Cơ sở pháp lý về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai

Chia sẻ: Bích Phượng Bích Phượng | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:21

0
262
lượt xem
110
download

Cơ sở pháp lý về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới mạnh mẽ về tất cả các mặt của cuộc sống. Sự phát triển quá nhanh này gắn với sự cũ kỹ của hệ thống hánh chính nhà nước cồng kềnh, vận hành kém hiệu quả, đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế về trình độ và việc đề ra những biện pháp để cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước là rất cần thiết. Trong các chức năng của Thanh tra Chính phủ thì giải quyết khiếu nại, tố cáo là một nhiệm vụ quan trọng giúp duy...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cơ sở pháp lý về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai

  1. 1 GIỚI THIỆU VỀ CHUYÊN ĐỀ Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới mạnh mẽ về tất cả các mặt của cuộc sống. Sự phát triển quá nhanh này gắn với sự cũ kỹ của hệ thống hánh chính nhà n ước c ồng kềnh, vận hành kém hiệu quả, đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế về trình độ và vi ệc đ ề ra những biện pháp để cải cách hành chính của Đảng và Nhà n ước là r ất c ần thi ết. Trong các chức năng của Thanh tra Chính phủ thì giải quyết khiếu n ại, tố cáo là m ột nhi ệm v ụ quan trọng giúp duy trì ổn định tình hình chính trị - xã hội của đất nước ta trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Từ nhiều năm nay, tình hình khiếu nại, tố cáo luôn là v ấn đ ề b ức bách đ ược Đ ảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm. Đảng và Nhà nước đã có nhiều Chỉ thị, Ngh ị quyết v ề vấn đề này, đã có tác động đến tình hình khiếu n ại, t ố cáo và gi ải quy ết khi ếu n ại, t ố cáo, nhiều “điểm nóng”, nhiều vụ việc phực tạp đã được giải quyết, góp phần làm ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất n ước. Tuy nhiên, do nhi ều nguyên nhân, thời gian gần đây tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân di ễn ra không bình thường, số lượng gia tăng, tình hình khiếu nại, tố cáo c ủa công dân di ễn ra không bình thường, số lượng gia tăng, tính chất phức tạp, trong đó khiếu n ại, tố cáo, tranh chấp v ề đất đai chiếm số lượng lớn, ở một số tỉnh, thành phố riêng về đất đai chiếm số lượng rất lớn như: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Tây, Thái Bình, C ần Thơ, Hải Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An, Bến Tre, Đ ồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng… Tình hình khiều nại, tố cáo, tranh chấp của công dân trong lĩnh v ực đất đai di ễn ra gay gắt, phức tạp ở hầu hết các địa phương trong cả n ước, nhi ều n ơi đã tr ở thành đi ểm nóng. Số lượng đơn vượt cấp gửi đến các cơ quan ở Trung ương nhiều, nội dung thể hi ện tính bức xúc gay gắt, không chấp nhận với cách giả quyết c ủa chính quyền đ ịa ph ương. Số lượng công dân đến khiếu nại trực tiếp tại phòng tiếp dân của các địa phương, các c ơ quan ở Trung ương hàng năm cao, nhiều vụ việc công dân tụ tập thành đoàn, đi xe, căng cờ, biểu ngữ…kéo đến các cơ quan chính quyền, Đảng,…nhằm gây áp lực đòi đ ược gi ải quyết quyền lợi theo yêu cầu. Số lượng công dân tập trung đông ch ủ yếu ở các kỳ h ọp Hội đồng nhân dân, Quốc hội, Đại hội đảng, có n ơi công dân t ập trung huy đ ộng th ương binh, phụ nữ, người già, trẻ em bao vây trụ sở chính quyền xã, huyện, t ỉnh, doanh nghi ệp gây mất trật tự, an toàn xã hội, tình hình trên n ếu không xử lý k ịp th ời s ẽ r ất ph ức t ạp, gây tâm lý hoang mang, thiếu tin tưởng vào chính quyền, ảnh hưởng đến quyền, l ợi ích h ợp pháp của công dân và lợi ích quốc gia.
  2. 2 Chính vì vậy việc tìm hiểu thực trạng và tìm giải pháp để giải quyết khi ếu n ại tố cáo trong lĩnh vực đất đai là một chuyên đề rất hay và c ấp thi ết, nó giúp cho sinh viên th ực tập tại thanh tra chính phủ có được cái nhìn tổng quát về thực tiễn giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa phương; những bất cập giữa pháp luật hiện hành với thực tiễn; những vấn đ ề bức xúc, tồn đọng trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh v ực đất đai ở đ ịa phương và tìm ra những giải pháp khắc phục. NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI , TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 1. Khái niệm khiếu nại, tố cáo A. Khái niệm khiếu nại Khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: “Khiếu nại là việc công dân, c ơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đ ề ngh ị c ơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn c ứ cho rằng quy ết đ ịnh ho ặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy, khiếu nại là một hình thức công dân hướng đến các c ơ quan nhà nước hay tổ chức xã hội, tố chức kinh tế, đơn vị vũ trang khi thấy quyết đ ịnh hành chính hay hành vi hành chính của họ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp c ủa mình. M ặt khác, khiếu nại là phương tiện mà nhờ đó cơ quan nhà nước hay tổ chức, những người có ch ức vụ kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý trong các quyết định hành chính, hành vi hành chính
  3. 3 do ban hành hay thực hiện. Về mặt pháp luật, quyền khiếu nại của công dân luôn được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của nhà nước ta. Khiếu nại có thể được thể hiện dưới hình thức văn bản (đơn khi ếu n ại) ho ặc trình bày trực tiếp. B. Khái niệm tố cáo Khoản 2 Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: “Tố cáo là vi ệc công dân theo th ủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quy ền bi ết v ề hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thi ệt h ại ho ặc đe do ạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo vệ và khôi phục quyền và l ợi ích của người tố cáo mà cao hơn thế là bảo vệ lợi ích c ủa Nhà nước, góp phần xây d ựng đ ội ngũ cán bộ công chức Nhà nước vững về chính trị, gi ỏi về chuyên môn để “chí công, vô tư” trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ Nhà nước. 2. Quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai 2.1. Khiếu nại, tố cáo về đất đai Khiếu nại về đất đai là việc các cơ quan, tổ chức, công dân đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại QĐHC, HVHC trong quản lý đất đai khi có căn c ứ cho rằng các quyết định, hành vi đó xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp c ủa mình. Quyết định hành chính bị khiếu nại trong quản lý đất đai bao gồm: quyết đ ịnh giao đ ất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích s ử d ụng đ ất; quy ết đ ịnh b ồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư; quyết định cấp hoặc thu hồi gi ấy ch ứng nh ận quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất. Hành vi hành chính b ị khi ếu nại trong quản lý đất đai là hành vi của cán bộ công ch ức nhà n ước khi th ực hi ện công việc liên quan đến các hoạt động nói trên. Tố cáo về đất đai là sự phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về nh ững hành vi vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất của cơ quan nhà nước, tổ ch ức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân thu ộc các đ ơn v ị đó ho ặc c ủa nh ững người khác, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích Nhà n ước, l ợi ích t ập th ể và lợi ích của người sử dụng đất. 2.2. Trình tự giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 2.2.1 Trình tự giải quyết khiếu nại 2.2.1a Những quy định chung
  4. 4 Căn cứ Luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003, căn cứ Ngh ị đ ịnh s ố 181/2004/NĐ- CP và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, việc giải quyết khiếu nại tố cáo v ề đất đai đ ược ti ến hành theo trình tự sau đây: Điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Thời hi ệu khiếu nại là 90 ngày, kể t ừ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính. Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở n ơi xa ho ặc vì nh ững tr ở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hi ện được quyền khi ếu n ại theo đúng thời hiệu thì thời gian có trở ngại không tính vào thời hiệu khiếu nại. Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo, thời hạn gi ải quyết khi ếu n ại l ần đ ầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì th ời hạn giải quyết không quá 45 ngày (kể từ ngày thụ lý để giải quyết). Trường hợp ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý đề giải quyết và không quá 60 ngày đối với những vụ việc phức tạp (kho ản 1 Điều 36 Luật khiếu nại, tố cáo) Khoản 1 Điều 43 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Thời hạn gi ải quyết khi ếu n ại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối v ới v ụ vi ệc ph ức t ạp thì thời hạn có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 60 ngày. ở vùng sâu, vùng xa đi l ại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 60 ngày, k ể t ừ ngày th ụ lý đ ể gi ải quyết và không quá 70 ngày đối với những vụ việc phức tạp. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết quy định tại Đi ều 43 của Luật khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết ho ặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án nhân dân; đối với vùng sâu, vùng xa đi l ại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 45 ngày (Điều 46 Lu ật khi ếu n ại, t ố cáo). 2.2.1b Trình tự giải quyết khiếu nại đối với Quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tích UBND huyện, quận, th ị xã, thành ph ố thuộc t ỉnh (sau đây g ọi t ắt là Chủ tịch UBND cấp huyện) Trong thời hạn không quá 90 ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND c ấp huyện có QĐHC, HVHC trong quản lý đất đai quy định tại Điều 162 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý v ới QĐHC, HVHC đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến UBND cấp huyện. Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm giải quyết khiếu n ại theo thời hạn quy định của Luật khiếu nại, tố cáo (khoản 1 Điều 36).
  5. 5 Trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được quyết đ ịnh gi ải quy ết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp huyện mà người khiếu n ại không đ ồng ý v ới quy ết định giải quyết đó thì có quyền khởi kiện ra Toà án nhân dân ho ặc khi ếu n ại đ ến UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là UBND cấp tỉnh). Trường hợp khiếu nại đến UBND cấp tỉnh thì Chủ tịch UBND c ấp t ỉnh có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật khiếu n ại, tố cáo. Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp t ỉnh là quy ết đ ịnh gi ải quyết lần hai. 2.2.1c Trình tự giải quyết khiếu nại đối với Quyết định hành chính, Hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp tỉnh Trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp t ỉnh có QĐHC, HVHC trong quản lý đất đai quy định tại Điều 162 Ngh ị đ ịnh s ố 181/2004/NĐ-CP mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý v ới QĐHC, HVHC đó thì có quy ền nộp đơn khiếu nại đến UBND cấp tỉnh. Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết khi ếu nại theo th ời h ạn quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật khiếu nại, tố cáo. Trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được quyết đ ịnh gi ải quy ết của Chủ tịch UBND cấp tỉnh mà người khiếu nại không đồng ý v ới quyết đ ịnh gi ải quyết đó thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân. 2.2.1d Những trường hợp khác Việc giải quyết khiếu nại đối với HVHC của cán bộ công chức (CBCC) thu ộc UBND xã, phường, thị trấn; HVHC của CBCC thuộc Phòng Tài nguyên và Môi tr ường; HVHC của CBCC thuộc Văn phòng UBND huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh; HVHC c ủa CBCC thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; HVHC của CBCC thuộc Văn phòng UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; QĐHC của Sở Tài nguyên và Môi tr ường và QĐHC, HVHC về quản lý đất đai của Chủ tịch UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND c ấp tỉnh không thuộc Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP được thực hiện theo quy đ ịnh c ủa pháp luật về khiếu nại, tố cáo. 2.2.2 Trình tự giải quyết tố cáo Việc giải quyết tố cáo về đất đai cơ bản giống như giải quyết tố cáo nói chung. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết. Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ trong quản lý đất đai c ủa người đ ứng đ ầu c ơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức c ấp trên tr ực ti ếp c ủa c ơ quan, t ổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
  6. 6 Chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo, c ơ quan, tổ chức, cá nhân ti ếp nhận tố cáo phải thụ lý để giải quyết. Trường hợp tố cáo không thu ộc th ẩm quyền gi ải quyết của mình thì phải chuyển cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền gi ải quyết và thông báo cho người tố cáo biêt khi họ có yêu cầu. Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 60 ngày, kể từ ngày th ụ lý đ ể gi ải quy ết. Thời hạn này là không quá 90 ngày, đối với những vụ việc phức tạp. Trường hợp có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng pháp lu ật ho ặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được gi ải quyết thì người t ố cáo có quy ền t ố cáo với cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo. Thời h ạn gi ải quyết vẫn là không quá 60 ngày (và không quá 90 ngày đối với những vụ việc phức tạp). Trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố cáo, n ếu thấy có dấu hi ệu ph ạm t ội thì c ơ quan, tổ chức tiếp nhận, giải quyết tố cáo phải chuyển tin báo, chuyển hồ sơ cho c ơ quan điều tra, Viện kiểm sát để giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. 3. Chức năng và nhiệm vụ của Thanh tra Chính ph ủ trong gi ải quy ết khi ếu n ại, t ố cáo Theo Điều 14 Luật Thanh tra 2004, Điều 1 Nghị định 55/2005/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức c ủa Thanh tra Chính ph ủ, Thanh tra Chính phủ là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, có chức năng quản lý nhà n ước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện nhiệm vụ quyền hạn thanh tra, gi ải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng ngừa, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. Về giải quyết khiếu nại, tố cáo, Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ: tổ chức việc tiếp dân, tiếp nhận, xử lý đơn khiếu nại tố cáo theo thẩm quyền; gi ải quyết khiếu n ại mà thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ đã giải quyết nhưng còn khiếu n ại (quyết đ ịnh này là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng); kiến nghị Bộ trưởng ho ặc yêu cầu Ch ủ t ịch UBND cấp tỉnh xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cu ối cùng có vi ph ạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích h ợp pháp c ủa công dân, c ơ quan, tổ chức; giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, đôn đốc các Bộ giải quyết khi ếu n ại có liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản lý Nhà n ước; xác minh, k ết luận n ội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ khi được giao; xem xét, kết luận nội dung tố cáo mà Bộ trưởng, Thủ trưởng c ơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết nhưng có vi phạm pháp luật, trong tr ường hợp kết luận việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì ki ến ngh ị người gi ải quyết xem xét, giải quyết lại. Về tổ chức, Thanh tra Chính phủ gồm Văn phòng, 9 Vụ và các t ổ ch ức s ự nghi ệp (Viện Khoa học Thanh tra, Trường Cán bộ Thanh tra, Báo Thanh tra, T ạp chí Thanh tra,
  7. 7 Trung tâm tin học). Trong đó, Vụ thanh tra và gi ải quyết khi ếu n ại, t ố cáo khu v ực I (g ọi tắt là Vụ IV) có chức năng tham mưu giúp Tổng Thanh tra thực hi ện chức năng qu ản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo, thực hi ện các nhi ệm v ụ, quyền hạn về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng ngừa, đấu tranh ch ống tham nhũng trong phạm vi địa giới hành chính được phân công. Vụ IV có nhi ệm v ụ ti ếp nh ận, xử lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc khối địa phương theo đ ịa bàn ho ặc các v ụ vi ệc do Tổng thanh tra giao; phối hợp với Vụ tiếp dân và xử lý đ ơn th ư (Vụ VI) ti ếp công dân đến Thanh tra Chính phủ khiếu nại với những vụ việc giao cho Vụ xem xét; ki ểm tra, xem xét, kết luận và kiến nghị Tổng Thanh tra gi ải quyết đơn th ư khi ếu n ại, t ố cáo đ ối v ới những vụ việc Thủ tướng Chính phủ, Tổng Thanh tra giao. Phạm vi địa gi ới hành chính được phân công cho Vụ IV gồm các tỉnh, thành phố miền Bắc, miền Trung (từ Phú Yên trở ra) và Tây Nguyên. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI Ở ĐỊA PHƯƠNG Theo báo cáo của Chính phủ về công tác giải quyết khi ếu nại, tố cáo năm 2007, trong 9 tháng đầu năm các cơ quan nhà nước đã tiếp trên 240.000 lượt công dân đ ến khi ếu nại, tố cáo; tiếp nhận trên 143.000 đơn thư khiếu nại, tố cáo v ới h ơn 61.000 v ụ vi ệc, So với cùng kỳ năm 2006, tổng số người khiếu nại, tố cáo tăng kho ảng 56%, số đ ơn th ư khiếu nại, tố cáo tăng khoảng 44%, số vụ việc tăng 36%. 1. Nội dung khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai Nội dung khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai chủ yếu tập trung vào các v ấn đề sau: a. Bồi thường giải phóng mặt bằng, bố trí táI định cư: khiếu nại về bồi thường giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư: Khiếu nại về bồi thường giảI phóng mặt bằng thường gay gắt, công dân t ụ t ập đông người, xảy ra tập trung ở những nơI thu hồi diện tích đ ất l ớn đ ể b ố trí phát tri ển các dự án, người cí đất bụ thu hồi khiếu nại về thực hiện không đúng quy ho ạch, không đúng diện tích, vị trí, giá đền bù thấp, không đáp ứng yêu cầu ổn định cuộc sống…. Ngoài ra, còn một số khiếu nại: dồ thực hiện chính sách bồi th ường v ề đ ất đai do trước đấy chưa được thực hiện trong việc trưng dụng, thu h ồi đất; gi ảI to ả hành lang an toàn giao thông.
  8. 8 b. Đòi lại đất cũ: - Đòi lại đất trước đây đưa vào Hợp tác xã nông nghiệp (HTX) hay Tập đoàn s ản xuất nông nghiệp (TĐSX), đã giao khoán cho các hộ khác sử dụng, khi HTX, TĐSX tan rã có tình trạng ruộng đát của ai, người đó lấy lại sử d ụng, nh ưng m ột b ộ ph ận nông dân không lấy lại được ruộng đất vì người khác đang sử d ụng ho ặc chính quy ền đã s ử d ụng vào mục đích khác. - Đòi lại đất khi Nhà nước thực hiện chính sách “nhường cơm, sẻ áo”; đất cho người khác thuê, mượn để sản xuất, làm nhà ở hoặc nhờ người trông coi tr ước năm 197; nay những người này đang sủ dụng. - Đòi lại đất chính quyền chế độ cũ lấy để sử dụng, sau giảI phóng, Nhà n ước ti ếp quản hoặc giao cho người khác sử dụng. - Đòi lại đất có nhà ở khu vực đô thị trong quá trình cải tạo công th ương nghi ệp Nhà nước đã quản lý nhưng không làm đầy đủ thủ tục. - Đòi lại đất tôn giáo đã hiến, cho, cho mươn hoặc cính quyền đã sử dụng làm nhà trẻ, trường học, mẫu giáo nhà văn hoá…. - Đòi đất cũ khi chiến tranh biên giới xảy ra, người có đất đI sơ tán sau quay l ại đã có người sử dụng hoặc Nhà nước đã giao cho người khác sử dụng. c. Tranh chấp quyền sử dụng đất: - Tranh chấp đất hương hoả, dòng tộc, đòi chia thừa kế. - Tranh chấp giữa đồng bào dân tộc ở địa phương với dân di cư. - Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nhân dân ở các đ ịa ph ương v ới các đ ơn v ị được Nhà nước giao đất an ninh, quốc phòng và các nông, lâm trường. - Tranh chấp đất giữa cá nhân với cá nhân, hộ gia đình v ề diện tích, ranh gi ới s ử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất.v.v.. d. Tố cáo cán bộ thực hiện sai quy định của Nhà nước về đất đai: Các tố cáo chủ yếu tập trung vào các nội dung: - Tố cáo việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi trong vi ệc thu h ồi đất, giao đất, đấu giá quyền sử dụng đất để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh doanh nhà ở; l ợi dụng chính sách thu hồi đất của nông dân để chia cho cán bộ. - Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao chiếm ruộng đất, lập trang trại; khai tăng diện tích, sai vị trí đất để tham ô. - Tố cáo chính quyền đại phương ( chủ yếu là c ấp xã ) giao đất trái th ẩm quy ền, giao đất không đúng diện tích được phê duyệt theo quyết định của cơ quan nhà n ước có thẩm quyền, giao sai vị trí, diện tích, không đúng quy hoạch, thu tiền đất vượt nhiều lần so với quy định của Nhà nước, sử dụng tiền thu từ đất không đúng chế độ tài chính.
  9. 9 - Tố cáo chính quyền địa phương quản lý, sử dụng quỹ đất công ích (5%) sau m ục đích, sai quy định của háp luật, cho thuê, đấu thầu lâu năm thu ti ền chi tiêu riêng, đ ể di ện tích đất công ích vượt quá 5%. - Ngoài ra,có nhiều đơn tố cáo cán bộ nhũng nhi ễu, đòi h ối l ộ trong vi ệc giao đ ất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 2. Tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai: Nguyên nhân chủ yếu gây ra khiếu nại, tố cáo là do cơ chế, chính sách, pháp luật có nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tế; công tác quản lý nhà n ước c ủa chính quyền đ ịa phương trên một số lĩnh vực còn buông lỏng, quá trình th ực hi ện nhi ệm v ụ pháp tri ển kinh tế - xã hội để xảy ra nhiều vi phạm, nhất là trong lĩnh vực đất đai, đ ầu t ư xây d ựng c ơ bản, tạo nên sự bát bình trong dân. Năm 2007, theo báo cáo của 26 Bộ, ngành và 64 tỉnh thành, trong tổng số 129.164 đơn khiếu nại, tố cáo có 110.072 đơn được gửi đến cơ quan đúng thẩm quyền (chiếm 85,2%). Trong đó, khiếu nại thuộc thẩm quyền gi ải quyết là 54.504 v ụ (trên t ổng s ố 65.372 vụ, chiếm 83,3%); tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết là 9701 đơn (trên tổng số 11.798 đơn, chiếm 82,2%); các kiến nghị, phản ánh khác có 28.804 vụ đúng thẩm quyền (trên tổng số 31.206 vụ, chiếm 92,3%). Phần lớn khi ếu nại, tố cáo c ủa nhân dân là có c ơ sở, chỉ có trên dưới 30% khiếu nại, tố cáo sai hoàn toàn (còn lại là đúng ho ặc có đúng có sai). Riêng Thanh tra Chính phủ đã xem xét, xác minh 83 vụ vi ệc khi ếu n ại, t ố cáo ph ức tạp do Thủ tướng Chính phủ giao. Kết thúc năm 2007, tổng cộng các cơ quan hành chính – nhà n ước đã ti ếp 327.720 lượt người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, trong đó có 729 l ượt đoàn đông người. Một số tỉnh, thành đơn vị có số lượng khiếu nại, tố cáo gia tăng đặc bi ệt là B ến Tre (tăng 293%), Bạc Liêu (tăng 198%), Hà Tĩnh (tăng 67%), Nam Định (tăng 47%), Thái Nguyên (tăng 42,9%), Ngân hàng Nhà n ước (tăng 37,3%), B ộ N ội v ụ (tăng 34%), B ộ Quốc phòng (tăng 30%). Các cơ quan hành chính - nhà nước cũng đã tiếp nhận 229.109 đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (88.228 đơn khiếu n ại, 16.909 đơn tố cáo, 43.33 đơn thư kiến nghị, phản ánh). Trong số đó, có 20 tỉnh và 5 Bộ ngành đ ơn th ư gia tăng (n ổi bật là Bạc Liêu tăng 168%, Thái Nguyên tăng 63,4%, Hậu Giang tăng 56,6%, Thanh Hoá tăng 47,5%, Bộ Khoa học – Công nghệ tăng 192%, B ộ Lao đ ộng, Th ương binh và Xã h ội tăng 32,5%); có 22 tỉnh và 2 Bộ số lượng đơn thư giảm so v ới năm tr ước (nh ư Hà Tây giảm 45%, Lai Châu giảm 59,4%, Nam Định giảm 36,5%, Nghệ An gi ảm 24,8%, Hải Phòng 20,9%, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giảm 21,5%). Tính đến năm 2007, trong số hơn 61.000 vụ việc đã có 80% s ố v ụ đ ược gi ải quy ết, kiến nghị thu hối cho Nhà nước 24,7 tỷ dồng, 256 ha đất, trả lại cho tập thể, công dân 15,3
  10. 10 tỷ đồng, 176 ha đất, minh oan cho 299 người. Về vấn đề oan sai, tất c ả các v ụ oan đ ều xảy ra từ trước khi có nghị quyết 388 vì vậy những người gây oan hầu hết đã về hưu ho ặc chuyển công tác khác và lúc đó thì trách nhiệm giữa cá nhân và từng t ập th ể l ại không rõ. Thế nên xác định trách nhiệm giữa cá nhân và tập thể lại không rõ. Th ế nh ưng không th ể không xác định trách nhiệm gì cả. Tuy nhiên để làm việc này thì cần phải có quá trình. Nổi lên trong tình hình khiếu nại, tố cáo phát sinh là việc khiếu nại xảy ra ở các đ ịa phương tiến hành thu hồi đất của nhân dân để làm dự án phát tri ển kinh t ế - xã h ội. Hỗu như dự án nào cũng đều phát sinh khiếu nại. Nội dung tố cáo chủ yếu là tố cáo cán b ộ, công chức làm sai chính sách, thiếu trách nhiệm trong vi ệc giảI quyết khi ếu kiện, có hành vi tiêu cực trong quản lý, sử dụng đất đai. Tính hình khi ếu nại, tố cáo đông người đ ược đánh giá là phức tạp, gay gắt hơn so với những năm trước. Trụ sở tiếp dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại Hà N ội trong quý I năm 2008 đã tiếp nhận tổng cộng 622 vụ việc liên quan đến khi ếu n ại, tố cáo v ề đ ất đai (ngoài ra còn có 14 vụ việc khiếu kiên về nhà). Đơn cử trường hợp 8 người dân ở xã Phù Lỗ (Sóc Sơn, Hà Nội) đến khiếu nại việc địa phương thu hồi đất nông nghiệp của các hộ để mở rộng quốc lộ 18 nhưng đ ền bù không đúng chính sách; gần 80 người khác thuộc xã Phú S ơn (Ba Vì, Hà Tây) cũng khi ếu nại chuyện đền bù không thoả đáng khi địa phương thu hồi đất để xây dựng Trung tâm xã hội 07 (vụ việc này, Thanh tra Chính phủ đã c ử đoàn xu ống gi ải quyết nh ưng ch ưa nh ận được sự đồng ý từ phía người dân) Về tố cáo, có hơn 10 người dân thuộc xã Minh Khai (Từ Liêm, Hà N ội) cũng hai lần đến trụ sở UB để tố cáo cán bộ xã, huyện có nhiều sai phạm trong qu ản lý sử d ụng đất, thu hồi đất không đúng trình tự, đền bù không đúng chính sách, tham nhũng. Đ ơn t ố cáo của người dân đã được chuyển đến Thanh tra Chính phủ. Cũng trong Quý I năm 2008, mặc dù rơi vào thời đi ểm c ủa d ịp T ết Nguyên đán và Tháng Giêng âm lịch, song vẫn có nhiều đoàn khiếu kiện đông người kéo đ ến tr ụ s ở ti ếp dân của các cơ quan Nhà nước tại Hà Nội (cả cơ quan Trung ương và c ủa thành ph ố). Trong đó, tỉnh Hà Tây có nhiều đoàn khiếu kiện đông người nhất: 16 đoàn, ti ếp đ ến là Hà Nội với 10 đoàn, các tỉnh còn lại có đoàn khiếu ki ện đông người là Hoà Bình, B ắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Dương, Hải Phòng, Hà Nam, TP. Hồ Chí Minh, Hưng Yên. Đoàn khi ếu kiện đông người nhất có 360 người thuộc xã Lai Vu (Kim Thành, H ải D ương). N ội dung khiếu nại chủ yếu của người dân vẫn liên quan đến việc đòi đền bù đất, ngoài ra còn v ề chính sách, tham nhũng, tài sản, thi hành án, kỷ luật Đảng và kỷ luật CBCC,... 3. Nguyên nhân chủ yếu phát sinh khiếu nại, tố cáo, trang chấp về đất đai
  11. 11 + Do hệ thông chính sách pháp luật về đất đai trong th ời gian tr ước đây ch ưa hoàn ch ỉnh, chưa điều chỉnh hết được các quan hệ về đất đai, liên tục sửa đổi, b ổ sung đ ể hoàn thi ện. Từ chỗ pháp luật công nhận nhiều hình thức sở hữu đất đai chuyển sang quy định đ ất đai thuộc sở hữu toàn dân, đến sau này quy định cho người sử dụng đất có đầy đ ủ các quyền, do vậy, việc nắm bắt kịp thời các quy định pháp luật của cán bộ và người dân hạn chế, việc hiểu các quy định pháp luật cũng không đầy đủ và quan niệm về chế độ sở hữu tư nhân về đất đai trong nhân dân vẫn còn tồn tại. Vi ệc ban hành văn b ản pháp lu ật v ề đ ất đai theo từng giai đoạn lịch sử, phát triển của đất nước nên thiếu đồng bộ và còn ch ồng chéo, thiếu công bằng, người hưởng chính sách sau được lợi hơn người h ưởng chính sách trước ( có một số trường hợp những người chây ì, không chấp hành pháp lu ật đ ược l ợi hơn người chấp hành nghiêm pháp luật), từ đó dẫn đến so bì, khiếu kiện. - Việc chưa điều chỉnh kịp thời giá đất để thónh bồi thường khi Nhà n ước th ực hi ện d ự án có liên quan đế nhiều tỉnh hoặc việc cho người có nhu c ầu sử d ụng đ ất phát tri ển các dự án tự thoả thuận bồi thường với người dân đang sử dụng đ ất, người đ ược giao đ ất muốn giảI phóng mặt bằng nhanh đã chấp nhận giá bồi th ường cao h ơn quy đ ịnh c ủa Nhà nước làm cho mức đền bù chênh lệch trên cùng một khu vực, từ đó pháp sinh khiếu nại. - Việc thực hiện các chủ trương, chính sách c ủa nhà nước trước đây ở một số nơi không nghiêm, chưa triệt để và chưa hợp lý, đã dẫn đến tình trạng xáo canh, cào b ằng. Nh ững năm 1980, HTX và TĐSX nông nghiệp được hình thành nhưng vi ệc qu ản lý các HTX, TĐSX đã có những yếu kém dẫn đến tan rã, nhưng Nhà nước ch ưa có chính sách x ử lýk ịp thời, tình trạngtự phát lấy lại ruộng đất và biện pháp giảI quyết của các địa phương không thống nhất trong việc phân bổ lại đất đai khi các HTX, TĐSX tan rã, đã d ẫn đ ến nhi ều khiếu kiện. + Công tác quản lý đất đai cũng còn nhiều bất c ập, hồ sơ địa chính ch ưa đ ược quan tâm đúng mức, chưa đầy đủ, không đủ cơ sở cho việc quản lý đất đai. Công tác quy ho ặch s ử dụng đất chậm, việc chỉnh lý biến động đất đai không đ ược theo dõi, c ập nh ập th ường xuyên dẫn đến việc tham mưu không đầy đủ, thiếu chính xác trong vi ệc quy ho ạch, thu hồi đất và giảI quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai. - Việc thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ việc quy hoặch phát tri ển đô th ị và các khu công nghiêpk nhiều nơI chưa cân nhắc, tính toán đồng bộ toàn di ện dẫn đến tr ường h ợp người dân bị thu hồi gần hết hoặc hết đất sản xuất, được đềm bù bằng tiền (không có đất khác để giao), giá trị thấp, việc chuyển dổi nghề nghiệp là rất khó khăn do trình đ ộ hạn chế dẫn đén thất nghiệp, đời sống gặp nhiều khó khăn, phát sinh các t ệ n ạn xã h ội và phát sonh ra khiếu kiện. Điển hình như trường hợp khiếu kiện dông người v ề d ự án C ụm công nghiệp xã lai Vu, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương: thu hồi 200ha chi ếm 80% đ ất nông
  12. 12 nghiệp của toàn xã với tổng số tiền trên 1.000 hộ dân tương ứng v ới 5.000 nhân kh ẩu ( trong độ tuổi lao động gần 2.600 người), hi ện nay đ ất nông nghi ệp v ủa toàn xã ch ỉ còn trên 20ha, nhưng bước đầu dự án mới thu hút được 100 lao đ ộng đi đào tạo ngh ề và 35 lao động đI học nghề may, số còn laik người dân chưa có công ăn việc làm, trong khi đó họ chỉ là những lao động thuần nông. - Nguyên nhân từ việc quản lý thiếu chặt chẽ, còn sai sót của c ơ quan nhà n ước: đo đ ạc không chính xác diện tích, nhầm lẫn địa danh, thu hồi đất không có quyết đ ịnh, không làm đầy đủ các thủ tục pháp lý, giao đất, cho thuê đất, đấy thầu đất, bồi thường gi ải toả và sử dụng những khoản tiền thu được không công khai gây ngờ vực cho nhân dân. Việc giao đất tráI thẩm quyền, không đúng đối tượng, giao sai di ện tích, v ị trí, s ử d ụng tiền thu từ đất sai quy định của pháp luật hoặc người sử dụng đất đã làm đủ các nghĩa vụ theo quy định nhưng không được hợp thức quyền sử dụng đất, c ập giấy ch ứng nh ận quyền sử dụng đất là những nguyên nhân tạo thành khiếu ki ện đông người, thành các đoàn khiếu kiện đến các cơ quan Trung ương, Khi phát sinh khiếu kiện, cấp uỷ, chính quyền nhiều nơi chưa tập trung chỉ đạo gi ải quyết kịp thời, còn né tránh, đùn đẩy hoặc cùng một cấp có nhiều quyết định nội dung giảI quyết khác nhau đối với một vụ việc, có những vụ việc tương tự như nhau nhưng kết quả giải quyết lại trái ngược nhau, do đó người dân nghi ngờ không tin t ưởng vào cách gi ải quyết của chính quyền cấp đó gây khiếu kiện vượt cấp. Các vụ việc đã được giải quyết nhưng việc tổ chức thực hiện chưa tốt, thiếu kiểm tra, đôn đốc kịp thời để khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc, làm phát sinh nh ững quan h ệ khi ếu kiện mới phức tạp hơn. Một số địa phương sau khi ban hành quyết định gi ải quyết khi ếu nại cuối cùng có sai sót không được sửa đổi, bổ sung do đó gây tâm lýngờ v ực v ề chính quyền địa phương giảI quyết không đúng chính sách pháp luật và người dân ti ếp tục khi ếu nại. Một số cán bộ vì lợi ích kinh tế, tranh thủ trong th ời gian đ ương ch ức đã c ố tình vi phạm chính sách pháp luật đất đai để trục lợi. + Một số chủ dự án sau khi được giao đất, cho thuê đất đã s ử d ụng không đúng m ục đúch, không theo dự án được duyệt, gây nên bất bình cho nhân dân làm phát sinh khi ếu kiện. - Nhiều vụ việc khiếu nại kéo dìa do giá trị đất cao, nên đòi được m ột m ảnh đ ất thì có một khoản thu nhập rất lớn. Có một số trường hợp người dân mặc dù hiểu rõ các quy định của pháp luật song cố tình không thực hiện do không tho ả mãn các yêu c ầu cá nhân nên vẫn tiếp tục đI khiếu nại, có trường hợp lợi dụng để kích động, trục lợi….
  13. 13 - Tình trạng lấn chiếm đất đai diễn ra phổ bi ến, việc chuyễn nh ượng trao tay trong nhân dân không tuân theo quy định của pháp luật làm phát sinh các khiếu kiện khó giải quyết. CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 1. Những vấn đề chung: Khi giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai phải quán tri ệt các nguyên tắc sau: - Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nứơc thống nhất qu ản lý; Nhà n ước ch ỉ giao quyền sử dụng cho công dân; Nhà n ước có quyền thu h ồi đ ất và ng ười s ử d ụng đ ất được đền bù theo quy định của pháp luật.
  14. 14 - Trong quá trình Cách mạng, theo tình hình cụ thể mà Đảng và Nhà n ước có các chủ trương, chính sách đất đai phù hợp. Vì vậy giải quyết tranh chấp, khi ếu n ại, tố cáo phải căn cứ vào thời điểm phát sinh của vụ việc và chính sách tương ứng của thời kỳ đó. - Giải quyết các khiếu nại, tranh chấp đất đai trên c ơ sở tôn trọng quá trình sử dụng ổn định của các chủ sử dụng đất, không giũ rối, kiên quyết bảo v ệ thành qu ả Cách mạng và lợi ích của người sử dụng đất, đồng thời phải tôn tr ọng quy ho ạch s ử d ụng đ ất của chính quyền địa phương. - Khi giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai n ếu phát sinh nh ững v ấn đề về kinh tế, lợi ích vật chất ... cần phải đảm bảo lợi ích Nhà nước và quan tâm thích đáng lợi ích của người sử dụng đất .
  15. 15 2. Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai Cơ chế giải quyết khiếu nại có liên quan đến đất đai hiện nay, theo Lu ật Đ ất đai quy định trường hợp quyết định của Chủ tịch U ỷ ban nhân dân cấp tỉnh là quyết đ ịnh cu ối cùng thì chấm dứt khiếu nại và Luật Khiếu nại, tố cáo quy định chỉ xem xét quyết đ ịnh cuối cùng của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh khi phát hiện có dấu hi ệu vi phạm pháp luật. Trong khi chất lượng các quyết định cuối cùng còn hạn chế; trong số gần 1.000 quyết định giải quyết của cấp tỉnh mà Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét v ừa qua có kho ảng gần 20% quyết định phải sửa đổi, bổ sung, có địa phương người khiếu đúng chiếm tỷ lệ hơn 30%, cá biệt có vụ ban hành đến bốn quyết định đều sai; 64 v ụ vi ệc c ủa Th ủ t ướng Chính phủ giao Thanh tra Chính phủ phúc tra lại có đến 34 vụ việc phải sửa hoặc thay đổi quyết định. Do quy định không rõ ràng, nên để phát hiện được quyết đ ịnh cu ối cùng có d ấu hiệu vi phạm pháp luật và để được xem xét quyết định đó theo quy đ ịnh c ủa pháp lu ật là một việc không dễ dàng. Vừa qua không ít trường hợp quyết định cuối cùng sai không được phát hiện và xử lý kịp thời, có trường hợp nhờ dân lên Trung ương "kêu oan" m ới phát hiện được quyết định cuối cùng sai. Luật quy định quyết đ ịnh cu ối cùng có hi ệu l ực thi hành, có trường hợp khi phát hiện quyết định cuối cùng sai, thì vi ệc đã r ồi, nh ư nhà b ị đập, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã bán, th ậm chí có ng ười đã vào tù… Luật quy định Thủ tướng Chính phủ là người có thẩm quyền xem xét lại quyết định cuối cùng có dấu hiệu vi phạm pháp luật, do đó người khiếu nại lên Trung ương tìm Thủ tướng Chính phủ để khiếu nại quyết định cuối cùng của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Theo thống kê hàng năm, có đến hàng chục nghìn đơn khi ếu n ại và hàng nghìn người khiếu nại xin được gặp Thủ tướng Chính phủ; Thủ tướng Chính phủ và các c ơ quan giúp Thủ tướng Chính phủ mất nhiều thời gian xử lý, không đủ sức đáp ứng yêu c ầu, làm phức tạp tình hình. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình, gọi là "khiếu kiện vượt cấp" lên Trung ương. Vì thế giải quyết khiếu n ại hành chính không có điểm dừng.
  16. 16 Việc mở rộng thẩm quyền để Toà án xét xử khiếu n ại hành chính là đúng. Lu ật Đất đai năm 2003 tại Điều 138 quy định: Trường hợp Ch ủ t ịch U ỷ ban nhân dân c ấp huyện giải quyết lần đầu, người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện ra Toà án hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh gi ải quyết lần đầu mà ng ười khi ếu n ại không đồng ý có quyền khởi kiện ra Toà án. Nhưng người khi ếu n ại ch ọn con đ ường ti ếp khiếu đến cơ quan hành chính cấp trên hơn việc khởi kiện ra Toà án, vì ra Toà ph ải ch ịu án phí, đủ thủ tục và qua các cấp của Toà xét xử nếu có kháng án. Do đó, h ầu h ết ng ười khiếu nại quyết định hành chính tiếp khiếu lên cơ quan hành chính có thẩm quyền c ủa cấp trên, hết cấp tỉnh lên cấp Trung ương. Tình hình trên đang đặt ra sự cần thiết phải đổi mới c ơ chế gi ải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai. Phải thể chế hoá đúng đường lối gi ải quyết các tranh chấp, khi ếu nại, tố cáo có liên quan đến đất đai mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương l ần th ứ 7 khoá IX đã nêu: "Việc giải quyết tranh chấp, trước hết cần tiến hành hoà giải, n ếu hoà gi ải không thành thì đưa ra Toà án giải quyết. Nhà nước quy đ ịnh th ời hi ệu và th ời h ạn giải quyết các khiếu nại không để kéo dài, Uỷ ban nhân dân t ỉnh, thành ph ố tr ực thuộc Trung ương là cấp giải quyết cuối cùng các khiếu nại v ề đ ất đai trong ph ạm vi thẩm quyền của các cấp ở địa phương; trường hợp các đương sự không nh ất trí v ới quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành ph ố tr ực thu ộc Trung ương thì đ ưa ra Toà án giải quyết. Giải quyết tố cáo về đất đai thì theo pháp luật tố cáo". Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương thì đề nghị đối với các quyết đ ịnh c ủa U ỷ ban nhân dân cấp tỉnh, dù là quyết định giải quyết lần đầu hay cuối cùng, nếu người khiếu nại không đồng ý thì có quyền kiện ra Toà án giải quyết; bãi b ỏ vi ệc Th ủ t ướng Chính phủ xem xét giải quyết khiếu nại cuối cùng trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm. Với cơ chế giải quyết trên sẽ đảm bảo giải quyết được khách quan, người gi ải quyết độc lập với người ra quyết định hành chính, tránh được tình tr ạng "v ừa đá bóng v ừa thổi còi", nó càng mở rộng dân chủ hơn trong vi ệc bảo v ệ quyền, l ợi ích h ợp pháp c ủa công dân trước pháp luật, người khiếu nại chịu trách nhiệm trước pháp luật khi thực thi quyền khiếu nại, đồng thời buộc cơ quan hành chính và cá nhân có th ẩm quyền ph ải ch ịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của chính mình mà phải nâng cao ch ất l ượng khi ban hành các quyết định hành chính. Việc nghiên cứu thiết lập một cơ chế nào để gi ải quyết bước ti ếp theo tr ước khi chuyển sang Toà án cũng cần tham khảo thêm kinh nghi ệm n ước ngoài, xem nên t ổ ch ức thế nào để vừa có hiệu lực, hiệu quả, vừa phù hợp với đặc điểm của nước ta.
  17. 17 Kinh nghiệm cho thấy, việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai thời gian qua hiệu quả nhất là hoà giải, không chỉ chú trọng hoà giải khi phát sinh tranh chấp, mà khi giải quyết khiếu nại tiếp tục hoà giải cũng đạt nhiều kết quả, và cả trong trường hợp Toà án xét xử có nơi hoà giải thành cũng đạt tỷ lệ cao; hoà giải thành càng nhi ều càng t ốt vì giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai ngoài việc đảm bảo quyền, l ợi ích h ợp pháp của công dân, đảm bảo sự ổn định, còn phải tăng c ường sự đoàn k ết gi ữa Nhà n ước v ới dân, trong nội bộ nông dân, giữa dân với dân và trong thân tộc… Do đó, khi phát sinh khiếu nại quyết định hành chính c ủa U ỷ ban nhân dân c ấp t ỉnh, cần có bước hoà giải tiếp theo, nhưng ở một trình độ tổ chức cao hơn. Hi ện nay, tr ước mắt có thể dựa vào tổ chức ở địa phương đang có chức năng, nhiệm vụ phù hợp với vi ệc hoà giải giữa người khiếu nại và người ban hành quyết định là Ch ủ tịch U ỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện là c ơ quan quyền l ực nhà n ước ở đ ịa phương, thực hiện chức năng giám sát việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại c ủa U ỷ ban nhân dân, nếu Thường trực Hội đồng nhân dân chủ trì, có sự tham gia c ủa M ặt tr ận T ổ quốc và đoàn thể, ban ngành hữu quan thì hiệu quả hoà giải sẽ rất tốt. Việc tiếp dân khiếu nại quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện cũng nên giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân chủ trì, để thực hiện việc hoà giải; trường hợp U ỷ ban nhân dân giải quyết sai thì yêu cầu xem xét lại; trường hợp gi ải quyết đúng thì có trách nhiệm giải thích và yêu cầu người khiếu nại thi hành quyết định, qua đó mà đ ưa r ất ít v ụ việc sang Toà án giải quyết. Mọi việc đều được giải quyết có hiệu quả ngay tại c ơ sở và địa phương là phương án tối ưu trong tình hình hiện nay, có thể ta làm thử một số loại hình tổ chức hoà giải ở một số địa phương để rút kinh nghi ệm, hoàn thi ện c ơ ch ế gi ải quyết khiếu nại hành chính đạt hiệu quả cao. Đi đôi với đổi mới cơ chế giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai được đầy đủ, hệ thống và đồng bộ; rà soát nh ững quy định chưa phù hợp hoặc những vấn đề mới phát sinh, để kịp th ời sửa đ ổi, b ổ sung, tháo gỡ các vướng mắc, chú ý các quy định và ngôn ngữ c ủa luật, văn bản d ưới lu ật phải được thể hiện hoặc giải thích đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, nh ất là đ ối v ới các v ấn đ ề có liên quan đến tranh chấp, khiếu nại; hướng dẫn để thống nh ất n ội dung gi ải quy ết tranh chấp, khiếu nại về đất đai; và có tư vấn về pháp luật nhằm tạo cơ h ội đ ể m ọi người ti ếp cận với pháp luật đất đai hiểu biết, đồng thuận giữa người ra quyết định, người khi ếu n ại và người giải quyết khiếu nại.
  18. 18 Việc đổi mới cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính có liên quan lĩnh v ực đất đai, không những nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại hành chính, phù hợp với xu h ướng cải cách hành chính, cải cách tư pháp trong nước, mà còn phù h ợp v ới thông l ệ qu ốc t ế, trong tiến trình hội nhập của nước ta hiện nay. Trên đây là những vấn đề đặt ra đối với công tác giải quyết tranh ch ấp, khi ếu n ại trên lĩnh vực đất đai hiện nay mà sinh viên xin đề xuất . KẾT LUẬN Khiếu nại tố cáo là quyền cơ bản c ủa công dân đ ược pháp lu ật n ước ta ghi nh ận và đảm bảo thực hiện. Nó cần được bổ sung, hoàn thiện hơn để phục vụ tốt hơn công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân nhất là trong th ời kỳ đ ổi m ới v ề m ọi m ặt. K ết quả thu thập và nghiên cứu thông tin đã giúp cho chuúng ta hiều rõ nhưng b ất c ấp còn tôn tại và tìm ra hướng giải quyết có ích cho công cuộc đổi mới xây dựng đất nước. Đây là bản báo cáo về kết quả thực tập c ủa em trong th ời gian th ực t ập tại Thanh tra Chính phủ. Do chỉ đọc trong các tài liệu sẵn có nên không thể bao quát đ ược toàn b ộ mọi mặt của vấn đề nhưng nó đã giúp em hiểu thêm những ki ến th ức b ổ ích v ề công vi ệc thanh tra đầy phức tạp và chung ta đều có thể góp sức xây dựng đất nước ta ngay càng giàu đẹp. Xin chân thành cảm ơn!
  19. 19
  20. 20 MỤC LỤC Trang Giới thiệu về chuyên đề Những nội dung chính Chương I: Cơ sở pháp lý về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai 1. Khái niệm khiếu nại, tố cáo A Khái niệm khiếu nại B Khái niệm tố cáo 2. Quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai 2.1. Khiếu nại, tố cáo về đất đai 2.2. Trình tự giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 3. Chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra Chính phủ trong giải quyết khiếu nại, t ố cáo Chương II: Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai ở địa phương 1. Nội dung khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai 2. Tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai 3. Nguyên nhân chủ yếu phát sinh khiếu nại, tố cáo, trang chấp về đất đai Chương III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng gi ải quy ết khi ếu n ại, t ố cáo trong lĩnh vực đất đai 1. Những vấn đề chung 2. Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai Kết luận Mục lục Danh mục tài liệu tham khảo DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Thanh tra Chính phủ, Quy trình, nghiệp vụ tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại hành chính, Nxb Hà Nội, H. 2007 2. Thanh tra Chính phủ, Báo cáo tổng kết công tác thanh tra năm 2007 3. Thanh tra Hà Nội, Báo cáo tổng kết công tác thanh tra năm 2007
Đồng bộ tài khoản