Cúc kim tiền - cây hoa của Mặt trời (Kỳ 1)

Chia sẻ: pstrangsang

Cúc kim tiền còn gọi Cúc Souci hay Marigold, tên khoa học Calen dula officinalis, thuộc họ Cúc - Asteraceae. Cúc kim tiền, với những bông hoa màu vàng cam rực rỡ, được trồng rất phổ biến tại các khu vườn Âu châu từ thời cổ La Mã. Người La Mã đã biết dùng hoa cúc này làm trà, uống để trị nóng sốt, ép hoa lấy nước cốt để đắp trị mụn cóc, mụn chai. Hoa dùng trong mỹ phẩm, làm thuốc nhuộm và làm phẩm màu trong một số thực phẩm và món ăn… Hoa Cúc kim...

Nội dung Text: Cúc kim tiền - cây hoa của Mặt trời (Kỳ 1)

Cúc kim tiền - cây hoa của Mặt trời

(Kỳ 1)



Cúc kim tiền còn gọi Cúc Souci hay Marigold, tên khoa học Calen -

dula officinalis, thuộc họ Cúc - Asteraceae. Cúc kim tiền, với những bông hoa

màu vàng cam rực rỡ, được trồng rất phổ biến tại các khu vườn Âu châu từ

thời cổ La Mã. Người La Mã đã biết dùng hoa cúc này làm trà, uống để trị

nóng sốt, ép hoa lấy nước cốt để đắp trị mụn cóc, mụn chai. Hoa dùng trong

mỹ phẩm, làm thuốc nhuộm và làm phẩm màu trong một số thực phẩm và

món ăn…


Hoa Cúc kim tiền, theo nhà thực vật Culpeper, là cây thuốc của Mặt trời, vì

hoa nở khi mặt trời mọc và khép lại khi mặt trời lặn.


Một câu chuyện thần thoại của Hy Lạp chép rằng: Caltha, một thiếu nữ đã

thầm yêu Thần Mặt trời Apollo, nhưng nàng đã bị tia nắng nung cháy... và từ nơi

nàng tan biến đã mọc lên một bông hoa Marigold đơn độc… Và nỗi đau buồn liên

kết với Marigold sẽ được giải tỏa nếu Marigold được bó chung với hoa Hồng…
Bó hoa gồm Marigold và Hồng là biểu tượng cho một mối tình tuy buồn nhưng lại

ngọt ngào!


Đặc tính trị liệu của Marigold đã được biết từ hàng chục thế kỷ trước. Cây

được xem là một dược thảo “thần kỳ”. Tuy hoa có thể là biểu tượng cho nỗi ưu

phiền, nhưng Culpeper và Gerard (hai nhà dược thảo học lừng danh) đã xem hoa

như “niềm an ủi cho con tim và tinh thần”. Trong thời Trung cổ, St Hildegard và

Albert “le Grand” đã dùng cây Marigold để trị các rối loạn đường ruột, tắc gan,

côn trùng đốt hay cắn. Vào thế kỷ 16 và 17, trà pha từ Cúc kim tiền được dùng trị

bệnh mắt, nhức đầu, vàng da và đau răng…


Người Anh gọi cây là Marigold để chỉ sự kiện hoa được dùng trong các dịp

lễ lạc tại nhà thờ, và một trong những hoa được tiến dâng cho Thánh mẫu Maria.

Hoa được đính, kết thành vòng để nơi cửa, làm thành dây treo trong các ngày lễ

Tháng Năm.


Tại châu Âu, cánh hoa phơi khô đã được dùng làm gia vị để thay thế cho

Nghệ tây - Saffron (đầu nhị của cây Safran - Crocus sativus - đúng hơn là để giả

Saffron, vì giá Saffron quá đắt).


Tại Việt Nam, Cúc kim tiền được du nhập, trồng làm cây cảnh tại Sapa, Đà

Lạt và Tây Nguyên vì cây chỉ mọc tốt ở vùng có khí hậu mùa đông từ -21 đến +4

độ C.
Đặc tính thực vật


Chi Calendula có khoảng 30 loài, trong đó chỉ có Kim tiền thuốc

(Calendula officinalis) là được trồng làm thuốc. Cây có nguồn gốc từ vùng Địa

Trung Hải, phát triển trong vùng Balkans và trồng nhiều tại Đông Âu, Đức. Phần

lớn cây dùng làm dược liệu được nhập từ Ai Cập, Ba Lan và Hungary.


Cúc kim tiền thuốc (Marigold), thân thảo, hằng niên, ít khi lưỡng niên, mọc

cao 50 - 70 cm, thân cứng và phân nhánh nhiều. Lá phía dưới thân hình cái bay

(thợ hồ) có cuống, trong khi đó các lá phía trên ngọn mọc cách, hình mũi mác hay

bầu dục, dài 5 - 12 cm, có lông mềm ở cả hai mặt. Hoa hình đầu, khá lớn, đường

kính 3 - 5 cm, phía giữa là các hoa hình ống, bao quanh là các hoa hình lưỡi, xếp

thành vòng (ở dạng hoa kép: trong đầu hoa chỉ có hoa hình lưỡi và không có hoa

hình ống). Màu hoa thay đổi từ vàng tươi lưu huỳnh, vàng đậm hay da cam. Bế

quả cong hình lưỡi liềm.


Một số chủng được trồng làm hoa cảnh hay để cắt cành.


Thành phầnhóa học


Hoa chứa:


- Tinh dầu dễ bay hơi (0,2 - 0,3%) gồm phần lớn là các sesquiterpen, chất

chính là alpha-cadinol (25%) và hơn 60 chất khác gồm T-cadinol, alpha và beta-

jonon, beta-jonon-5,6-epoxid, dihydro actinidiolid.
- Các triterpen saponin (2 - 10%): 6 chất trong nhóm này thuộc loại mono

và bidesmosid, được đặt tên là saponosid A đến F gồm một sườn chính loại

oleanolic acid 3-O-beta-D-glucoronid.


- Các triterpen alcohol (dạng tự do và dạng ester hóa) đa số thuộc loại

mono- và di-, triol của gamma-taraxen, taraxen-, lupen- và ursen, gồm cả khoảng

0,8% monol (alpha và beta-amyrin, lupeol, taraxasterol..), khoảng 4% diol (như

faradiol, arnidiol ester) và các triol như heliantrol A, B và C…


- Sterin (0,06 - 0,08%) dưới dạng tự do hay ester và glucosid…


- Carotenoid (15 loại), nhiều nhất là zeaxanthin, citroxanthin, flavochrom,

flavoxanthin tạo ra màu vàng cam tươi…


- Flavonoid (theo dược điển Âu châu, phải ít nhất là 0,4% tính theo

hyperosid) như 3-O-glucosid, 3-O-neo-hesperidosid và rhamnosyl rutinosid,

quercetin…


- Các Coumarin như scopoletin, umbelliferon, easculetin…


- Các sterol và acid béo như calendic acid.


Trong Calendula arvensis, thường được sử dụng tại Ý, các sesquiterpen

glycosid và triterpenoid saponin được cô lập từ phần thân cây mọc trên mặt đất;

trong số các sesquiterpen glycosid có các hợp chất epicubebol và alloaromadentol.
Ngoài ra trong rễ có insulin. Trong hột có 30,6 - 36,9% protein và 40,8 -

45,8% dầu béo.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản