Công nghệ thông tin - URL

Chia sẻ: Nguyen Thi Phuong | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:6

0
121
lượt xem
18
download

Công nghệ thông tin - URL

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

URL, Viết tắt của Uniform Resource Locator, được dùng để tham chiếu tới tài nguyên trên Internet. URL mang lại khả năng siêu liên kết cho các trang mạng. Các tài nguyên khác nhau được tham chiếu tới bằng địa chỉ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Công nghệ thông tin - URL

  1. URL, viết tắt của Uniform Resource Locator, được dùng để tham chiếu tới tài nguyên trên Internet. URL mang lại khả năng siêu liên kết cho các trang mạng. Các tài nguyên khác nhau được tham chiếu tới bằng địa chỉ. Để có thể tìm đến một đường dẫn internet để chỉ mục nội dung cần thiết phục vụ cho người sử dụng internet, chúng ta có thể sử dụng các công cụ trên mạng internet. Hiện nay các công cụ tìm kiếm trên mạng Internet ngày càng phổ biến và được sử dụng rộng rãi. Hoặc chúng ta có thể sử dụng việc tìm kiếm đến URL thích hợp thông qua danh bạ các website tại Việt Nam. • hyperlink thì dịch là siêu liên kết. Còn chữ đúng nghiã và dể hiểu hơn phải là liên kết ngoài (hay liên kết vượt ngoại còn nếu thích Hán việt thì dùng ngoại liên kết Định nghiã đơn giản Anh ngữ là: A link in a given document to information within another document. These links are usually represented by highlighted words or images. The user also has the option to underline these hyperlinks. Không hàm chưá chút xíu nào là siêu hết! Cookie là gì? Cookie có hại gì không? Nó có phải là phần mềm gián điệp không? Cookie được xem là những tin nhắn đơn giản được máy chủ đang quản lý một website, chủ động gửi đến trình duyệt web đang dùng để lướt trang web đó, nhằm mục đích theo dõi các hoạt động của người đang xem website. Tin nhắn này có định dạng mào đầu (header) HTTP chỉ là một chuỗi văn bản. Chuỗi văn bản này sẽ được đưa vào trong bộ nhớ của trình duyệt web. Trình duyệt web sẽ lần lượt lưu giữ các thông tin cookie lên đĩa cứng, vì thế khi trình duyệt tắt đi và bật trở lại thì các thông tin cookie vẫn có thể được dùng tiếp. Tin nhắn này có định dạng là một chuỗi văn bản đơn giản, nó sẽ được đưa vào thư mục lưu trữ “Temp” của trình duyệt web và trình duyệt web sẽ tự động lưu trữ mọi thông tin cookie vào đĩa cứng. Các thông tin này sẽ phản ánh thói quen của người dùng khi vào trang web đó, chẳng hạn như chuyên mục nào thích xem nhất… và sau đó sẽ tự động gửi các thông tin thu thập được về cho chủ nhân của trang web. Khi tắt đi trình duyệt thì cookie vẫn còn lưu trữ trong máy và vẫn sẽ tiếp tục hoạt động ở các lần
  2. ghé thăm sau. Dựa vào các thông tin mà cookie gửi về, chủ nhân trang web có thể biết được khách lướt web đang quan tâm về những vấn đề gì để sau đó tung quảng cáo phù hợp để bán sản phẩm. Tung cookie có rất nhiều cái lợi cho chủ trang web: - Họ có thể biết được một số thông tin về những người đang truy cập trang web của mình, biết được mức độ thường xuyên truy cập cũng như cả thời gian chi tiết truy cập. - Họ có thể biết được sự cảm nhận của người dùng khi duyệt web đó. Các cookie có thể giúp cho việc lưu trữ các thông tin cá nhân của bạn, mà những thông tin này giúp cho bạn khi vào trang web đó lần sau sẽ cảm thấy thuận tiện hơn. Điển hình là việc vào các trang web yêu cầu bạn “check” vào những ô đại loại như “Remember me on this computer”… chủ yếu là các trang web e-mail mạng, diễn đàn v.v mà lần truy cập sau bạn sẽ thấy nickname của mình hiện sẵn trong ô username, thậm chí nó còn nhớ luôn password và bạn chỉ cần “Enter” là vào thẳng được tài khoản đã đăng ký. Các trang mua sắm trực tuyến còn “siêu” hơn, nó sẽ nhớ luôn những lần mua sắm trước của bạn để tung quảng cáo ra những sản phẩm mới hơn cái bạn đã mua. Các máy chủ sẽ theo dõi việc mua sắm của bạn, xem bạn chọn các món hàng nào và sẽ lưu các thông tin này vào trong các cookie. - Họ sẽ dùng cookie để điều chỉnh các quảng cáo của mình. Cookie sẽ cung cấp cho chủ nhân của nó những quảng cáo nào được xem nhiều nhất từ đó đề ra các biện pháp điều chỉnh hoặc thiết kế phù hợp. Chủ nhân của các cookie không thể dùng nó để phát tán virus, spyware, trojan… được vì nó không thể truy được vào đĩa cứng của bạn. Tuy nhiên nó cũng có thể thu thập được khá nhiều thông tin cá nhân của bạn, nhất là những thông tin mà bạn cung cấp cho trang web, chẳng hạn như thông tin thẻ tín dụng của bạn sẽ chứa trong các cookie nếu bạn cho phép nó nhớ theo kiểu “Remember me on this computer” hoặc “Nhớ tên truy cập…”. Thực chất Cookie không có gì độc hại nhưng hiểm họa tiềm năng thì cũng có thể có. Những cookie thuộc dạng "siêu hiện đại" thời nay có thể thu thập được nhiều thứ hơn bạn tưởng. Tuy không nguy hiểm cỡ như spyware, virus, trojan.. nhưng việc chủ nhân các website tung cookie vào máy tính người dùng đã bị xem là bất hợp pháp tại Mỹ.
  3. Tốt nhất bạn nên diệt sạch cookie bằng những công cụ “quét dọn” máy tính như: SBMAV Disk Cleaner, Your Uninstaller! 2006 Pro, System Cleaner, Fast Cleaner Gold, HS Cleandisk Pro, Morpheus Clean Disk v.v Để ngăn cấm cookie xâm nhập vào máy tính khi sử dụng Internet Explorer, bạn làm như sau: Vào menu Tool -> Internet Option -> chọn thẻ Privacy -> nhấn vào nút “Advance” -> đánh dấu vào ô “Override automatic cookie handling”, sau đó đánh dấu hết vào 2 ô “Block” để hoàn toàn chặn lại cookie và nhấn OK để hoàn tất. Để tìm kiếm các trang web nói riêng, các tài nguyên trên Internet nói chung và đảm bảo việc truy cập tới chúng, người ta sử dụng hệ thống WWW (World Wide Web). Hệ thống WWW được cấu thành từ các trang web và được xây dựng trên giao thức truyền tin đặc biệt, gọi là giao thức truyền tin siêu văn bản HTTP (HyperText Transfer Protocol). ISP (Internet service Provider): nhà cung cấp dịch vụ Internet Ở Việt Nam có các nhà cung cấp như: Viettel, FPT, VNPT… FTP(File transfer Protocol): Giao thức truyền file FTP cho phép chuyển các tệp từ một trạm này sang một trạm khác, bất kể các trạm đó ở đâu và sử dụng hệ điều hành gì, chỉ cần chúg đều được nối với internet và có cài đặt FTP. Website gồm một hoặc nhiều trang web của hệ thống WWW dược tổ chức dưới một địa chỉ truy cập. 1. Tìm hiểu về các trình duyệt web thông dụng: Để truy cập đến trang web người dung cần phải sử dụng một trương trình đặc biệt được gọi là trinhd duyệt web. Trình duyệt web là chương trình giúp người dung giao tiếp với hệ thống WWW : truy cập các trang web, tương tác với các máy chủ trong hệ thống WWW và các tài nguyên khác của Internet. Nhờ các lien kết, trình duyệt web có thể chuyển từ trang web này sang trang web khác một cách dễ dàng. Do đó việc truy cập các trang web còn gọi là duyệt web. Có nhiều trình duyệt web khác nhau, trong đó thông dụng nhất là các trình duyệt Internet Explorer và Netscape Navigator.
  4. Để truy cập một trang web đã biết địa chỉ, ta phải gõ địa chỉ đó vào thanh địa chỉ (address) rồi nhấn Enter hay nháy chuột vào nút Go. Trình duyệt web sẽ tìm và hiển thị trang web đó nếu tìm thấy. 2. Tìm kiếm thông tin trên Internet: Một nhu cầu phổ biến của nhiều người dung là: Làm thế nào để truy cập được các trang web chứa nội dung lien quan đến vấn đề mà mình quan tâm? Có 2 cach thường được sử dụng: - Tìm kiếm theo danh mục địa chỉ hay lien kết được các nhà cung cấp dịch vụ đặt trên các trang web. Ví dụ: trang web http:// www.nhandan.org cung cấp khá nhiều lien kết đến các cơ quan chính phủ hay cung cấp danh mục của 500 trường đại học hang đầu Thế Giới: http://ed.sjtu.edu.cn/rank/2004/top500(1-100).htm - Tìm kiếm nhờ các máy tìm kiếm (Search Engine). Máy tìm kiếm cho phép người tìm kiếm thông tin trên Internet theo yêu cầu của người dùng. Người dung nhập từ cần tìm kiếm và nhận được danh mục các địa chỉ có nội dung chứa từ cần tìm kiếm. Hiện nay có nhiều website cung cấp máy tìm kiếm:  Google: www.google.com.vn  Yahoo: www.yahoo.com  Alta Vista: www.altavista.com  MSN: www.msn.com 3. Thư điện tử: Thư điện tử (Electronic Mail hay E-mail) là dịch vụ thực hiện việc chuyển thông tin trên Internet thông qua các hộp thư điện tử. Sử dụng dịch vụ này ngoài nội dung thư có thể truyền kèm tệp (văn bản, âm thanh, hình ảnh, video…) Để gửi và nhận thư điện tử, người dung cần đăng kí hộp thư điện tử (còn được gọi là tài khoản thư điện tử), do nhà cung cấp dịch vụ thư điện tử cấp phát, gồm tên truy nhập và mật khẩu để truy cập khi gửi nhân thư điện tử. Mỗi hộp thư điện tử được gắn với một địa chỉ thư điện tử duy nhất có dạng: @ Trong đó, tên truy cập do người dùng hộp thư tự đặt. Ví dụ: Với địa chỉ phuongham@yahoo.com thì phuongham là tên truy cập, còn yahoo.com là địa chỉ của máy chủ.
  5. Tương tưh hệ thống bưu chính, để thực hiện dịch vụ thư điện tử cần có nơi trung chuyển và phân phát thư (máy chủ - mail server), hộp thư nhận (Inbox), địa chỉ (address) và nội dung thư (message). Để gửi thư điện tử, người gửi phải chỉ rõ địa chỉ hộp thư điện tử của người nhận. Nội dung thư điệnt ử gửi đi sẽ được lưu trong hộp thư nhận ở máy chủ. Nhờ trình duyệt web hoặc chương trình chuyên dụng, người nhận có thể mở thư trong hộp thư để xem và có thể tải về máy của mình. Hiện nay có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ thư điện tử cho phép người dung đăng kí hộp thư điện tử không thu phí như các website www.fpt.vn www.yahoo.com ….. 4.Vấn đề bảo mật thông tin: Ngoài việc khai thác các dịch vụ trên Internet, người dùng cần phải biết bảo vệ mình trước các nguy cơ trên Internet như tin tặc, virus, thư điện tử không rõ nguồn gốc…Vấn đề bảo mật thông tin rất quan trọng trong thời đại Internet. a) Quyển truy cập website Có nhiều cách để bảo vệ các trang web, một trong các cách đó là chỉ cho phép truy cập có giới hạn, ngươi dung muốn sủ dụng các dịch vụ hoặc xem thông tin phải đăng nhập bằng tên và mật khẩu. Nhiều cơ quan trường học, công ty sử dụng cách này để một mặt cho phép thông tin có thể được phổ biến rộng rãi, mặt khác chỉ dành cho đúng các đối tương quan tâm hoặc các đối tượng được phép sử dụng. b) Nguy cơ nhiễm virus khi sử dụng các dịch vụ Internet. Khi tải về từ Internet các tệp tài liệu, âm thanh hay một chương trình tiện ích….thì tệp đó có thể đã bị nhiễm virus. Ngay khi chỉ duyệt các trang web, thông tin cũng có thể bị mất hoặc nhiễm virus. Để tự bảo vệ máy tính của mình, người dung nên cài đặt một phần mềm chống virus chẳng hạn: Norton, Anti-Virus, BKAV….Phần mềm này sẽ kiểm tra tệp tải về và sẽ thông báo nếu tệp đó có chứa virus. Cần phải cập nhật thường xuyên các phần mềm chống virus để đảm bảo ngăn ngừa những loại virus mới xuất hiện. 5. Sử dụng Internet Explorer như thế nào? Khởi động trình duyệt IE: Ta sẽ làm quen với việc tìm kiếm thông tin nhờ sử dụng trình duyệt internet explorer (viết tắt là IE). Để khởi động trình duyệt, ta thực hiên một trong các thao tác sau: • Nháy đúp chuột vào biểu tượng IE trên màn hình nên. • Nhấn Internet trên bàn phím nếu có Truy cập trang web bằng địa chỉ:
  6. Khi đã biết địa chỉ của một trang web, ví dụ www.yeuanh_xinem_dungkhoc.vn , để truy cập trang web đó ta thực hiên các bước sau: o Gõ vào ô địa chỉ www.yeuanh_xinem_dungkhoc.vn o Nhấn Enter Trang web được mở ra. (thế thôi nhé cưng, anh mệt rồi)
Đồng bộ tài khoản