Cơ sở hóa học phân tích-Phân hủy và hòa tan mẫu Lâm Ngọc Thụ

Chia sẻ: Trần Bá Trung5 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:15

0
154
lượt xem
89
download

Cơ sở hóa học phân tích-Phân hủy và hòa tan mẫu Lâm Ngọc Thụ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

" Cơ sở hóa học phân tích-Phân hủy và hòa tan mẫu Lâm Ngọc Thụ " được biên soạn nhằm giúp ích cho các bạn tự học, ôn thi, với phương pháp trình bày hay, thú vị, rèn luyện kỹ năng giải đề, nâng cao vốn kiến thức cho các bạn trong các kỳ thi sắp tới, rất hay để các bạn đào sâu kiến thức hóa Tác giả hy vọng tài liệu này sẽ giúp ích cho các bạn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cơ sở hóa học phân tích-Phân hủy và hòa tan mẫu Lâm Ngọc Thụ

  1. 1 Chương 15. Phân hủy và hòa tan mẫu Lâm Ngọc Thụ Cơ sở hóa học phân tích. NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2005. Từ khoá: Hòa tan mẫu, Phân hủy mẫu, Axit clohiđric, Axit nitric, Phương pháp đốt cháy, Thiêu nhiệt. Tài liệu trong Thư viện điện tử ĐH Khoa học Tự nhiên có thể được sử dụng cho mục đích học tập và nghiên cứu cá nhân. Nghiêm cấm mọi hình thức sao chép, in ấn phục vụ các mục đích khác nếu không được sự chấp thuận của nhà xuất bản và tác giả. Mục lục Chương 15 Phân hủy và hòa tan mẫu....................................................................... 3 15.1 Nguồn sai số trong phân hủy và hòa tan mẫu ................................................ 3 15.1.1 Sự hòa tan không hoàn toàn các chất cần phân tích .................................... 4 15.1.2 Sự mất đi một phần chất cần phân tích do bay hơi...................................... 4 15.1.3 Đưa chất bẩn dung môi vào chất cần phân tích ........................................... 4 15.1.4 Đưa chất bẩn từ phản ứng của dung môi với thành bình vào mẫu .............. 4 15.2 Phân hủy mẫu bằng axit vô cơ trong bình mở................................................ 4 15.2.1 Axit clohiđric............................................................................................... 5 15.2.2 Axit nitric..................................................................................................... 5
  2. 2 15.2.3 Axit sunfuric ................................................................................................ 5 15.2.4 Axit pecloric ................................................................................................ 5 15.2.5 Các hỗn hợp oxi hóa .................................................................................... 6 15.2.6 Axit fluoric .................................................................................................. 6 15.3 Phân hủy bằng vi sóng ................................................................................... 6 15.4.3 Bình phân hủy mẫu có điều chỉnh áp suất ................................................... 8 15.4.3 Bình vi sóng áp suất cao .............................................................................. 8 15.4.3 Lò vi sóng .................................................................................................... 9 15.4.3 Lò thiêu vi sóng ........................................................................................... 9 15.4.3 Sử dụng phân hủy vi sóng trong bình đóng kín......................................... 10 15.4 Phương pháp đốt cháy để phân hủy các mẫu hữu cơ ................................... 10 15.4.1 Đốt cháy trên ngọn lửa mở (tro hóa khô) .................................................. 10 15.4.2 Phương pháp đốt trong ống ....................................................................... 10 15.4.3 Thiêu nhiệt với oxi trong bình chứa đóng kín ........................................... 11 15.5 Phân hủy các vật liệu vô cơ bằng chất nung chảy........................................ 12 15.5.1 Thực hành nung chảy ................................................................................ 13 15.5.2 Các loại chất nung chảy............................................................................. 13
  3. 3 Chương 15 Phân hủy và hòa tan mẫu Hầu hết các phép đo phân tích đều được thực hiện trong các dung dịch (thường là dung dịch nước) của chất cần phân tích. Trong khi một số mẫu có thể tan tốt trong nước hoặc trong các dung dịch nước của axit hoặc bazơ thông thường thì một số mẫu lại đòi hỏi các thuốc thử có tác dụng mạnh và cách xử lý chính xác, nghiêm ngặt. Ví dụ như, khi cần xác định lưu huỳnh hoặc halogen trong một hợp chất hữu cơ, cần phải xử lý mẫu ở nhiệt độ cao và bằng hóa chất có tác dụng mạnh để phá vỡ những liên kết bền vững giữa các nguyên tố này với cacbon. Một cách tương tự, những điều kiện đảm bảo có tác dụng mạnh, có hiệu quả cao cũng thường được sử dụng để phá vỡ cấu trúc silicat của các khoáng liệu silic để đưa các cation của mẫu về trạng thái tự do, tạo điều kiện thuận lợi cho phép phân tích. Sự lựa chọn thuốc thử và kỹ thuật thích hợp để phân hủy và hòa tan mẫu phân tích có ý nghĩa quyết định, đảm bảo thành công cho phép phân tích, đặc biệt là khi phải sử dụng vật liệu chịu nhiệt và chịu sự tấn công bằng các hoá chất có tác dụng mạnh hoặc khi chất cần phân tích tồn tại ở lượng vết. Trong chương này, đầu tiên, chúng ta bàn luận về các loại sai số xuất hiện trong quá trình phân hủy và hòa tan mẫu phân tích, sau đó sẽ trình bày 4 phương pháp phân hủy các mẫu rắn và lỏng để thu được các chất cần phân tích trong dung dịch nước. Các phương pháp đó khác nhau ở nhiệt độ phân hủy mẫu và cường độ của hóa chất được sử dụng. Chúng bao gồm: 1. Đun dung dịch các axit mạnh (hoặc đôi khi là các bazơ) trong cốc mở. 2. Đun bằng vi sóng dung dịch các axit trong bình nút kín. 3. Đốt cháy ở nhiệt độ cao trong không khí hoặc trong oxi. 4. Nung chảy trong môi trường muối nóng chảy. 15.1 Nguồn sai số trong phân hủy và hòa tan mẫu Một vài nguồn sai số thường gặp trong phân hủy mẫu. Nguồn sai số này làm giới hạn độ chính xác của phép phân tích được thực hiện. Những nguồn sai số như thế được dẫn ra dưới đây:
  4. 4 15.1.1 Sự hòa tan không hoàn toàn các chất cần phân tích Phép xử lý mẫu lý tưởng là phép xử lý hòa tan hoàn toàn mẫu, bởi vì mọi cố gắng để tách định lượng chất cần phân tích từ bã không tan thường không thành công, do một phần chất cần phân tích còn lại bên trong phần không tan của mẫu. 15.1.2 Sự mất đi một phần chất cần phân tích do bay hơi Một điều quan trọng cần chú ý khi hòa tan mẫu là một phần chất cần phân tích có khả năng bị bay hơi. Ví dụ như CO2, SO2, H2S, H2Se, H2Te thường bị bay hơi khi hòa tan mẫu trong axit mạnh, nhưng ngược lại amoniac lại thường mất khi sử dụng thuốc thử bazơ. Một cách tương tự, axit fluoric phản ứng với silicat và các hợp chất chứa bo tạo thành hợp chất bay hơi florua. Các dung môi oxi hóa thường gây ra sự bay hơi clo, brom, iot. Các dung môi khử có thể dẫn tới sự bay hơi các hợp chất như asin, photphin, stibin. Một số nguyên tố tạo thành các clorua bay hơi nên bị mất một phần hay hoàn toàn từ các dung dịch axit clohiđric nóng. Những hợp chất đó là: thiếc (IV), gecmani (IV), antimon (III), asen (III), thủy ngân (II) clorua. Những oxiclorua của selen và telua cũng bị bay hơi đến một mức độ nào đó từ dung dịch axit clohiđric nóng. Sự có mặt của ion clorua trong dung dịch axit sunfuric hoặc pecloric đậm đặc và nóng có thể làm mất do bay hơi bismut, mangan, tali, molypđen, vanađi và crom. Axit boric, axit nitric và các axit halogen đều bị mất từ các dung dịch nước đun sôi. Các oxit bay hơi như tetraoxit osmi, ruteni, heptaoxit ruteni cũng có thể bị mất từ các dung dịch axit nóng. 15.1.3 Đưa chất bẩn dung môi vào chất cần phân tích Thông thường khối lượng của dung môi cần thiết để hòa tan một mẫu phải dư hơn khối lượng mẫu hàng chục hoặc hàng trăm lần. Kết quả là, chất cần phân tích tồn tại trong dung môi ngay cả khi chỉ có nồng độ thấp cũng có thể gây sai số đáng kể, đặc biệt là khi chất cần phân tích chỉ có hàm lượng vết trong mẫu. 15.1.4 Đưa chất bẩn từ phản ứng của dung môi với thành bình vào mẫu Nguồn sai số đó thường gặp khi phân hủy mẫu, ví dụ như nung chảy ở nhiệt độ cao. Hơn nữa, nguồn sai số đó lại trở thành mối quan tâm đặc biệt trong phân tích lượng vết. 15.2 Phân hủy mẫu bằng axit vô cơ trong bình mở Hầu hết các thuốc thử dùng để phân hủy các mẫu phân tích vô cơ trong bình mở là các axit vô cơ (amoniac và các dung dịch nước của hiđroxit kim loại kiềm ít được sử dụng hơn). Thông thường, huyền phù của mẫu trong axit được đun nóng bằng ngọn lửa hoặc bằng một
  5. 5 bản kim loại nóng cho đến khi sự hoà tan mẫu được thực hiện hoàn toàn được biểu thị bằng sự biến mất của pha rắn. Nhiệt độ phân hủy là điểm sôi (hoặc phân hủy) của thuốc thử axit. 15.2.1 Axit clohiđric Axit clohiđric đậm đặc là một dung môi tốt nhất cho các mẫu vô cơ nhưng chỉ được ứng dụng hạn chế để phân hủy các vật liệu hữu cơ. Axit này được sử dụng rộng rãi để hòa tan nhiều oxit kim loại cũng như các kim loại dễ bị oxi hóa hơn hiđro và thường là dung môi cho các oxit tốt hơn các axit oxi hóa. Nồng độ của axit clohiđric đặc khoảng 12 M, nhưng khi bị đun nóng, hiđro clorua bị mất đi cho tới khi còn lại một dung dịch 6 M sôi hằng định (điểm sôi khoảng 110oC). 15.2.2 Axit nitric Axit nitric đặc và nóng là một chất oxi hóa mạnh, hòa tan tất cả các kim loại thông thường, trừ nhôm và crom trở thành thụ động với thuốc thử do sự tạo thành oxit trên bề mặt. Khi những hợp kim chứa thiếc wonfram hoặc antimon được xử lý bằng thuốc thử nóng, những oxit hiđrat hóa ít tan, ví dụ như SnO2.4H2O được tạo thành. Sau khi làm đông tụ, có thể tách các hợp chất keo này khỏi các hợp chất của các kim loại khác bằng cách lọc. Axit nitric nóng riêng một mình, hoặc với hỗn hợp các axit khác và các chất oxi hóa khác như hiđro peoxit và brom được sử dụng rộng rãi để phân hủy các mẫu hữu cơ trước khi xác định hàm lượng vết kim loại. Quá trình phân hủy đó được gọi là sự tro hóa ướt, làm biến đổi mẫu hữu cơ thành cacbon đioxit và nước. Nếu không thực hiện trong bình đóng kín, các nguyên tố phi kim như halogen, lưu huỳnh và nitơ sẽ bị mất đi hoàn toàn hay một phần do bay hơi. 15.2.3 Axit sunfuric Nhiều vật liệu bị phân hủy và hòa tan bằng axit sunfuric đặc nóng nhờ tính hiệu quả của nó như một dung môi ở điểm sôi cao (khoảng 340oC). Hầu hết các hợp chất hữu cơ bị đehiđrat hóa và oxi hóa ở nhiệt độ đó và sau đó lại bị loại trừ khỏi mẫu ở dạng cacbon đioxit và nước nhờ phép xử lý tro hóa ướt đó. Hầu hết các kim loại và nhiều hợp kim bị hòa tan bằng axit nóng này. 15.2.4 Axit pecloric Axit pecloric đặc nóng, một chất oxi hóa có hiệu quả mạnh, hòa tan được một số hợp kim sắt và thép không gỉ là những chất không hòa tan được trong những axit vô cơ khác. Cần đặc biệt chú ý khi sử dụng hóa chất này vì tính gây nổ tiềm tàng của nó. Axit đặc lạnh không gây nổ, axit loãng nóng cũng không gây nổ. Nổ mạnh xảy ra khi axit pecloric đặc nóng tiếp xúc với các vật liệu hữu cơ dễ bị oxi hóa. Vì tính chất đó nên axit pecloric chỉ được đun nóng trong những cái chụp đặc biệt.
  6. 6 Trên nhãn chai axit pecloric thường ghi hàm lượng từ 60% đến 72%. hỗn hợp sôi hằng định (72,4% HClO4) thu được ở 203oC. 15.2.5 Các hỗn hợp oxi hóa Đôi khi có thể tro hóa ướt nhanh hơn bằng cách sử dụng hỗn hợp axit hoặc có thể thêm các chất oxi hóa vào một axit vô cơ. Cường thủy là một hỗn hợp gồm 3 thể tích axit clohiđric đặc trộn với một thể tích axit nitric đặc. Thêm brom hoặc hiđro peoxit vào axit vô cơ thường nâng cao được hoạt tính của dung môi và thúc đẩy sự oxi hóa các vật liệu hữu cơ trong mẫu. Hỗn hợp của axit nitric và pecloric cũng có lợi cho mục đích đó nhưng ít nguy hiểm hơn so với axit pecloric được dùng riêng biệt. Tuy vậy, với hỗn hợp này cũng cần chú ý tránh sự bay hơi của toàn bộ axit nitric trước khi sự oxi hóa các vật liệu hữu cơ xảy ra hoàn toàn. Sự giải thích một cách rõ ràng là cần thiết và những thiệt hại sẽ là tất yếu do những thiếu sót trong tuân thủ biện pháp đề phòng. 15.2.6 Axit fluoric Ứng dụng chủ yếu của axit fluoric là để phân hủy quặng silicat và các khoáng liệu dùng để phân tích các chất khác ngoài silic đioxit. Trong phép xử lý đó, silic được tách ra ở dạng tetrafluorua. Sau khi phép phân hủy đã hoàn thành, lượng axit fluoric dư được tách ra bằng cách làm bay hơi nhờ axit sunfuric hoặc axit pecloric. Tách hoàn toàn axit fluoric là rất cần thiết, để đảm bảo cho phép phân tích thành công bởi vì ion florua phản ứng với một số cation tạo thành phức bền gây cản trở cho việc xác định các ion này. Ví dụ, kết tủa nhôm (dưới dạng Al2O3.xH2O) bằng amoniac rất không hoàn toàn nếu ion florua có mặt dù chỉ ở lượng nhỏ. Thông thường, sự loại bỏ những lượng vết cuối cùng của ion florua khỏi mẫu là rất khó khăn nên thời gian tiêu phí cho động tác nói trên chính là lời phủ nhận đặc tính vô cùng hấp dẫn của axit fluoric trong chức năng làm dung môi cho silicat. Axit fluoric được dùng cùng với các axit khác để hòa tan những thép khó tan trong các dung môi khác. Vì axit fluoric rất độc nên cần hòa tan mẫu và làm bay hơi để loại bỏ thuốc thử trong một cái chụp được thông hơi tốt. Axit fluoric gây ra những tổn thất nghiêm trọng, tạo ra vết thương đau đớn khi tiếp xúc với da. Tác dụng của nó có thể không rõ ràng tới hàng giờ sau khi ở trần. Nếu axit tiếp xúc với da cần rửa ngay vùng bị tác dụng bằng lượng nước lớn. Xử lý bằng dung dịch canxi loãng để kết tủa ion florua cũng có tác dụng tốt. 15.3 Phân hủy bằng vi sóng Sử dụng lò vi sóng để phân hủy cả mẫu vô cơ và hữu cơ đã được đề nghị lần đầu tiên giữa những năm 70 và đến nay nó đã trở thành một phương pháp quan trọng để phân hủy mẫu. Sử dụng vi sóng có thể ở dạng bình đóng và dạng bình mở, nhưng dạng bình đóng được ưa chuộng hơn vì áp suất cao hơn và do đó nhiệt độ cũng cao hơn. Những bàn luận của chúng ta chủ yếu tập trung vào vấn đề phân hủy mẫu bằng vi sóng trong bình đóng.
  7. 7 Một trong những tiến bộ chủ yếu của phân hủy vi sóng so với các phương pháp thông thường khác như sử dụng ngọn lửa hoặc bản kim loại được nung nóng là tốc độ. Ví dụ như, phân hủy vi sóng thậm chí những mẫu khó phân hủy có thể được hoàn tất trong 5 đến 10 phút. Ngược lại, để có được những kết quả như trên phải cần nhiều giờ khi thực hiện bằng cách đốt trên ngọn lửa hoặc trên bản kim loại được nung nóng. Sự khác nhau về tốc độ phân hủy mẫu của 2 phương pháp nêu trên là do cơ chế và dạng năng lượng được chuyển tới mẫu của chúng khác nhau. Trong phương pháp thông thường, nhiệt được chuyển tới nhờ tính dẫn nhiệt. Bình được sử dụng trong phương pháp này thường có độ dẫn nhiệt kém nên cần thời gian để nung nóng bình và sau đó mới chuyển nhiệt tới dung dịch cũng bằng độ dẫn nhiệt. Hơn nữa, do sự đối lưu trong dung dịch nên chỉ một phần nhỏ của dung dịch có được nhiệt độ của bình và tình hình cũng như vậy ở tại điểm sôi của dung dịch. Ngược lại, năng lượng vi sóng được chuyển trực tiếp tới toàn bộ các phân tử của dung dịch gần như cùng một lúc, không có giai đoạn đốt nóng bình. Như vậy là, toàn bộ dung dịch đạt tới điểm sôi rất nhanh. Như đã nhận xét trước đây, thuận lợi của việc sử dụng bình đóng kín để phân hủy vi sóng là có được nhiệt độ cao hơn do áp suất tăng lên. Thêm vào đó, vì tránh được mất mát do bay hơi nên lượng thuốc thử cần thiết ít hơn và do đó giảm được tác dụng cản trở do tạp chất của thuốc thử gây nên. Một thuận tiện nữa của việc phân hủy loại này là, các hợp phần bay hơi của mẫu hầu như không bị mất. Cuối cùng, phân hủy vi sóng trong bình đóng kín thường dễ dàng tự động hóa nên giảm được thời gian cho việc chuẩn bị mẫu phân tích. Hình 15.1 Bình điều chỉnh áp suất để phân hủy mẫu bằng vi sóng
  8. 8 15.4.3 Bình phân hủy mẫu có điều chỉnh áp suất Bình đun mẫu bằng vi sóng được chế tạo bằng vật liệu bền, vi sóng dễ truyền qua. Những vật liệu này cũng cần phải bền nhiệt và chịu được tác dụng của các axit thường dùng để phân hủy mẫu. Teflon là vật liệu gần như lý tưởng đối với nhiều axit thường dùng để hòa tan mẫu. Teflon có điểm nóng chảy khoảng 300oC, không bị một axit thông thường nào tác dụng, cho vi sóng chuyển qua rất dễ dàng. Nhưng axit sunfuric và axit photphoric đều có điểm sôi cao hơn điểm chảy của teflon nên cần phải kiểm tra nhiệt độ rất cẩn thận trong quá trình phân hủy. Đối với các axit này, bình thạch anh hoặc bình thủy tinh bosilicat đôi khi được sử dụng để thay thế cho bình teflon. Nhưng bình silicat có bất lợi là bị axit fluoric tác dụng - một axit thường dùng để phân hủy silicat và các hợp kim chịu nhiệt. Trên hình 15.1 là sơ đồ bình phân hủy mẫu đóng kín, tiện lợi có bán ở thị trường, được thiết kế để dùng trong lò vi sóng. 15.4.3 Bình vi sóng áp suất cao Trên hình 15.2 dẫn ra sơ đồ bom vi sóng có bán ở thị trường, được thiết kế để dùng ở 80 atm hoặc 10 lần áp suất có thể chịu đựng được của bình có điều chỉnh áp suất đã được mô tả trên đây. Nhiệt độ tối đa được khuyến cáo với thiết bị này là 250oC. Thành của thân bom được chế tạo bằng vật liệu cao phân tử nên vi sóng truyền qua dễ dàng. Sự phân hủy được thực hiện trong một cái chén teflon đặt trong thân bom. Bom vi sóng liên kết một vòng teflon trong rãnh của nắp nằm đối diện với một khe hẹp thông ra bên ngoài và nắp có mang vỏ chống tỏa nhiệt được xoáy chặt vào vị trí đặt. Khi áp suất quá lớn, vòng teflon bị biến dạng và áp suất dư, sau đó sẽ nén lên đĩa đệm, cho phép khí thoát ra môi trường xung quanh. Khi điều đó xảy ra, mẫu có thể bị nguy hiểm. Có thể xét đoán phỏng chừng áp suất bên trong bom bằng khoảng cách của ốc áp suất nhô lên khỏi nắp. Bom vi sóng rất hay được sử dụng để hòa tan các vật liệu chịu nhiệt cao bởi vì các vật liệu này bị hòa tan một phần trong bình áp suất có điều chỉnh đã được trình bày trên đây.
  9. 9 Hình 15.2 Bom phân hủy vi sóng áp suất cao 15.4.3 Lò vi sóng Hình 15.3 Lò vi sóng được thiết kế để sử dụng cho 12 bình Trên hình 15.3 giới thiệu sơ đồ lò vi sóng được thiết kế để đun cùng một lúc 12 bình áp suất có điều chỉnh đã được trình bày ở mục 15.3.1. Các bình được đặt trong giá quay, quay liên tục 360o sao cho năng lượng trung bình cấp cho mỗi bình là đồng nhất. 15.4.3 Lò thiêu vi sóng Gần đây lò thiêu vi sóng đã được phát triển để thực hiện nung chảy và tro hóa khô mẫu chứa một lượng lớn vật liệu hữu cơ. Lò thiêu vi sóng bao gồm một buồng nhỏ được xây dựng bằng cacbua silic và được bao phủ bằng thạch anh cách điện. Khi vi sóng được tập trung cho buồng đó, nhiệt độ đạt tới 1000oC trong 2 phút. Sự thuận lợi của lò loại này so với lò mufơ truyền thống là đạt tới nhiệt độ cao nhanh chóng. Ngược lại, khi dùng lò mufơ thông thường phải thao tác liên tục nên cần có thời gian lò mới đạt tới nhiệt độ cần có. Hơn nữa, ở lò thiêu vi sóng không có tắt dần, không có nung nóng cuộn dây hoặc thanh nung như trong các lò mufơ thông thường. Cuối cùng là, người điều chỉnh lò không cần phải điều chỉnh nhiệt độ khi
  10. 10 đưa mẫu vào và khi lấy mẫu ra khỏi lò. Điểm bất lợi của lò thiêu vi sóng là thể tích được nung nóng nhỏ, chỉ thích hợp với chén nung có kích thước thông thường. 15.4.3 Sử dụng phân hủy vi sóng trong bình đóng kín Trong 20 năm cuối của thế kỷ XX xuất hiện hàng trăm công trình đã sử dụng bình đóng kín để phân hủy mẫu trong lò vi sóng với các thuốc thử đã được dẫn ra ở mục 15.2. Những ứng dụng này được chia làm 2 loại: 1. Phân hủy oxi hóa các mẫu hữu cơ và sinh vật (tro hóa ướt). 2. Phân hủy các chất vô cơ chịu nhiệt thường gặp trong công nghệ. Trong cả 2 trường hợp, kỹ thuật mới này đã thay thế các phương pháp truyền thống cũ bởi vì tiết kiệm được thời gian, công sức và có hiệu quả kinh tế cao. 15.4 Phương pháp đốt cháy để phân hủy các mẫu hữu cơ 15.4.1 Đốt cháy trên ngọn lửa mở (tro hóa khô) Phương pháp đơn giản nhất để phân hủy một mẫu hữu cơ trước khi xác định các cation có trong mẫu là đốt mẫu trong một cái đĩa hoặc chén nung mở cho tới khi toàn bộ vật liệu chứa cacbon bị oxi hóa hoàn toàn đến cacbon đioxit. Đốt đến nóng đỏ thường là điều kiện để oxi hóa hoàn toàn. Phân tích các hợp chất không bay hơi được thực hiện bằng cách hòa tan cặn còn lại. Nhưng thường vẫn xảy ra một sự thật, không chắc chắn thu được hoàn toàn những nguyên tố không bay hơi từ các mẫu tro hóa khô. Kết quả cũng có thể bị mất đi một phần nhỏ do bị cuốn đi những hạt mẫu rất mịn trong vòng đối lưu vòng quanh chén nung. Thêm vào đó, những hợp chất kim loại bay hơi có thể bị mất trong quá trình đốt cháy. Ví dụ như, đồng, sắt, vanađi có thể bị bay hơi khi mẫu chứa các hợp chất porphyrin bị tro hóa. Mặc dù tro hóa khô là phương pháp đơn giản nhất để phân hủy các hợp chất hữu cơ nhưng lại thường là phương pháp ít tin cậy nhất. Phương pháp này sẽ không được ứng dụng nếu như không có những thí nghiệm chứng tỏ khả năng ứng dụng của phương pháp cho loại mẫu cần được phân tích. 15.4.2 Phương pháp đốt trong ống Những hợp phần cơ sở quan trọng và thông thường của các hợp chất hữu cơ được chuyển thành các sản phẩm khí khi nhiệt phân mẫu ở điều kiện có đủ oxi. Với những thiết bị thích hợp có thể thu định lượng các hợp chất bay hơi đó và chuyển chúng thành dạng thích hợp để phân tích những nguyên tố được quan tâm. Phân hủy nhiệt thường được thực hiện trong ống nhiệt phân bằng thủy tinh hoặc thạch anh có dòng khí mang đi qua. Dòng khí đó chuyển các sản phẩm bay hơi đến những phần của thiết bị mà ở đó các sản phẩm này được tách ra và giữ
  11. 11 lại để đo. Có thể sử dụng khí mang như là thuốc thử oxi hóa. Các nguyên tố được chấp nhận cho loại xử lý này là cacbon, hiđro, nitơ, halogen, lưu huỳnh và oxi. Ngày nay, máy phân tích ống thiêu nhiệt tự động rất tiện dụng để xác định hoặc là cacbon, hiđro và nitơ hoặc là hiđrocacbon và oxi trong một mẫu đơn giản. Thiết bị không đòi hỏi sự chú ý của người thao tác và phép phân tích được hoàn thành trong thời gian ít hơn 15 phút. Trong máy phân tích loại này, mẫu được thiêu cháy trong dòng heli và oxi chuyển qua trên xúc tác oxi hóa là hỗn hợp bạc vanađat và bạc tungstat. Halogen và lưu huỳnh được chuyển tới cùng với gói muối bạc. Một gói đồng được nung nóng được đặt ở cuối bộ phận thiêu nhiệt chuyển động để khử oxi và chuyển nitơ oxit thành nitơ. Khí ra là một hỗn hợp gồm nước, cacbon đioxit, nitơ và heli được thu thập lại trong một bình cầu thủy tinh. Phân tích hỗn hợp này được hoàn thành nhờ 3 phép đo độ dẫn nhiệt. Phép đo thứ nhất được thực hiện trên hỗn hợp còn nguyên vẹn, phép đo thứ hai được thực hiện trên hỗn hợp sau khi đã tách nước bằng cách cho hỗn hợp khí đi qua thuốc thử đehiđrat hóa và phép đo thứ ba được thực hiện trên hỗn hợp sau khi cacbon đioxit được loại trừ bằng một chất hấp thụ. Mối quan hệ giữa độ dẫn nhiệt và nồng độ là tuyến tính và độ dốc của đường biểu diễn đối với mỗi hợp phần được xác định bằng cách chuẩn hóa nhờ một hợp chất tinh khiết, ví dụ như axetanlinid. 15.4.3 Thiêu nhiệt với oxi trong bình chứa đóng kín Phương pháp phân hủy nhiều hợp chất hữu cơ nhờ sự thiêu nhiệt với oxi trong bình đóng là phương pháp khá tin cậy. Các sản phẩm phản ứng được hấp thụ trong một dung môi thích hợp trước khi bình phản ứng được mở ra. Sau đó, các sản phẩm được phân tích bằng các phương pháp thông thường. Một thiết bị đơn giản rất đáng chú ý để thực hiện sự oxi hóa như vậy đã được Schöniger đề nghị (hình 15.4). Thiết bị là một bình thành dày có thể tích từ 300 – 1000 ml, miệng khít với một nút thủy tinh tròn. Gắn vào nút là một cái rổ bằng lưới platin rất mịn dùng để giữ từ hai đến 200 mg mẫu. Nếu chất cần phân tích là chất rắn, sẽ được gói trong một mẩu giấy lọc ít tàn cắt theo hình được dẫn ra trên hình 15.4. Nếu mẫu là chất lỏng, sẽ được cân trong chén gelatin và sau đó gói lại theo cách tương tự. Đuôi của tờ giấy được dùng làm điểm đốt cháy.
  12. 12 Hình 15.4 Thiết bị thiêu nhiệt Schöniger Một thể tích nhỏ dung dịch chất hấp thụ (thường là natri cacbonat) được cho vào bình và không khí trong bình được thay bằng oxi. Sau khi đốt cháy đuôi mẩu giấy lọc, nhanh chóng đóng kín bình và lộn ngược bình để ngăn cản sản phẩm oxi hóa bay hơi thoát ra ngoài. Thông thường phản ứng xảy ra nhanh và được xúc tác bởi lưới platin bao quanh mẫu. Trong bước đốt cháy, bình phải được che đậy cẩn thận để giảm đến cực tiểu nguy cơ bị nổ. Sau khi làm lạnh, lắc bình cẩn thận rồi tháo máy, rửa mặt bên trong của bình đến sạch. Phép phân tích được thực hiện trên dung dịch thu được. Quy trình sẽ được áp dụng để phân tích halogen, lưu huỳnh, photpho, flo, asen, bo, cacbon và những kim loại khác trong hợp chất hữu cơ. 15.5 Phân hủy các vật liệu vô cơ bằng chất nung chảy Một số chất thông thường như silicat, oxit vô cơ và một số ít hợp kim sắt, chỉ bị hòa tan một cách chậm chạp bằng tất cả các phương pháp đã bàn luận trên đây. Trong trường hợp như vậy phải cầu cứu tới môi trường muối nóng chảy. Trong phương pháp này, mẫu được trộn với muối kim loại kiềm (được gọi là chất nung chảy) và sau đó cho hỗn hợp nung chảy đã được làm nguội tác dụng với nước để tạo thành các sản phẩm tan trong nước. Các chất nung chảy phân hủy hầu hết các chất ở nhiệt độ cao, từ 300 đến 1000oC, và tiếp xúc với mẫu ở nồng độ cao. Khi có khả năng nên tránh dùng chất chảy do có nguy cơ gây bất lợi khi sử dụng chúng. Ví dụ như, gây nhiễm bẩn mẫu do có tạp chất trong chất chảy. Sự nhiễm bẩn trở nên trầm trọng hơn do lượng tương đối lớn của chất chảy (ít nhất 10 lần lớn hơn trọng lượng mẫu) cần phải có mới đảm bảo nung chảy thành công. Hơn nữa, dung dịch nước thu được khi hòa tan mẫu nóng chảy có hàm lượng muối cao có thể gây những khó khăn trong những bước tiếp
  13. 13 theo của phép phân tích. Thêm vào đó, nhiệt độ cao cần thiết cho nung chảy sẽ làm tăng nguy cơ mất do bay hơi. Cuối cùng, chén nung để thực hiện nung chảy gần như chắc chắn bị tấn công đến một mức độ nào do nung chảy và một lần nữa nhiễm bẩn mẫu là kết quả. 15.5.1 Thực hành nung chảy Trộn mẫu ở dạng bột rất mịn với khoảng 10 lần dư chất chảy. Trộn mẫu và chất chảy thường được thực hiện trong chén nung để sau đó nung chảy. Thời gian cần thiết cho quá trình nung chảy từ vài phút đến vài giờ. Khi thu được khối nóng chảy trong suốt là dấu hiệu chứng tỏ sự phân hủy đã hoàn thành mặc dù điều kiện đó thường không phải luôn rõ ràng. Khi sự nóng chảy đã hoàn thành, làm lạnh chậm sản phẩm thu được. Ngay trước khi mở nắp cần phải xoay trôn chén để phân bố chất rắn nóng chảy trên thành chén một lớp mỏng dễ lấy ra. 15.5.2 Các loại chất nung chảy Loại trừ một ít ngoại lệ, các chất nung chảy thường được sử dụng trong phân tích là các hợp chất của kim loại kiềm, cacbonat, hiđroxit, peoxit và borat. Kim loại kiềm là chất nung chảy bazơ, chúng hòa tan các vật liệu axit. Các chất nung chảy axit là pyrosunfat, florua và oxit bo. Nếu cần chất nung chảy oxi hóa, có thể dùng natri peoxit. Cũng có thể dùng lượng nhỏ nitrat hoặc clorat kim loại kiềm trộn với natri cacbonat làm chất nung chảy. Tính chất của các chất nung chảy phổ biến được tóm tắt trong bảng 15.1. Natri cacbonat: Có thể phân hủy silicat và các vật liệu chịu nhiệt khác bằng cách nung đến nhiệt độ từ 1000 đến 1200oC với natri cacbonat. Phép xử lý nói chung có thể làm biến đổi các hợp phần cation của mẫu thành cacbonat axit tan hoặc oxit; các hợp phần phi kim được chuyển thành muối natri tan. Nung chảy cacbonat được thực hiện bình thường trong chén platin. Kali pyrosunfat: Kali pyrosunfat là chất nung chảy axit mạnh, được sử dụng một cách đặc biệt để hòa tan những kim loại rất khó tan. Các phép nung chảy với thuốc thử này được thực hiện ở khoảng 400oC; ở nhiệt độ này sự biến chuyển chậm của kali pyrosunfat xảy ra như sau: K2S2O7 → K2SO4 + SO3(khí) Có thể điều chế kali pyrosunfat bằng cách nung kalihiđro sunfat: 2KHSO4 → K2S2O7 + H2O Liti metaborat: Liti metaborat LiBO2 được dùng riêng hoặc hỗn hợp với liti tetraborat được sử dụng nhiều để hòa tan silicat chịu nhiệt, các khoáng liệu nhôm, đặc biệt là cho phân tích hấp thụ AAS và phát xạ tia X. Thông thường, phép nung chảy được thực hiện trong chén graphit hoặc platin ở khoảng 900oC. Khối thủy tinh sinh ra do làm lạnh hỗn hợp nóng chảy có thể được sử dụng trực tiếp để đo huỳnh quang tia X. Cũng có thể hòa tan hỗn hợp nóng chảy
  14. 14 sau khi làm lạnh bằng các axit vô cơ. Sau khi dung dịch của hỗn hợp nóng chảy được làm bay hơi đến khô với metyl ancol và metyl borat B(OCH3) được cất để loại bỏ. Bảng 15 Các chất nung chảy phổ biến Điểm Loại chén Chất nung chảy chảy, dùng để Loại chất phân hủy các chất (oC) nung chảy Silicat và các mẫu chứa silic, các mẫu Na2CO3 851 Pt chứa nhôm, các photphat và sunfat ít tan Na2CO3 + một thuốc Pt (không Các mẫu đòi hỏi môi trường oxi hóa. thử oxi hóa như – dùng với Ví dụ như, các mẫu chứa S, Ag, Sb, Cr KNO3, KClO3 hoặc Na2O2) Ni ... Na2O2 Pt, Au, Chất nung chảy bazơ mạnh cho silicat, LiBO2 849 than thủy hầu hết các khoáng liệu, gỉ sắt, gốm. tinh Chất nung chảy bazơ mạnh cho silicat, NaOH hoặc 318 cacbua silic và một số khoáng liệu (hạn Au, Ag, Ni KOH 380 chế chủ yếu là độ tinh khiết của thuốc thử). Các chất chảy oxi hóa bazơ mạnh cho Bị các sunfua, các hợp kim của Fe, Ni, Cr, Na2O2 phân Fe, Ni Mo, W và Li không tan trong axit, các hủy hợp kim platin, các khoáng liệu của Cr, Sn, Zn. Chất chảy cho axit cho oxit ít tan và K2S2O7 30 Pt, sứ các chất mẫu chứa oxit Chất chảy axit cho silicat và oxit để B2O3 577 Pt xác định các kim loại kiềm. B Chất chảy nung hỗn hợp là CaO và CaCO3 + NH4Cl – Ni CaCl2 được sử dụng để phân hủy silicat cho mục đích phân tích kim loại kiềm.
  15. 15

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản