Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi một số loài thủy sản - TS. Dương Nhựt Long

Chia sẻ: Janavaro Huchigo | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:122

2
497
lượt xem
278
download

Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi một số loài thủy sản - TS. Dương Nhựt Long

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tập tính sống : là loài ƣa sống chui rúc trong bùn đặc biệt trong lớp mùn bã hƣu cơ có nhiều sinh vật đáy. Chúng ta cũng bắt gặp lươn chui rúc trong các đống cỏ, rơm rạ trong ruộng hoặc ao mương. Ngoài ra lươn cũng có tập tính đào hang ven bờ ao, để trú ẩn và làm tổ đẻ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi một số loài thủy sản - TS. Dương Nhựt Long

  1. Kỹ thuật nuôi (Monopterus albus) Ts. Dƣơng Nhựt Long Bộ môn Kỹ thuật nuôi thủy sản nƣớc ngọt, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi một số loài thủy sản
  2. 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LƢƠN ĐỒNG Theo Mai Đình Yên (1978), Trần Thị Thu Hƣơng và Trƣơng Thủ Khoa (1984) lƣơn này có một số đặc điểm nhƣ sau Lƣơn đồng Monopterus albus 1.1 Tập tính sống Lƣơn là loài ƣa sống chui rúc trong bùn đặc biệt trong lớp mùn bã hƣu cơ có nhiều sinh vật đáy. Chúng ta cũng bắt gặp lƣơn chui rúc trong các đống cỏ, rơm rạ trong ruộng hoặc ao mƣơng. Ngoài ra lƣơn cũng có tập tính đào hang ven bờ ao, mƣơng để trú ẩn và làm tổ đẻ. 1.2 Tập tính bắt mồi Lƣơn là loài ăn tạp nhƣng thiên về động vật, đặc biệt thức ăn có mùi tanh nhƣ tôm, cá, nòng nọc... Ngoài ra lƣơn cũng có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhƣ phụ phẩm của lò mỗ, đồ phế thải của nhà bếp kể cả thức ăn viên dành cho gia cầm. 1.3 Tập tính sinh sản Lƣơn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có 2 mùa đẻ trong năm là tháng 5 - 6 và tháng 8 - 9. Lƣơn thƣờng đẻ trong tổ và làm bọt lấp kín miệng tổ, sau khoảng 7 - 8 ngày ở nhiệt độ 29 – 30 0C trứng nở ra lƣơn con và sau khoảng 10 ngày lƣơn con đã tiêu hết noãn hoàng và thóat ra khỏi tổ đi kiếm ăn. Thức ăn của lƣơn ở giai đoạn này là giống loài động vật thủy sinh trong nƣớc nhƣ giun ít tơ, bọ gậy... 1.4 Tập tính sinh trƣởng của lƣơn Lƣơn là loài động vật thủy sinh lớn chậm, trọng lƣợng trung bình của lƣơn sau 12 tháng có thể đạt 100 - 150g/con và sau 12 tháng có thể đạt từ 200 – 3000 g/con.
  3. 2. GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA LƢƠN Lƣơn là một trong đối tƣợng dễ nuôi, có nhiều loại thức ăn khác nhau và có thể tận dụng những ao mƣơng nhỏ và cạn kể cả chuồng heo cải tạo lại để nuôi. Nuôi lƣơn ở quy mô hộ gia đình ngoài vấn đề tận dụng lao động nhàn rỗi, thức ăn thừa của gia đình, của chăn nuôi mà còn có thể tăng thêm thu nhập góp phần cải thiện đời sống gia đình, và đặc biệt thích hợp với các gia đình có nguồn vốn eo hẹp. 3. KỸ THUẬT NUÔI LƢƠN THỊT 3.1 Một số phƣơng pháp nuôi lƣơn thịt Do lƣơn có tập tính sống chui rúc trong bùn đáy và đào hang để trú ẩn, đồng thời lƣơn cũng có thể bò đi mất nếu bờ ao không đủ cao. Do vậy vấn đề nuôi lƣơn trong các ao mƣơng cần phải hết sức chú ý vấn đề này. Tùy theo điều kiện cụ thể của từng nơi mà có thể áp dụng một số phƣơng pháp nuôi sau đây 3.1.1 Nuôi trong các hồ cement hoặc chuồng nuôi heo cải tạo lại Diện tích hồ nuôi có thể từ 4 - 6 hoặc 10 m2, tùy điều kiện cụ thể. Thành hồ phải đảm bảo độ cao để lƣơn không bò ra ngoài đƣợc. Độ cao tối thiểu của thành hồ tính từ mặt bùn đáy trở lên phải cao hơn 2/3 chiều dài của lƣơn (ví dụ: lƣơn dài 50 cm có khả năng bò qua bờ có chiều cao 30 - 35 cm). Sau khi đã sửa sang hồ xong nên đổ một lớp sình non dƣới đáy hồ 20 - 25 cm (tốt nhất lấy sình đất thịt pha sét). Cũng có thể dùng chuối cây xếp thành một lớp dƣới đáy rồi đổ sinh phủ lên trên. Trên mặt nƣớc có thể thả lục bình hoặc bèo tai tƣợng khoảng 1/3 diện tích. Hồ nuôi lƣơn nên bố trí ống bọng để thay nƣớc dễ dàng Hồ cement dùng để nuôi lƣơn bao gồm: 1. Ống cấp nƣớc (5 cm) 2. Lớp sình 20 - 25 cm 3. Lớp nƣớc 5 - 10 cm (tính từ mặt sình lên) 4. Ống thoát nƣớc (5 cm) 5. Thành hồ bằng gạch xây, có gờ nhằm tránh cho lƣơn thóat ra ngoài. 3.1.2 Nuôi lƣơn trong các ao mƣơng Các ao mƣơng nhỏ có thể tận dụng để nuôi lƣơn. Nhƣng cần chú ý các vấn đề sau: Cần phải vét hết lớp bùn đáy tới lớp đất dẻo, lớp bùn này có thể phơi ráo nƣớc hoặc khô để sau này trả lại đáy ao. Dùng cát đổ xuống đáy ao một lớp 5 - 10 cm. Tốt nhất trộn vôi với cát rồi lắng xuống đáy để sau này lƣơn không đào sâu đƣợc. Có thể trộn vôi với cát theo tỷ lệ 5 - 6 kg vôi trộn với 1m3 cát. Sau khi trộn xong, láng khắp đáy hồ và đầm nén cho cứng. Bờ ao cũng phải lấp hết hang hốc và đầm cho cứng. Đổ một lớp sình khoảng 20 - 30 cm, tốt nhất nên sứ dụng bùn mới hoặc sử dụng lại bùn đáy mới vét lên đã đƣợc phơi khô.
  4. Cần phải đắp một cù lao ở giữa ao, mƣơng để hạn chế lƣơn đào hang xung quanh bờ. Diện tích cù lao thƣờng chiếm khoảng 1/4 - 1/5 diện tích ao hồ. Nếu mƣơng dài và nhỏ thì nên đắp cù lao ở một phía bờ mƣơng hoặc giữa mƣơng. Cù lao phải cao hơn mực nƣớc 5 - 10 cm nhƣng phải thấp hơn bờ ao 50 - 60 cm. Trên mặt cù lao có thể trồng cỏ hoặc các loại khoai môn nƣớc 3.1.3 Nuôi lƣơn trong hồ đất đắp có lót cao su Chọn nơi đất cứng để đào hồ nuôi lƣơn. Thông thƣờng chỉ nên đào sâu khoảng 0,3 - 0,5m, lấy đất này đắp lên thành bờ. Đáy và bờ phải đƣợc đầm nén cho kỹ. Diện tích đào và đắp tùy theo điều kiện cụ thể, thông thƣờng nên đào và đắp hồ có diện tích 10 – 12 m2. Dùng cao su (loại dùng để phơi lúa) để lót toàn bộ đáy và thành hồ Hồ đất lót cao su nuôi lƣơn 1. Lớp cao su lót đáy và thành hồ đất 2. Lớp bùn 3. Cù lao 4. Phần đất đắp bờ 5. Mặt đất trƣớc khi đào hồ 6. Lớp nƣớc trong hồ 10 - 15cm Sau khi lót cao su xong, đổ một lớp sình 20 - 25 cm và đắp một cù lao (có thể đắp ở giữa hồ hoặc một phía nào đó của hồ). Cù lao phải đắp cao hơn mặt nƣớc 5 - 10 cm và thấp hơn bờ khoảng 40 - 50 cm. Sau khi hoàn tất việc lót cao su, đắp cù lao và tạo một lớp bùn đáy thì cấp nƣớc vào. Mực nƣớc trung bình 10 - 15 cm. 3.2 Thả giống lƣơn Nguồn lƣơn giống hiện nay ở Đồng Bằng Sông Cửu Long chủ yếu đƣợc đánh bắt ở ngoài tự nhiên. Kích thƣớc lƣơn giống bắt đƣợc dao động rất lớn và phụ thuộc vào mùa vụ. Thông thƣờng lƣơn giống vào tháng 8 - 10 theo phƣơng pháp xúc mô có chất lƣợng cao hơn so với lƣơn đánh bắt bằng phƣơng pháp đặt chúm, câu hoặc tát đìa. Lƣơn giống đánh bắt theo phƣơng pháp xúc mô thƣờng có kích thƣớc đều (60 – 70 con/kg) và khỏe mạnh. Khi thả lƣơn chúng ta nên chú ý không nên thả lƣơn quá lớn (100g/con) vì loại này khi đánh bắt đã bị vuốt cho gãy xƣơng sống cho khỏi bò mất, do vậy lƣơn sẽ chết sau 7 - 10 ngày thả. Ngoài ra lƣơn đƣơc đánh bắt bằng mồi thuốc dân gian cũng không nên thả vì loại này cũng dễ chết sau khi thả vài ngày và thƣờng chết rộ sau khi thả 10 - 15 ngày. Nói tóm lại, lƣơn có kích thƣớc lớn, lƣơn đánh bắt bằng mồi thuốc, lƣơn loại nhỏ ở các vựa thu mua chúng ta không nên thả vì loại này thƣờng có tỷ lệ chết rất cao khi thả nuôi. Mật độ thả: Mặc dù lƣơn có khả năng chịu đựng tƣơng đối cao nhƣng không nên thả quá dầy. Nếu thả mật độ cao sẽ dẫn đến tình trạng lƣơn lớn không đều. Trung bình thả 1,0 - 1,5 kg/m2 đáy hồ, ao. Trƣớc khi thả lƣơn cần xử lý qua nƣớc muối 3 – 5 % trong 5 - 7 phút để phòng bệnh cho lƣơn.
  5. 3.3 Chế độ chăm sóc 3.3.1 Thức ăn Do lƣơn ăn rất tạp nên có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau để nuôi. Tuy nhiên những loại thức ăn có nguồn gốc là động vật nhƣ tép, óc, cá, nòng nọc, ruột gà, vịt... thƣờng có tác dụng làm lƣơn lớn rất nhanh so với thức ăn có nguồn gốc thực vật nhƣ cám. Chúng ta cũng có thể sử dụng các loại thức ăn cho gia cầm hiện nay để nuôi lƣơn hoặc tự phối chế thức ăn đơn giản phù hợp với điều kiện thực tế của địa phƣơng để nuôi lƣơn vẫn có thể đem lại kết quả tốt nhƣ sau: Cám nhuyễn: 64% Bột cá lạt: 35% ADE + bột gòn + khoáng: 1% Trộn đều các thứ sau đó cho vào máy ép đùn thủ công để tạo thành thức ăn viên, phơi khô (viên thức ăn lớn hay nhỏ tùy theo kích thƣớc của lƣơn). Lƣợng thức ăn cho mỗi ngày chiếm 5 – 7 % trọng lƣợng thân và nên cho ăn 2 - 3 lần trong ngày. Không nên cho tất cả lƣợng thức ăn dồn vào một lần vì làm nhƣ vậy lƣơn ăn không hết, thức ăn phân hủy gây thối nƣớc, lƣơn dễ bị bệnh. Thức ăn nên đƣợc rải đều (đặc biệt gần khu vực cù lao là nơi lƣơn trú ẩn) để lƣơn có cơ hội ăn đƣợc nhiều hơn. 3.3.2 Quản lý hàng ngày Cần phải giử môi trƣờng nƣớc luôn sạch sẽ và mát. Trung bình 3 - 4 ngày thay nƣớc 1 lần cho lƣơn. Khi thời tiết nóng kéo dài cần phải có biện pháp che mát cho ao hồ nuôi hoặc dùng lục bình thả trên mặt hồ với diện tích khoảng 20 – 25 % mặt nƣớc. Khi trời mƣa to cần kịp thời rút bớt nƣớc đề phòng nƣớc đầy tràn bờ lƣơn trốn mất. Thƣờng xuyên theo dõi để loại bỏ lƣơn chết (lƣơn bị bệnh hoặc sắp chết thƣờng nằm trên mặt bùn đáy) tránh thối nƣớc. KỸ THUẬT NUÔI ARTEMIA TRÊN RUỘNG MUỐI (Artemia franciscana) Nhóm nghiên cứu Artemia. Trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ I. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI PHÂN LOẠI VÀ PHÂN BỐ 1. Vị trí phân loại Ngành: Arthropoda
  6. Lớp: Crustacea Lớp phụ: Branchiopoda Bộ: Anostraca Họ: Artemiidea Giống: Artemia 2. Đặc điểm về hình thái Artemia phát triển trải qua các giai đoạn: - Ấu trùng mới nở (instar I =nauplius, có chiều dài 400-500 µm) có màu vàng cam, có một mắt màu đỏ ở phần đầu và ba đôi phụ bộ. Ấu trùng giai đoạn I không tiêu hóa đƣợc thức ăn vì bộ máy tiêu hóa chƣa hoàn chỉnh. Lúc này, chúng sống dựa vào nguồn noãn hoàng. - Sau khoảng 8 giờ từ lúc nở, ấu trùng lột xác trở thành ấu trùng giai đoạn II (instar II). Lúc này, chúng có thể lọc và tiêu hóa các hạt thức ăn cỡ nhỏ có kích thƣớc từ 1 đến 50 µm và bộ máy tiêu hóa đã bắt đầu hoạt động. Ấu trùng tăng trƣởng và trải qua 15 lần lột xác trƣớc khi đạt giai đoạn trƣởng thành. Các đôi phụ bộ xuất hiện ở vùng ngực và dần dần biến thành chân ngực. Mắt kép xuất hiện ở hai bên mắt - Từ giai đoạn 10 trở đi, các thay đổi về hình thái và chuyên hóa chức năng của các cơ quan trong cơ thể bắt đầu, chúng có sự biệt hóa về giới tính. Ở con đực anten của chúng phát triển thành càng bám, trong khi đó anten của con cái bị thoái hóa thành phần phụ cảm giác (râu cảm giác). Các chân ngực đƣợc biệt hóa thành ba bộ phận chức năng: Các đốt chân chính, các nhánh chân trong (vận chuyển và lọc thức ăn) và nhánh chân ngoài dạng màng (mang). - Artemia trƣởng thành (dài khoảng 10-12 mm) có cơ thể kéo dài với hai mắt kép, ống tiêu hóa thẳng, râu cảm giác và 11 đôi chân ngực. Con đực có đôi gai giao cấu ở phần sau của vùng ngực (vị trí sau đôi chân ngực thứ 11) và con cái rất dễ nhận dạng nhờ vào túi ấp hoặc tử cung nằm ngay sau đôi chân ngực thứ 11. Hình 1: : Vòng đời của Artemia (theo Sorgeloos và ctv., 1980) 3. Phân bố
  7. Ngày nay, sự phân bố của Artemia đƣợc chia làm hai nhóm: Những loài thuộc về Cựu thế giới (Old World) là những loài bản địa đã tồn tại từ rất lâu trong các hồ, vịnh tự nhiên. Những loài thuộc về Tân thế giới (New World) là những loài mới xuất hiện ở những vùng trƣớc đây không có sự hiện diện của Artemia. Sự có mặt của chúng do ngƣời, chim hoặc là gió tạo ra mà tiêu biểu là loài Artemia franciscana (đại diện cho loài Artemia ở Tân thế giới) đã đƣợc sử dụng rộng rãi để thả nuôi ở nhiều ruộng muối trên khắp các lục địa. II. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 1. Đặc điểm môi trƣờng sống Artemia chỉ có thể tìm thấy ở những nơi mà vật dữ (cá tôm, giáp xác lớn) không thể xuất hiện (cao hơn 70 ppt). Ở độ mặn bão hòa (≥250 ppt) Artemia chết đồng loạt do môi trƣờng vƣợt ngƣỡng chịu đựng (trở nên gây độc) và việc trao đổi chất cực kỳ khó khăn. Các dòng Artemia khác nhau thích nghi rộng với sự biến đổi môi trƣờng khác nhau đặc biệt là nhiệt độ (6-35oC), độ muối (độ mặn của nƣớc) và thành phần ion của môi trƣờng sống. Ở các thủy vực nƣớc mặn với muối NaCl là thành phần chủ yếu tạo nên các sinh cảnh Artemia ven biển và các sinh cảnh nƣớc mặn khác nằm sâu trong đất liền, chẳng hạn hồ Great Salt Lake (GSL) ở Utah, Mỹ. Các sinh cảnh Artemia khác không có nguồn gốc từ biển nằm sâu trong lục địa có thành phần ion khác rất nhiều so với nƣớc biển: Vực nƣớc sulphate (Chaplin lake, Saskatchewan, Canada), vực nƣớc carbonate (hồ Mono Lake, California, Mỹ), và các vực nƣớc giàu lân (rất nhiều hồ ở Nebraska, Mỹ). Artemia đƣợc nuôi rộng rãi ở Việt nam thuộc dòng Artemia franciscana, mặc dù có nguồn gốc từ Mỹ (San Francisco Bay, USA) nhƣng sau thời gian thích nghi dòng này gần nhƣ đã trở thành dòng bản địa của Việt nam và chúng có nhiều đặc điểm khác xa so với tổ tiên chúng đặc biệt là khả năng chịu nóng. Hiện tại chúng có thể phát triển tốt trong điều kiện: - Độ mặn: 80-120 phần ngàn o - Nhiệt độ: 22-35 C - Oxy hoà tan: không thấp hơn 2 mg/l - pH từ trung tính đến kiềm (7.0-9.0) 2. Đặc điểm về dinh dƣỡng Artemia là loài sinh vật ăn lọc không chọn lựa, chúng sử dụng mùn bã hữu cơ, tảo đơn bào và vi khuẩn có kích thƣớc nhỏ hơn 50µm. Các sinh cảnh tự nhiên có Artemia hiện diện thƣờng có chuỗi thức ăn đơn giản và rất ít thành phần giống loài tảo. Artemia thƣờng xuất hiện ở những nơi có nồng độ muối cao, vắng mặt các loài tôm, cá dữ và các động vật cạnh tranh thức ăn khác nhƣ luân trùng, giáp xác nhỏ ăn tảo. Ở các sinh cảnh này nhiệt độ, thức ăn và nồng độ muối là những nhân tố chính ảnh hƣởng đến mật độ của quần thể Artemia hoặc ngay cả đến sự vắng mặt tạm thời của chúng. Trong nghề nuôi Artemia trên ruộng muối nông dân thƣờng sử dụng phối hợp phân chuồng (chủ yếu là phân gà) kết hợp với phân vô cơ (Urea, DAP...) để gây màu trực tiếp (trong ao nuôi Artemia) hoặc gián tiếp (ngoài ao bón phân) trƣớc khi cấp nƣớc “màu” (nƣớc tảo) vào trong ao nuôi. Phân gà khi đƣợc bón trực tiếp vào ao nuôi, ngoài việc cung cấp dinh dƣỡng kích thích tảo phát triển, phân còn là nguồn thức ăn trực tiếp cho Artemia. Ngoài ra, khi lƣợng nƣớc tảo cung cấp vào ao hàng ngày thiếu hụt, nông dân còn sử dụng cám gạo, bột đậu nành hoặc các loại phụ phẩm nông nghiệp khác...để duy trì quần thể Artemia.
  8. III. KỸ THUẬT NUÔI ARTEMIA TRÊN RUỘNG MUỐI 1. Thời vụ sản xuất Artemia? Trùng hợp với thời vụ sản xuất muối khác nhau ở từng địa phƣơng, chẳng hạng ở khu vực Vĩnh châu Bạc liêu mùa vụ sản xuất Artemia bắt đầu từ cuối tháng 11 và kết thúc vào đầu tháng 6 dƣơng lịch hàng năm, trong khi quá trình này kéo dài từ đầu tháng 1 và kết thúc vào cuối tháng 8 ở khu vực Cam ranh. Tuy nhiên, mùa vụ có thể kéo dài nếu nƣớc mặn đƣợc chuẩn bị sớm và độ mặn trong ao đƣợc duy trì ở các tháng đầu của mùa mƣa. 2. Xây dựng ao nuôi Artemia: - Chọn điểm: Ngoài các yêu cầu về kỹ thuật trong lựa chọn địa điểm cấy thả, trƣớc khi xây dựng kế hoạch cần lƣu ý các điểm sau: + gần nguồn nƣớc biển (khắc phục tình trạng thiếu nƣớc nhất là trong mùa khô) + thuận lợi trong giao thông (để vận chuyển nguyên liệu, phân bón...) + an ninh (tránh trộm cắp, mất mát) - Diện tích: Để dể quản lý, diện tích ao nuôi khoảng 0.5 đến 1 ha là thích hợp nhất. Ao thƣờng có dạng hình chử nhật với chiều dài gấp 3 đến 4 lần chiều rộng. - Hƣớng ao: Trục dài hoặc đƣờng chéo của ao nằm xuôi theo hƣớng gió chính của địa bàn, để giúp cho việc thu trứng sau này đƣợc thuận lợi, vì trứng nổi trên mặt nƣớc sẻ đƣợc gió thổi tấp vào bờ cuối gió. - Kỹ thuật xây dựng công trình: Ao nuôi thƣờng đƣợc xây dựng theo hai dạng: riêng rẽ họăc trong cùng một hệ thống, ở ao riêng rẽ thƣờng tốn kém hơn vì bờ ao cần đƣợc xây dựng chắc chắn và có hệ thống cấp tháo nƣớc riêng biệt, ở hệ thống kết hợp chỉ cần chú ý tu sửa đê bao của toàn hệ thống còn kênh cấp tháo thì đƣợc phân bổ chung cho các ao nên giảm đƣợc chi phí. Các chỉ tiêu cần lƣu ý trong xây dựng: Chỉ tiêu Ao đơn Ao trong hệ thống Bờ bao (m) chân 4 mặt 2 cao 1 bờ lƣu thông 0.5 Bờ ao (m) chân 3 2 mặt 1.5 1 cao 0.7 0.7 bờ lƣu thông 0.5 0.5 Mƣơng quanh (m) mặt 3 2 sâu 0.3 0.3 Máng cấp (m) máng nổi mặt 2 cao 1
  9. Máng tháo (m) máng chìm mặt 2 sâu 0.5 Cống cấp tháo(m) gỗ hoặc xi măng khẩu đô 0.5 0.5 Lƣu ý: ở những nơi đất mới khai thác, hoặc dể thẩm lậu, bờ ao cần đƣợc xây dựng gia cố chắc chắn (đầm nén, tô láng bờ...) - Công trình phụ: Để đáp ứng cho yêu cầu quản lý, ao nuôi cần đƣợc lắp đặt các công trình phụ sau: + lƣới lọc cá: Dùng lƣới nylon (cở mắc lƣới từ 1-1.5 mm) để làm khung lọc nƣớc hoặc may theo dạng vèo để hứng nguồn nƣớc cấp vào ao. + đập tràn: đập đất hoặc phai gổ lắp ở cống cho phép lớp nƣớc nhạt tầng mặt (mùa mƣa) đƣợc tháo bỏ nhằm duy trì độ mặn cho ao nuôi. + nơi bón phân: đƣợc bố trí ngay nguồn nƣớc cấp vào ao nuôi, thƣờng đƣợc rào lại bằng tre hoặc lá dừa nƣớc để tránh phân bị trôi dạt. + rào phá sóng: đƣợc lắp đặt ở bờ cuối gió bằng các vật liệu rẻ tiền (tre, lá dừa nƣớc...), nhằm phá sóng để trứng dể tập trung nơi thu hoạch. + vách ngăn trứng: thƣờng dùng nylon để lót bờ nơi thu hoạch nhằm tránh trứng thất thoát vào bờ đất, tuy nhiên cách này khá đắt tiền nên ngƣời dân thƣờng dùng bùn nhão để tô láng góc bờ chỗ thu hoạch. 3. Quá trình thu gom nƣớc mặn (đi nƣớc) để thả Artemia Nƣớc mặn đƣợc chuẩn bị theo kỹ thuật làm muối, theo nguyên tắc bốc hơi nƣớc biển để tăng độ mặn, để rút ngắn thời gian này nhiều biện pháp đã đƣợc sữ dụng nhƣ: nuôi nƣớc mỏng, bừa trục, sang ao... để có đủ lƣợng nƣớc và độ mặn theo yêu cầu, thƣờng phải mất từ 2 đến 3 tuần ở khu vực Vĩnh châu Bạc liêu. 4. Các yêu cầu tối thiểu cho ao trƣớc khi xuống giống - Lƣợng nƣớc và độ mặn: Lúc đầu vụ do nhiệt độ môi trƣờng còn thấp, chỉ cần mực nƣớc ngập trảng (đáy ao) vài phân (một đến hai lóng tai) là có thể xuống giống, tuy nhiên cũng cần tính toán sao cho lúc cá thể đạt cở trƣởng thành mực nƣớc phải đủ sâu để Artemia lẩn tránh sự săn bắt của chim. Mặc dù Artemia có thể sống ở độ muối thấp, ta không nên cấy thả Artemia ở độ muối dƣới 80 phần ngàn (8 chữ), vì lúc này còn hiện diện rất nhiều: Fabrea, copepod, tảo độc...hoặc tôm cá dữ làm hạn chế tăng trƣởng hoặc tiêu diệt hoàn toàn số Artemia mới thả. - Phòng ngừa địch hại: Địch hại thƣờng gặp và cách phòng ngừa Địch hại Cách phòng ngừa + Ao chƣa thả giống .Cá các loại Rút cạn nƣớc ao, dùng vôi hoặc thuốc cá .Lab-lab, rong tạp các Dọn ao, bừa trục, phơi nền đáy loại
  10. + Ao đã xuống giống .Fabrea,copepod, tảo Cấp nƣớc có độ muối cao hơn 80ppt độc Dùng lƣới chài để giăng bắt hoặc sang ao .Cá các loại để gạn cá tạp .Lab-lab, rong tạp các Bừa trục, dọn đáy ao thƣờng xuyên nếu loại cần thì tháo cạn cải tạo lại Dùng lƣới gió, bù nhìn, pháo hoặc có .Chim ngƣời canh giữ trực tiếp Chuẩn bị thức ăn cho ao nuôi Artemia: Bƣớc này chỉ cần thiết cho những ao nghèo tảo thức ăn (nƣớc ao không màu hoặc màu nhạt), để gây màu thƣờng dùng các loại phân vô cơ (urea, lân...) hoặc hữu cơ (phân heo, phân gà, phân bò, phân dê, phân cút...) với liều lƣợng + Phân hữu cơ: 500 đến 1000 kg/ha + Phân vô cơ : 50 đến 100 kg/ha 5. Thả giống - Kỹ thuật ấp nở : + Dụng cụ: cân, xô, chậu, lƣới lọc, ống dẫn khí, đá bọt, máy thổi khí, đèn huỳnh quang... + Điều kiện ấp nở: .ánh sáng: thắp đèn huỳnh quang cách mặt nƣớc bể ấp khoảng 2 tấc .nhiệt độ: 25-30 độ C .độ muối : nƣớc biển 35 ppt (ba chữ rƣỡi) đƣợc dùng để ấp trứng .pH: 8.1 đến 8.3 .mật độ ấp: không nên nhiều hơn 5g trứng cho mỗi lít nƣớc + Thao tác: Nƣớc đƣợc lọc sạch trƣớc khi cho vào bể ấp; cân trứng theo đúng mật độ qui định cho vào bể ấp, kết hợp sục khí để đảo trộn nhằm thúc đẩy quá trình hút nƣớc của trứng để kích thích sự phát triển phôi. Sau 20 đến 24 giờ trứng nở tập trung, sẳn sàng cho việc cấy giống. Những điểm cần lƣu ý trong thao tác thả giống: + Cở giống thả: Cấy thả bằng giống mới nở (Naupli): hình thức này rất phổ biến, đặc biệt ở những nơi mới bắt đầu thử nghiệm nuôi Artemia. Cấy giống cở nhỏ (Naupli giai đoạn I) có trở ngại là rất khó quan sát cá thể ở những ngày đầu, nhƣng chúng có thể chịu đựng sự sai khác lớn về nhiệt độ và độ muối giữa nơi ấp nở và nơi cấy thả; do đó nếu kéo dài thời gian ấp nở ấu thể sẻ phát triển đến giai đoạn lớn hơn (Naupli giai đoạn II; tuỳ điều kiện nhiệt độ trong bể ấp, thƣờng thời gian để chuyển từ Naupli giai đoạn I sang giai đoạn II mất khoảng 5 đến 8 giờ), khả năng trên sẻ giãm đi làm gia tăng tỉ lệ tử vong lúc cấy thả. Cấy thả bằng giống lớn: khi cấy thả theo phƣơng pháp này cần lƣu ý là phải thuần hoá giống thả (cho một phần nƣớc ao định thả vào thùng giống vừa chuyển đến) để chúng thích nghi dần với nhiệt độ và độ muối trƣớc khi cấy thả vào ao.
  11. + Thời gian thả thích hợp: Thích hợp nhất là thời gian lúc sáng sớm (6 đến 7 giờ) hoặc chiều tối (17 đến 19 giờ), điều này cần nắm để tính toán kế hoạch ấp nở cho hợp lý. + Mật độ thả: Thƣờng mật độ thả ở ao đất đƣợc đề nghị là 50 cá thể cho mỗi lít, tuy nhiên theo quan sát thực tế nếu ao nuôi đƣợc cấy thả ở mật độ lớn hơn 100 cá thể trên lít thì sau 2 tuần ao nuôi bắt đầu cho trứng, trong khi ở ao có mật độ thƣa, quần thể phải trải qua giai đoạn tăng gia mật độ trƣớc khi tham gia cho trứng. + Vận chuyển giống: Nếu nơi cấy thả khá xa (thời gian vận chuyển từ một giờ trở lên) nơi ấp nở hoặc ao cung cấp giống, giống nở cần đƣợc xan thƣa, đóng oxy và hạ nhiệt độ của môi trƣờng vận chuyển để giãm thấp tỉ lệ hao hụt. + Nơi thả giống: Thích hợp nhất là bờ ao phía trên hƣớng gió, hoặc đầu nguồn nƣớc cấp nhằm đãm bảo cho giống đƣợc phân bố đều trong ao. + Nơi thu mẫu để đánh giá: Đối với giống lớn thì dể dàng quan sát sự tồn tại của chúng trong ao vừa cấy thả, ngƣợc lại nếu cấy giống ấp nở thì rất khó phát hiện chúng trong hai ba ngày đầu; tuy nhiên chúng có tập tính phân bố ở nơi trên hƣớng gió, hoặc góc bờ. Dùng vợt bằng lƣới mịn để thu và quan sát mẫu. + Quan sát mẫu: Ấu thể Artemia có màu trắng sữa hoặc trắng hồng, chúng bơi lội theo đƣờng zig- zăg nhƣng đƣờng di chuyển ngắn hơn của Copepod, có tập tính hƣớng quang dƣơng (tập trung nơi có nhiều ánh sáng). + Những dấu hiệu xấu cho ao nuôi: Với sự xuất hiện riêng lẻ hoặc kết hợp của các yếu tố sau đây: fabrea, copepod, cá dữ, lab-lab, độ trong thấp, nhiệt độ cao, chim xuất hiện...các biện pháp khắc phục nhƣ đã nêu trên. 6. Những biện pháp chính trong quản lý ao nuôi: + Cấp - tháo nƣớc: Nhằm bù đắp sự thất thoát cột nƣớc do thẩm lậu hoặc bốc hơi, mặt khác để cung cấp tảo thức ăn (nƣớc xanh), lƣợng nƣớc cấp vào ao phải thoả mãn việc duy trì độ muối (90 đến 120 phần ngàn) và độ đục (25 đến 35 cm) trong phạm vi tối hảo. Tƣơng tự, để đãm bảo chất lƣợng nƣớc trong ao, thƣờng thì sau một tháng rƣỡi đến hai tháng tính từ lúc xuống giống, nên tiến hành thay từ 30% đến 50% lƣợng nƣớc trong ao. + Bón phân - cho ăn: .bón phân (phân ga)ì 500 đến 1000 kg/ha/tháng Uréa 50 đến 100 kg/ha/tháng Phân gà (hữu cơ) đƣợc bón trực tiếp vào ao Artemia (chúng lọc các chất dinh dƣỡng hoặc vi khuẩn có trong phân) hoặc ao bón phân để kích thích tảo phát triển trƣớc khi đƣa vào ao nuôi; đối với Uréa (vô cơ) chỉ nên bón ở ao bón phân. Để đơn giản trong việc đánh giá cơ ở thức ăn tự nhiên của ao bón phân và ao nuôi, ngoài độ đục cần thiết nhƣ đã nêu trên, thang màu đề nghị dƣới đây dùng để đánh giá thành phần tảo trong ao: Màu nƣớc Thành phần tảo Khuê tảo (Diatom) thức ăn có giá trị dinh dƣỡng cao Vàng nâu cho Artemia Xanh lá Tảo lục (Chlorophyta) đặc biệt là Chlamydomonas,
  12. cây nhạt không tốt cho Artemia Xanh lá Tảo lam (Cyanophyta), nhiều độc tố lại kích thƣớc lớn cây đậm nên Artemia không thể sử dụng đƣợc .Cho ăn: thỉnh thoảng cám gạo đƣợc bổ xung (từ 10 đến 20 kg/ha/ngày) khi ao nuôi thiếu thức ăn, tuy nhiên hiệu quả sử dụng cám gạo của Artemia rất thấp (từ 10 đến 20%), nên phần lớn cám gạo kết lắng xuống đáy gây ô nhiễm môi trƣờng (có thể khắc phục bằng cách sàng lọc kỹ trƣớc khi đƣa xuống ao), vì giá đắt nên việc dùng cám gạo không kinh tế lắm. + Chế độ bừa trục: Vừa có tác dụng đão trộn phân bón trong ao, vừa có tác dụng diệt các mầm rong đáy (lab-lab), khi độ đục thích hợp có thể giãm chế độ bừa trục để hạ giá thành trong chi phí sản xuất. + Gia cố công trình: Hàng ngày bên cạnh các hoạt động nêu trên, trong quản lý ao cần phải thƣờng xuyên chăm sóc bờ bọng tránh rò gỉ thẩm lậu, kiểm tra lƣới lọc để tránh sự xâm nhập của cá dữ... 7. Thu Hoạch và sơ chế sản phẩm Tuỳ theo yêu cầu mà sản phẩm thu hoạch từ ao Artemia có thể là trứng bào xác hoặc sinh khối. + Trứng bào xác (cyst): Tuỳ theo cách quản lý ao và tình hình phát triển của quần thể, thƣờng sau 2 tuần hoặc hơn tính từ lúc xuống giống, con cái bắt đầu mang trứng: trứng trắng (đẻ con), hoặc trứng nâu (trứng bào xác). Sau vài ngày ở ao có con cái mang trứng bào xác, ta có thể quan sát trứng nổi trên mặt của góc ao cuối gió có màu vàng sậm đến vàng nâu. Dùng vợt lƣới mịn hoặc ca để vớt trứng, do trứng có lẩn rác bẩn nên cần tách trứng bằng các lƣới có các cở khác nhau: - Lƣới I: 1000 um (1mm) - Lƣới II: 400 um (0.4mm) - Lƣới III: 100 - 150 um (0.1-0.15mm) Sau đó rữa sạch lại nhiều lần bằng nƣớc trong ao, đoạn ngâm trứng trong nƣớc muối bảo hoà (300 ppt = 25 đến 30 chữ), hàng ngày nên đảo trộn trứng và rút bỏ cặn dƣới đáy vật chứa. Định kỳ hàng tuần nên chuyển trứng cho sấy khô và bảo quản. + Sinh khối (biomass): Đƣợc dùng làm thức ăn phổ biến trong các trại giống và trại ƣơng tôm cá. Để duy trì quần thể Artemia, một phần sinh khối trong ao nuôi đƣợc thu hoạch theo định kỳ (hàng tuần hoặc hàng tháng). Sinh khối đƣợc thu bằng cách kéo lƣới trực tiếp trong ao nuôi hoặc tháo một phần nƣớc trong ao nuôi và dùng lƣới để chặn sinh khối lại. Trong sử dụng có thể dùng sinh khối tƣơi trực tiếp hoặc chế biến hay đông lạnh để dùng dần về sau. 8. Một số hiện tƣợng thƣờng gặp trong ao nuôi và cách phòng ngừa: + Địch hại: cá, tôm, copepoda, chim (xem thêm phần địch hại trong phần chuẩn bị ao) + Một số hiện tƣợng khác: .Đốm đen (Leucotrix / black spots) .Đốm trắng .Đuôi dài ("thả diều" = long tail pellet) .Chậm lớn: Môi trƣờng sống không thích hợp (thiếu thức ăn, nhiệt độ, độ muối không phù hợp...)
  13. .Không tham gia sinh sản (không đẻ hoặc túi ấp rổng): Thiếu ăn không đủ năng lƣợng cho tái phát dục hoặc để phóng trứng. .Chết hàng loạt do chênh lệch độ muối hoặc nhiệt độ: Hiện tƣợng này dể thấy, đặc biệt khi cấy thả sinh khối cở lớn vào ao mới. .Hiện tƣợng co cụm (boiling effect): Quần thể khoẻ mạnh, đặc biệt là những ngày nắng nhiều. .Nổi đầu vào sáng sớm: Khi ao bẩn, hoặc tảo phát triển dày đặc và ngày hôm trƣớc có mây hậu quả làm thiếu oxy về đêm nên Artemia nổi đầu vào sáng sớm hôm sau. KỸ THUẬT NUÔI BÀO NGƢ Ts. Trương Quốc Phú Bộ môn Thủy sinh học ứng dụng, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ Bào ngƣ là loài có giá trị kinh tế bởi vì hàm lƣợng dinh dƣỡng trong thịt của chúng rất cao. Bào ngƣ có khoảng gần 100 loài, tất cả đều thuộc giống Haliotis. Chùng có mặt ở nhiều vùng trên trái đất, một số loài hiện nay đang đƣợc nuôi nhƣ Haliotis disversicolor, H. asinina, H. oliva... Hình 1: Hình dạng của Bào ngƣ (Haliotis) I. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC. 1. Phân bố. Các loài Bào ngƣ phân bố rộng khắp thế giới nhƣng chúng phát triển phong phú về số lƣợng ở vùng ôn đới. Bào ngƣ thích sống ở vùng biển cạn, môi trƣờng nƣớc xáo động mạnh và hàm lƣợng oxy hòa tan cao. Vì vậy, chúng thƣờng phân bố ở nền đáy cứng, trên các mõm đá. Bào ngƣ không phân bố ở các vùng cửa sông bởi vì cửa sông nồng độ muối thấp, có nhiều bùn, nhiệt độ cao và oxy hòa tan thấp. Bào o ngƣ thích nghi trong khoảng nhiệt độ từ 10-35 C và nồng độ muối từ 25-35%o. Ở Việt Nam Bào ngƣ phân bố ở đảo Cô Tô, Hạ Long, các đảo ở Bắc và Trung Bộ. Ở Nam Bộ Bào ngƣ có ở đảo Phú Quốc. 2. Phƣơng thức sống.
  14. Phƣơng thức sống của Bào ngƣ có liên quan đến cấu tạo của chân. Bào ngƣ dùng chân để bò từ nơi này đến nơi khác giống nhƣ những loài ốc khác. Nhƣng chân của Bào ngƣ không thích hợp để bò hoặc bám trên cát. Trên mặt cát chùng dể bi lật ngửa và dể bị địch hại tấn công. Vì vậy, chỉ thấy Bào ngƣ phân bố ở vùng đáy đá. Khi gặp kẻ thù, Bào ngƣ dùng chân bám chặt trên đá và hạ thấp vỏ xuống để che đậy phần cơ thể và chân. Chân của bào ngƣ có thể bám chắc trên đá, khi chúng nhận thấy bị đe đọa thì chúng bám rất chắc và khó có thể tách chúng ra khỏi mặt đá. Bào ngƣ sợ ánh sáng nên chúng thƣờng ẩn nấp trong các hốc đá vào ban ngày và ban đêm thì bò ra để tìm mồi. 3. Thức ăn. Bào ngƣ là loài ăn thực vật. Thức ăn của Bào ngƣ thay đổi theo giai đoạn phát triển. Trong giai đoạn đầu của chu kỳ sống thì ấu trùng của Bào ngƣ sống trôi nổi. Chúng dƣờng nhƣ không ăn trong giai đoạn ấu trùng. Ở Mỹ ngƣời ta đã thành công ƣơng ấu trùng trong nƣớc vô trùng (sterile water). Tuy nhiên, theo qui trình truyền thống của Nhật Bản thì ấu trùng Bào Ngƣ đƣợc ƣơng trong môi trƣờng có cung cấp tảo sống và cho kết quả tốt hơn. Một nghiên cứu khác cho rằng ấu trùng có thể hấp thu chất dinh dƣỡng trực tiếp từ môi trƣờng ngoài cho hoạt động sống của chúng. Khi kết thúc giai đoạn ấu trùng phù du chúng chuyển sang sống bám. Ấu trùng bám dùng lƣỡi sừng để cạp các tảo san hô (coralline) hoặc lớp chất nhầy trên bề mặt đá (slime) lấy thức ăn. Chất nhầy trên mặt đá bao gồm các tảo đơn bào và vi khuẩn tạo thành. Giai đoạn trƣởng thành thức ăn của Bào ngƣ là rong biển (seaweed). Bào ngƣ thích ăn rong đỏ (red algae), loại rong nâu (brown algae) và vài loại rong lục (green algae). Nhiệt độ có ảnh hƣởng đến cƣờng độ bắt mồi của bào ngƣ. Ở 8oC bào ngƣ không bắt mồi, 12oC bào ngƣ ăn với lƣợng thức ăn là 6% trọng lƣợng cơ thể, 20oC bào ngƣ ăn với lƣợng bằng 15% trọng lƣợng cơ thể. Bào ngƣ ăn nhiều rong nâu Laminaria (53%), một ít rong lục (6% Ulva, 2% Porphyra). Bào ngƣ bắt mồi tích cực về đêm, đặc biệt là lúc mặt trời sắp lặn và sắp mọc. 4. Sinh Trƣởng Bào ngƣ sinh trƣởng tƣơng đối chậm, bào ngƣ Vành tai (Haliotis asinina) đạt 3,5cm sau 6 tháng, 55cm trong 1 năm và 7,5 cm trong 3 năm. Bào ngƣ Nhật (H. discus) đạt 3 cm trong năm đầu, 5,5 cm, 7,5 cm và 9,5 cm cho năm thứ 2, 3 và măm thứ 4. Bào ngƣ sinh trƣởng đều, không thay đổi tỉ lệ hình học theo thời gian (b=3). Các yếu tố di truyền, môi trƣờng, thức ăn... ảnh hƣởng đến sinh trƣởng của bào ngƣ. 5. Sinh sản.
  15. Bào ngƣ phân tính đực, cái riêng biệt và chúng ta có thể phân biệt dựa vào màu sắc của chúng trong mùa sinh sản. Con cái thƣờng có màu xanh đen, con đực có màu vàng. Trứng của Bào ngƣ thụ tinh ngoài, cho nên tỉ lệ thụ tinh rất thấp. Tuy nhiên Bào ngƣ cũng có một tập tính sinh sản đặc biệt nhằm làm tăng tối đa khả năng gặp nhau giữa tinh trùng và trứng. Khi sinh sản chúng thƣờng tập trung thành từng đàn trên trong một nơi với mật độ cao, nhƣ vậy đảm bảo trứng có cơ hội thụ tinh cao. Trong tự nhiên Bào ngƣ thƣờng thành thục sinh dục ở một thời điểm nhất định trong năm. Thí dụ ở Australia loài Bào ngƣ Haliotis rubra (blacklip abalone) thành thục vào cuối mùa hè đầu mùa thu, thời gian còn lại trong năm thì không thành thục. Ở Việt nam Bào ngƣ thƣờng thành thục từ tháng 4-8. Bào ngƣ khoảng 2 tuổi có thể thành thục tham gia sinh sản lần đầu. Bào ngƣ thƣờng đẻ vào lúc chiều tối và rạng sáng, con đực thƣờng phóng tinh trƣớc sau đó con cái mới đẻ trứng. Sản phẩm sinh dục cũng có vai trò kích thích các cá thể khác trong quần thể sinh sản. Tế bào trứng có đƣờng kính khoảng 150-180 m (H. asinina), trứng chƣa chín khi đẻ ra sẽ không có màng tế bào hay màng keo (không thụ tinh). Tinh trùng có đầu hình lƣỡi mác, đuôi dài 8-50 m và có khả năng thụ tinh trong 2 giờ sai khi đƣợc phóng thích ra môi trƣờng nƣớc, trứng bắt dầu phân cắt 10 phút sau thụ tinh. Trứng bào ngƣ phân cắt hoàn toàn không đều theo kiểu xoắn ốc. II. KỸ THUẬT NUÔI. Trong nghề nuôi Bào ngƣ giống đƣợc cung cấp chủ yếu từ hai nguồn, giống tự nhiên và giống nhân tạo: 1. Giống tự nhiên. Bãi giống tự nhiên thƣờng là những bãi đá có Bào ngƣ bố mẹ phân bố, trên nền đá thƣờng có nhiều rong biển phát triển. Cao trình của bãi từ tuyến triều thấp trở xuống và có nồng độ muối từ 25-35%o. Sau mùa sinh sản, theo dõi trên bãi giống khi thấy có nhiếu Bào ngƣ con kích thƣớc 0,5-1cm (ấu thể) thì có thể tiến hành thu giống. Cách thu giống đơn giản là dùng tay và móc để bắt giống. 2. Giống nhân tạo. Hiện nay có nhiều cách cho Bào ngƣ sinh sản nhân tạo. Dùng các kích thích bằng hóa chất hoặc vật lý để kích thích Bào ngƣ sinh sản nhƣ: tia cực tím, oxy già, gây sốc nhiệt, sốc pH... Qui trình sản xuất giống của Nhật và Trung Quốc tƣơng đối đơn gian và dể áp dụng đó là dùng nƣớc chảy để kích thích Bào ngƣ sinh sản. Quy trình sản xuất giống của Nhật bản: Dụng cụ, thiết bị: dụng cụ để chứa Bào ngư bố mẹ khi sinh sản là một thuyền gổ dài khoảng 3,5m, rộng 1m và chiều cao mực nước trong thuyền là 1,5m. Trên thuyền có chia nhiều ô, xung quanh có nhiều lỗ bọc lưới để cho nước lưu thông nhưng ngăn không cho ấu trùng ra ngoài. Sau khi chuẩn bị xong thì mang đến bãi biển nước sạch để bắt đầu cho sinh sản. Tuyển chọn bố mẹ và cho sinh sản: chọc các cá thể khoẻ mạnh, sinh trưởng nhanh, không bị dị tật và tuyến sinh dục thành thục (dựa vào màu sắc). Lấy tế bào sinh dục kiển tra dưới kính hiển
  16. vi. Trứng chín hình tròn rời rạc và có thể nhìn thấy nhân, tinh trùng vận động mạnh khi cho vào môi trường nước. Sau khi tuyển chọn xong đưa bố mẹ vào các ô thuyền với tỉ lệ 2-3 cái/1 đực. Trong các ô thuyền nước lưu thông và điều kiện môi trường nước sạch sẽ, có hàm lượng oxy hòa tan cao sau một thời gian ngắn Bào ngư sẽ đẻ. Thường xuyên theo dõi nếu Bào ngư sinh sản xong chúng ta vớt bố mẹ ra khỏi các ô thuyền sau đó chuyển thuyền đến nơi ương (điều kiện môi trường ổn định và ít sóng gió hơn). Ương ấu trùng: theo dõi quá trình phát triển phôi, khi xuất hiện ấu trùng phù du chúng ta cần cung cấp thêm các loài tảo Silic, tảo Giáp làm thức ăn cho ấu trùng. Khi xuất hiện ấu trùng diện bàn chúng ta thả giá thể vào. Giá thể thường dùng là đá sỏi hoặc các loại giá thể khác, trước khi thả giá thể vào giá thể nên được rửa sạch. Khi xuất hiện ấu trùng bò lê thì chúng ta cho rong mơ non vào cho ấu trùng ăn Chăm sóc: trong quá trình ương thường xuyên theo dõi và duy trì nhiệt độ từ 28-30oC. Nồng độ muối 30%o và pH là 7,5. Cần chú ý ở giai đoạn ấu trùng hình thành nắp vỏ phải giữ môi trường ương thật ổn định, nếu không ấu trùng sẽ không trãi qua được giai đoạn mất nắp vỏ và ấu trùng sẽ chết. Vận chuyển giống: dụng cụ dùng vận chuyển chủ yếu là thùng gổ với kích thước F=45-50cm, cao 30-40cm. Mật độ vận chuyển khoảng 100 con/thùng. Trong quá trình vận chuyển phải thay nước và giữ cho Bào ngư không bị chồng lên nhau, nêu Bào ngư bám vào nhau sẽ làm bít lỗ hút nước của con bên dưới, Bào ngư sẽ bị chết. Quy trình sản xuất giống bào ngƣ Haliotis oliva tại Việt Nam (Theo Lê Đức Minh, 2002): Chuẩn bị bố mẹ: Bố mẹ cho sinh sản lấy từ 2 nguồn tự nhiên và nuôi vỗ. Bố mẹ tự nhiên đƣợc chọn dựa vào màu sắc tuyến sinh dục và vận chuyển theo phƣơng pháp giữ ẩm (5 giờ). Bố mẹ có thể nuôi vỗ trong bể có các điều kiện sau: Nhiệt độ nƣớc: 27-29oC Độ mặn: 30-34%o pH: 7,6-8,4 Thức ăn: Rong Gracilaria, Ulva, Sargassum, Laminaria Sục khí mạnh, thay nƣớc 100% Siphon đáy ( hút cặn) Cung cấp vật bám làm nơi trú ẩn cho bào ngƣ Kiểm tra thƣờng xuyên quá trình phát triển của tuyến sinh dục để tiến hành cho sinh sản Kích thích sinh sản: Kích thích bằng chiếu tia cực tím: dùng đèn có công suất 10W chiếu vào nƣớc trong 10-20 phút bào ngƣ sẽ đẻ, nêu không thì lặp lại vài lần Kích thích nhiệt khô: bọc bào ngƣ trong một lớp gạc thầm nƣớc đặt ngửa trên khay phơi trong 30-60 phút,sau đó cho và bể nƣớc trở lại sẽ kích thích bào ngƣ sinh sản
  17. Kích thích nhiệt nƣớc: Nâng nhiệt độ nƣớc lên 4oC trong 4 giờ sau đó hạ nhiệt đột ngột bằng nhiệt độ ban đầu, lặp lại vào lần bào ngƣ sẽ đẻ Kích thích bằng oxy già: Bọc bào ngƣ trong tấm gạc thấm nƣớc, đặt ngửa trên khai men phơi trong 10 phút sau đó cho vào bể nƣớc có chứa H2O2 4 mM trong 30-60 phút, thay nƣớc mới 30 phút sau thì bào ngƣ sẽ đẻ Kích thích bằng cách kết hợp chiếu tia cực tím với kích thích nhiệt khô và nhiệt nƣớc: Phơi bào ngƣ 30-60 phút sau đó cho vào nƣớc có chiếu tia cực tím, nâng nhiệt độ lên 4oC (từ 27 lên 31oC), tiếp đến hạ nhiệt độ đột ngột bằng nhiệt độ ban đầu Kích thích bằng cách thay đổi chu kỳ ánh sáng: Che tối bể đẻ bằng vải bạt đen vào ban ngày và chiếu sáng bằng đèn neon 40W vào ban đêm trong vòng 27-20 ngày bào ngƣ sẽ sinh sản Ƣơng ấu trùng: 5-7 giờ sau thụ tinh có thể thu ấu trùng vào bể ƣơng. Giai đoạn này ấu trùng không ăn thức ăn ngoài nên chủ yếu là quản lý chất lƣợng nƣớc tốt. Giữ nhiệt độ khoảng 27- o 30 C, độ mặn >30%o và oxy > 4 mg/L. Giai đoạn ấu trùng bám bào ngƣ ăn tảo khuê sống bám nhƣ Nitzschia, Navicula nên cần phài nuôi tảo cung cấp cho ấu trùng. Dùng các tầm nhựa mỏng làm vật bám đặt trong môi trƣờng có bón phân để nuôi tảo bám sau đó chuyển vào bể ƣơng ấu trùng để cho ăn. Sau 1 tháng ƣơng ấu trùng đạt cỡ 2mm thì chuyển sang ƣơng giống, giai đoạn này có bổ sung thêm thức ăn lá rong tƣơi băm nhỏ (Rong có kích thƣớc lớn). Khi ấu trùng đạt 10-15 mm thì chuyển ra lồng để nuôi thịt 3. Nuôi lớn. Bãi nuôi lớn đƣợc chọn ở tuyến triều thấp, có nồng độ muối 25-35%o và có nhiều rong đỏ, rong nâu. Dùng đá làm giá thể xếp sao cho trên bãi có nhiều hốc đá cho Bào ngƣ ẩn nấp. Khi nƣớc triều đứng (không có dòng chảy) mang giống Bào ngƣ đến và rải đều trên bãi. Nên rải nơi cạn vì sau khi rải Bào ngƣ có khuynh hƣớng di chuyển xuống sâu. Mật độ thả từ 5-10 con/m2. Trong quá trình nuôi nên thƣờng xuyên sắp xếp lại các giá thể và thả thêm rong bổ sung thức ăn cho Bào ngƣ. Sau 2-3 năm nuôi thì Bào ngƣ có thể đạt kích cỡ thƣơng phẩm có thể tiến hành thu hoạch. KỸ THUẬT NUÔI CÁ BỐNG TƢỢNG (Oxyeleotris marmoratus Bleeker) Ts. Dương Nhựt Long Bộ môn Kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ I. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI PHÂN LOẠI VÀ PHÂN BỐ 1. Đặc điểm hình thái cấu tạo và phân loại Lớp Osteichthyes
  18. Lớp phụ Artinopterygii Bộ Perciformes Họ Eleotridae Loài: Oxyeleotris marmoratus Bleeker. Các vi và tia vi Tia vi A I,9 (vi hậu môn) Tia vi ID VI (vi lƣng) Tia vi IID I,9-10 (vi lƣng) Tia vi P 17-19 (vi ngực) Tia vi V I,5 (vi bụng) Hình 1: Hình dạng bên ngoài của cá Bống tƣợng 2. Đặc điểm về hình thái Cá Bống tƣợng là loài có kích thƣớc lớn nhất trong các loài thuộc họ cá bống. Thịt cá thơm ngon, ít xƣơng và có giá trị kinh tế cao. Cá có thân hình khỏe, dẹp bên về phía sau, đầu rộng và dẹp, mõm bằng. Miệng hƣớng lên trên chẻ rộng và sâu, môi dƣới lồi. Cá có mắt rộng nằm ở lƣng bên. Vẩy cá rất nhỏ, vây lƣng có hai phần, vây ngực rất phát triển và nằm cao, vây bụng cũng rất phát triển và nằm ở mặt dƣới của thân và trƣớc vây ngực, vây đuôi dài và tròn. Lúc tƣơi, thân cá có màu nâu đến màu gạch, đỉnh đầu đen. Mặt bụng nhạt, lƣng và hai bên có chấm đen, các vảy có màu nâu nhạt và các chấm đen không đều. (Nguyễn Anh Tuấn, 1994). 3. Phân bố Cá Bống tƣợng là loài đặc trƣng cho vùng nhiệt đới. Chúng phân bố rộng rãi các nƣớc thuộc Đông Nam Châu Á nhƣ Campuchia, Lào, Thái lan, Indonesia, Malaysia và Việt nam. Ở Việt nam, cá đƣợc tìm thấy ở các lƣu vực thuộc hệ thống sông Cửu Long, sông Vàm cỏ và sông Đồng nai (Nguyễn Mạnh Hùng, 1995). Cá Bống tƣợng có tập tính sống đáy, hoạt động nhiều về đêm, ban ngày thƣờng vùi mình xuống bùn, đặc biệt khi gặp nguy hiểm chúng có thể chúi xuống sâu đến 1m ở lớp bùn đáy và có thể sống ở đó hàng chục giờ. Trong ao, cá ƣa sống ẩn ở ven bờ, những nơi có hang hốc, rong cỏ và thực vật thủy sinh thƣợng đẳng làm giá đỡ. Ở Việt nam, cá thƣờng đƣợc khai thác, đánh bắt tự nhiên. Sản lƣợng khai thác tự nhiên hàng năm khá lớn. Theo thống kê, sản lƣợng khai thác ở các tỉnh Nam bộ, Nam trung bộ và Tây nguyên khoảng 40 tấn/năm (Nguyễn Anh Tuấn và ctv, 1994). Gần đây, do nhu cầu về cá cho xuất khẩu rất lớn đã kích thích nghề thu gom, dƣỡng cá và nuôi cá bè. Nghề nuôi cá bè trên các sông, kênh, hồ đã phát triển khắp các tỉnh ĐBSCL nhất là An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng và vùng hồ Trị An. Theo Sầm Hoàng Văn - Sở Nông nghiệp tỉnh Đồng tháp, hiện tại tỉnh có hơn 500 bè nuôi cá bống tƣợng và khoảng 40-50 hộ nuôi cá trong ao. Ở Trị An, mặc dù chỉ mới phát triển nhƣng nghề nuôi cá Bống tƣợng trong bè đã phát triển rất nhanh. Chỉ riêng
  19. khu vực tỉnh Đồng nai đã có hơn 500 bè, đặc biệt là ở khúc sông La Ngà có tới 400 bè (Nguyễn Mạnh Hùng, 1995). Cá Bống tƣợng đƣợc chào hàng sang Hồng Kông, Singapore vào những năm 1980, sau đó do không có thị trƣờng, thiếu đầu tƣ khoa học kỹ thuật nên phong trào lắng xuống. Đến những năm 1991, 1992 thị trƣờng cá bống tƣợng lại mở ra khá hấp dẫn, giá cá loại I cao gấp hai lần tôm cùng loại. Vào thời điểm 1993, giá cá loại I (> 400 gam) thu mua tại An giang, Đồng tháp, Tiền giang là 80.000-100.000 đ/kg. Nhƣng đến thời điểm 5/1994 giá cá loại I từ 120.000 - 130.000 đ/kg. Đến 1995, do cá xuất khẩu bị chậm lại nên giá cá loại I giảm xuống còn 60.000 - 80.000 đ/kg. Tuy nhiên, do thịt cá bống tƣợng thơm, ngon nên giá trên thị trƣờng ở Malaysia, Singapore vào khoảng 14 USD/kg. II. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 1. Đặc điểm môi trƣờng Cá Bống tƣợng sống trong các thủy vực nƣớc ngọt nhƣ: sông ngòi, kinh rạch, ao hồ. Cá có thể chịu đựng đƣợc với môi trƣờng nƣớc phèn pH dao động từ 5-6 và có thể sống trong nƣớc lợ có nồng độ muối 15 %o. Nhờ có cơ quan hô hấp phụ, cá có thể chịu đƣợc trong điều kiện oxy thấp và ngay cả chui o rúc trong bùn trong nhiều giờ. Cá có thể sống trong khoảng nhiệt độ 15-41,5 C. Nhiệt độ thích hợp nhất o là từ 26-32 C. 2. Đặc điểm về dinh dƣỡng Phân tích chiều dài ruột và chiều dài thân cho thấy tỉ lệ Li/L ( 0,5 nên mang đặc tính của cá ăn động vật (Niconski, 1963). Đây là loài cá dữ điển hình, thức ăn chủ yếu là động vật nhƣ tôm, tép, cá nhỏ, cua, ốc... Tuy nhiên, khác với cá lóc, cá Bống tƣợng không chủ động bắt mồi mà chỉ rình mồi. Ngoài ra khi nuôi trong lồng, ao cá ăn đƣợc các thức ăn chế biến. So với các loài cá khác, cá Bống tƣợng có độ tăng trƣởng chậm, đặc biệt là ở giai đoạn dƣới 100g, từ 100g trở lên tốc độ tăng trƣởng của cá khá hơn. Ở giai đoạn từ cá bột đến cá giống, cá phải mất thời gian là 2-3 tháng mới đạt đƣợc chiều dài khoảng 3-4 cm. Từ cá giống, để có thể đạt đƣợc kích cỡ 100 g/con cho việc nuôi bè, cá cần 4-5 tháng nữa. Trong tự nhiên, những cá con còn sống sót sau khi nở phải cần khoảng 1 năm để có thể đạt cỡ 100-300 g/con. Để có đƣợc cá thƣơng phẩm tờ 400 g/con trở lên, cá giống có trọng lƣợng 100 g/con cần thời gian nuôi trong từ 5 - 8 tháng, nuôi trong bè từ 5-6 tháng (Nguyễn Mạnh Hùng, 1995). Cá bống tƣợng thành thục sinh dục trên dƣới một năm. Mùa vụ sinh sản tự nhiên của cá từ tháng 4-11, tập trung từ 5-8. Khi đến mùa sinh sản, cá cái tìm cá đực bắt cặp và tiến hành sinh sản. Cá đẻ trứng dính và tập hợp trứng lại tạo thành hình tròn bám vào giá thể. Ngoài tụ nhiên, cá đẻ trứng dính vào các hang, hốc đá, rể cây và các vật thể khác dƣới nƣớc. Sau khi đẻ, cá đực canh tổ và tham gia ấp cùng cá cái, cá cái bơi quanh ổ trứng và dùng đuôi quạt nƣớc tạo thành dòng chảy lƣu thông để cung cấp oxygen cho trứng phát triển và nở thành cá con. Sức sinh sản của cá bống tƣợng khá cao 100.000-200.000 trứng/kg cá cái. Tuy sức sinh sản cao nhƣng trong điều kiện tự nhiên có nhiều địch hại nên cá bị hao hụt nhiều. III. KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG CÁ BỐNG TƢỢNG Trong vài năm gần đây, phong trào nuôi cá bống tƣợng phát triển mạnh nhƣng phần lớn con giống đều bắt từ tự nhiên. Một số nơi đã cho sinh sản và ƣơng nuôi thành công góp phần cung cấp cá giống cho ngƣời nuôi. Qui trình nuôi vổ cá bố mẹ đƣợc thực hiện nhƣ sau: 1. Chuẩn bị ao nuôi vỗ cá bố mẹ Ao nuôi cá bố mẹ có diện tích dao động từ 500–1000 m2. Ao có dạng hình chữ nhật, chiều dài gấp 3-4 lần chiều ngang, độ sâu của ao từ 1,2-1,5m. Ao phải có nguồn cấp, thoát nƣớc chủ động. Nguồn nƣớc phải trong sạch, không bị ô nhiễm. Đất không bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Trƣớc khi thả cá, ao phải đƣợc
  20. tát cạn, tẩy dọn sạch sẽ, vét hết bùn đáy, lấp và trét hết các hang hốc, lổ cua, lổ mọi, lổ chuột đào, đắp lại chổ sạt lở, trang bằng đáy. Nếu ao không tát cạn đƣợc thì tiến hành thuốc cá bằng rễ dây thuốc cá với liều lƣợng 0,5 kg/100 m2. Sau đó tiến hành bón vôi với liều lƣợng 7-10 kg/100m2, ở những vùng bị nhiễm phèn lƣợng vôi có thể tăng lên gấp đôi. Sau khi bón vôi nên tiến hành phơi đáy ao 2-3 ngày trƣớc khi thả cá. Sau khi cải tạo xong thì tiến hành lấy nƣớc vào ao. Cống phải bịt lƣới hai đầu và kích thƣớc mắt lƣới nhỏ để ngăn cá tạp và địch hại xâm nhập vào ao cũng nhƣ không cho cá thoát ra ngoài. 2. Cá bố mẹ Cá bống tƣợng có thể nuôi vỗ thành thục dễ dàng trong ao đất. Khi chƣa thành thục rất khó phân biệt đực, cái. Khi cá đã thành thục thì phân biệt đực, cái dễ dàng. Cá cái: gai sinh dục dài gần đến gốc vi hậu môn, có màu đõ ửng và tƣơi, đầu gai sinh dục tròn, bụng cá to tròn. Trong một số trƣờng hợp cá thành thục sinh dục có thể thấy đƣợc buồng trứng hai bên bụng. Cá đực: gai sinh dục ngắn, đầu mút nhọn có hình tam giác. Việc chọn cá bố nuôi vỗ phải tốt, khỏe mạnh không dị tật, không xây xát và đảm bảo các tiêu chuẩn sau: Cá trên 1 năm tuổi. Trọng lƣợng từ 0.25 - 1.5 kg. Kích cỡ cá đều, mập, khỏe. Thời gian nuôi vỗ. Tùy từng điều kiện cụ thể mà thời gian nuôi vỗ thành thục sinh sản khác nhau. Thời gian nuôi vỗ đƣợc trình bày qua bảng sau. Bảng 1: Thời gian nuôi vỗ thành thục sinh dục của cá Bống tƣợng Địa điểm Thời gian nuôi vỗ Tác giả Điều kiện ao (ngày) Long mỹ (Cần thơ) 74 Huỳnh Thị Mỹ Hƣơng, 1986 Ao nƣớc tĩnh ĐH Cần thơ 65 Huỳnh Thị Mỹ Hƣơng, 1986 Ao tĩnh thay nƣớc Cổ lịch 19 Huỳnh Văn Mừng, 1987 Ao thông rạch Châu thành (Tiền giang) 42 Nguyễn Văn Vàng, 1988 Ao tĩnh bơm nƣớc Tân xuân (Đồng tháp) 32 Trần Thị Hồng An, 1994 Ao nƣớc ra vào theo thủy triều Bình Đức (An giang) 13 Lê Thành Nhân, 1995 Ao tĩnh thay nƣớc Thời điểm nuôi vỗ thích hợp là vào cuối tháng 12 hay đầu tháng giêng. Cá có thể đẻ tự nhiên trong ao với tỉ lệ ghép 1 đực và 1 cái. Trong ao nuôi vỗ nên tách riêng đực cái vì cá có thể đẻ tự nhiên trong ao và thuận lợi sau này có thể thu đƣợc nhiều cá thể và nhiều trứng cùng một lúc. Mật độ nuôi vỗ. Mật độ nuôi chung cá bố mẹ trong một ao là 0,2-0,3 kg/m2, nếu nuôi riêng đực là 0,5 kg/m2 và cái là 0,2 kg/m 2. Chế độ nuôi vỗ. Nuôi vỗ cá bống tƣợng bằng các loại thức ăn nhƣ: cá vụn, tép, ốc, cua... Mỗi ngày cho ăn 2 lần vào buổi sáng hay buổi chiều. Lƣợng thức ăn chiếm 3–5 % trọng lƣợng cơ thể. Thức ăn nên đƣợc đặt trong máng hoặc sàng và đặt nơi cố định trong ao. Hàng ngày nên kiểm tra sàn ăn, nếu thừa thì loại bỏ thức ăn, còn nếu thiếu thì bổ sung thêm thức ăn (Trần Mạnh Hùng, 1995). Một nghiên cứu khác của Panu Tavatmaneekul (1989) ở Thái lan thì lƣợng

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản