Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Chia sẻ: phidoigabay940

Võ Nguyên Giáp (sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911) là đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã chỉ huy quân đội thắng Pháp trong trận Điện Biên Phủ. Ông được xem như một người có tài khi dẫn dắt một quân đội nhỏ đánh bại một cường quốc. Chiến thắng của quân Việt Minh tại Điện Biên Phủ đã chấm dứt chủ nghĩa thực dân, đập tan huyền thoại bất khả chiến bại của phương Tây và thúc giục tinh thần của các lực lượng chống thực dân trên toàn thế giới....

Nội dung Text: Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Võ Nguyên Giáp (sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911) là đại tướng đầu tiên của Quân
đội Nhân dân Việt Nam, người đã chỉ huy quân đội thắng Pháp trong trận Điện Biên
Phủ. Ông được xem như một người có tài khi dẫn dắt một quân đội nhỏ đánh bại
một cường quốc. Chiến thắng của quân Việt Minh tại Điện Biên Phủ đã chấm dứt
chủ nghĩa thực dân, đập tan huyền thoại bất khả chiến bại của phương Tây và thúc
giục tinh thần của các lực lượng chống thực dân trên toàn thế giới.Ở Việt Nam, ông
được gọi là người anh cả của Quân đội nhân dân
Võ Nguyên Giáp sinh ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
trong một gia đình nhà nho nghèo, con của ông Võ Quang Nghiêm (Võ Nguyên
Thân). Võ Quang Nghiêm là một nho sinh thi cử bất thành về làm hương sư và thầy
thuốc Đông y, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, bị Pháp bắt,
đưa về giam ở Huế và mất trong tù.

Năm 1925, Võ Nguyên Giáp rời trường Tiểu học Đồng Hới ở quê nhà Quảng Bình
để vào Huế ôn thi vào trường Quốc học Huế (ông đỗ thứ hai sau Nguyễn Thúc
Hào). Hai năm sau, ông bị đuổi học cùng với Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn
(tức Hải Triều), Phan Bôi sau khi tổ chức một cuộc bãi khóa. Ông về quê và được
Nguyễn Chí Diểu giới thiệu tham gia Tân Việt Cách mạng đảng, một đảng theo chủ
nghĩa dân tộc nhưng có màu sắc cộng sản thành lập năm 1924 ở miền Trung Việt
Nam. Nguyễn Chí Diểu cũng giới thiệu Võ Nguyên Giáp vào làm việc ở Huế, tại nhà
xuất bản Quan hải tùng thư do Đào Duy Anh sáng lập và ở báo Tiếng dân của
Huỳnh Thúc Kháng. Tại đây, Võ Nguyên Giáp bắt đầu học nghề làm báo, chuẩn bị
cho giai đoạn hoạt động báo chí trong thời Mặt trận Bình dân Pháp.


Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Thị Quang TháiĐầu tháng 10 năm 1930, trong sự kiện
Xô Viết - Nghệ Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và bị giam ở Nhà lao Thừa phủ (Huế),
cùng với người yêu là Nguyễn Thị Quang Thái, em trai là Võ Thuần Nho và các thầy
giáo Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng...

Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp
được trả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế.
Ông ra Hà Nội, học trường Albert Sarraut và đỗ. Ông tốt nghiệp ngành luật và kinh
tế chính trị năm 1937.

Năm 1934, ông lấy bà Nguyễn Thị Quang Thái (1915-1943), bạn học tại Quốc học
Huế và là một đồng chí của ông (bà cũng là em ruột của Nguyễn Thị Minh Khai).
Năm 1943, bà Thái chết trong nhà ngục Hỏa Lò, Hà Nội.

Từ 1936 đến 1939, ông tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, là
sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Uỷ ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào
Đông Dương đại hội. Ông tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp Notre voix
(Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (Lao động), biên tập các báo Tin tức, Dân
chúng.

Tháng 5 năm 1939, ông nhận dạy môn lịch sử tại trường tư thục Thăng Long, Hà
Nội do Hoàng Minh Giám làm giám đốc nhà trường.

Ngày 3 tháng 5 năm 1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng
Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Trung Quốc để gặp Hồ Chí Minh.
Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương trong năm này và bắt đầu các hoạt
động của mình trong Việt Nam Độc lập Đồng minh hội, một tổ chức chống phát-xít
và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam. Ông tham gia gây dựng cơ sở cách mạng,
mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng.


Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí MinhNgày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của Hồ
Chí Minh, ông thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu
Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17
súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy.

Ngày 25 tháng 12 năm 1944, đội quân này đã tiến công thắng lợi hai đồn Phai Khắt
và Nà Ngần.

Ngày 14 tháng 8 năm 1945, ông được bổ sung vào Ban chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó là ủy viên Thường vụ Trung ương, tham gia
Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và
Phó Bộ trưởng (nay gọi là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời (từ
ngày 28 tháng 8 đến hết năm 1945) và là Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân
quân tự vệ.

Trong Chính phủ Liên hiệp, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cho đến tháng 7 năm
1947 và từ tháng 7 năm 1948 trở đi).

Cũng trong năm 1946, ông tục huyền với bà Đặng Bích Hà (con gái giáo sư Đặng
Thai Mai).

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chiến tranh Đông Dương chính thức bùng nổ. Dưới sự
chỉ đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, ông bắt đầu lãnh đạo cuộc đấu tranh
vũ trang kéo dài 9 năm chống lại sự trở lại của người Pháp (1945-1954) với cương
vị Tổng chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng tư lệnh quân
đội kiêm Bí thư Tổng Quân uỷ. Ông được phong hàm Đại tướng vào ngày 25 tháng
1 năm 1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 năm 1948, cùng đợt có
Nguyễn Bình được phong Trung tướng, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn,
Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần
Tử Bình được phong Thiếu tướng. Tháng 8 năm 1948, ông là ủy viên Hội đồng
Quốc phòng Tối cao vừa mới được thành lập.

Từ tháng 8 năm 1945 ông là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng
Cộng sản Đông Dương và trở thành ủy viên Bộ Chính trị (thay thế Ban Thường vụ
Trung ương) Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951.

Ông là một người vận dụng chiến thuật du kích giỏi. Ông cũng là người lên kế
hoạch và trực tiếp chỉ huy trận đánh Điện Biên Phủ và thắng Pháp năm 1954.


Tướng Giáp báo cáo kế hoạch tấn công Điện Biên PhủCác chiến dịch ông đã tham
gia với tư cách là Tư lệnh chiến dịch - Bí thư Đảng ủy trong kháng chiến chống
Pháp:

Chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947)
Chiến dịch Biên giới (tháng 9 - 10, năm 1950)
Chiến dịch Trung Du (tháng 12 năm 1950)
Chiến dịch Đồng Bằng (tháng 5 năm 1951)
Chiến dịch Đông Bắc (tháng ?? năm 1951)
Chiến dịch Hòa Bình (tháng 12 năm 1951)
Chiến dịch Tây Bắc (tháng 9 năm 1952)
Chiến dịch Thượng Lào (tháng 4 năm 1953)
Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 3 - 5 năm 1954)
Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ mang đậm việc tạo thế, tổ chức hậu cần,
thay đổi chiến thuật. Sau chiến dịch này, Hiệp định Genève về Đông Dương được
ký kết, đặt dấu chấm hết cho sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam sau hơn 80
năm.
SAU CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
Từ năm 1954 đến năm 1976, Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ cương vị Ủy viên Bộ
Chính trị - Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh quân đội, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng. Ông còn là Phó thủ tướng Chính phủ, sau là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng (từ năm 1955 đến năm 1991).

Trong 21 năm (1954-1975) của cuộc Chiến tranh Việt Nam, ông thực hiện nhiệm vụ
xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tham gia xây dựng chiến lược chiến tranh
của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động của
Quân đội Nhân dân trong chiến tranh. Ngoài ra, ông còn tham gia nhiều hoạt động
Đảng Cộng sản và Nhà nước khác.

Trong một thời gian ngắn từ tháng 7 năm 1960 đến tháng 1 năm 1963 ông kiêm
thêm chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước.

Năm 1980, ông thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng vẫn tiếp tục là Ủy
viên Bộ Chính trị (đến năm 1982) và phó Thủ tướng phụ trách Khoa học - Kỹ thuật.
Người thay thế ông ở Bộ Quốc phòng là Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham
mưu trưởng Quân đội, một trong những cộng sự lâu năm nhất của ông.

Năm 1983 ông được Hội đồng Bộ trưởng phân công kiêm thêm vai trò Chủ tịch Ủy
ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch khi Ủy ban này được thành lập (cùng
với một số Bộ trưởng các Bộ và Tổ chức khác làm phó).

Năm 1991, ông thôi chức ủy viên Trung ương, phó Thủ tướng, nghỉ hưu ở tuổi 80.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng (1992), 2 Huân chương Hồ Chí
Minh, Huân chương Chiến thắng hạng nhất.

Ngày 25 tháng 8 năm 2007, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã mừng sinh nhật thượng
thọ lần thứ 96. Ông là chính khách Việt Nam sống lâu nhất tính cho đến thời điểm
này (cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng mất năm 2000, thọ 94 tuổi).

Thời gian gần đây tuy tuổi cao, sức yếu, nhưng ông vẫn quan tâm và đưa ra một số
lời bình luận trên mặt báo về tình hình đất nước như có bài báo yêu cầu kiểm định
và báo cáo Đại hội Đảng Cộng sản X về Vụ PMU18, hay cuộc gặp gỡ và khuyến
khích doanh nhân làm xuất khâu nông sản[9]. Vào ngày 1 tháng 11 năm 2007 ông
gửi thư trong đó bày tỏ sự phản đối chủ trương xây dựng Nhà Quốc hội ở khu di
tích 18 Hoàng Diệu. Ông cũng có bài viết thực trạng và kiến nghị 6 vấn đề "cơ bản
và cấp bách" nhằm triển khai có kết quả công cuộc đổi mới nền giáo dục và đào
tạo của Việt Nam hiện nay.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản