ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU VÀ TÀI NGUYÊN KHÍ HẬU VIỆT NAM

Chia sẻ: Nguyễn Đình Tân | Ngày: | Loại File: PPT | Số trang:91

2
701
lượt xem
191
download

ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU VÀ TÀI NGUYÊN KHÍ HẬU VIỆT NAM

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Lãnh thổ Việt Nam kéo dài theo phương kinh tuyến, giới hạn trong những vĩ độ từ 8030’N đến 23022’N và kinh độ từ 102010’E đến 109021’E. Như vậy, Việt Nam nằm trọn vẹn trong vùng nội chí tuyến của Bắc bán cầu. Đặc điểm tổng quát của KH nước ta là: Khí hậu có tính chất nội chí tuyến nóng ẩm

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU VÀ TÀI NGUYÊN KHÍ HẬU VIỆT NAM

  1. ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU VÀ TÀI Bài 5 NGUYÊN KHÍ HẬU VIỆT NAM KHÍ HẬU VIỆT NAM Sơ lược tài nguyên Đặc điểm khí hậu Việt Nam khí hậu
  2. 1 Chịu sự chi phối của chế độ mặt trời nội chí tuyến Điều kiện Chịu tác động mạnh của hoàn hình thành 2 KHVN lưu gió mùa Điều kiện địa lý phức tạp 3
  3. Lãnh thổ Việt Nam kéo dài theo phương kinh  tuyến, giới hạn trong những vĩ độ từ 8030’N đến 23022’N và kinh độ từ 102010’E đến 109021’E. Như vậy, Việt Nam nằm trọn vẹn trong vùng nội chí tuyến của Bắc bán cầu. Đặc điểm tổng quát của KH nước ta là: Khí hậu  có tính chất nội chí tuyến nóng ẩm
  4.         Đặc điểm địa hình Địa hình Việt Nam nối liên với lục địa Hoa Nam thành một dải liên tục. Vì thế sự sắp xếp các dãy núi trên phần Bắc lãnh thổ có cùng một hướng Tây Bắc - Ðông Nam của hệ thống núi và cao nguyên Vân Quý. Ở phần phía nam lãnh thổ, dãy Trường Sơn Nam cùng với cao nguyên Trung và Hạ Lào chuyển hướng theo phương kinh tuyến . Ảnh hưởng của địa hình tới sự phân hoá khí hậu thể hiện rõ nét ở các vùng khí hậu với những hệ thống núi chính sau đây:
  5. Hệ thống đồi núi hình cảnh cung vùng Ðông Bắc Trên địa phận các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc  Cạn, Lạng Sơn, Cao Bằng,Quảng Ninh, Hải Dương có hệ thống đồi núi hình nan quạt với 4 vòng cánh cung là Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn và Ðông Triều. Vì thế, vào mùa đông, gió mùa đông Bắc có điều kiện thuận lợi thâm nhập vào lãnh thổ nước ta khiến cho vùng này rất lạnh. địa hình cánh cung cũng đón và giữ lại các đợt gió đông Bắc đầu và cuối mùa tạo nên một vùng khí hậu có mùa đông dài nhất nước ta
  6. Mùa hè, cánh cung đông Triều tạo thành bức  tường chắn gió đông Nam từ biển thổi vào phân biệt rõ 2 tiểu vùng khí hậu: vùng ven biển Quảng Ninh có lượng mưa lớn (2.500-3.000 mm/năm) do bị ảnh hưởng của biển, vùng thung lũng Cao - Lang ít mưa, ít bão nhưng nhiều nắng (lượng mưa 1.300 mm/năm).
  7. Hệ thống núi có hướng Tây Bắc- Ðông Nam Dãy Hoàng Liên Sơn có đỉnh Phan Si Păng cao tới 3.142m đã ngăn cản gió mùa cực đới ảnh hưởng tới vùng Tây Bắc tạo thành một miền khí hậu riêng biệt có mùa đông tương đối ấm. Trong các thung lũng Sông Mã, Yên Châu, điện Biên nền nhiệt ñộ tương tự vùng đồng bằng Bắc Bộ, chỉ một số nơi có địa hình cao (Mộc Châu, Mường Tè, Sìn Hồ) nhiệt độ mới thấp. Về mùa hè, Hoàng Liên Sơn là ranh giới ngăn cản các luồng gió từ biển đông thổi vào vùng Tây Bắc. Khí hậu Tây Bắc ít chịu ảnh hưởng của biển, mang tính chất nhiệt đới lục địa rõ rệt, lượng mưa thấp (Sông Mã, Yên Châu < 1000 mm/năm).
  8. Dãy Trường Sơn Bắc có hướng Tây Bắc - đông Nam  ngăn cản gió mùa đông Bắc ảnh hưởng về phía Tây Trường Sơn. Ðây cũng là dạng địa hình chắn giữ front cực đới, gây ra mưa lớn ở khu Bốn thời kỳ đầu mùa đông (Kỳ Anh 3000 mm/năm). Mùa hè, dãy Trường Sơn chắn gió mùa Tây Nam, (từ vịnh Bengan), tạo nên mùa mưa ở Tây Trường Sơn và gió fohn khô nóng ảnh hưởng ở Trung Bộ. Nhìn chung địa hình Tây Bắc - đông Nam đã tạo nên sự đối lập giữa đông và Tây Trường Sơn về chế độ mưa, ẩm rất rõ.
  9. Hệ thống núi có hướng Ðông - Tây Ðáng chú ý là dãy Hoành Sơn và Bạch Mã đâm  ngang ra biển tạo thành đèo Ngang và đèo Hải Vân. Hai dãy núi này ngăn cản hoạt động của gió mùa đông - Bắc ảnh hưởng tới các tỉnh phía Nam. Vì vậy, Hoành Sơn và Bạch Mã được coi là ranh giới của 2 miền khí hậu: Miền Bắc có một mùa đông lạnh, còn miền Nam không có mùa đông, nền nhiệt độ cao và ít biến động.
  10. Các dãy núi có hướng Bắc Nam Ở miền Bắc một số dãy núi thấp chạy theo hướng Bắc-  Nam thuộc vùng thượng nguồn sông Lô, sông Gâm, sông Chảy, cùng hướng với các phụ lưu của các dòng sông. Địa hình đó đã án ngữ hướng gió 2 mùa, hình thành những vùng mùa hè mưa lớn như Bắc Quang (4000 mm/năm), mùa đông thời tiết lạnh ẩm, nhiều mây ở Hà Giang, Tuyên Quang. Hệ thống núi Nam Trường Sơn (Bảo Lộc, Lâm Ðồng)  chạy theo hướng Bắc - Nam cũng có vai trò tương tự. Do đó vùng Bảo Lộc lượng mưa khá lớn so với phía Bắc cao nguyên Trung Bộ (khoảng 3.000 - 3.500 mm/năm).
  11.                 Ðịa thế biển Nước ta có bờ biển dài trên 3 000 km, vịnh biển lấn sâu  vào đất liền như vịnh Bắc Bộ nên khí hậu chịu ảnh hưởng nhiều của biển. Về mùa đông, trên vịnh Bắc Bộ tồn tại trung tâm khí áp thấp mờ nhạt, là nguyên nhân tăng cường thêm mưa phùn và sương mù ven biển. Ảnh hưởng của bề mặt biển làm dịu đi cho nền nhiệt độ mùa hè. Nhiều nhiễu động khí quyển hình thành ngoài biển ảnh hưởng tới khí hậu đất liền rất sâu sắc như bão, dông nhiệt, gió biển
  12. Khí hậu có tính chất nội chí tuyến Khí hậu có tính chất xích đạo
  13. Khí hậu Việt Nam có sự phân hoá theo mùa rõ rệt Mùa mưa Khắp nơi trên cả nước có 2 mùa Mùa khô
  14. Khí hậu Vn có sự phân hoá từ Đông sang Tây, từ  Bắc vào Nam Sự phân hoá Đông-Tây: có sự khác biệt lớn về - chế độ mưa giữa sườn Đông và sườn Tây của dải Trường Sơn và Hoàng Liên Sơn
  15. Sườn tây Trường Sơn Chế độ mưa tập trung vào mùa thu đông Chế độ mưa tập trung vào mùa hè
  16. Tài nguyên nắng –bức xạ Chế độ nắng và bức xạ ở nước ta rất phong  phú. Do vị trí địa lý, về cơ bản nước ta nhận được nhiều năng lượng bức xạ mặt trời, quy định tính nhiệt đới của khí hậu. Ở miền Bắc, tổng lượng năm của bức xạ khoảng 95-100 kcal/cm2/năm, ở miền Nam trị số này tăng lên tới 130 Kcal/cm2/năm. Bức xạ tổng cộng trên cả nước đạt từ 100 -170Kcal/cm2 /năm
  17. Xét chung toàn năm, bức xạ tổng cộng tăng dần từ  Bắc vào Nam. Tuy nhiên, sự phân bố bức xạ tổng cộng tuân theo quy luật hoạt động của gió mùa. Vào các tháng I-II, bức xạ tổng cộng nhỏ nhất trên toàn miền Bắc với các trị số dao động khoảng 7-8 Kcal/cm2/tháng, chiếm 4 - 5% tổng lượng toàn năm. Bức xạ tổng cộng nhỏ nhất ở khu vực Vinh, Hà Tĩnh là nơi thường có nhiều mây do ảnh hưởng của front lạnh dừng trên Trường Sơn Bắc
  18. Ở Tây Bắc và miền Nam, thời kỳ này trời  thường quang mây nên bức xạ tổng cộng vượt quá 10 Kcal/cm2/tháng. Bước sang tháng III-IV bức xạ tổng cộng bắt đầu tăng. Sự tăng diễn ra một cách khá đột ngột ở vùng  Tây Bắc (vượt trên 10 Kcal/cm2/tháng ngay từ tháng III). Hầu khắp các tỉnh phía Bắc (trừ vùng Ðông Bắc), tổng lượng bức xạ tháng IV đều vượt 10 Kcal/cm2/tháng, còn ở miền Nam đạt từ 14,5 - 16,0 Kcal/cm2/tháng.
  19. Quá trình phân bố lượng BXTC là do đặc điểm địa hình, nhất là những địa hình có hiệu ứng rõ rệt với gió mùa mùa đông VD: vùng Tây Bắc có BXTC cao hơn vùng Đông Bắc Do dãy núi Hoàng Liên Sơn ngăn chặn được gió mùa Đông bắc
  20. Số giờ nắng Vùng Tây Bắc, quanh năm đều đạt 130 giờ nắng  mỗi tháng. - Tháng nhiều nắng nhất là tháng IV (Sơn La đạt 200 giờ).  Ở Bắc bộ và Bắc khu 4, trung bình số giờ nắng đạt từ 45 - 90 giờ/tháng. Thời gian ít nắng nhất là tháng II, III, chỉ đạt dưới 50 giờ/tháng. Từ tháng V trở đi số giờ nắng tăng lên, tháng VII đạt trị số cao nhất (trên 200 giờ/tháng).
Đồng bộ tài khoản