ĐẶC ĐIỂM CHU KỲ KIẾN TẠO INĐOSINI Ở MIỀN NAM VIỆT NAM

Chia sẻ: Le Minh Tuan | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:9

0
76
lượt xem
10
download

ĐẶC ĐIỂM CHU KỲ KIẾN TẠO INĐOSINI Ở MIỀN NAM VIỆT NAM

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tóm tắt: Chu kỳ Inđosini rất đặc sắc không chỉ ở Việt Nam, Đông Nam Á mà còn trên thế giới. Chu kỳ này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành khung kiến tạo lãnh thổ Việt Nam và vùng Đông Nam Á. Vào giai đoạn này, trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam đã phân định các đới cấu trúc: An Khê (Mang Yang)

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: ĐẶC ĐIỂM CHU KỲ KIẾN TẠO INĐOSINI Ở MIỀN NAM VIỆT NAM

  1. ĐẶC ĐIỂM CHU KỲ KIẾN TẠO INĐOSINI Ở MIỀN NAM VIỆT NAM NGUYỄN VĂN BÌNH  Viện Khoa học Vật liệu, Viện KH&CN VN, 18, Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Tóm tắt: Chu kỳ Inđosini rất đặc sắc không chỉ ở Việt Nam, Đông Nam Á mà còn trên thế giới. Chu kỳ  này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành khung kiến tạo lãnh thổ Việt Nam và vùng  Đông Nam Á. Vào giai đoạn này, trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam đã phân định các đới cấu trúc: An Khê  (Mang Yang), Đăk Lin ­ Bản Đôn, Phú Quốc, Hà Tiên, trũng molas lục nguyên chứa than Nông Sơn ­ An  Điềm (Sông Bung). Chúng tạo nên bức tranh phối khảm của các khối nhô, cung núi lửa rìa lục địa tích cực  và các trũng chồng gối Mesozoi hình thành trong các pha kiến tạo kiểu mạch đập.  I. ĐẶT VẤN ĐỀ Chu kỳ kiến tạo Inđosini đã được đề cập đến trong nhiều công trình [1, 7, 14, 16, 20, 23, 26, 27, 29, 39,  40]. Trong công trình này, chu kỳ này được mô tả không chỉ tập trung vào các pha uốn nếp, tạo núi của  chu kỳ mà được hiểu rộng hơn theo cách hiểu của Wilson D.T., bao gồm các giai đoạn: nứt tách vỏ lục địa  (rift hậu lục địa) → hình thành bồn đại dương trẻ → tách giãn, bồn đại dương trẻ mở rộng và phát triển  thành đại dương trưởng thành → hút chìm, hình thành hệ cung đảo và rìa lục địa → thu hẹp đại dương  dẫn đến xô đụng, đóng kín và mất hẳn đại dương (hệ xô đụng, bồi kết) → hình thành và mở rộng tạo núi  lục địa [10, 11]. Một chu kỳ đầy đủ các giai đoạn như vậy không phải có ở mọi nơi, mọi lúc mà chu kỳ này  có thể dừng lại ở bất cứ khâu nào hoặc có các chu kỳ địa phương không đầy đủ, ví dụ, chu kỳ Wilson có  các phân nhánh sau: a) sự nứt tách vỏ lục địa có thể dừng lại, không đạt đến vỏ đại dương thực thụ, lúc  này cấu trúc biến thành một rift cổ (paleorift), b) chu kỳ có thể dừng lại sau giai doạn đại dương trẻ (không  hình thành đại dương trưởng thành và hút chìm), lúc này ta có một trục tách giãn địa phương… H. Stille  (1945) lần đầu tiên lưu ý đến sự phát triển không đầy đủ của kiến sinh Kimmeri ở Đông Dương. Hoàng  Cấp Thanh (1952, 1961) cũng có nhận xét về sự phát triển không đầy đủ của Hercynit ở duyên hải Đông  Nam Trung Quốc. Trong [20], chu kỳ Inđosini ở miền Bắc Việt Nam được xem là một chu kỳ không đầy đủ  theo khái niệm chu kỳ kiến tạo của Wilson (chu kỳ phát triển vỏ lục địa cổ thay thế chỗ cho vỏ đại dương).  Chu kỳ uốn nếp Inđosini (Neotrias) theo J. Fromaget bắt đầu từ Antracolit giữa và kết thúc vào Creta (bao  gồm bốn giai đoạn: Antracolit­Permi, cuối Permi ­ Carni, cuối Carni ­ Ret: trầm tích màu đỏ, nén ép, uốn  nếp, tạo núi cực đại, cuối Ret ­ Creta: địa di, hình thành võng Sông Đà [7]). Trong chu kỳ Inđosini ở miền  Bắc Việt Nam đã hình thành các đới cấu trúc tuyến tính (Sông Đà, An Châu, Sông Hiến, Sầm Nưa ­  Hoành Sơn), trũng molas lục nguyên chứa than Quảng Ninh (bao gồm các địa hào Hòn Gai và Bảo Đài ­  Yên Tử) và hàng loạt các trũng, chậu nhỏ chứa than khác. Trong khi ở miền Bắc Việt Nam trong chu kỳ  Inđosini đã sản sinh hàng loạt các cấu trúc đặc sắc với bức tranh phối khảm xen kẽ của các trũng chồng  gối và các khối nhô (cấu trúc dương) thì ở miền Nam Việt Nam chu kỳ kiến tạo Inđosini có các biểu hiện  khác nhiều so với các biểu hiện của chu kỳ này ở miền Bắc. Các đặc điểm lý thú của chu kỳ kiến tạo  Inđosini ở miền Nam Việt Nam là đối tượng nghiên cứu của công trình này. II. BỐI CẢNH ĐỊA ĐỘNG LỰC MIỀN NAM VIỆT NAM TRONG PALEOZOI MUỘN ­ MESOZOI Diện nghiên cứu trong công trình này là phần phía đông của địa khối trung tâm Inđosinia và phần Trung  Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ ­ sau đây gọi tắt là miền Nam Việt Nam (H. 1). Fromaget [7] xác  định địa khối Inđosinia (địa khối trung tâm Đông Dương) vào các năm 1927, 1941, 1952 và cho rằng nó  quyết định như một khung kiến tạo cứng rắn trong bình đồ "Neotrias" ở Đông Nam Á. Địa khối trung tâm  Inđosinia đã hình thành theo phương thức bồi kết (tăng trưởng) vỏ lục địa quanh nhân cổ Kan Nack (nhân 
  2. vỏ lục địa cổ Sông Ba) được giả định hình thành trong Arkei muộn [23]. Trong suốt thời gian từ khi hình  thành đến Paleozoi giữa­muộn đã ghi nhận được các phức hệ vật chất ­ kiến trúc: nhân vi lục địa khởi  thủy (NA), móng vỏ lục địa nguyên thuỷ Ngọc Linh ­ Chu Lai (PP ­ MP), móng kiểu vỏ lục địa thứ sinh (NP  ­ ε1). Bình đồ cấu trúc Paleozoi miền Nam Việt Nam đã cố kết vào Paleozoi giữa­muộn tạo nên bộ khung kiến  trúc cơ bản của khu vực. Đến đây, về cơ bản đã hoàn thành vỏ lục địa thứ sinh với sự có mặt của phức hệ  vật chất ­ kiến trúc sinh núi với các biểu hiện của granitoiđ đồng va chạm: phức hệ Đại Lộc. Vào cuối  Paleozoi, tại khu vực này tồn tại một mặt chế độ kiến tạo kiểu nền ­ san bằng kiến tạo. Kiến sinh Inđosini  phát triển chính trên móng phá huỷ của các cấu trúc Paleozoiđ này.  Ở miền Nam Việt Nam trong chu kỳ Inđosini đã ghi nhận sự có mặt của các thành tạo địa chất sau: 1. Trầm tích lục nguyên silic ­ carbonat ­ phun trào trung tính (anđesitobazan, anđesit, anđesito­đacit,  đacit...); hệ tầng Đăk Lin (C3­P1 dl) và một số đảo ở Tây Nam Bộ thuộc loạt tholeiit cao sắt (ΣFe: 5,41 ­  10,47 %), thấp kiềm (Na2O: 4,1 %; K2O/Na2O = 0,17 ­ 0,63), thấp kali (K2O = 1,96 %) [15, 31], pha phun  trào đầu tiên.  Thành tạo này mang tính chất của bồn cung núi lửa thuộc ven rìa lục địa và có thể là di chỉ của  PaleoTethys (rìa đông). Pha sụt lún, tách giãn không thấy rõ ở đây, chúng có thể biểu hiện ở bên ngoài  miền Nam Việt Nam. 2. Granitoiđ, phức hệ Bến Giằng ­ Quế Sơn loạt vôi, vôi­kiềm (tổ hợp điorit­granođiorit­granit) [5]. 3. Trầm tích đá vôi: các hệ tầng Hà Tiên (P1­2 ht), Hớn Quản (P3 hq), Minh Hoà (T2a mh) [31]. 4. Trầm tích lục nguyên, lục nguyên ­ phun trào trung tính ­ axit, các hệ tầng Tà Nốt (P3 tn), Đất Đỏ  (P3 dt), Hòn Đước (T1 hd) Chư Prông (P3­T1 cp), Sông Sài Gòn (T1 sg), Mang Yang (Măng Giang –  T2a mg), Châu Thới (T2 act), Hòn Ngang (T2a hn) [21, 22, 31, 42]. 5. Tổ hợp granit, granosyenit, granit granophyr, phức hệ Vân Canh. 6. Tổ hợp gabbro­pyroxenit, periđotit, đunit phức hệ Chà Vằn (Chà Val: các khối Phú Lộc, Khe Dung, Chơ  Rông, Bạch Mã...) [5]. 7. Granit, granit cao nhôm: các phức hệ Hải Vân, Bà Nà (245­249 Tr.n. [17, 18]).  8. Các đá lamprophyr (mafic siêu kiềm ­ minet) có mặt ở Đắc Ripen, Đắc Long, Kon Fam (Kon Tum) dọc  đứt gãy Pô Cô (246­228 Tr.n. [38]. Ngoài ra các đá lamprophyr còn được mô tả ở Măng Xim?, Nam Đắc  Tô, Ba Bích, Ba Trang (Quảng Ngãi), An Quang (Bình Định). Hình 1. Sơ đồ kiến tạo miền Nam Việt Nam. Chú giải: 1. Đới Kareli ­ Kan Nack 2. Đới Baikali ­ Ngọc Linh 3. Đới Đà Nẵng 4. Đới Sê Kông  5. Đới Đaklin 6. Đới Bản Đôn ­ Srêpôk 7. Đới An Khê (trũng chồng gối MZ) 8. Đới Hà Tiên 9. Đới Nông Sơn ­ An Điềm (trũng graben) 10. Đới Đà Lạt
  3. 11. Đới Phú Quốc 12. Trũng Cửu Long (trũng chồng gối KZ) 13. Trũng Sông Ba (trũng chồng gối KZ) Quá trình uốn nếp ­ nghịch đảo khép kín các đới cấu trúc sinh vào giai đoạn này đã xảy ra một cách  mạnh mẽ vào Trias giữa được minh chứng bằng sự xuất hiện các thành tạo gabbro­pyroxenit, periđotit,  đunit thuộc phức hệ Chà Vằn, granitoiđ tạo núi, các phức hệ Hải Vân, Bà Nà. Ở đây có thể thấy sự vắng  mặt của hệ bồi kết, không có tãch giãn, hút chìm mà chuyển ngay sang xô đụng, đóng kín đới cấu trúc.  Các quá trình này xảy ra trên bối cảnh hút chìm của PaleoTethys cắm dưới địa khối Đông Dương  (Inđosinia) và tiếp theo là va chạm gắn kết các khối Shan­Thái (Sibumasu) ­ Việt Trung ­ Đông Dương.  9. Trầm tích lục địa vụn thô màu đỏ chứa than, loạt Nông Sơn (các hệ tầng An Điềm ­ T3n ad, Sườn Giữa  ­ T3r sg) [31, 42]. 10. Trầm tích vụn thô màu đỏ (molas lục địa): các hệ tầng: Hữu Chánh (J2 hc), A Ngo (J1­2 ng), Bình Sơn  (J1­2 bs), Tà Pa (J1­2tp), Ea Súp (J2 sp) [31, 42]. Trong Nori­Ret và Jura sớm­giữa ở Nam Việt Nam nói riêng, và trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung, đã  hình thành các cấu trúc dạng địa hào hẹp, trũng giữa núi, bồn nội lục, chậu nhỏ chứa các trầm tích chủ  yếu là lục nguyên phân nhịp chứa than (các hệ tầng Hòn Gai, Văn Lãng, Suối Bàng, Đồng Đỏ ở miền Bắc  Việt Nam và loạt Nông Sơn ở miền Nam). Các trầm tích này có tướng biển và lục địa xen kẽ (bao gồm các  tướng biển nông, á lục địa, biển ven, vũng vịnh, đầm hồ …). Các thành tạo kể trên có nguồn gốc vỏ và  được hình thành trong bối cảnh tạo núi và chuyển động dạng vòm khối tảng. Các trầm tích molas chứa  than Nori­Ret và Jura sớm­giữa phủ bất chỉnh hợp lên toàn bộ các cấu trúc Paleozoi muộn ­ Mesozoi sớm  (Sông Đà, Sông Hiến, An Châu, Sầm Nưa ­ Hoành Sơn, An Khê (Mang Yang), Đà Lạt, Đăk Lin ­ Bản  Đôn) và móng Peleozoiđ lân cận. Đây cũng chính là một trong những pha kiến tạo kịch phát ­ pha nghịch  đảo kiến tạo quan trọng của Việt Nam, Đông Nam Á và cả châu Á. Giai đoạn T3n­r ­ J2 thể hiện tính  đồng nhất gần như trên toàn lãnh thổ Việt Nam, bắt đầu bằng trầm tích lục nguyên chứa than rồi chuyển  lên trầm tích vụn thô lục địa màu đỏ. Giai đoạn này là giai đoạn có gián đoạn trầm tích cục bộ và là giai  đoạn phi magma trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Chuyển động tạo núi Inđosini diễn ra mãnh liệt từ Permi  muộn dẫn đến việc triệt tiêu PaleoTethys, hình thành các địa khu liên hợp Việt­Trung, Đông Dương, Shan­ Thái [39, 41]. Có thể nói rằng chuyển động Inđosini đóng vai trò quyết định trong viếc hình thành các cấu  trúc Paleozoiđ muộn ­ Mesozoiđ sớm ở Việt Nam  Vào cuối Jura ­ đầu Creta, ở phần đông nam của Việt Nam phát triển các thành tạo (các phức hệ vật chất  ­ kiến trúc) liên quan với hút chìm [3, 4, 15, 41, 44]) dưới đây:  1. Trầm tích lục nguyên, lục nguyên ­ phun trào trung tính ­ axit (anđesitobazan, anđesit, anđesitođacit,  đacit, ryolit, felsit và tuf của chúng) hệ tầng Đèo Bảo Lộc (J3 đl, phun trào kiềm vôi, cao kali) [21, 22, 31,  42]. 2. Thành tạo xâm nhập gabbro, gabbro­pyroxenit, gabbro­norit phức hệ Tây Ninh [22]. 3. Thành tạo magma xâm nhập điorit­granodiorit­tonalit­granit phức hệ Định Quán (loạt vôi­kiềm, cao kali)  [5, 6, 8]. Các thành tạo này đặc trưng cho bối cảnh rìa lục địa tích cực phát triển trong quá trình hút chìm của Tây  Thái Bình Dương vào Đông Á [3, 4, 15, 41, 44]. Theo một quan điểm khác [2] thì các thành tạo phân dị dài  điorit­granođiorit­granit (từ gabbro­điorit tới granit) thuộc loạt vôi­kiềm với K > Na (kiểu Định Quán) và  granit­leucogranit đặc trưng cho chế độ tạo núi (cứng rắn hóa đầy đủ vỏ lục địa). Giai đoạn từ Creta giữa­ muộn trở về sau được xem là giai đoạn hoạt hóa nội lục. 
  4. III. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BIỂU HIỆN CỦA CHU KỲ INĐOSINI Ở MIỀN NAM VIỆT NAM Chu kỳ Inđosini diễn ra vào giai đoạn mà ở quy mô toàn cầu là giai đoạn có nhiều biến cố địa chất lớn:  dập vỡ đại lục Pangea II, đóng kín đại dương Paleozoi (PaleoTethys), mở ra các đại dương mới  (MesoTethys), sự thay đổi đột ngột tiến trình phát triển thế giới cổ sinh vật vào ranh giới Permi­Trias ...  Một số đặc điểm biểu hiện của chu kỳ Inđosini ở miền Nam Việt Nam như sau: ­ Chu kỳ Inđosini không bắt đầu xảy ra cùng một lúc trên các khu vực khác nhau của miền Nam Việt Nam  nói riêng, và toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung, song có những biểu hiện của các quá trình tạo núi, hoạt  động magma và biến chất diễn ra mạnh mẽ nhất trong khoảng Permi muộn ­ Trias giữa và đặc trưng bằng  các hoạt động biến dạng, trượt cắt ngang, uốn nếp, nghịch đảo mạnh mẽ vào cuối Carni (điều này thể  hiện rõ hơn ở miền Bắc Việt Nam). Chu kỳ Inđosini trên toàn bộ diện tích lãnh thổ Việt Nam được xem là  một chu kỳ không đầy đủ theo khái niệm chu kỳ kiến tạo của Wilson (chu kỳ phát triển vỏ lục địa cổ thay  thế chỗ cho vỏ đại dương). ­ Bối cảnh kiến tạo cung đảo núi lửa kiểu rìa lục địa tích cực Paleozoi muộn hình thành do sự hút chìm  của PaleoTethys ở rìa tây nam Inđosinia mà hiện tại còn lộ ra một số tổ hợp anđesitobazan loạt vôi­kiềm,  flysh, turbiđit ở Đăk Lin, Tây Nam Bộ [21, 22, 41]. ­ Ở miền Nam Việt Nam, trong chu kỳ Inđosini có hoạt động tái nóng chảy (các khối magma Đại Lộc… ),  các hoạt động biến chất nhiệt độ cao đến siêu cao, biến chất áp suất cao xảy ra trên nền khối nhô Kon  Tum đã cứng rắn hóa đi kèm với các pha nhiệt kiến tạo [11­13, 24, 25, 28, 32­34, 45­47], chúng có thể là  kết quả của các biến cố va chạm lục địa vào Permi ­ Trias (Shan­Thái ­ Inđosinia ­ Việt ­Trung) với các  biểu hiện: a) Granulit mafic trong đá gneis mylonit hóa loạt Ngọc Linh vùng Đắc Tô Kan (T = 820­10500 C, P = 28  kbar, tuổi: 250­260 Tr.n.).  b) Granulit pelit loạt Kan Nack vùng Sông Ba (T = 900­10500C, tuổi: 240­250 Tr.n.).  c) Gneis hệ tầng Khâm Đức (T = 7400C; P = 8 kbar; T = 6400C; P = 12 kbar). d) Charnockit loạt Kan Nack (T = 700 ­11500C; P = 3,4 ­ 5,7 kbar, tuổi: 240­260 Tr.n.).  e) Gneis pelit Pô Kô phức hệ Ngọc Linh (tuổi 229 Tr.n.).  g) Granulit eclogit basic Sông Ba (245­250 Tr.n.). Các biểu hiện biến chất tương tự cũng xảy ra tại Sông Mã (243 Tr.n.), Đại Lộc ­ Khe Sanh (244 Tr.n.) [12,  13]. Các hoạt động magma và biến chất này xảy ra trong cùng khoảng thời gian 260­210 Tr.n.. ­ Trong khi ở các đới cấu trúc Inđôsiniđ miền Bắc Việt Nam ở bậc cao hơn phổ biến các cấu trúc dạng  tuyến hẹp, không liên tục, nhiều gián đoạn cục bộ, các cấu tạo vảy phủ chờm, các đới tách giãn dạng  cánh gà, các uốn nếp ngắn, cụt, đoản, đôi khi dốc đứng, thì ở Nam Việt Nam các biểu hiện dạng này yếu  hơn nhiều.  + Trong chu kỳ Inđosini ở miền Nam Việt Nam tồn tại các đới trượt bằng, các đới biến dạng dẻo (tuổi 217­ 255 Tr.n., ghi nhận được ở Kan Nack, Quảng Ngãi, Kon Tum, M’Đrắc, Đại Lộc [22]), các đới trượt cắt (do  kết quả của quá trình xô đụng: Thà Khẹt ­ Đà Nẵng, Đà Nẵng ­ Khe Sanh, Tam Kỳ ­ Hiệp Đức, Trà Bồng ­  Hưng Nhượng, Pô Cô…) [11, 28, 35, 47].  + Trong Trias ở miền Bắc Việt Nam phổ biến các thành tạo carbonat tướng biển nông đến trung bình (các  hệ tầng Hồng Ngài, Điềm He, Đồng Giao, Pác Ma, Hoàng Mai), cũng vào thời gian này ở miền Nam Việt  Nam hoàn toàn vắng mặt các thành tạo carbonat (ngoại trừ một diện tích nhỏ ở bờ bắc đảo Hòn Nghệ).  + Các biểu hiện của hoạt động magma granitoiđ khá phổ biến và phong phú vào chu kỳ Inđôsini với sự  biểu hiện của các phức hệ Điện Biên, Núi Điệng, Sông Mã, Móng Cái, Kim Bôi, Phia Bióc, Bến Giằng ­ 
  5. Quế Sơn, Hải Vân, Bà Nà, Vân Canh. ­ Chu kỳ Inđôsini ở miền Nam Việt Nam có thể được phân định 3 pha chính: C3­P2, P3­T3c, T3n­r ­ J2 thể  hiện rõ các phức hệ vật chất ­ kiến trúc nêu trên. Tiếp theo là hoạt động của rìa lục địa tích cực trong môi  trường hút chìm của mảng Thái Bình Dương ở phía đông hiện tại xuống dưới mảng Châu Á diễn ra muộn  hơn (đặc biệt rõ ở đới cấu trúc Đà Lạt). Một số tác giả còn tính đến tác động của quá trình hút chìm mảng  Ấn Độ Dương dưới lục địa Âu ­ Á [4], theo chúng tôi có lẽ ảnh hưởng này xảy ra vào thời gian muộn hơn. ­ Các đới cấu trúc chính hình thành trong chu kỳ Inđosini ở lãnh thổ Việt Nam là: Sông Đà, Sông Hiến, An  Châu, Sầm Nưa ­ Hoành Sơn, An Khê (Mang Yang), Đăk Lin ­ Bản Đôn, Phú Quốc, Hà Tiên, Nông Sơn ­  An Điềm (Sông Bung). ­ Các khoáng sản chính của chu kỳ Inđosini ở miền Nam Việt Nam [3, 15, 19, 29, 36, 37]: + Chì­kẽm: Gia Bạc, Núi Dinh; + Vàng (thạch anh ­ vàng, thạch anh ­ sulfur ­ vàng, có nơi liên quan với phức hệ Bến Giằng ­ Quế  Sơn… ): Khe Rin, Đắc Ri Pen, Đắc Krông, Bãi Đất, Ngọc Tụ, Bãi Gió, Sa Bình, Tiên Thuận, Phước Hiệp,  Tiên Hà, Hiệp Thuận, Thăng Phước, Đắc Sa, Suối Ty, Suối Nho, Suối Linh, Trà Năng…; + Fluorit (liên quan với granit phức hệ Vân Canh): Xuân Lãnh; + Molybđen ­ đồng: Sa Thầy?, Núi Đất?. IV. KẾT LUẬN Giai đoạn Paleozoi muộn ­ Mesozoi là một trong những giai đoạn đặc biệt trong tiến trình lịch sử địa chất  của Việt Nam, đặc biệt phong phú và đa dạng về mặt kiến tạo và khoáng sản. Chu kỳ Inđosini có đặc  điểm kiến tạo đặc sắc không chỉ ở Việt Nam, Đông Nam Á mà còn trên thế giới. Trên nền cấu trúc tương  phản bình ổn vào cuối Paleozoi của miền Nam Việt Nam, chu kỳ Inđosini khởi đầu bằng nứt tách, sụt lún,  sau đó nhanh chóng chuyển sang nén ép, nâng nghịch đảo mạnh, khép kín các đới cấu trúc. Sau sụt lún  cục bộ tạo các địa hào, trũng giữa núi, chậu chứa than, toàn miền bước vào giai đoạn tạo núi muộn, hoàn  chỉnh vỏ lục địa với sự có mặt của các thành tạo nguồn gốc vỏ. Kết quả của các hoạt động biến cải phân  dị mạnh mẽ đã tạo ra các trũng chồng gối điển hình – trũng kiểu nguồn rift nội lục trên nền các móng cấu  trúc không đồng nhất (đa kỳ, đa nguồn gốc…). Chúng tạo nên bức tranh phối khảm của các khối nhô, đai  núi lửa rìa lục địa tích cực của Paleozoi muộn và các trũng chồng gối Mesozoi hình thành trong các pha  kiến tạo kiểu mạch đập (có sự luân phiên giữa các chế độ nén ép và tách giãn, sự luân phiên các cấu trúc  âm và các cấu trúc dương). Một số tác giả xem đây là giai đoạn hoạt hóa magma ­ kiến tạo của lãnh thổ  Việt Nam, đặc biệt phong phú và đa dạng về mặt khoáng sản.  Công trình này có sự hỗ trợ đề tài NCCB mã số 7.177.06 của Bộ Khoa học và Công nghệ. VĂN LIỆU 1. Belov A.A., Yu.G. Gatinsky, A.A. Mosakovsky, 1985. Các Inđosiniđ Âu­Á. Geotektoniks, 6 : 21­42   (tiếng Nga). 2. Bogatikov O.A., A.M. Borsuk, V.A. Kononova, V.A. Pavlov, A.K. Simon, 1987. Các thành hệ  magma: Chỉ thị cho sự tiến hóa của thạch quyển. Tin tức Viện HLKH Liên Xô, Loạt ĐC, 8 : 3­13 (tiếng   Nga).  3. Bùi Minh Tâm, Đặng Văn Can, Trương Minh Toản, Trịnh Xuân Hoà, 2005. Hoạt động magma Meso­ Cenozoi và khoáng sản liên quan ở đới Đà Lạt. Địa chất và Khoáng sản, 9 : 140­148. Viện NC Địa chất và   Khoáng sản. Hà Nội.  4. Bùi Minh Tâm, Lê Duy Bách, Trịnh Xuân Hòa, 2006. Nguồn gốc các thành tạo granitoid đới Đà Lạt  theo đặc điểm địa hóa đồng vị. TC Các KH về TĐ, 2 : 233­240. Hà Nội. 
  6. 5. Đào Đình Thục, Huỳnh Trung (Đồng chủ biên), 1995. Địa chất Việt Nam. Tập 2: Các thành tạo  magma. Cục Địa chất VN, Hà Nội, 359 tr. 6. Đỗ Đình Toát, Lê Thanh Mẽ, 2002. Đặc điểm các hoạt động magma Mesozoi­Kainozoi khu vực Trung  Trung Bộ và mối liên quan của chúng với kiến tạo mảng. TC Địa chất, A/272 : 11­19. Hà Nội.  7. Fromaget J., 1941. L’Indochine française, sa structure géologique, ses roches, ses mines et leurs  relations possibles avec la tectonique. Bull. SGI, XXVI/2, Hanoi, 140 p..  8. Huỳnh Trung, Nguyễn Xuân Bao, 1991. Magma xâm nhập đới Đà Lạt. Địa chất và nguyên liệu   khoáng, 1 : 15­41. Liên đoàn ĐC 6, TP HCM. 9. Khain V.E., 1992. Các chu kỳ Wilson và Bertrand. Báo cáo Viện HLKH Liên Xô, 325/3 : 557­559 (tiếng   Nga). 10. Khain V.E., 2000. Tính chu kỳ quy mô lớn trong lịch sử kiến tạo Trái đất và các nguyên nhân có thể  của nó. Geotektoniks, 6 : 3­14 (tiếng Nga). 11. C. Lepvier, Nguyen Van Vuong, H. Maluski, Phan Truong Thi, Vu Van Tich, 2008. Indosinian  tectonics in Vietnam. C.R. Geoscience, 340 : 94­111. 12. Maluski H., C. Lepvrier, Phan Trường Thị, Nguyễn Văn Vượng, 1999. Early Mesozoic to Cenozoic  evolution of orogeny in Viet Nam: An Ar­Ar dating synthesis. J. of Geology, B/13 : 81­86. Hà Nội.  13. Miyamoto T., Y. Osanai, N. Nakano, M. Owada, Nguyễn Thị Minh, Dương Đức Kiêm, Trần Ngọc  Nam, 2006. Kết quả bước đầu về tuổi Rb­Sr, Sm­Nd và thành phần đồng vị của pelit vùng Pô Kô và  eclogit vùng Điện Biên. TC Địa chất, A/5­6 : 38­45. Hà Nội. 14. Nguyễn Đình Uy, Trần Văn Trị, Hoàng Hữu Quý, Lâm Thanh, Lê Văn Đệ, Đàm Ngọc, Nguyễn Văn  Tâm, 1985. Một số nét cơ bản về kiến tạo miền Nam Việt Nam. Địa chất và Khoáng sản, 2 : 60­68. Viện   ĐC&KS, Hà Nội. 15. Nguyễn Kinh Quốc, 1990. Các thành tạo núi lửa Paleozoi muộn ­ Mesozoi và khoáng sản liên quan  ở rìa nam khối nâng Kon Tum. Địa chất và khoáng sản, 3 : 123­135. Viện ĐC&KS, Hà Nội. 16. Nguyễn Nghiêm Minh, Phan Văn Quýnh, Vũ Ngọc Hải, Nguyễn Huy Sính, 1985. Kiến sinh vỏ lục  địa và sinh khoáng lãnh thổ Viêt Nam. Địa chất và khoáng sản. 2 : 116­127. Viện ĐC&KS, Hà Nội. 17. Nguyễn Trung Minh, 2005. Xác định tuổi thành tạo khối Bà Nà tương ứng với pha kiến tạo Inđosini  bằng phương pháp đồng vị U­Pb. TC Địa chất, A/287 : 20­25. Hà Nội.  18. Nguyễn Trung Minh, 2005. Một số kết quả mới về địa hoá đồng vị của khối granit Bà Nà và luận  giải. Tt báo cáo HNKH 60 năm Địa chất VN, tr. 126­132. Hà Nội.  19. Nguyễn Văn Bình, Vũ Minh Quân, Phạm Văn Trường, 2000. Một số nét đặc trưng sinh khoáng khối  nhố Kon Tum. HNKH Trường ĐH MĐC lần thứ 14, : 189­194. Hà Nội.  20. Nguyễn Văn Bình, 2005. Về chu kỳ kiến tạo Inđosini ở miền Bắc Việt Nam. TC Địa chất, A/291 : 21­ 26. Hà Nội.  21. Nguyễn Xuân Bao, Vũ Như Hùng, Trịnh Long, 2000. Hiệu chỉnh tuổi một số phân vị địa tầng  Mesozoi ở Nam Việt Nam. Địa chất, tài nguyên và môi trường NVN, tr. 16­19. Liên đoàn BĐ ĐC Miền   Nam, Tp Hồ Chí Minh. 22. Nguyễn Xuân Bao (Chủ biên), 2001. Kiến tạo và sinh khoáng miền Nam Việt Nam. Lưu trữ Cục   ĐC&KS VN, Hà Nội. 23. Nguyễn Xuân Tùng, Trần Văn Trị (Đồng chủ biên), 1992. Thành hệ địa chất và địa động lực Việt  Nam. Nxb. KH&KT, Hà Nội, 274 tr. 24. OsanaiY., N. Nakano, M. Owada, Phạm Bình, Trần Ngọc Nam, Dương Đức Kiêm, Trần Văn Trị,  2005. Một số phát hiện gần đây về quá trình biến chất của địa khối Kon Tum, Trung Bộ Việt Nam. Địa  
  7. chất và Khoáng sản, 9 : 171­186. Viện NC ĐC&KS. Hà Nội.  25. Osanai Y., N. Nakano, M. Owada, Trần Ngọc Nam, Phạm Bình, T. Miyamoto, S. Baba, T.  Kawkami, T. Toyoshima, Nguyễn Trung Minh, Trần Văn Trị, 2007. Lower crustal processes of Trans­ Vietnam orogenic belt and its northern extension: Evidences for Permo­Triassic collision metarmorphism  in Eastern Asia.4th Intern. Symp. on Gondwana to Asia and 2007 IAGR annual convention. Abstract   volume. 26. Phạm Văn Quang, 1985. Khối trung tâm Inđosini. TC Địa chất, 169 : 1­8. Hà Nội.  27. Phan Trường Thị, 1995. Địa khối Inđosini trong chuyển động Inđosini ở Đông Dương và biển Đông  trong đại Tân sinh. BC HNKH ĐCVN lần thứ III, tr. 121­131. Hà Nội. 28. Phan Trường Thị, 1997. Hoạt động biến chất và quá trình tạo núi Trường Sơn. TC Các KH về TĐ, 3 : 169­178. Hà Nội.  29. Phan Văn Quýnh, Vũ Ngọc Hải, Nguyến Nghiêm Minh, Võ Năng Lạc, Văn Đức Chương,  1986. Tiến hoá vỏ lục địa Việt Nam và sinh khoáng. TC Các KH về TĐ, 6 : 97­103. Hà Nội.  30. Roger F., H. Maluski, A. Leloup, C. Lepvier, Phan Truong Thi, 2007. U­Pb dating of high  temperature metamormorphic episodes in the Kon Tum Massif (Vietnam). J. of Asian Earth Sci., 30 : 565­ 572. 31. Tống Duy Thanh, Vũ Khúc (Đồng chủ biên), 2005. Các phân vị địa tầng Việt Nam. Nxb ĐHQG, Hà   Nội, 504 tr.. 32. Trần Ngọc Nam, 2001. Tuổi granulit phức hệ Kan Nack kết quả từ SHRIMP U­Pb zircon. TC Các KH   về TĐ, 1 : 16­21. Hà Nội.  33. Trần Ngọc Nam, Y. Osanai, N. Nakano, Hoàng Hoa Thám, 2004. Biến chất nhiệt độ siêu cao Permi­ Trias va chạm lục địa ở địa khối Kon Tum. TC Địa chất, A/285 : 1­8. Hà Nội.  34. Trần Ngọc Nam, Y. Osanai, N. Nakano, 2005. Hoạt động biến chất áp suất cao ở địa khối KonTum  và ý nghĩa địa động lực. Tt báo cáo HNKH 60 năm Địa chất VN, tr. 133­139. Hà Nội.  35. Trần Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Thủy, Trần Ngọc Nam, 2006. Bước đầu định lượng độ biến dạng và  biên độ dịch chuyển của đới cắt trượt Đà Nẵng ­ An Điềm bằng phương pháp bề dày các lớp mylonit. TC   Địa chất, A/296 : 46­53. Hà Nội.  36. Trần Trọng Hoà, Trần Tuấn Anh, Ngô Thị Phượng, Phạm Thị Dung, Trần Việt Anh, 2005. Hoạt  động magma Permi­Trias lãnh thổ Việt Nam và triển vọng kim loại quý hiếm (Pt, Au) liên quan. Tt báo cáo   HNKH 60 năm ĐCVN, tr. 63­79. Hà Nội.  37. Trần Trọng Hoà, A.S. Borisenko, Ngô Thị Phượng, A.E. Izokh, Vũ Văn Vấn, Bùi Ái Niên, Trần  Tuấn Anh, Phạm Thị Dung, 2006. Đặc điểm địa hóa đồng vị của quặng hóa vàng Mesozoi sớm và  Mesozoi muộn trong mối liên quan với hoạt động magma khu vực rìa ĐN địa khối Đông Dương. TC Địa   chất, A/295 : 15­24. Hà Nội.  38. Trần Tuấn Anh, Trần Trọng Hòa, A.E. Izokh, A.S. Borisenko, A.V. Travin, 2006. Age constraints on  the petrogenesis of lamprophyr from South Central Việt Nam. J. of Geology, B/27 : 23­29. Hà Nội.  39. Trần Văn Trị, 1987. Tectonic evolution of the Inđosinian epoch of Vietnam and neighbouring  regions. Pre­Jurassic evol. of E Asia. IGCP Proj. 224, 2 : 67­74. Osaka. 40. Trần Văn Trị (Chủ biên), 2000. Tài nguyên khoáng sản Việt Nam. Cục ĐC và KS VN, Hà Nội, 214 tr.. 41. Trần Văn Trị, Tống Duy Thanh, Vũ Khúc, 2005. Các bồn trầm tích trong tiến hoá địa chất ở Việt  Nam. Trong Tống Duy Thanh, Vũ Khúc, 2005: Các phân vị địa tầng Việt Nam, tr. 1­22. Nxb ĐHQG Hà   Nội.  42. Vũ Khúc, Bùi Phú Mỹ (Đồng chủ biên), 1988. Địa chất Việt Nam. Tập 1: Địa tầng. TCục MĐC, Hà  
  8. Nội, 379 tr.. 43. Vũ Khúc, Đặng Trần Huyên, Nguyễn Đình Hữu, 2005. Các thành tựu và tồn tại trong nghiên cứu địa  tầng Mesozoi trong những năm gần đây (1998­2005). Tt báo cáo HNKH 60 năm ĐCVN, tr. 101­111. Cục   ĐC&KS VN, Hà Nội.  44. Vũ Như Hùng, Trịnh Văn Long, Huỳnh Thị Minh Hằng, 2000. Đặc điểm các thành tạo magma cung  rìa lục địa tích cực Mesozoi muộn đới Đà Lạt. Địa chất, tài nguyên và môi trường NVN, tr. 31­43. Liên   đoàn BĐĐC Miền Nam, Tp. HCM.  45. Vũ Văn Tích, 2006. Tiến hóa biến chất của granulit phức hệ Kan Nack và quá trình tạo núi  Inđosini. TC Các KH về TĐ, 28/2 : 241­252. Hà Nội.  46. Vũ Văn Tích, Nguyễn Thị Thủy, 2006. Charnockit nhiệt độ siêu cao ở địa khối Kon Tum và ý nghĩa  địa động lực trong quá trình tạo núi Inđosini. TC Địa chất, A/296 : 8­15. Hà Nội.  47. Vũ Văn Tích, Hoàng Thị Thụy, 2007. Tuổi đồng vị Ar­Ar của granitoiđ và pegmatit trong đới trượt cắt  Trà Bồng ­ Hưng Nhượng và ý nghĩa của nó trong luận giải nhiệt kiến tạo khu vực. TC Địa chất, A/300 :   57­63. Hà Nội. a) Granulit mafic trong đá gneis mylonit hóa loạt Ngọc Linh vùng Đắc Tô Kan (T = 820­10500 C, P = 28  kbar, tuổi: 250­260 Tr.n.).  b) Granulit pelit loạt Kan Nack vùng Sông Ba (T = 900­10500C, tuổi: 240­250 Tr.n.).  c) Gneis hệ tầng Khâm Đức (T = 7400C; P = 8 kbar; T = 6400C; P = 12 kbar). d) Charnockit loạt Kan Nack (T = 700 ­11500C; P = 3,4 ­ 5,7 kbar, tuổi: 240­260 Tr.n.).  e) Gneis pelit Pô Kô phức hệ Ngọc Linh (tuổi 229 Tr.n.).  g) Granulit eclogit basic Sông Ba (245­250 Tr.n.). Các biểu hiện biến chất tương tự cũng xảy ra tại Sông Mã (243 Tr.n.), Đại Lộc ­ Khe Sanh (244 Tr.n.) [12,  13]. Các hoạt động magma và biến chất này xảy ra trong cùng khoảng thời gian 260­210 Tr.n.. ­ Trong khi ở các đới cấu trúc Inđôsiniđ miền Bắc Việt Nam ở bậc cao hơn phổ biến các cấu trúc dạng  tuyến hẹp, không liên tục, nhiều gián đoạn cục bộ, các cấu tạo vảy phủ chờm, các đới tách giãn dạng  cánh gà, các uốn nếp ngắn, cụt, đoản, đôi khi dốc đứng, thì ở Nam Việt Nam các biểu hiện dạng này yếu  hơn nhiều.  + Trong chu kỳ Inđosini ở miền Nam Việt Nam tồn tại các đới trượt bằng, các đới biến dạng dẻo (tuổi 217­ 255 Tr.n., ghi nhận được ở Kan Nack, Quảng Ngãi, Kon Tum, M’Đrắc, Đại Lộc [22]), các đới trượt cắt (do  kết quả của quá trình xô đụng: Thà Khẹt ­ Đà Nẵng, Đà Nẵng ­ Khe Sanh, Tam Kỳ ­ Hiệp Đức, Trà Bồng ­  Hưng Nhượng, Pô Cô…) [11, 28, 35, 47].  + Trong Trias ở miền Bắc Việt Nam phổ biến các thành tạo carbonat tướng biển nông đến trung bình (các  hệ tầng Hồng Ngài, Điềm He, Đồng Giao, Pác Ma, Hoàng Mai), cũng vào thời gian này ở miền Nam Việt  Nam hoàn toàn vắng mặt các thành tạo carbonat (ngoại trừ một diện tích nhỏ ở bờ bắc đảo Hòn Nghệ).  + Các biểu hiện của hoạt động magma granitoiđ khá phổ biến và phong phú vào chu kỳ Inđôsini với sự  biểu hiện của các phức hệ Điện Biên, Núi Điệng, Sông Mã, Móng Cái, Kim Bôi, Phia Bióc, Bến Giằng ­  Quế Sơn, Hải Vân, Bà Nà, Vân Canh. ­ Chu kỳ Inđôsini ở miền Nam Việt Nam có thể được phân định 3 pha chính: C3­P2, P3­T3c, T3n­r ­ J2 thể  hiện rõ các phức hệ vật chất ­ kiến trúc nêu trên. Tiếp theo là hoạt động của rìa lục địa tích cực trong môi 
  9. trường hút chìm của mảng Thái Bình Dương ở phía đông hiện tại xuống dưới mảng Châu Á diễn ra muộn  hơn (đặc biệt rõ ở đới cấu trúc Đà Lạt). Một số tác giả còn tính đến tác động của quá trình hút chìm mảng  Ấn Độ Dương dưới lục địa Âu ­ Á [4], theo chúng tôi có lẽ ảnh hưởng này xảy ra vào thời gian muộn hơn. ­ Các đới cấu trúc chính hình thành trong chu kỳ Inđosini ở lãnh thổ Việt Nam là: Sông Đà, Sông Hiến, An  Châu, Sầm Nưa ­ Hoành Sơn, An Khê (Mang Yang), Đăk Lin ­ Bản Đôn, Phú Quốc, Hà Tiên, Nông Sơn ­  An Điềm (Sông Bung). ­ Các khoáng sản chính của chu kỳ Inđosini ở miền Nam Việt Nam [3, 15, 19, 29, 36, 37]: + Chì­kẽm: Gia Bạc, Núi Dinh; + Vàng (thạch anh ­ vàng, thạch anh ­ sulfur ­ vàng, có nơi liên quan với phức hệ Bến Giằng ­ Quế  Sơn… ): Khe Rin, Đắc Ri Pen, Đắc Krông, Bãi Đất, Ngọc Tụ, Bãi Gió, Sa Bình, Tiên Thuận, Phước Hiệp,  Tiên Hà, Hiệp Thuận, Thăng Phước, Đắc Sa, Suối Ty, Suối Nho, Suối Linh, Trà Năng…; + Fluorit (liên quan với granit phức hệ Vân Canh): Xuân Lãnh; + Molybđen ­ đồng: Sa Thầy?, Núi Đất?. IV. KẾT LUẬN Giai đoạn Paleozoi muộn ­ Mesozoi là một trong những giai đoạn đặc biệt trong tiến trình lịch sử địa chất  của Việt Nam, đặc biệt phong phú và đa dạng về mặt kiến tạo và khoáng sản. Chu kỳ Inđosini có đặc  điểm kiến tạo đặc sắc không chỉ ở Việt Nam, Đông Nam Á mà còn trên thế giới. Trên nền cấu trúc tương  phản bình ổn vào cuối Paleozoi của miền Nam Việt Nam, chu kỳ Inđosini khởi đầu bằng nứt tách, sụt lún,  sau đó nhanh chóng chuyển sang nén ép, nâng nghịch đảo mạnh, khép kín các đới cấu trúc. Sau sụt lún  cục bộ tạo các địa hào, trũng giữa núi, chậu chứa than, toàn miền bước vào giai đoạn tạo núi muộn, hoàn  chỉnh vỏ lục địa với sự có mặt của các thành tạo nguồn gốc vỏ. Kết quả của các hoạt động biến cải phân  dị mạnh mẽ đã tạo ra các trũng chồng gối điển hình – trũng kiểu nguồn rift nội lục trên nền các móng cấu  trúc không đồng nhất (đa kỳ, đa nguồn gốc…). Chúng tạo nên bức tranh phối khảm của các khối nhô, đai  núi lửa rìa lục địa tích cực của Paleozoi muộn và các trũng chồng gối Mesozoi hình thành trong các pha  kiến tạo kiểu mạch đập (có sự luân phiên giữa các chế độ nén ép và tách giãn, sự luân phiên các cấu trúc  âm và các cấu trúc dương). Một số tác giả xem đây là giai đoạn hoạt hóa magma ­ kiến tạo của lãnh thổ  Việt Nam, đặc biệt phong phú và đa dạng về mặt khoáng sản. 

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản