Đặc điểm và phân bố của các loài cây lâm nghiệp- Cây Luồng

Chia sẻ: Nguyen Vuong | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
160
lượt xem
73
download

Đặc điểm và phân bố của các loài cây lâm nghiệp- Cây Luồng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đặc điểm và phân bố của các loài cây lâm nghiệp- Cây Luồng .

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đặc điểm và phân bố của các loài cây lâm nghiệp- Cây Luồng

  1. LUỒNG Dendrocalamus barbatus Hsueh et D. Z. Li, 1988 Tên khác: Luồng thanh hoá, mạy mèn, mạy sang mú (Thái- Tây Bắc); mét (Thái và Kinh - Nghệ An) Họ: Hoà thảo – Poaceae Phân họ: Tre – Bambusoideae Hình thái Thân ngầm dạng củ, thân khí sinh mọc cụm, chiều cao thân 15-18m, đường kính 10-15cm, ngọn cong hay hơi rủ, một số đốt gốc có vòng rễ khí sinh; lóng màu lục xẫm, chiều dài 26-32cm, phần phẳng dẹt một phía không lông, phần trên có ít phấn trắng, bề dày vách thân 2-2,5cm; vòng thân không nổi lên, chiều dài đốt 1,5cm, ở đốt và phía dưới vòng mo đều có một vòng lông nhung màu trắng. Chiều cao dưới cành 0,5-1m. Mỗi đốt thân có nhiều cành, cành chính 3, trong đó một chiếc to khoẻ hơn rõ rệt, hay có lúc cành chính không phát triển mà có một chồi ngủ lớn và các cành bên khá nhỏ, rủ xuống. Bẹ mo rụng sớm, chất da, lúc đầu màu nâu vàng, lưng phủ phấn trắng và có lông gai nhỏ màu nâu; tai mo liền với phần kéo dài ra ngoài của gốc phiến mo, dạng sóng, dài 5-15mm, rộng 2-3mm, phủ dày lông mi dạng lông bờm lợn dài 1cm; lưỡi mo cao 5-8mm, đầu xẻ răng không đều; phiến mo lật ra ngoài, gốc mặt bụng cũng phủ dày lông thẳng cứng dạng lông bờm lợn, phần còn lại phủ lông gai nhỏ. Cành Luồng nhỏ 8-15 lá; bẹ lá phủ lông; tai lá nhỏ, dễ Dendrocalamus barbatus Hsueh et D. Z. Li rụng, có mấy chiếc lông tua; lưỡi lá cao 1. Thân và cành; 2.Mo thân; 3.Cành mang lá 1mm; chiều dài phiến lá 10-15cm, rộng 1- 4. Cụm hoa; 5. Bông nhỏ 2cm, gân cấp hai 5 hay 6 đôi. Cụm hoa không mang lá, mỗi đốt đính 10-25 bông nhỏ, đường kính trục cụm 1-2,2cm; bông nhỏ hình trứng ngược, dài 6-8,5mm, rộng 2-4mm, màu lục vàng, gần không lông, hai hoa nhỏ; chiều dài mày ngoài 6-7mm, rộng 4-5mm, đầu có mũi nhọn nhỏ dạng gai dài 0,8-1mm; chiều dài mày trong 5-6mm, khoảng cách giữa hai gờ 1mm, có 3 gân; chiều dài chỉ nhị 6mm, bao phấn màu vàng hay sau khi khô màu tím, dài 6mm, đầu có mũi nhọn; chiều dài nhuỵ 6- 7,5mm, phần trên của bầu cùng với vòi và đầu nhuỵ đều phủ lông. Các thông tin khác về thực vật Trước đây trong hầu hết các tài liệu và sách giáo khoa về lâm nghiệp của Việt Nam, luồng được mang tên khoa học là Dendrocalamus membranaceus Munro. Nhưng đối chiếu với mô tả
  2. và hình vẽ của Dendrocalamus membranaceus Munro, tre luồng của Việt Nam có các sai khác cả về hình thái của cơ quan sinh dưỡng và sinh sản như sau: Luồng có kích thước lớn hơn, đầu mo thân lõm, tai mo lớn mang rất nhiều lông; bông chét nhỏ và tù đầu hơn. Vì vậy tên khoa học của luồng đã được giám định lại từ năm 2004 là Dendrocalamus barbatus Hsueh et D. Z. Li (Lê Viết Lâm, 2004). Việc thay đổi tên khoa học của loài luồng cũng đã được sự nhất trí của 2 chuyên gia về định loại tre nứa của Trung Quốc là Giáo sư Li De Zu (Viện Thực Vật Côn Minh) và Gs Xia nia Nhe - Hà Niệm Hoà (Viện Thực vật Nam Kinh)(2004). Phân bố Luồng có thể mọc tự nhiên hoặc trồng thành từng cụm phân tán ở các huyện ven sông Mã thuộc tỉnh Sơn La. Các huyện phía Tây tỉnh Thanh Hoá như Quan Hoá, Lang Chánh, Bá Thước, Ngọc Lạc là vùng trồng rừng luồng tập trung nhất (vì thế quen gọi là "Luồng thanh hoá"), nhưng luồng ở đây đều ở dạng cây trồng. Tổng diện tích rừng trồng luồng của Thanh Hoá đến trên 50.000ha. Tới nay luồng được trồng nhiều nhất ở Bắc Trung Bộ hiện đã dẫn giống trồng ở nhiều tỉnh phía Bắc và phía Nam. Phong trào trồng luồng ở vùng Trung Tâm Bắc Bộ phát triển rộng khắp, một số loài tre trước đây thường trồng (diễn trứng, mai...) đã phải nhường ngôi cho luồng. Nghệ An, Yên Bái, Hoà Bình là các tỉnh có diện tích rừng luồng trồng đứng sau Thanh Hoá. Giống luồng đưa vào trồng ở các tỉnh miền Nam chưa được kiểm kê tổng kết. Một số khóm luồng đưa trồng ở Đông Nam Bộ, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế đều sinh trưởng bình thường. Có thể luồng có nguồn gốc từ các tỉnh vùng Tây Bắc Việt Nam, thuộc vùng Thượng nguồn sông Mã như Sơn La, Hoà Phân bố của luồng ở Việt Nam Bình. Ở đây còn gặp luồng mọc tự nhiên, với tên địa phương là mạy sang mú. Ở các vùng khác chỉ gặp luồng ra hoa, nhưng không thấy kết hạt, riêng ở Sơn La (huyện Mộc Châu và Sông Mã) đã gặp luồng ra hoa, kết hạt và mọc thành cây con. Đặc điểm sinh học Điều kiện tự nhiên ở vùng phân bố chính của luồng có khí hậu nóng, ẩm. Mỗi năm có hai mùa: mùa nắng nóng, mưa nhiều, thường từ tháng 4-5 đến tháng 10-11 lượng mưa chiếm tới 70-80% lượng mưa cả năm; mùa lạnh, mưa ít, thường từ tháng 11-12 đến tháng 3-4 năm sau lượng mưa chỉ có khoảng 20-30% lượng mưa cả năm. Nhiệt độ bình quân năm khoảng 23- 240C, nhiệt độ tối đa có khi lên đến 420C. Độ ẩm không khí 87%. Lượng mưa 1.600- 2.000mm/năm. Lượng bốc hơi hàng năm khoảng 677mm. Luồng sinh trưởng tốt ở các địa hình vùng đồi trên độ cao dưới 800m so với mặt biển; nơi đất bằng, chân đồi hoặc sườn thoải có độ dốc vừa phải (dưới 300). Luồng thường được trồng trên ®ất feralit phát triển trên đá poocphia, đá vôi, phiến thạch, phyllit hoặc phù sa cổ, có độ sâu 50-150cm hoặc hơn; thành phần cơ giới thường là sét pha nặng đến sét trung bình; độ ẩm 80-90%; mầu đất vàng hoặc vàng đỏ; pH (H2O) = 4,6-7; hàm lượng P2O5 và K2O dễ tiêu thường nghèo; hàm lượng chất hữu cơ trong đất thấp.
  3. Chưa gặp rừng luồng mọc tự nhiên. Luồng được trồng thuần loại, hỗn giao với cây gỗ hoặc trồng xen từng đám trong rừng thứ sinh với diện tích lớn và cũng được trồng phân tán một số khóm xung quanh nhà. Những năm mới trồng, khi rừng chưa khép tán có thể trồng xen cây nông nghiệp như lạc, đỗ, ngô, sắn... Dưới tán rừng luồng, cây gỗ tái sinh tự nhiên tương đối nhiều như: lim xanh (Erythrophloum fordii), sòi tía (Sapium discolor), mán đỉa (Archidendron clypearia), hu đay lá hẹp (Trema angustifolia); nhưng tồn tại lâu dài với luồng chỉ có lim xanh. Mới gặp luồng ra hoa từng khóm rồi chết và cũng khó tìm được hạt luồng; vì vậy khả năng phát triển rừng luồng từ hạt chưa thực hiện được. Thân ngầm, thân khí sinh, chét và cành là phương thức sinh sản vô tính của luồng. Cây măng sau khi định hình, ra cành lá đầy đủ thì những mầm ở gốc bắt đầu phát triển để cho thế hệ măng tiếp theo. Sinh trưởng của măng có thể chia thành 3 thời kỳ chính: - Thời kỳ 1: Măng phát triển ngầm trong đất, khoảng từ tháng 9-10 năm trước đến tháng 4- 5 năm sau. - Thời kỳ 2: Măng lên nhú khỏi mặt đất và phát triển nhanh về chiều cao, khoảng từ tháng 4-5 đến tháng 7-8 gọi là mùa ra măng. - Thời kỳ 3: Cây măng phát triển hoàn chỉnh cành lá và rễ, khoảng từ tháng 7-8 đến tháng 10-11; Sau giai đoạn này cây măng có thể sống độc lập. Vì vậy giống trồng lấy từ cây tuổi 1 là tốt nhất. Luồng 1-2 năm tuổi - thân non mầu xanh nhạt, bóng, có ít phấn trắng, các đốt có vòng lông trắng mịn, thịt trắng. Luồng 3-4 năm tuổi là cây vừa, mầu xanh sẫm; luồng 5 tuổi trở lên là cây già và là đối tượng khai thác, cây càng già mầu mặt lóng càng xám lại và xuất hiện nhiều vết địa y, thịt hồng đỏ, bó mạch rõ. Tuổi thọ của luồng khoảng 8-10 năm. Quan hệ giữa cây trong khóm vừa cung cấp chất dinh dưỡng vừa làm chỗ dựa cho nhau. Sau khi trồng 5-6 năm rừng luồng đã có thể đưa vào khai thác. Một khóm luồng chuẩn có khoảng 20-40 cây (15-20 cây trong một khóm sau khai thác, 30-40 cây trong một khóm khi đến chu kỳ khai thác), tỷ lệ các cấp tuổi gần bằng nhau và có 5-8 măng mới được sinh ra hàng năm. Công dụng Thân luồng chứa cellulose (54%) cao nhất trong các loài tre đã được phân tích, lignin (22,4%), pentozan (18,8%). Sợi luồng thường có chiều dài 2,944mm, chiều rộng 17,84 µm (vách tế bào dầy 8,5µm). Với thành phần hoá học và kích thước sợi của luồng, nếu dùng làm nguyên liệu sản xuất giấy sẽ cho hiệu quả cao và chất lượng giấy tốt. Luồng ở độ ẩm thí nghiệm có tỷ trọng 838 kg/m3. Độ co rút thể tích 0,68. Mẫu đốt có độ bền nén dọc thớ 696 kgf/cm2; lóng có độ bền nén dọc thớ 764 kg/cm2. Độ bền kéo dọc thớ của đốt 867 kgf/cm2, mẫu lóng 2846 kgf/cm2. Đốt có độ bền khi uốn tĩnh tiếp tuyến 1531 kgf/cm2 Ngoài vào 1431 kgf/cm2 và trong ra 1328 kgf/cm2; Lóng có độ bền khi uốn tĩnh tiếp tuyến 1603 kgf/cm2, Ngoài vào 1578 kgf/cm2 và trong ra 1418 kgf/cm2. Độ bền khi trượt dọc thớ của đốt 70 kgf/cm2 và lóng 57 kgf/cm2.
  4. Vì vậy, dùng luồng làm cột chống, xà đỡ trong xây dựng, giao thông vận tải, chèn hầm lò rất tốt. Luồng dùng làm nguyên liệu sản xuất ván ghép thanh cho sản phẩm vừa đẹp vừa chắc bền, được nhiều người ưa chuộng và là mặt hàng xuất khẩu rất có giá trị. Măng luồng ăn ngon, kích thước lớn nên ngoài ăn tươi còn được phơi khô. Trọng lượng bính quân của măng luồng là 1,15kg/1măng; tỷ lệ sử dụng khá cao (65-72%). Phân tích măng luồng đa thu được các kết quả như sau: hàm lượng nước 92,01%. protein 2,26%, đường tổng 2,47%, glucid 2,33%, cellulose 0,58%, và lipid 0,12% (Nguyễn Danh Minh, 2005). Trong thập kỷ 70, tỉnh Thanh Hoá đã có xí nghiệp đóng hộp măng luồng để xuất khẩu. Kỹ thuật nhân giống, gây trồng Nhân giống: Theo tập quán trong nhân dân trước đây, trồng luồng chỉ dùng giống gốc, giống chét. Đến nay, đã nghiên cứu, thành công việc trồng luồng bằng hom cành, hom thân có cành, hom thân có chồi ngủ, trong đó hom cành được trồng nhiều nhất vì có khả năng tạo được nhiều giống và dễ vận chuyển đi xa. Tất cả các giống trên đều phải chọn từ cây mẹ 10-14 tháng tuổi, thân cây xanh thẫm hoặc lá mạ, phát triển đày đủ cành lá (không lấy giống ở cây hay bụi luồng đang ra hoa). Trừ giống gốc và giống chét được trồng trực tiếp, 3 loại còn lại đều phải qua tạo giống trong vườn ươm. - Giống cành: Giống từ cành ra rễ tốt ở những tháng có nhiệt độ không khí trung bình 22- 250C (tháng 4- tháng 8). Cành luồng có đường kính lớn hơn 1cm đảm bảo cho giống tốt; nếu đường kính nhỏ hơn, giống sinh trưởng chậm. Cành bẹ mo đã rụng, không còn vết trắng, rễ khí sinh đã chuyển sang màu xám, mắt cua màu vàng sáng thì sẽ ra rễ ít, măng mọc kém. Cành có dáng đùi gà nhẵn, không có vành rễ khí sinh thì khi ủ cành không ra rễ, do đó cành giống sẽ bị chết. Dùng dao thật sắc, chặt sát phần thân và các gốc cành, tránh làm dập đùi gà. Cành lấy dài 35-40cm (2-3 lóng) kể từ gốc cành. Giống cành lấy về, cần để ở chỗ râm mát, tưới cho khỏi héo và không được để quá 2 ngày. Sau đó đem ngâm trong chất kích thích sinh trưởng. Có thể dùng 1 trong các chất sau: 2,4D; 2,45T; muối Natri, Kali của 2,4D. Các chất kích thích trên được hoà tan vào: + Cồn: 1g thuốc/8-10cm3 cồn 960 hoặc + Rượu trắng 400: 1g/20-25cm3 Sau khi đã hoà tan như trên, đổ vào bể ngâm với lượng nước lã và quấy đều theo tỷ lệ sau: + 2,4D: hoà tan trong 50 lít nước + 2,45T: hoà tan trong 55 lít nước + Với muối Kali, Nat ri của 2,4D hoà tan trong 10 lít nước Ngâm cành ngập phần gốc với độ sâu 10-13cm. Nếu nhiệt độ không khí 20-280C thì ngâm 12-15 giờ. Nhiệt độ không khí trên 290C thì ngâm 9-11 giờ.
  5. Sau khi ngâm cành xong, vớt ra ủ trong mùn cưa (1kg mùn/lít nước lã) hoặc cát ẩm (1kg cát khô/0,5 lít nước). Cành xếp nghiêng 600, cứ một lớp cành, một lớp cát hoặc mùn cưa dày 20cm. Ủ 20-23 ngày, cành đã có rễ cám, 15 ngày đầu giữ độ ẩm của mùn cưa hoặc cát khoảng 85-90%, tiếp theo, độ ẩm có thể giảm đi chút ít. Chọn cành có rễ đem ươm, còn lại tiếp tục ủ cho đến khi ra rễ cám. - Ươm giống + Ở vườn: Vườn ươm cần bằng phẳng, đất thịt hoặc đất thịt nhẹ. Nền vườn cao thì không nên lên luống, mà ươm theo rạch. Đất vườn thấp dễ úng thì phải lên luống. Bón lót 3-4kg phân chuồng/m2. Cành được ươm theo rạch, rạch sâu 10cm, cành cách cành 20cm, rạch cách rạch 50cm. Cành đặt nghiêng 600 so với mặt đất; 2 mắt cành nằm 2 phía thành của rạch. Dùng đất nhỏ lèn chặt phần đùi gà, sau đó tưới ẩm, phủ rơm rạ kín mặt luống. Làm giàn che trên luống; cành ươm được che khoảng 40-50% ánh sáng, giàn cao 1,2- 1,3m. Sau 45-60 ngày dỡ dần giàn che. Chăm sóc: giữ ẩm đều cho đất và làm cỏ thường xuyên. Bón thúc: trong thời gian ở vườn, cành ươm được bón thúc 2 lần với hỗn hợp phân như sau: 30g urê + 25g super lân + 10g sunfat kali + 1 lít nước tưới cho 2m chiều dài rạch. Lần thứ nhất bón vào lúc 20 ngày sau khi ươm. Lần thứ hai sau 50 ngày. + Trong bầu: Dùng bầu với thành phần đất thịt nhẹ + 15% phân chuồng hoai. Vỏ bầu bằng nhựa P.E. thủng đáy, đường kính 12-13cm, chiều cao 18-20cm. Cho hỗn hợp đất, phân vào bầu đến chiều cao 1/3. lèn chặt, đặt cành vào bầu cho đất đầy 1/2. lèn chặt, tưới ẩm rồi tiếp tục cho hỗn hợp đất phân đầy bầu. Bầu đặt cách nhau 15cm trên luống, phủ kín đất đến 1/2 chiều cao bầu. Vườn có giàn che ánh sáng. Chăm sóc như đối với cây ở vườn ươm. Trồng và chăm sóc: - Vụ trồng luồng chính vào xuân và vụ phụ vào thu. - Chọn vùng trồng luồng: Phải chọn vùng có điều kiện địa hình, khí hậu và lập địa phù hợp với đặc tính sinh học của luồng. Ảnh hưởng của vùng trồng tới sinh trưởng của luồng là rất rõ. Dưới đây là các kết quả điều tra của Nguyễn Ngọc Bình (Bảng 1): Bảng 1. So sánh phẩm chất luồng ở Lang Chánh và Phú Điền Chiều dài của dóng Đường kính gốc Bề dầy của thân ở Chiều cao cây (m) Địa phương ngang ngực (cm) (cm) gốc (cm) Lang Chánh 21-23 25-28 8,5-10,0 2,3-2,5 (Thanh Hoá) Phú Điền (Thừa 18-20 24-26 8,0-9,0 2,0-2,2 Thiên-Huế)
  6. Về các điều kiện khí hậu thì ở Lang Chánh tổng lượng mưa hàng năm cao hơn Phú Điền 154,7mm, ẩm độ trung bình trong năm cao hơn 2%, lượng bốc hơi lại ít hơn 126,8 mm; trong một năm nhiều ngày trời râm hơn Phú Điền (lượng mây tổng quan trung bình toàn năm ở Lang Chánh là 8,1 còn ở Phú Điền là 7,2). Về địa hình có thể sắp xếp theo thứ tự ưu tiên: - Đất bằng hoặc chân đồi - Đồi núi thấp - Sườn thoải hoặc yên ngựa Về ảnh hưởng của đất đai tới sinh trưởng của luồng, các kết quả điều tra của Nguyễn Ngọc Bình hiện khá rõ (Bảng 2) Bảng 2. So sánh phẩm chất luồng trồng trên hai loại đất khác nhau ở Lang Chánh Đường kính gốc Chiều dài dóng Bề dầy thân ở Loại đất Chiều cao cây (m) (cm) ngang ngực (cm) gốc (cm) Đất feralit phát triển trên đá 11,5-12,5 22-23 26-29 2,5-3,5 poocphia Đất feralit phát 8,5-10,0 21-23 25-28 2,3-2,5 triển trên đá phyllit Ở Lang Chánh, luồng sinh trưởng từ tốt đến xấu trên các loại đất theo thứ tự sau: - Đất feralit nâu đỏ phát triển trên đá poocphia - Đất feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét biến hình tiếp xúc với poocphia. - Đất phát triển trên đá vôi. - Đất feralit vàng đỏ phát triển trên phiến thạch phyllit. - Đất feralit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ thượng lưu sông Âm. Luồng trồng ở 3 loại đất đầu có sản lượng cao, phẩm chất tốt. Đặc biệt cần nhấn mạnh là trong điều kiện khi hậu ở Lang Chánh trên loại đất tốt kết hợp với các biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác hợp lý thì luồng phát triển rất tốt - Đường kính thân trên 13cm, cao trên 25m cho sản phẩm luồng phao là loại luồng có kích thước lớn nhất. Trồng ở những nơi có lớp đất mỏng, lẫn nhiều đá, độ phì thấp, luồng vẫn sống nhưng sinh trưởng, phát triển kém - khóm nhỏ, cây thấp bé. Phương thức trồng: Qui mô trồng, xử lý thực bì, làm đất, trồng xen phù hợp với sinh thái rừng luồng. Luồng có thể trồng phân tán từng khóm gần nhà, xung quanh vườn, bao đồi... thích hợp cho việc tận dụng nơi đất tốt thụân tiện cho chăm sóc, trồng xen có thu nhập thêm cho kinh tế gia đình.
  7. Luồng có thể trồng tập trung theo phương thức trồng thuần loại hoặc trồng hỗn giao với cây gỗ (cách cây, cách hàng, theo băng, theo đám). Luồng trồng tập trung thành rừng có ưu điểm: - Đảm bảo điều kiện ánh sáng, ẩm độ không khí và đất cho luồng sinh trưởng, phát triển. - Tránh gió bão làm gẫy măng, trốc gốc. - Quản lý, chăm sóc thuận tiện. Lưu Phạm Hoành đã thí nghiệm và đo đếm ở rừng luồng 4 tuổi trồng trên đất sau nương rẫy, đất rừng gỗ thứ sinh tiến hành cải tạo trắng và trồng theo rạch đã cho các kết quả trong bảng 3. Bảng 3. Rừng luồng 4 tuổi trồng trên đất sau nương rẫy và đất rừng gỗ thứ sinh Phương thức Kích thước cây Kích thước lóng Trọng lượng Đường kính Chiều dài Bề dày Chiều cao (m) tươi (tấn (cm) (cm) (cm) Sau nương rẫy 6,0 8,0 23,17 0,79 6,4 Rừng gỗ thứ sinh + Cải tạo trắng 7,8 12,1 27,13 0,68 17,7 + Trồng theo rạch 7,1 11,0 29,49 0,58 10,4 Kết quả thí nghiệm trên phản ánh đầy đủ sự thoái hoá của đất rừng sau nương rẫy. Vì vậy, không nên làm nương rẫy 1-2 năm đầu rồi mới trồng luồng như trước đây một số nới đã làm; còn phương thức cải tạo trắng hay trồng theo rạch là tuỳ điều kiện cụ thể. Kỹ thuật trồng: Giống và kỹ thuật tạo giống, mật độ trồng, hố trồng, thời vụ trồng và chăm sóc những năm đầu là những yêu cầu cơ bản đảm bảo trồng có tỷ lệ sống cao và phát triển tốt. Lưu Phạm Hoành tiến hành thí nghiệm dùng gốc, chét, cành, thân để trồng và đã thu được các kết quả trong bảng 4: Bảng 4. Kết quả trồng luồng bằng các loại giống khác nhau Năm thứ nhất Năm thứ hai Loại giống trồng N D H N D H Gốc 2,4 2,4 3,3 2,0 4,6 5,7 Chét 2,2 2,3 3,4 2,3 3,7 5,7 Cành 2,1 2,1 3,1 1,8 3,4 4,3 Hom thân có chồi ngủ 2,3 2,6 4,2 2,4 4,7 5,8
  8. Năm thứ ba Năm thứ tư Loại giống trồng Trọng lượng N D H N D H tươi (Tấn/ha) Gốc 2,1 5,3 6,8 2,2 6,7 10,0 7,5 Chét 1,3 6,0 6,6 2,0 6,3 10,4 5,6 Cành 1,7 4,8 6,9 2,3 5,2 10,4 6,2 Hom thân có chồi ngủ 2,7 6,2 7,5 2,6 7,1 11,0 10,4 Ghi chú: N: Số cây măng trung bình/khóm; D: Đường kính trung bình của cây (cm) H: Chiều cao trung bình của cây (m) Căn cứ vào số liệu trên và nhận xét trong thực tế thì trong một hai năm đầu, các giống chét, thân, cành cho măng bé hơn giống gốc nhưng sự hơn kém giữa các loại giống trồng cũng không rõ rệt. Càng về sau sức sinh sản và kích thước măng không còn phân biệt giữa các khóm trồng bằng gốc với các khóm trồng bằng thân, cành hoặc chét. Ở đây cần lưu ý thêm về giống và kỹ thuật tạo giống. Hiện nay giống trồng bằng hom cành bó bầu trên thân (chiết) được ứng dụng rộng rãi. Ưu điểm của phương pháp bó bầu (chiết) là: - Sử dụng tối đa lượng cành có trên cây luồng. - Tuổi cành làm giống có biên độ rộng từ 3 đến 10 tháng tuổi. - Có thể tiến hành quanh năm (nhưng tốt nhất là từ tháng 2 đến tháng 8 Dương lịch). - Cây mẹ sau khi lấy giống vẫn sử dụng bình thường. - Cây mẹ vẫn ra măng bình thường. Phòng trừ sâu bệnh và chăm sóc rừng luồng: Chăm sóc rừng luồng trồng sau 4 năm. Phát dây leo cây bụi rậm mỗi lần chăm sóc đều phải cuốc sới đất quanh hố. Khi chăm sóc giữ lại tất cả các cây gỗ tái sinh. Rừng luồng thường có bệnh chổi sể và sâu vòi voi hại măng. Gần đây ở Thanh Hoá có hiện tượng cây luồng phát triển không bình thường được gọi là "bệnh sọc tím". Thực hiện quản lý chặt chẽ, nuôi dưỡng tốt (làm vệ sinh rừng, điều tiết mật độ, xới đất, bón phân) mới đảm bảo cho luồng tồn tại, sinh trưởng, phát triển tốt. Khai thác, chế biến và bảo quản Sau khi trồng 5-6 năm rừng luồng có thể đưa vào khai thác và sau 9-10 năm thì khai thác ổn định. Phương thức khai thác: "Chặt chọn từng cây theo cấp tuổi trong khóm". Trường hợp đặc biệt với những khóm ra hoa thì chặt trắng từng khóm. Giải quyết cường độ chặt, chu kỳ chặt, xử lý rừng sau khai thác hợp lý sẽ có hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao. Qui phạm qui định: "Luân kỳ 1 năm thì cường độ chặt không quá 30% số cây trong khóm; Luân kỳ 2 năm thì cường độ chặt dưới 40% số cây trong khóm". Theo chúng tôi cũng có thể áp dụng công thức:
  9. Chu kỳ 3 năm: chặt cây từ tuổi 4 cho những vùng sung yếu, chặt cây từ tuổi 3 cho những vùng sản xuất khác. Chu kỳ 2 năm: chặt cây từ tuổi 4 cho những vùng sản xuất khác. Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn Đến những năm cuối thế kỷ XX, tỉnh Thanh Hoá đã trồng khoảng 50.000 ha rừng luồng với trữ lượng trên 58 triệu cây. Hiện nay các tỉnh Yên Bái, Hoà Bình, Phú Thọ... cũng đã trồng được hàng chục nghìn ha luồng. Việc trồng luồng trước đây còn có những bước thăng trầm, nhưng đây là loài cây đã được nghiên cứu khá toàn diện, nhiều kết quả nghiên cứu đã được sản xuất tiếp nhận và ứng dụng. Ngày 25 tháng 1 năm 2000 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra quyết định ban hành tiêu chuẩn ngành số 04 TCN 21-2000 "Qui phạm kỹ thuật trồng và khai thác luồng". Hiện nay luồng là một trong những loài cây trồng chính của Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng. Hội thảo "Xác định loài cây trồng rừng và chọn loài ưu tiên" tại các vùng lâm nghiệp đã xác định luồng là loài cây trồng rừng vùng Trung Tâm Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Tây Bắc. Tới nay luồng vẫn là loài tre có diện tích rừng trồng lớn nhất và được sử dụng nhiều nhất ở nước ta. Về mặt lâm sinh luồng đã được nghiên cứu khá nhiều, nhưng về các mặt phòng trừ sâu bệnh, đặc tính cơ lý, kỹ thuặt chế biến, bảo quản thân tre và măng luồng còn ít được nghiên cứu. Trong thời gian tới cần tập trung nghiên cứu thêm về các mặt này để đáp ứng việc mở rộng vùng sản xuất; đồng thời cũng phải chú ý đến công tác chọn giống để tạo ra các giống luồng có năng suất và chất lượng tốt hơn để đáp ứng yêu cầu sản xuất trong tương lai. Tài liệu tham khảo 1. Hoàng Hoè (Chủ biên) (1994). Kỹ thuật trồng một số loài cây rừng. Nxb Nông Nghiệp - Hà Nội; 2. Lê Viết Lâm (Chủ biên) (2004). Một số loài tre chủ yếu của Việt Nam. Đề tài khoa học của Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam; 3. Nguyễn Danh Minh (2005). Báo cáo chuyên đề: Mô tả một số loài tre thường được lấy măng. Phú Thọ (Chưa xuất bản); 4. Academia Sinica (1996). Poales. Flora Reipublicae Popularis Sinicae. Tomus 9(1): 90- 93. Science Press. Beijing (Trung văn); 2. Dransfield S. and Widjaja E.A. (1995). Plant Resources of South–East Asia – Bamboo. 7: 90- 92. Bogor, Indonesia.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản