phúc lợi lao động do chính phủ tài trợ, du lịch trả góp. + Thời gian nhàn rỗi nhiều. + Du lịch vì mục đích kinh doanh. Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  8. Chuyên đề tốt nghiệp + Phụ nữ có điều kiện đi du lịch. + Du lịch là tiêu chuẩn của cuộc sống. + Mối quan hệ thân thiện – hòa bình giữa các quốc gia. 1.1.2.2 Phân loại nhu cầu du lịch: Tổng quát lại từ việc nghiên cứu những nhu cầu nói chung và những mục đích, động cơ đi du lịch nói riêng của con người các chuyên gia về lĩnh ực du lịch đã phân chia nhu cầu du lịch thành 3 nhóm cơ bản sau: - Nhu cầu cơ bản (thiết yếu) gồm: Đi lại, lưu trú, ăn uống. - Nhu cầu đặc trưng: Nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, tìm hiểu, thưởng thức cái đẹp, tự khẳng định, giao tiếp… - Nhu cầu bổ sung: Thẩm mỹ, làm đẹp, thông tin, giặt là… Trên thực tế khó có thể xếp hạng phân thứ bậc các loại nhu cầu của khách du lịch. Các nhu cầu đi lại, lưu trú, ăn uống là các nhu cầu thiết yếu và quan trọng không thể thiếu được để con người cũng như khách du lịch tồn tại và phát triển. Tuy nhiên nếu đi du lịch mà không có cái gì để gây ấn tượng, giải trí tiêu khiển, không có dịch vụ để thỏa mãn các nhu cầu thì không thể gọi là đang đi du lịch được. Trong cùng một chuyến đi ta thường kết hợp để đạt được nhiều mục đích khác nhau, do vậy các nhu cầu cần được thỏa mãn đồng thời. Thỏa mãn nhu cầu thiết yếu để con người tồn tại và phát triển để tiếp tục thỏa mãn các nhu cầu tiếp theo. Nhu cầu đặc trưng là nguyên nhân quan trọng nhất có tính chất quyết định thúc đẩy con người đi du lịch. Nếu nhu cầu này được thỏa mãn thì coi như đã đạt được mục đích chuyến đi. Và việc thỏa mãn nhu cầu bổ sung là làm dễ dàng và thuận tiện hơn trong hành trình đi du lịch của khách. Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  9. Chuyên đề tốt nghiệp 1.1.3. Khách du lịch, phân loại và các yếu tố ảnh hưởng đến khách du lịch 1.1.3.1 Khái niệm khách du lịch: Ngành du lịch muốn hoạt động và phát triển thì đối tượng “khách du lịch” là nhân tố quyết định. Nếu khong có “khách du lịch” thì các nhà kinh doanh du lịch không thể kinh doanh được, không có “khách du lịch” thì hoạt động của các nhà kinh doanh du lịch trở nên vô nghĩa. Nếu xét trên góc độ thị trường thì “khách du lịch” chính là “cầu thị trường”, còn các nhà kinh doanh du lịch là “cung thị trường”. Vậy “khách du lịch” là gì ? Để nghiên cứu một cách đầy đủ và có cơ sở tin cậy cần tìm hiểu và phân tích một số định nghĩa về “khách du lịch” được đưa ra từ các Hội nghị quốc tế về du lịch hay của các tổ chức quốc tế có quan tâm đến các vấn đề về du lịch. Sau đây là một số định nghĩa về khách du lịch: Định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia (League of Nations) về khách du lịch nước ngoài: “Bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24h”. Định nghĩa của Liên hiệp Quốc tế của các Tổ chức Chính thức về Du lịch (IUOTO): Năm 1950 IUOTO đưa ra định nghĩa về khách du lịch quốc tế có 2 điểm khác với định nghĩa trên là: “Sinh viên và những người đến học ở các trường cũng được coi là khách du lịch” và “Những người quá cảnh không được coi là khách du lịch trong 2 trường hợp, hoặc là họ hành trình qua một nước không dừng lại trong thời gian vượt quá 24h, hoặc là họ hành trình trong khoảng thời gian dưới 24h và có dừng lại nhưng không với mục đích du lịch”. Định nghĩa về khách du lịch có tính chất quốc tế đã hình thành tại Hội nghị Roma do Liên hợp quốc tổ chức vào năm 1963: “Khách du lịch quốc tế Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  10. Chuyên đề tốt nghiệp là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24h hay hơn” Định nghĩa của hội nghị quốc tế về Du lịch tại Hà Lan năm 1989: “Khách du lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác, với mục đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian nhỏ hơn 3 tháng, những người khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình”. Định nghĩa về khách du lịch của Việt Nam: Trong Pháp lệnh du lịch của Việt Nam ban hành năm 1999 có nói: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. 1.1.3.2 Phân loại khách du lịch Sau khi đã nhận thức về định nghĩa khách du lịch thì việc phân loại khách du lịch có ý nghĩa rất quan trọng. Đó là điều kiện cho viẹc nghiên cứu, thống kê các chỉ tiêu về du lịch. Ngày 4 - 3 – 1993 theo đề nghị của Tổ chức du lịch thế giới (WTO), Hội đồng thống kê Liên hợp quốc (United Nations Statistical Commission) đã công nhận những thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo thống kê du lịch: Khách du lịch quốc tế (International Tourist) bao gồm: Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  11. Chuyên đề tốt nghiệp Khách du lịch quốc tế đến (Inbound Tourist): gồm những người từ nước ngoài đến du lịch một quốc gia. Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound Tourist): gồm những gười đang sống trong một quốc gia đi du lịch ra nước ngoài. Khách du lịch trong nước (Internal Tourist): gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi du lịch trong nước. Khách du lịch nội địa (Domestic Tourist): gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến. Khách du lịch quốc gia (National Tourist): gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài. Theo Pháp lệnh du lịch của Việt Nam ban hành năm 1999: Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch. Ngoài ra còn có các cách phân loại khác: + Phân loại khách du lịch theo nguồn gốc dân tộc: Qua việc phân loại này các nhà kinh doanh du lịch nắm được nguồn gốc khách, hiểu được mình đang phục vụ ai?, khách thuộc dân tộc nào? nhận biết được văn hóa của khách để phục vụ khách tốt hơn. + Phân loại theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp: Các nhà kinh doanh sẽ nắm bắt được cơ cấu khách, các yêu cầu cơ bản và đặc trưng tâm lý về khách du lịch. Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  12. Chuyên đề tốt nghiệp + Phân loại khách theo khả năng thanh toán: Việc xác đinh khả năng thah toán của khách du lịch sẽ là điều kiện để các nhà kinh doanh cung cấp các dịch vụ một cách tương ứng thích hợp khả năng chi trả của từng đối tượng khách. Trên đây chỉ là một số tiêu thức phân loại khách du lịch thường dùng. Mỗi tiêu thức đều có ưu nhược điểm riêng vì vậy khi nghiên cứu khách du lịch cần kết hợp nhiều cách phân loại. Việc phân loại khách du lịch một cách đầy đủ, chính xác sẽ tạo tiền đề cho việc hoạch định các chiến lược, chính sách kinh doanh từ đó việc kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hơn. 1.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khách du lịch: Trong sự phát triển không ngừng của nền sản xuất xã hội thì du lịch là một đòi hỏi tất yếu của con người. Du lịch trở thành nh cầu của con người khi trình độ kinh tế xã hội và dân trí ngày càng phát triển. Con người luôn muốn tìm hiểu thế giới bên ngoài, muốn nâng cao tầm hiểu biết, muốn được chiêm ngưỡng những cảnh đẹp, hoặc muốn được vui chơi giải trí… Từ đó dẫn tới việc con người – khách du lịch đi du lịch với nhiều động cơ, mục đích khác nhau. + Đi du lịch với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, phục hồi tâm sinh lý, tiếp cận gần gũi với thiên nhiên thay đổi môi trường sống. + Đi du lịch với mục đích thể thao. + Đi du lịch với mục đích văn hóa giáo dục. + Đi du lịch với mục đích kinh doanh kết hợp với giải trí. + Đi du lịch với mục đích thăm viếng, ngoại giao. + Đi du lịch với mục đích công tác. + Đi du lịch với mục đích nghỉ tuần trăng mật và điều dưỡng, chữa bệnh. + Đi du lịch để “khám phá”, tìm hiểu. Quá cảnh. + Đi du lịch do bắt chước, coi du lịch là “mốt”. Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  13. Chuyên đề tốt nghiệp + Đi du lịch là do sự “chơi trội” để tập trung sự chú ý của những người xung quanh. Khách du lịch có thể đi du lịch với những mục đích khác nhau, tuy nhiên hoạt động đi du lịch của khách du lịch lại chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau: + Thời gian rỗi của nhân dân: Muốn thực hiện một cuộc hành trình du lịch đòi hỏi con người phải có thời gian. Thời gian rỗi của nhân dân là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để con người tham gia vào hoạt động du lịch. Do vậy du lịch muốn phát triển tốt phải nghiên cứu đầy đủ cơ cấu của thời gian làm việc, cơ cấu của thời gian rỗi, phải xác lập được ảnh hưởng của các thành phần thời gian khác lên thời gian rỗi. Việc áp dụng phương pháp hệ thống tìm ra phương hướng phát triển và phục vụ thích hợp cho hoạt động du lịch. + Mức sống về vật chất và trình độ văn hóa chung của người dân: Thu nhập của nhân dân: Đây là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia đi du lịch. Con người khi muốn đi du lịch không chỉ cần có thời gian mà còn phải có đủ tiền để thực hiện mong muốn đó, vì khi đi du lịch họ phải trả ngoài các khoản tiền cho các nhu cầu giống như nhu cầu thường ngày, còn phải trả thêm cho các khoản khác như tiền tàu xe, tiền thuê nhà ở, tiền tham quan, tiền tiêu dùng các dịch vụ hàng hóa…Những nước có nền kinh tế phát triển, đảm bảo cho dân có mức sống cao thì những nơi đó có nhiều người dân đi du lịch. Do vậy phúc lợi vật chất của nhân dân là điều kiện có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển của du lịch. Trình độ văn hóa chung của nhân dân: Trình độ văn hóa của một dân tộc được đánh giá chính theo các điểm: Hệ thống và chất lượng của giáo dục đào tạo; Xuất bản nhiều sách, báo đạt trình độ văn hóa, chính trị, khoa học, nghệ thuật; các phương tiện thông tin đại chúng phát triển; Các hoạt động phim ảnh, ca hát, nhạc, kịch phong phú. Nếu trình độ văn hóa chung của một dân tộc được nâng cao thì động cơ đi du lịch của nhân dân ở đó tăng rõ rệt. Số người đi du lịch tăng, lòng ham hiểu biết và mong muốn làm quen với các Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  14. Chuyên đề tốt nghiệp nước xa gần cũng tăng và trong nhân dân thói quen đi du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ rệt. + Điều kiện giao thông vận tải: Từ xưa giao thông vận tải là tiền đề cho sự phát triển du lịch. Ngày nay giao thông vận tải đã trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch. Việc phát triển cả về số lượng và chất lượng của giao thông vận tải giúp cho tăng tốc độ vận chuyển tiết kiệm thời gian đi lại và cho phép kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch, cho phép khách du lịch đến những nơi xa xôi; đảm bảo an toàn, tiện lợi trong vận chuyển… Có thể nói giao thông vận tải tốt se làm hài lòng được khách du lịch, thúc đẩy nhiều hơn hoạt động du lịch của khách. + Không khí chính trị hòa bình, ổn định trên thế giới: Đây là điều kiện đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế - chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa các quốc gia trên thế giới. Nếu không khí chính trị là căng thẳng thì hoạt động đi du lịch cũng không có điều kiện phát triển. Ngược lại nếu tình hình chính trị là hòa bình ổn định thì khách du lịch sẽ đi du lịch nhiều hơn, họ cảm thấy an toàn hơn trong khi du lịch. 1.1.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu nguồn khách: Đối với bất cứ một ngành sản xuất hàng hóa nào thì việc sản xuất ra hàng hóa là để bán cho người tiêu dùng. Trong ngành du lịch cũng vậy việc bán được nhiều sản phẩm, dịch vụ cho khách du lịch làm cho các doanh nghiệp du lịch ngày càng phát triển, còn nếu ít khách hoặc không có khách thì hoạt động của doanh nghiệp bị đình trệ thất thu. Vì vậy chứng tỏ khách du lịch là nhân tố quyết định trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch. Muốn kinh doanh có hiệu quả các nhà kinh doanh phải chú trọng hơn nữa đến khách du lịch, phải nghiên cứu một cách đầy đủ chính xác về các đặc điểm của khách, thông tin về nguồn khách mà mình hướng tới, xác định được vị trí của khách trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  15. Chuyên đề tốt nghiệp Ngày nay trong sự cạnh tranh gay gắt của thị trường để bán được nhiều sản phẩm, dịch vụ các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu tìm hiểu rõ nguồn khách, nắm bắt được nhu cầu, sở thích của khách du lịch, các đặc điểm về giới tinh, độ tuổi, văn hóa, đực điểm tâm lý của khách… Qua đó doanh nghiệp đề ra các chiến lược, chính sách cho phù hợp, đưa ra các sản phẩm dịch vụ thỏa mãn được nhu cầu của khách du lịch. Vì vậy nghiên cứu nguồn khách luôn là một hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng đối với các doanh nghiệp du lịch, là yếu tố dẫn đến sự thành công trong kinh doanh 1.2 Kinh doanh lữ hành, công ty lữ hành: 1.2.1 Khái niệm: Khái niệm kinh doanh lữ hành: Theo nghĩa rộng: “Kinh doanh lữ hành là việc đầu tư để thực hiện một, một số hoặc tất cả các công việc trong quá trình chuyển giao sản phẩm thực hiện giá trị sử dụng hoặc làm gia tăng giá trị của nó để chuyển giao sang lĩnh vực tiêu dùng du lịch với mục đích lợi nhuận”. Kinh doanh lữ hành được thực hiện bởi các doanh nghiệp. Theo nghĩa hẹp: Luật du lịch Việt Nam định nghĩa: “Lữ hành là việc xây dựng, bán, tổ chức thực hiện các chương trình du lịch nhằm mục đích sinh lợi”, đồng thời quy định rõ kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành quốc tế. Như vậy theo khái niệm này kinh doanh lữ hành ở Việt Nam được hiểu theo nghĩa hẹp và được xác định một cách rõ ràng về sản phẩm là các chương trình du lịch trọn gói. Khái niệm về công ty lữ hành. Nói về khái niệm công ty lữ hành thì đã có khá nhiều khái niệm khác nhau. Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau trong việc nghiên cứu về công ty lữ hành. Mặt khác, nếu xét về thời gian và đặc thù của từng giai đoạn thì lại có những quan điểm khác nhau. Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  16. Chuyên đề tốt nghiệp Một cách định nghĩa phổ biến hơn là căn cứ vào hoạt động tổ chức các chương trình du lịch trọn gói của công ty lữ hành. Trong cuốn từ điển quản ly du lịch, khách sạn và nhà hàng: công ty lữ hành được định nghĩa rất đơn giản là các tác nhân, tổ chức và bán các chương trình du lịch. Còn như ở Việt Nam có quy định: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Bất cứ doanh nghiệp nào được pháp luật cho phép và có thực hiện kinh doanh lữ hành đều được gọi là doanh nghiệp kinh doanh lữ hành. Theo cách phân loại của tổng cục du lịch Việt Nam thì các công ty lữ hành được phân thành hai loại, công ty lữ hành quốc tế và Công ty lữ hành nội địa, được quy định như sau: theo quy chế quản lý lữ hành - TCDL 29/04/1995. Công ty lữ hành quốc tế: có trách nhiệm xây dựng bán các chương trình du lịch trọn gói hoặc từng phần theo yêu cầu của khách đề trực tiếp thu hút khách đến Việt Nam và đưa công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài, thực hiện các chương trình du lịch đã bán hoặc ký hợp đồng uỷ thác từng phần, trọn gói cho lữ hành nội địa. Công ty lữ hành nội địa: có trách nhiệm xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch nội địa, nhận uỷ thác để thực hiện dịch vụ chương trình cho khách nước ngoài đã được các Công ty lữ hành quốc tế đưa vào Việt Nam. Do yếu tố đặc thù và phát triển theo thời gian, ban đầu các công ty lữ hành chỉ tập trung vào hoạt động trung gian, làm đại lý bán sản phẩm của các nhà cung cấp. Sau đó các công ty lữ hành đã tự tạo ra các sản phẩm của mình bằng cách tập hợp các sản phẩm riêng lẻ lại để trở thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán cho khách với mức giá gộp. Ngày nay, các công ty lữ hành không chỉ là người bán, người mua sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch mà trở thành người sản xuất trực tiếp ra các sản phẩm du lịch. Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  17. Chuyên đề tốt nghiệp Tóm lại ta có thể định nghĩa về công ty lữ hành như sau: Công ty lữ hành là một loại hình doanh nghiệp du lịch đặc biệt kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch trọn gói cho các khách du lịch. Ngoài ra Công ty lữ hành còn có thể tiến hành các hoạt động trung gian bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khách đảm bảo phục vụ các nhu cầu của khách từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng. 1.2.2. Các hoạt động nhằm khai thác khách du lịch của công ty lữ hành: Sơ đồ quy trình hoạt động khai thác khách du lịch của công ty lữ hành: Các tổ chức hỗ trợ khác Thiết Thực hiện Tổ chức Nghiên cứu lập mối Marketing thực thị trường quan hệ và bán sản hiện với thị phẩm chương trường trình khách Các công ty,đại lý lữ hành gửi khách Các hoạt động hậu bán hàng Khách du lịch 1.2.2.1 Hoạt động nghiên cứu thị trường: Đứng trên giác độ kinh doanh du lịch thì thị trường du lịch được hiểu là một nhóm khách hàng hay một tập hợp khách hàng đang tiêu dùng hay đang có nhu cầu, có sức mua sản phẩm nhưng chưa được đáp ứng. Các doanh nghiêph kinh doanh lữ hành cần luôn phải quan tâm đến hoạt động nghiên cứu thị trường từ đó đề ra những chính sách cho phù hợp với thị trường. Để làm được điều đó doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường ở cả hai mặt: cung du lịch và cầu du lịch. Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  18. Chuyên đề tốt nghiệp Nghiên cứu cầu trong du lịch tức là nghiên cứu các mặt: thói quen tiêu dùng, đặc điểm tâm lý, tính cách sở thích, văn hóa, khẩu vị ăn uống… của các đối tượng khách khác nhau. Vì đây là những nhân tố có tác động đến nhu cầu đi du lịch của khách du lịch, từ đó là cơ sở để hình thành các chương trình du lịch thu hút được nhiều khách. Khi nghiên cứu thị trường các công ty lữ hành cần phải phân chia thị trường thành các phân đoạn thị trường khác nhau. Công ty phải nghiên cứu kỹ nhu cầu riêng của từng phân đoạn thị trường: mục đích đi du lịch của khách, thời gian rỗi, khả năng thanh toán của khách để xác định rõ độ dài và các dịch vụ của chương trình… Bên cạnh đó công ty lữ hành phải luôn tìm hiểu, chú ý đền sự thay đổi của “mốt du lịch qua từng thời kỳ, để có thể tạo ra các sản phẩm dịch vụ phù hợp trong từng giai đoạn. Nghiên cứu cung trong du lịch cũng có tầm quan trọng đáng kể. Cung du lịch được hình thành dựa trên các yếu tố: tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật, những dịch vụ hàng hóa phục vụ khách du lịch. Tất cả các yếu tố này lại là cơ sở cho việc xây dựng các chương trình du lịch – sản phẩm chính của các công ty lữ hành. Việc nghiên cứu kỹ các yếu tố tạo nên cung du lịch sẽ giúp ích cho doanh nghiệp trong việc tạo ra một chương trình du lịch tốt nhất đáp ứng nhu cầu của khách. Ngoài ra các công ty lữ hành còn phải đánh giá về vị trí, điều kiện, khả năng của chính công ty mình xem có thể đáp ứng được những phân đoạn thị trường nào? Từ đó lựa chọn ra đoạn thị trường mà công ty hướng tới – thị trường mục tiêu của công ty. Công tác nghiên cứu thị trường của các công ty lữ hành được thực hiện tốt sẽ là tiền đề cho các hoạt động tiếp theo của công ty. Các công ty lữ hành có hoạt động mạnh thường có quan hệ với nhiều hãng lữ hành gửi khách và nhận khách quốc tế vì đây là đối tượng cung cấp khách du lịch tương đối ổn định của công ty. Bộ phận nghiên cứu thị trường của các công ty này rất được quan tâm đầu tư, điều đó tạo nên sự thành công của công ty. Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  19. Chuyên đề tốt nghiệp 1.2.2.2 Hoạt động thiết lập mối quan hệ với thị trường: Trong nền kinh tế cạnh tranh gay gắt như hiện nay, một doanh nghiệp đơn lẻ khó có thể đứng vững trên thương trường nếu như không thiết lập được cho mình các mối quan hệ. Hoạt động này có thể chia ra làm 2 phần: Thiết lập mối quan hệ với các công ty lữ hành khác và thiết lập mối quan hệ với các cơ quan tổ chức có ảnh hưởng đến hoạt động khai thác khách của công ty. Thiết lập mối quan hệ với các công ty lữ hành khác Việc thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các công ty, đại lý lữ hành khác, công ty sẽ có nhiều nguồn khách hơn. Hoạt động này có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức: tham gia các hội chợ, hội nghị du lịch mà công ty có thể tìm hiểu, đàm phán, ký kết các hợp đồng hợp tác; thông qua trang Web, mail, fax công ty chào bán sản phẩm của công ty với các đối tác, khi có tín hiệu phản hồi thì tiến hành đàm phán; ngoài ra còn thiết lập quan hệ thông qua các quan hệ của ban lãnh đạo công ty, các phòng trong công ty, các tour leader… Thiết lập mối quan hệ với các cơ quan tổ chức có ảnh hưởng đến hoạt động khai thác khách của công ty Để sản phẩm có thể dễ dàng được thực hiện thì vai trò của các tổ chức công như : đại sứ quán, hãng hàng không, hội hữu nghị,…là rất quan trọng. Với công ty lữ hành, việc thiết lập quan hệ với các tổ chức khác như : đại sứ quán các nước tại Việt Nam, đại sứ quán Việt Nam tại các nước, hãng hàng không (Vietnam Airline, và các hãng hàng không các nước), hội hữu nghị giữa Việt Nam và các nước… đây là các cơ quan trợ giúp cho công ty trong các vấn đề như thủ tục hải quan, các vấn đề về vận chuyển (vé máy bay), các thông tin liên quan đến an toàn, dịch bệnh, hiểm hoạ, cũng như có được sự hỗ trợ trong các hoạt động tham gia các hội chợ du lịch, Festival, các hội thảo du lịch tầm quốc gia và quốc tế, từ đó tạo thuận lợi cho công ty đẩy mạnh khai thác thị trường khách du lịch. Tóm lại việc tạo lập được một mối quan hệ tốt với các đối tác để từ đó xây dựng một ê-kíp hoạt động đồng bộ, hỗ trợ lẫn nhau thì hoạt động khai thác Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân
  20. Chuyên đề tốt nghiệp khách của công ty sẽ ngày càng phát triển. Tuy nhiên việc tạo lập và xây dựng các mối quan hệ đó đều phải dựa trên quan hệ bình đẳng đôi bên cùng có lợi có như vậy mối quan hệ mới bền vững lâu dài. 1.2.2.3 Các hoạt động Marketing hỗn hợp: Chính sách sản phẩm: Đối với hoạt động kinh doanh lữ hành thì sản phẩm chủ yếu được tạo ra đó chính là các chương trình du lịch. Các chương trình du lịch có nội dung độc đáo, hấp dẫn, có mức giá hợp lý và tính khả thi cao đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp lữ hành. Chính vì lẽ đó thị trường kinh doanh du lịch trọn gói bao giờ cũng sôi động và khốc liệt. Chương trình du lịch phải đảm bảo những yêu cầu chủ yếu như tính khả thi, phù hợp với nhu cầu của thị trường, đáp ứng những mục tiêu của công ty lữ hành có sức lôi cuốn khách du lịch quyết định mua chương trình Chính sách sản phẩm là phương thức kinh doanh có hiệu quả trên cơ sở thoả mãn nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách hàng trong từng thời kỳ kinh doanh. Trong chính sách sản phẩm thì chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của khách. Chính sách sản phẩm là làm cho sản phẩm của doanh nghiệp luôn có sức sống trên thị trường, hấp dẫn được thị trường. Chính sách sản phẩm của công ty thường bao gồm ba chính sách: chính sách chủng loại, chính sách hoàn thiện và đổi mới sản phẩm, chính sách đổi mới chủng loại. - Chính sách chủng loại sản phẩm: trong kinh doanh các doanh nghiệp thường không kinh doanh một loại sản phẩm mà kinh doanh hỗn hợp nhiều loại sản phẩm khác nhau, lựa chọn chủng loại sản phẩm thích hợp với thị trường, đáp ứng được nhu cầu nhiều đối tượng khách hàng. - Chính sách hoàn thiện và đổi mới sản phẩm: mỗi một chủng loại sản phẩm đều có một chu kỳ sống riêng. Một sản phẩm khi đã vượt qua đỉnh cao của chu Lê Huy – lớp du lịch 45B – trường đại học Kinh tế quốc dân

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản