Cisco Network part 74

Chia sẻ: Adasdsaeqd Asdasdasdaseq | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
28
lượt xem
3
download

Cisco Network part 74

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo tài liệu 'cisco network part 74', công nghệ thông tin, quản trị mạng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cisco Network part 74

  1. R4#show ip route Gateway of last resort is not set 172.16.0.0/16 is variably subnetted, 2 subnets, 2 masks i L1 172.16.1.0/24 [115/20] via 192.168.2.2, Serial0/0 O 172.16.2.0/30 [110/138] via 192.168.1.1, 00:23:26, Serial0/1 O 192.168.4.0/24 [110/74] via 192.168.1.1, 00:23:26, Serial0/1 10.0.0.0/24 is subnetted, 1 subnets i L1 10.1.1.0 [115/20] via 192.168.2.2, Serial0/0 C 192.168.1.0/24 is directly connected, Serial0/1 192.168.2.0/30 is subnetted, 1 subnets C 192.168.2.0 is directly connected, Serial0/0 à bảng định tuyến của R4 không có gì thay đổi . R1#sh ip route Gateway of last resort is not set 172.16.0.0/16 is variably subnetted, 2 subnets, 2 masks C 172.16.1.0/24 is directly connected, Ethernet0/0 C 172.16.2.0/30 is directly connected, Serial0/0 O 192.168.4.0/24 [110/74] via 172.16.2.1, 00:23:14, Serial0/0 10.0.0.0/24 is subnetted, 1 subnets O E2 10.1.1.0 [110/20] via 172.16.2.1, 00:10:32, Serial0/0 O 192.168.1.0/24 [110/138] via 172.16.2.1, 00:23:14, Serial0/0 192.168.2.0/30 is subnetted, 1 subnets i L1 192.168.2.0 [115/20] via 172.16.1.2, Ethernet0/0 à bảng định tuyến đã khác trước ,có sự xuất hiện một external route .Đó là route 10.1.1.0 được học thông qua OSPF qua interface 172.16.2.1 thay vì học trực tiếp từ router R5 .Ở đây ta gặp phải một vấn đề ,cả R1 và R4 đều đang redistribute các route được học bởi ISIS vào OSPF.R4 học mạng 10.1.1.0 thông qua ISIS và quảng bá vào OSPF domain .Kết quả là R1 học mạng 10.1.1.0 không phải từ R5 mà từ R2 thông qua OSPF . R1#traceroute 10.1.1.1 Type escape sequence to abort. Tracing the route to 10.1.1.1 1 172.16.2.1 16 msec 16 msec 12 msec 2 192.168.4.1 16 msec 16 msec 16 msec 3 192.168.1.2 28 msec 28 msec 28 msec 4 192.168.2.2 44 msec 16 msec * R4#traceroute 10.1.1.1 Type escape sequence to abort. Tracing the route to 10.1.1.1 1 192.168.2.2 20 msec 24 msec *
  2. Ta reload lại router R4 ,quan sát bảng định tuyến của cả 2 router R1 và R4 : R1#sh ip route Gateway of last resort is not set 172.16.0.0/16 is variably subnetted, 2 subnets, 2 masks C 172.16.1.0/24 is directly connected, Ethernet0/0 C 172.16.2.0/30 is directly connected, Serial0/0 i L2 192.168.4.0/24 [115/94] via 172.16.1.2, Ethernet0/0 10.0.0.0/24 is subnetted, 1 subnets i L1 10.1.1.0 [115/20] via 172.16.1.2, Ethernet0/0 i L2 192.168.1.0/24 [115/94] via 172.16.1.2, Ethernet0/0 192.168.2.0/30 is subnetted, 1 subnets i L1 192.168.2.0 [115/20] via 172.16.1.2, Ethernet0/0 à R1 xem R5 như là next hop để đi đến route 10.1.1.0 ,do đó có kí hiệu L1 .Bảng định tuyến cũng cho thấy R1 xem route 192.168.1.0 là level-2 , metric 94 cho thấy đây là external route. Trong khi đó thì R4 lại xem 10.1.1.0 như là một route bên ngoài mà nó học được thông qua R3. R4#show ip route Gateway of last resort is not set 172.16.0.0/16 is variably subnetted, 2 subnets, 2 masks i L1 172.16.1.0/24 [115/20] via 192.168.2.2, Serial0/0 O 172.16.2.0/30 [110/138] via 192.168.1.1, 00:00:18, Serial0/1 O 192.168.4.0/24 [110/74] via 192.168.1.1, 00:00:18, Serial0/1 10.0.0.0/24 is subnetted, 1 subnets O E2 10.1.1.0 [110/20] via 192.168.1.1, 00:00:00, Serial0/1 C 192.168.1.0/24 is directly connected, Serial0/1 192.168.2.0/30 is subnetted, 1 subnets C 192.168.2.0 is directly connected, Serial0/0 Sự hội tụ trong một mạng : các router chia sẽ thông tin định tuyến với nhau , nhưng mỗi cá nhân router phải tự tính toán bảng định tuyến của chúng .Đối với mỗi bảng định tuyến cá nhân đó được chính xác , các router đã có một cái nhìn chung về topology mạng .Lúc này mạng được xem là hội tụ .Nếu mạng đang trong quá trình hội tụ ,sẽ dễ dàng xảy ra nhiều vấn đề định tuyến như router nghĩ rằng một link đang up trong khi thật sự là nó đang bị down dẫn đến bảng định tuyến sai và loop dễ dàng xảy ra .Mạng được xem là hội tụ nhanh khi khôi phục được sự cố (như lỗi liên kết hoặc sự thay đổi về mạng ) một cách nhanh chóng . Các giao thức link-state hội tụ mạng rất nhanh vì khi có sự thay đổi xảy ra trong mạng ,sự thay đổi này ngay lập tức được gửi đi bằng multicast tới các neighbor trong partial update (tức là update chỉ gồm có sự thay đổi này ) điều này làm loop khó có thể xảy ra trong một mạng chạy toàn giao thức link- state .
  3. Trở lại với bài trên ,ta thấy loop đã không xảy ra nhưng trong cả hai trường hợp ,router R1 và R4 đều chọn con đường đi không tối ưu đến mạng 10.1.1.0 .R1 thay vì xem R5 như là next hop để đến đích thì nó lại xem R2 như là next hop .R4 cũng tương tự .Ta có thể giải thích điều này như sau : (xem bảng định tuyến trước khi R4 được reload ) giả sử cả hai router R1 và R4 thực hiện redistribute cùng một thời điểm .Cả hai router đều gửi OSPF update trong đó có mạng 10.1.1.0 ,R4 may mắn hơn ,nó gửi update nhanh hơn R1. R4 chỉ gửi những route mà nó học từ ISIS vào OSPF , đó là những route 172.16.1.0 và 10.1.1.0 , nó không gửi những route kết nối trực tiếp hoặc là những route nó đã được học thông qua OSPF. R3 nhận update từ R4 , xem R4 như là next –hop router (quan sát bảng định tuyến của R3 ,những route học từ R4 được tô đậm ) và gửi update đến R2 . R3#show ip route Gateway of last resort is not set 172.16.0.0/16 is variably subnetted, 2 subnets, 2 masks O E2 172.16.1.0/24 [110/20] via 192.168.1.2, 00:28:39, Serial0/0 O 172.16.2.0/30 [110/74] via 192.168.4.2, 00:41:20, Ethernet0/0 C 192.168.4.0/24 is directly connected, Ethernet0/0 10.0.0.0/24 is subnetted, 1 subnets O E2 10.1.1.0 [110/20] via 192.168.1.2, 00:28:39, Serial0/0 C 192.168.1.0/24 is directly connected, Serial0/0 192.168.2.0/30 is subnetted, 1 subnets O E2 192.168.2.0 [110/20] via 192.168.4.2, 00:14:14, Ethernet0/0 R2 , nhận update từ R3 ,xem R3 là next-hop router . R2#show ip route 172.16.0.0/16 is variably subnetted, 2 subnets, 2 masks O E2 172.16.1.0/24 [110/20] via 192.168.4.1, 00:00:40, Ethernet0/0 C 172.16.2.0/30 is directly connected, Serial0/0 C 192.168.4.0/24 is directly connected, Ethernet0/0 10.0.0.0/24 is subnetted, 1 subnets O E2 10.1.1.0 [110/20] via 192.168.4.1, 00:00:40, Ethernet0/0 O 192.168.1.0/24 [110/74] via 192.168.4.1, 00:00:40, Ethernet0/0 192.168.2.0/30 is subnetted, 1 subnets O E2 192.168.2.0 [110/20] via 172.16.2.2, 00:00:40, Serial0/0
  4. R1 và R2 gửi update cho nhau . Khi nhận được update của R2 về mạng 10.1.1.0 , router R1 nghĩ rằng đường đi đến mạng 10.1.1.0 qua R2 tốt hơn vì có AD nhỏ hơn , dẫn đến R1 cập nhập bảng định tuyến và xem R2 như là next-hop. R1 không cập nhập những route còn lại từ R2 vì bản thân trong bảng định tuyến của nó đã tồn tại những route đó với AD tốt hơn . Khi R2 nhận update từ R1 , nó chỉ cập nhập route 192.168.2.0 . Lúc này R2 xem R1 như là next-hop để đi đến mạng 192.168.2.0 , R2 lại gửi update về mạng 192.168.2.0 cho R3 ,R3 xem R2 là next –hop để đến mạng 192.168.2.0 (xem bảng định tuyến ). Bảng định tuyến của R5 ,R5 cân bằng tải giữa hai đường : R5#show ip route 172.16.0.0/16 is variably subnetted, 2 subnets, 2 masks C 172.16.1.0/24 is directly connected, Ethernet0/0 i L2 172.16.2.0/30 [115/84] via 192.168.2.1, Serial0/0 [115/84] via 172.16.1.1, Ethernet0/0 i L2 192.168.4.0/24 [115/84] via 192.168.2.1, Serial0/0 [115/84] via 172.16.1.1, Ethernet0/0 10.0.0.0/24 is subnetted, 1 subnets C 10.1.1.0 is directly connected, Loopback0 i L2 192.168.1.0/24 [115/84] via 192.168.2.1, Serial0/0 [115/84] via 172.16.1.1, Ethernet0/0 192.168.2.0/30 is subnetted, 1 subnets C 192.168.2.0 is directly connected, Serial0/0 Khi ra reload lai router R4 , quá trình học route của các router diễn ra như sau : R5 ,R3 nhận ra sự thay đổi trong mạng ,ngay lập tức chúng gửi update chỉ bao gồm thông tin về sự thay đổi đó cho các router chạy cùng giao thức với chúng ,trong trường hợp này R5 gửi update cho R1 , R3 gửi update cho R2 . R1 cũng có thể nhận update cho biết về sự thay đổi trong mạng từ R2 nhưng vì ISIS hội tụ nhanh hơn OSPF nên R1 sẽ update thông tin từ R5. R1 xem R5 là next-hop để đi đến các route còn lại trong mạng . R1#sh ip route Gateway of last resort is not set 172.16.0.0/16 is variably subnetted, 2 subnets, 2 masks C 172.16.1.0/24 is directly connected, Ethernet0/0 C 172.16.2.0/30 is directly connected, Serial0/0 i L2 192.168.4.0/24 [115/94] via 172.16.1.2, Ethernet0/0 10.0.0.0/24 is subnetted, 1 subnets i L1 10.1.1.0 [115/20] via 172.16.1.2, Ethernet0/0 i L2 192.168.1.0/24 [115/94] via 172.16.1.2, Ethernet0/0 192.168.2.0/30 is subnetted, 1 subnets i L1 192.168.2.0 [115/20] via 172.16.1.2, Ethernet0/0
  5. Khi R1 đã có đầy đủ thông tin về mạng của nó , là khi các mạng trong ISIS đã hội tụ xong , R1 liền gửi ngay update đến cho R2 ,trong update chỉ bao gồm những route bên trong nó học được từ ISIS (những route có kí tự L1 phía trước ), R2 cập nhập update và gửi cho R3 ,R3 lại gửi cho R4 .R4 xem R3 như là next-hop .Do đó khi R4 cập nhập update nó sẽ chọn đường đi đến mạng 10.1.1.0 qua R3 vì nó thấy đường đi qua R3 có AD nhỏ hơn . R4#show ip route Gateway of last resort is not set 172.16.0.0/16 is variably subnetted, 2 subnets, 2 masks i L1 172.16.1.0/24 [115/20] via 192.168.2.2, Serial0/0 O 172.16.2.0/30 [110/138] via 192.168.1.1, 00:00:18, Serial0/1 O 192.168.4.0/24 [110/74] via 192.168.1.1, 00:00:18, Serial0/1 10.0.0.0/24 is subnetted, 1 subnets O E2 10.1.1.0 [110/20] via 192.168.1.1, 00:00:00, Serial0/1 C 192.168.1.0/24 is directly connected, Serial0/1 192.168.2.0/30 is subnetted, 1 subnets C 192.168.2.0 is directly connected, Serial0/0 Qua phân tích trên ta thấy administrative distance có thể gây việc chọn đường đi không tối ưu mà trong một vài giao thức khác như RIP ,IGRP có thể gây loop , làm chậm lại quá trình hội tụ. có nhiều cách giải quyết vấn đề này như là sử dụng route filtering , thay đổi administrative distance bằng phương pháp thủ công , hay là sử dụng route map .Trong bài này ta sẽ thay đổi AD bằng cách dùng
Đồng bộ tài khoản