Cuộc thi tìm hiểu 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2014)

Chia sẻ: thanhdien94mt

Tài liệu Cuộc thi tìm hiểu 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2014) giúp các bạn hiểu rõ hơn về lịch sử Việt Nam.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Cuộc thi tìm hiểu 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2014)

 

  1. CUỘC THI TÌM HIỂU 60 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ (7/5/1954-7/5/2014) Họ và Tên :Mai Thanh Điền Ngày-tháng-năm sinh:25-04-1994 Nghề nghiệp:Sinh Viên - Giới tính:Nam Nơi cư trú:Ấp Bình Chánh Đông-Khánh Bình Tân Uyên-Bình Dương SĐT:0975048225 Đơn vị học tập:ĐH.Thủ Dầu Một Email:thanhdien94mt@gmail.com 1 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  2. Câu1:Vì sao Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược? Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược vì: Theo đánh giá của Nava và nhiều nhà quân sự Pháp-Mỹ thì Điện Biên Phủ ở vào “một vị trí chiến lược quan trọng chẳng những đối với chiến trường Đông Dương mà còn đối với miền Đông Nam Á,một trục giao thong nối liền các miền biên giới Lào,Thái Lan,Miến Điện,Trung Quốc,như ‘Cái bàn xoay” có thể xoay đi bốn phía. Việt Nam,Lào,Miến Điện,Trung Quốc,như “cái chìa khóa”bảo vệ Thượng Lào,từ đó đánh chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc trong những năm 1950-1953 và tạo điều kiện để đánh tiêu diệt quân chủ lực Việt Minh. Tại hội nghị Bộ chính trị bàn về nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954,chủ tịch Hồ Chí minh nhần mạnh”về hướng hoạt động,lấy Tây Bắc làm hướng chính,các hướng khác là hướng phối hợp.Hướng chính hiện nay không thay đổi,nhưng hoạt động có thể thay đổi .Phép dùng binh là phải” thiên biến vạn hóa “.Bộ chính trị cho rằng,Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh,nhưng lại có thế yếu là bị cô lập.Nó rất xa hậu phương của địch,mọi tiếp tế vận chuyển đều phải dựa vào đường không.Đối với ta, ,Điện Biên Phủ cũng là nơi xa hậu phương lớn.Để tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ ,khó khăn lớn nhất của ta là vấn đề cung cấp.Quân đội,hậu phương ta phát triển thuận lợi ,có thể khắc phục khó khăn về đường sá,vận tải tiếp tế. Ngày 6/12/1953,Bộ chính trị thong qua kế hoạch tác chiến của Tổng Tư Lệnh và Quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. 2 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  3. Câu 2:Trong chiến dịch Điện Biên Phủ Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có quyết định gì khó khăn nhất? -Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho rằng thực hiện phương án “Đánh nhanh- Thắng nhanh”là quá mạo hiểm,Đại tướng trình bày suy nghĩ của mình với những so sánh về lực lượng giữa ta và địch,không thể huy động toàn bộ sức mạnh của ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm trong một vài ngày.Khi đi thăm đường kéo pháo,Đại Tướng cảm thấy băn khoăn .Con đường kéo pháo thì khá dài,nằm rên địa hình hiểm trở,nhiều dốc,vực sâu rất khó đưa pháo vào trận địa đúng thời gian dự kiến,việc tiếp đạn khi chiến đấu sẽ rất khó khăn.Nhớ lời Bác dặn trước khi lên đường và Nghị quyết Trung ươnh hồi đầu năm “chỉ được thắng không được bại,vì bại thì hết vốn” Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định ba khó khăn mà chúng ta sẽ gặp khi tiến công địch: +Thứ nhất,bộ đội chủ lực ta đến nay chỉ tiêu diệt cao nhất là Tiểu đoàn địch tăng cường,có cộng sự vững chắc là Nghĩa Lộ,Nà Sản,chúng ta mới đánh vào vị trí Tiểu đoàn,dưới Tiểu đoàn,cộng sự dã chiến nằm trong tập đoàn cứ điểm vẫn có những trận không thành công ,bộ đội thương vong nhiều. +Thứ hai: trận này tuy không có máy bay, xe tăng nhưng đánh hiệp đồng binh chủng bô binh,pháo binh với quy mô lớn lần đầu tiên mà chưa qua diễn tập.Vừa qua có Trung đoàn trưởng xin trả lại pháo vì không biết phối hợp như thế nào. +Thứ ba:bộ đội ta từ trước đến nay mới chỉ quen tác chiến ban đêm,ở những địa hình dễ ẩn náu.Chủ lực của ta chưa có kinh nghiệm công kiên ban ngày trên trận địa phẳng,với một kẻ địch có ưu thế với máy bay,pháo binh và xe tăng …Trận đánh sẽ diễn ra trên một cánh đồng dài 15 km và rộng 6-7 km,tất cả những khó khăn trên đều chưa được giải quyết,khắc phục ngay được. Sau ki suy tính rất kĩ lưỡng,Đại tướng quyết định cho các đơn vị rút khỏi trận địa để nghiên cứu một cách khác dù bộ đội có thắc mắc,phải chuyển từ phương án”Đánh nhanh-Thắng nhanh”sang “Đánh chắc-Tiến Chắc’.Tổng chỉ huy chiến dịch Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết luận”Để đảm bảo nguyên tắc cao nhất là “Đánh thắng chắc”,cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ Đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc-tiến chắc.Nay quyết định hoãn cuộc tiến công .Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến rút lui về điểm tập kết và kéo pháo ra.Công tác chính trị đảm bảo triệt để,chấp hành mệnh lệnh chiến đấu.Hậu cần chuyển sang chuẩn bị phương châm mới.Đây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời Đại tướng Võ nguyên Giáp. 3 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  4. Câu 3:Hãy cho biết chiến dịch Điện Biên Phủ có những đơn vị nào trực tiếp của ta tham gia và mật danh của những đơn vị là gì?Sở chỉ huy chiến dịch của ta đặt ở những nơi nào trong chiến dịch Điện Biên Phủ? Có 4 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công binh-pháo binh trực tiếp của ta tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ : +Đại đoàn 308 (Đại đoàn việt Bắc) + Đại đoàn312 (Đại đoàn Bến Tre) + Đại đoàn 316 (Đại đoàn Biên Hòa) + Đại đoàn 304 (Đại đoàn Nam Định) + Đại đoàn công pháo 351 (Long Châu). Đại đoàn 308 4 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  5. Đại đoàn 312 Đại đoàn công pháo 351 5 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  6. Đại đoàn 316 Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành Sở chỉ huy chiến dịch của ta đặt ở những nơi : -Sở chỉ huy Thẩm Púa(km14,680,Mường Thanh) - Sở chỉ huy từ Tuần Giáo đi Mường Thanh ( km62 thì rẽ phải) - Sở chỉ huy là Sở chỉ huy chính thức của chiến dịch Điện Biên Phủ,được thiết lặp ở khu rừng Mường Phăng ( 31-01 đến 15-5-1954). 6 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  7. Câu 4: Hãy nêu diễn biến,kết quả,ý nghĩa lịch sử của chiến dịch Điện Biên Phủ? Hầm chỉ huy tướng pháp Diễn biến: Trận đánh diễn ra trong 56 ngày đêm vì quân Việt Minh có khó khăn trong hậu cần nên không thể tiến công liên tục mà chia thành các đợt tiến công. Sau mỗi đợt lại tổ chức lại quân số, bổ sung hậu cần. 7 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  8. Đợt 1 từ 13 tháng 3 đến 17 tháng 3, Quân Việt Minh tiêu diệt phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm. 17 giờ 5 phút chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, trận đánh bắt đầu. Quân đội Nhân dân Việt Nam sau đợt bắn pháo dữ dội, tiến công một trong các cứ điểmkiên cố nhất là cụm cứ điểm Him Lam (Béatrice) và sau một đêm đã chiếm xong cụm cứ điểm này; sau đó đến 17 tháng 3 Việt Minh lần lượt mỗi ngày diệt một cứ điểm: đồi Độc Lập (Gabrielle), Bản Kéo (Anne Marie 1, 2) và toàn bộ phân khu Bắc. Ngay từ những ngày đầu (từ 23 tháng 3) pháo binh của Việt Nam đã loại bỏ khả năng cất, hạ cánh của sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm, từ đó trở đi các máy bay Pháp chỉ còn tiếp tế được cho tập đoàn cứ điểm bằng cách thả dù điều này cho thấy cầu hàng không mà bộ chỉ huy Pháp đặt nhiều kỳ vọng thực tế là rất yếu kém trước cách đánh áp sát của đối phương. Nói riêng về đạn pháo, trong quá trình chiến đấu tại ĐBP người Pháp đã bắn hết hơn 110.000 quả đạn lựu pháo cỡ 105mm trở lên. Việt Minh đã bắn 20.000 quả 105mm, trong số này có 5.000 quả là đoạt được từ dù tiếp tế của đối phương. Ngay từ những ngày đầu của đợt 1 quân Pháp đã nhận thức rõ được những điểm yếu chết người của mình và tương lai thất bại rõ ràng nhưng họ vẫn tăng cường cầm cự Điện Biên Phủ đến mức tối đa vì hy vọng khi mùa mưa đến Việt Minh không thể giải quyết vấn đề hậu cần và sẽ bỏ cuộc, Điện Biên Phủ sẽ tránh được đầu hàng. Sau đó khi mùa mưa không giúp được, bộ chỉ huy Pháp hy vọng cầm cự càng lâu càng tốt để Hội nghị Genève sẽ nhóm họp vào đầu tháng 5, sẽ có ngừng bắn trước khi tập đoàn sụp đổ. Nhưng hy vọng này cũng không có được, Điện Biên Phủ đầu hàng một ngày trước khi nhóm họp Hội nghị Genève về vấn đề Đông Dương. Đợt 2 từ 30 tháng 3 đến 30 tháng 4, Việt Minh đánh phân khu trung tâm đặc biệt là dẫy điểm cao quan trọng phía đông, vây lấn bóp nghẹt tập đoàn cứ điểm. Đây là đợt tiến công vào phân khu trung tâm chủ yếu nhằm chiếm dẫy đồi phía đông khống chế cánh đồng Mường Thanh (các cụm Dominique và Eliane). Tại đây hai 8 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  9. bên đánh nhau giành đi giật lại các mỏm đồi có tính sống còn đối với tập đoàn cứ điểm, đặc biệt là các đồi A1 (Eliane 2), C1 (Eliane 1), D1 (Dominique 2), thương vong của hai bên rất lớn. Phía Pháp dựa vào hầm ngầm, lô cốt để cố thủ và đưa quân từ các điểm khác dùng xe tăng và lính dù, lính lê dương (légionnaire) để phản kích, các cứ điểm này vì có tính sống còn với quân Pháp đã được quân phòng ngự chiến đấu ngoan cường, quyết liệt phản kích liên tục để giữ vững và đã chống cự đến ngày cuối cùng của tập đoàn cứ điểm. Để chống lại các cứ điểm phòng ngự kiên cố của quân Pháp, quân đội Việt Minh đã áp dụng chiến thuật "vây lấn" rất có hiệu quả bằng hệ thống chiến hào họ đào các giao thông hào dần dần bao vây và siết chặt, tiếp cận dần vào các vị trí của Pháp. Các chiến hào này tránh cho quân tiến công thương vong vì pháo binh và không quân địch và vào sát được vị trí của quân địch, làm vị trí bàn đạp tấn công rất thuận lợi. Quân Pháp ngay từ ngày đầu tiên của trận đánh đã nhận thức rất rõ sự nguy hiểm của cách đánh này mà không có phương sách nào để khắc chế. Quân Việt Minh vây lấn đào hào cắt ngang cả sân bay, đào hào đến tận chân lô cốt cố thủ, khu vực kiểm soát của quân Pháp bị thu hẹp đến mức không thể hẹp hơn. Cuộc chiến đấu tại Điện Biên Phủ càng ngày càng yếu thế cho phía Pháp. Quân Pháp chỉ còn trông đợi vào dù tiếp tế nhưng phạm vi chiếm đóng bị thu hẹp và máy bay bị hệ thống phòng không của Việt Minh đánh mạnh nên dù tiếp tế và cả lính nhảy dù phần nhiều rơi sang phía đối phương. Mùa mưa lại tới, hầm hố của quân phòng thủ trở nên lầy lội thương binh không di tản đi được, lính chết không có chỗ chôn, bệnh tật, đường ruột phát sinh, đối phương lại áp sát bắn tỉa, tiếp tế thiếu mà việc lấy được dù cũng vô cùng khó khăn đi kèm với thương vong: quân Pháp thường phải đói khát đến đêm mới dám ra lấy dù. Tình cảnh của quân Pháp ngày càng bi đát và đi đến cùng cực. Điện Biên Phủ cho thấy khi bị bao vây cô lập thì một tiền đồn dù mạnh đến đâu rồi cũng sẽ bị tiêu diệt. Đợt 3 từ 1 tháng 5 đến 7 tháng 5, Việt Minh đánh dứt điểm dẫy đồi phía đông và tổng tiến công tiêu diệt các vị trí còn lại. Sau khi lực lượng của Pháp đã trở nên tuyệt vọng, suy kiệt, bổ sung bằng dù không còn đủ để duy trì sức chiến đấu, và quân Pháp ở Bắc bộ cũng đã hết lính dù và lính légionnaire có thể ném tiếp xuống Điện Biên Phủ, quân Việt Minh tổ chức đợt đánh dứt điểm các quả đồi phía đông. Để chống lại hệ thống hầm ngầm cố thủ không thể xung phong đánh chiếm được trên đồi A1 có vị trí quyết định, bộ đội công binh Việt Nam đã đào một hầm ngầm phía dưới và cho nổ 1 tấn thuốc nổ hất tung hệ thống hầm ngầm cố thủ cuối cùng. Đến sáng ngày 7 tháng 5 các quả đồi phía đông này đã thất thủ hoàn toàn mà phía Pháp không còn lực lượng khả dĩ chiếm lại, Quân đội Nhân dân Việt Nam tổng tiến công trên khắp các mặt trận quân Pháp đã sức tàn lực kiệt quyết định đầu hàng, Quân đội Nhân dân Việt nam bắt Thiếu tướng chỉ huy Christian de Castries và toàn ban tham mưu tập đoàn cứ điểm. 9 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  10. Cụm phân khu Nam Hồng Cúm mưu toan chạy sang Lào nhưng bị quân Việt Minh đuổi theo tất cả đã bị bắt không đi thoát. Gần 10.000 số quân Pháp còn lại tại Điện Biên Phủ đã bị bắt làm tù b Kết quả trận đánh Hầm của tướng giáp tại đồi ông giáp (cách Tx Điện biên 1 tiếng đi xe ô tô) Xe tăng ta tiến công vào Dinh Độc lập 10 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  11. Toàn bộ quân Pháp ở Điện Biên Phủ bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Thiệt hại về phía Pháp là 1.747 người chết, 5.240 người bị thương, 1.729 người mất tích và 11.721 bị bắt làm tù binh. Ngoài ra còn có 2 phi công Mỹ chết và 1 bị thương. Thiệt hại về phía Việt Minh theo Việt Minh là 4.020 người chết, 10.130 người bị thương, và 792 mất tích. Hiện nay tại ĐBP, có 3 nghĩa trang liệt sỹ trận này là nghĩa trang phía gần đồi Độc Lập, nghĩa trang gần đồi Him Lam và nghĩa trang gần đồi A1, lần lượt các nghĩa trang trên có 2.432, 896 và 648 ngôi mộ. Tổng cộng là 3.976 ngôi. Do một trận lũ lớn vào năm 1954 mà 3.972 mộ là liệt sỹ chưa biết tên. Chỉ có 4 ngôi được đặt riêng biệt là mộ các anh hùng Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Trần Can là còn biết được. -Một ngày sau khi Pháp để Điện Biên Phủ thất thủ, ngày 8 tháng 5 năm 1954, Hội nghị Genève bắt đầu bàn về vấn đề Đông Dương. Sau hội nghị này, Pháp công nhận quyền tự do, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước Đông Dương trong đó có Việt Nam, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Ý nghĩa lịch sử của chiến thắng Điện Biên Phủ: +Đối với nhân dân ta -Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa trong thế kỷ XX, một chiến thắng thể hiện sức mạnh dân tộc và tầm vóc thời đại. 11 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  12. -Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954 của quân và dân ta, đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, chấm dứt ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta cũng như trên bán đảo Đông Dương. Chiến thắng này đã trực tiếp đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. -Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ đã bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng Tháng Tám, mở ra giai đoạn cách mạng mới, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. -Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào của Đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta, xứng đáng với truyền thống anh hùng của dân tộc ta. Tinh thần Điện Biên Phủ sống mãi và là sức mạnh, là động lực, là nguồn cổ vũ nhân dân ta tiến lên giành những thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. + Đối với thế giới -Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là một sự kiện chấn động địa cầu, là một mốc vàng của thời đại, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi thế giới, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức khắp các châu lục Á, Phi, Mỹ Latin đứng lên đấu tranh giành độc lập, tự do. Chiến thắng này không chỉ là chiến thắng của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mà còn là chiến thắng của nhân dân Lào và Campuchia chung chiến hào chống Pháp trên bán đảo Đông Dương, chiến thắng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh chống chiến tranh xâm lược, vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân Pháp. -Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đánh sập thành lũy của chủ nghĩa thực dân cũ ở vị trí xung yếu nhất, thu hẹp dinh lũy của chúng, làm thất bại ngay từ đầu chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa thực dân mới. Chiến thắng này không chỉ soi sáng con đường các dân tộc đấu tranh tự giải phóng, mà còn chỉ rõ sự thất bại tất yếu của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên phạm vi toàn thế giới. ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, nhân dân ta đã vĩnh viễn thoát khỏi ách nô dịch của các nước đế quốc, đất nước vĩnh viễn thoát khỏi họa bị chia cắt, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước, bảo vệ những thành quả bước đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất và chủ nghĩa xã hội; đứng vào hàng ngũ các quốc gia, dân tộc tiên phong trên thế giới. Qua Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta được rèn luyện cả về phẩm chất lẫn tài năng, càng nhận thức sâu sắc hơn vị trí và sức mạnh của mình trong thời đại mới. 12 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  13. Qua đại thắng mùa Xuân năm 1975, vị thế và uy tín của Việt Nam được nâng lên ngang tầm các nước, các dân tộc trên thế giới. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là sự kiện quan trọng vừa đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, lại còn có ý nghĩa quốc tế to lớn. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta thắng lợi đã thức tỉnh, cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên thế giới đứng lên dũng cảm đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới Cuộc chiến đấu đó còn cống hiến cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới những bài học kinh nghiệm quý báu, một giá trị tinh thần có sức mạnh to lớn, đem lại cho họ niềm tin trong cuộc đấu tranh tự giải phóng khỏi xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc. Đúng như Trung ương Đảng Cộng sản Réunion đã khẳng định: “Nhờ thắng lợi này của nhân dân Việt Nam, từ nay một kỷ nguyên mới đã mở ra cho phòng trào của các lực lượng giải phóng dân tộc toàn thế giới, mở ra triển vọng dành nhiều thắng lợi mới cho tự do, độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, hoà bình và chủ nghĩa xã hội” (1) Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã góp phần bảo đảm hoà bình thế giới. Thất bại ở Việt Nam, buộc đế quốc Mỹ phải lùi một bước về chiến lược, phải thay đổi phương thức làm bá chủ thế giới, tránh “một Việt Nam thứ hai”. Với thất bại của Mỹ ở Việt Nam, hoà bình chung trên thế giới được bảo đảm. - Đối với thời đại, dân tộc Việt Nam là dân tộc thuộc địa đầu tiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đã đánh bại hai cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp và Mỹ, góp phần quan trọng cùng với loài người tiến bộ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới và mở đầu việc đánh bại chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ. -Dân tộc Việt Nam đã cùng với nhân dân ba nước Đông Dương đập tan cuộc phản công lớn nhất của chủ nghĩa đế quốc từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, góp phần làm chuyển biến tương quan lực lượng có lợi cho phong trào cách mạng thế giới. -Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mãi mãi gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh - ngọn cờ tất thắng và linh hồn của sự nghiệp kháng chiến giành độc lập dân tộc. 13 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  14. Câu 5: Anh (chị) cho biết trong chiến dịch Điện Biên Phủ,Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hung Lực lượng vũ trang nhân dân cho bao nhiêu đồng chí?Bạn hãy nêu chiến công cũa 4 anh hung liệt sị tại mặt trận Điện Biên Phủ: Tô Vĩnh Diện,Bế Văn Đàn,Phan Đình Giót,Trần Can? Dưới đây là danh sách 23 chiến sĩ của Quân đội Nhân dân Việt Nam được phong hoặc truy phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì thành tích chiến đấu của họ trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Những người được truy phong là những người đã thiệt mạng trong khi làm nhiệm vụ, họ trước đó đã được truy tặng danh hiệu liệt sĩ của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Anh hùng Năm sinh Năm phong, truy phong Quê quán Trần Can (liệt sĩ) 1931 7 tháng 5, 1956 Yên Thành, Nghệ An Dương Quảng Châu 1929 7 tháng 5, 1956 Phú Tiên, Hải Hưng (Dương Ngọc Chiến) Bùi Đình Cư 1927 31 tháng 8, 1955 Lâm Thao, Phú Thọ Tô Vĩnh Diện (liệt sĩ) 1924 7 tháng 5, 1956 Nông Cống, Thanh Hóa Hoàng Khắc Dược 1917 31 tháng 8, 1955 Mỹ Lộc, Nam Định Bế Văn Đàn (liệt sĩ) 1931 31 tháng 8, 1955 Phục Hóa, Cao Bằng Phan Đình Giót (liệt sĩ) 1920 31 tháng 8, 1955 Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh Đặng Đình Hồ 1925 7 tháng 5, 1956 Thanh Chương, Nghệ An Trần Đình Hùng 1931 7 tháng 5, 1956 Yên Dũng, Bắc Giang Phùng Văn Khầu 1930 31 tháng 8, 1955 Trùng Khánh, Cao Bằng 14 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  15. Chu Văn Khâm 1925 31 tháng 8, 1955 Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc Tạ Quốc Luật 1925 16 tháng 12, 2004 Thái Thụy, Thái Bình Đinh Văn Mẫu 1922 7 tháng 5, 1956 Yên Lập, Phú Thọ Chu Văn Mùi 1929 31 tháng 8, 1955 Việt Yên, Bắc Giang Hà Văn Nọa (liệt sĩ) 1928 16 tháng 12, 2004 Ninh Giang, Hải Dương Hoàng Văn Hồ (liệt sĩ) 1932 26 tháng 4, 2004 Trùng Khánh, Cao Bằng Đặng Đức Song 1932 7 tháng 5, 1956 Nam Thanh, Hải Dương Nguyễn Văn Ty 1931 31 tháng 8, 1955 Việt Yên, Bắc Giang Phan Tư 1931 31 tháng 8, 1955 Yên Thành, Nghệ An Nguyễn Văn Thuần 1916 31 tháng 8, 1955 Yên Hưng, Quảng Ninh Lâm Viết Hữu 1926 22 tháng 12, 2009 Hà Nội, Hai Bà Trưng Lê Văn Dy 1926 6 tháng 7, 2008 Mê Linh, Hà Nội 15 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  16. *Chiến công của 4 anh hùng liệt sĩ tại mặt trận Điện Biên Phủ: 1. Anh hùng Tô Vĩnh Diện Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá. Đồng chí nhập ngũ tháng 7 năm 1949. Khi hy sinh, đồng chí là Tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37 ly thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367. Tô Vĩnh Diện sinh trưởng trong một gia đình nghèo, lên 8 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ. Suốt 12 năm đi ở, đồng chí phải chịu bao cảnh áp bức bất công. Năm 1946, đồng chí tham gia dân quân ở địa phương. Năm 1949, đồng chí xung phong đi bộ đội. Trong học tập công tác, đồng chí luôn thể hiện tinh thần gương mẫu đi đầu, lôi cuốn đồng đội noi theo. Trong hành quân chiến đấu, đồng chí đã cùng đồng đội bền bỉ vượt qua khó khăn, chấp hành nghiêm chỉnh các mệnh lệnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tháng 5 năm 1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị đánh lớn. Đồng chí Tô Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao xạ. Trong quá trình hành quân cơ động trên chặng đường hơn 1000 km tới vị trí tập kết để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí luôn luôn gương mẫu làm mọi việc nặng nhọc, động viên giúp đỡ đồng đội kéo pháo tới đích an toàn. Trong lúc kéo pháo qua những chặng đường khó khăn nguy hiểm, đồng chí xung phong lái để bảo đảm an toàn cho khẩu pháo. Trong lúc kéo pháo cũng như lúc nghỉ dọc đường, Tô Vĩnh Diện luôn luôn nhắc đồng đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ đường dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng cái dốc rồi phổ biến cho anh em để tránh những nguy hiểm bất ngờ xẩy ra. Kéo pháo vào đã gian khổ, hy sinh, kéo pháo ra càng gay go ác liệt, đồng chí đã đi sát từng người, động viên giải thích nhiệm vụ, giúp anh em xác định quyết tâm cùng nhau khắc phục khó khăn để đảm bảo thắng lợi. Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối, đường hẹp và cong rất nguy hiểm. Tô Vĩnh Diện cùng đồng chí Ty xung phong lái pháo. Nửa chừng dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, đồng chí vẫn bình tĩnh giữ càng, lái cho pháo thẳng đường. Nhưng một trong bốn dây kéo pháo lại bị đứt, pháo càng lao nhanh, đồng chí Ty bị hất xuống suối. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Diện hô anh em 16 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  17. : “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo” và đồng chí buông tay lái xông lên phía trước, lấy thân mình chèn vào bánh pháo, nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ pháo dừng lại. Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của đồng chí Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Tô Vĩnh Diện đã được tặng thưởng một Huân chương Chiến công hạng nhất. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, Tô Vĩnh Diện được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Anh hùng liệt sĩ Tô Vĩnh Diện (1924 - 1953) đã anh dũng hy sinh khi lấy thân mình chèn pháo trên đường kéo pháo vào trận địa Điện Biên Phủ. Anh hùng liệt sĩ Tô Vĩnh Diện (1924 - 1953) đã anh dũng hy sinh khi lấy thân mình chèn pháo trên đường kéo pháo vào trận địa Điện Biên Phủ. 2. Anh hùng Bế Văn Đàn Bế Văn Đàn sinh năm 1931, là người dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh (nay là xã Triệu Ẩu), huyện Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng. Ông xuất thân trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng, cha làm thợ mỏ, mẹ mất sớm. Lớn lên, ông tham gia hoạt động du kích. Tháng l năm 1948, ông xung phong vào bộ đội giữa lúc cuộc chiến tranh Đông Dương đang quyết liệt. Ông tham gia nhiều 17 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  18. chiến dịch, luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, tích cực vượt qua mọi khó khăn ác liệt, kiên quyết chấp hành mọi chỉ thị mệnh lệnh nghiêm túc, chính xác kịp thời, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Minh đang ở giai đoạn quyết liệt, Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định mở chiến dịch Đông Xuân năm 1953 – 1954, đơn vị hành quân đi chiến dịch, Bế Văn Đàn làm liên lạc tiểu đoàn. Một đại đội của tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bao vây giữ Pháp ở Mường Pồn. Lúc đó, khi thấy lực lượng Việt Minh ít, Pháp tập trung hai đại đội có phi pháo yểm trợ liên tiếp phản kích, nhưng cả hai lần chúng đều bị quân Việt Minh đánh bật. Cuộc chiến đấu diễn ra căng thẳng và quyết liệt. Quân Pháp liều chết xông lên, quân Việt Minh kiên quyết ngăn chặn, chốt giữ. Lúc đó có lệnh cho đại đội quyết tâm giữ ở Mường Pồn bằng bất cứ giá nào, để các đơn vị khác triển khai lực lượng, thực hiện các chủ trương của chiến dịch. Mặc dù Bế Văn Đàn vừa đi công tác về nhưng khi thấy chỉ huy thông báo, ông đã xung phong lên đường làm nhiệm vụ. Bế Văn Đàn vượt qua lưới đạn dày đặc của quân Pháp, xuống truyền đạt mệnh lệnh cho đại đội kịp thời, chính xác. Trong khi đó, trận chiến đấu diễn ra ngày càng ác liệt hơn, Bế Văn Đàn được lệnh ở lại đại đội chiến đấu. Quân Pháp phản kích lần thứ ba, mở đường tiến, đại đội Việt Minh bị thương vong nhiều, chỉ còn 17 người, bản thân Bế Văn Đàn cũng bị thương, nhưng ông vẫn tiếp tục chiến đấu.[1] Một khẩu trung liên của đơn vị không bắn được vì xạ thủ hy sinh. Khẩu trung liên của Chu Văn Pù cũng chưa bắn được vì không có chỗ đặt súng. Trong tình thế hết sức khẩn trương, Bế Văn Đàn không ngần ngại chạy lại cầm 2 chân khẩu trung liên đặt lên vai mình và hô đồng đội bắn. Pù còn do dự thì Bế Văn Đàn đã nói: Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi!.[1] Trong lúc lấy thân mình làm giá súng, Bế Văn Đàn bị hai vết thương nữa và hy sinh, hai tay vẫn còn ghì chặt súng trên vai mình Hình ảnh “Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng” trở thành một trong những tấm gương tiêu biểu trong Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ Chiến tranh Đông Dương. Bế Văn Đàn lúc hy sinh là tiểu đội phó, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông đã để lại tấm gương chiến đấu dũng cảm, chấp hành nghiêm mệnh lệnh của cấp trên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Do đó, trong đại hội mừng công của đơn vị, đồng chí Bế Văn Đàn được truy tặng Huân chương chiến công hạng nhất và được bình bầu là chiến sĩ thi đua số một của tiểu đoàn. Với những 18 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  19. thành tích đặc biệt xuất sắc, ngày 31/8/1955, Bế Văn Đàn được Quốc hội nước Việt Nam truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương quân công hạng nhì. 3. Anh hùng Phan Đình Giót Anh hùng Liệt sĩ Phan Đình Giót (1922-13/3/1954), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (truy phong; 31/3/1955), Khi hy sinh anh là Tiểu đội phó bộ binh Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Huân chương Quân công hạng Nhì. Anh sinh nǎm 1922 ở làng Tam Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình rất nghèo. Bố bị chết đói. Anh phải đi ở từ năm 13 tuổi cực nhọc, vất vả. Cách mạng tháng Tám thành công, anh tham gia tự vệ chiến đấu, đến năm 1950, anh xung phong đi bộ đội chủ lực. Trong cuộc sống tập thể quân đội, Phan Đình Giót luôn tự giác gương mẫu về mọi mặt, hết lòng thương yêu giúp đỡ đồng đội, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn nên được đồng đội mến phục. Phan Đình Giót tham gia nhiều chiến dịch lớn như: Trung Du, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên Phủ. Mùa đông năm 1953, đơn vị anh được lệnh tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Hành quân gần 500 km, vượt qua nhiều đèo dốc, mang vác nặng nhưng đồng chí vẫn kiên trì, giúp đồng đội về tới đích. Trong nhiệm vụ xẻ núi, mở đường, kéo pháo lên đèo xuống dốc vào trận địa rất gay go gian khổ, anh đã nêu cao tinh thần gương mẫu, bền bỉ và động viên anh em kiên quyết chấp hành nghiêm mệnh lệnh của cấp trên. Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân ta nổ súng tiêu diệt Him Lam. Cả trận địa rung chuyển mù mịt sau nhiều loạt pháo ta bắn chuẩn bị. Các chiến sỹ đại đội 58 lao lên mở đường, đã liên tiếp đánh đến quả bộc phá thứ tám. Phan Đình Giót đánh quả thứ chín thì bị thương vào đùi nhưng vẫn xung phong đánh tiếp quả thứ mười. Quân Pháp tập trung hoả lực trút đạn như mưa xuống trận địa ta. Đồng đội bị thương vong nhiều. Lửa căm thù bốc cao, anh lao lên đánh liên tiếp hai quả nữa phá toang hàng rào cuối cùng, mở thông đường để đồng đội lên đánh sập lô cốt đầu cầu. Lợi dụng thời cơ địch đang hoang mang, Phan Đình Giót vọt lên bám chắc lô cốt số 2, ném thủ pháo, bắn kiềm chế cho đơn vị tiến lên. Anh lại bị thương vào vai, máu chẩy đầm đìa. Nhưng bất ngờ từ hoả điểm lô cốt số 3 của lính Pháp bắn rất mạnh vào đội 19 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
  20. hình ta. Lực lượng xung kích bị ùn lại, Phan Đình Giót cố gắng lê lên nhích dần đến gần lô cốt số 3 với ý nghĩ cháy bỏng, duy nhất là dập tắt ngay lô cốt này. Anh đã dùng hết sức mình còn lại nâng tiểu liên lên bắn mạnh vào lỗ châu mai, miệng hô to: “Quyết hy sinh…vì Đảng…vì dân!!..” rồi rướn người lấy đà, lao cả thân mình vào bịt kín lỗ châu mai địch. Hoả điểm lợi hại nhất của quân Pháp đã bị dập tắt, toàn đơn vị ào ạt xông lên như vũ bão, tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam, giành thắng lợi trong trận đánh mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi hy sinh, Phan Đình Giót đã được Tiểu đoàn, Đại đoàn khen thưởng 4 lần. Anh hùng Phan Đình Giót lấy thân mình che lỗ châu mai 4. Anh hùng Trần Can Anh hùng Liệt sĩ Trần Can (1931-7/5/1954), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (Truy tặng; 7/5/1956), Khi hy sinh anh là Đại đội phó bộ binh thuộc Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Huân chương Quân công (hạng Nhì, hạng Ba), 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, 2 lần được bầu là chiến sỹ thi đua của đại đoàn. Trần Can sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Từ hồi còn nhỏ, Trần Can rất ham thích vào bộ đội để được cầm 20 Cuộc thi tìm hiểu 60 năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954->7/5/2014)
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản