Đặc điểm và phân bố của các loài cây lâm nghiệp- Cây Sấu

Chia sẻ: Nguyen Vuong | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
101
lượt xem
30
download

Đặc điểm và phân bố của các loài cây lâm nghiệp- Cây Sấu

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đặc điểm và phân bố của các loài cây lâm nghiệp- Cây Sấu

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đặc điểm và phân bố của các loài cây lâm nghiệp- Cây Sấu

  1. SẤU Dracontomelon duperreanum Pierre, 1898 Tên đồng nghĩa: Dracontomelon sinense Stapf., Tên khác: Sấu trắng, long cóc, sấu tía (phổ thông); Dracontomelum, pancovier (tiếng Anh) Họ: Đào lộn hột – Anacardiaceae Hình thái Cây gỗ thường xanh, cao tới 30 m hay hơn, sống ở những nơi có đất dày thường tạo ra những bạnh vè lớn ở phía gốc. Cành nhỏ có cạnh và có lông nhung màu tro. Lá mọc so le, kép lông chim, dài tới 35 cm, thậm chí có thể tới 45 cm, mang 11- 23 lá chét mọc đối hay so le. Phiến lá chét hình trái xoan, đầu nhọn, gốc lệch, ít khi tròn, dài 6-14 cm, rộng 2,5-4 cm, lá ở gốc nhỏ hơn ở ngọn, dai, nhẵn, mặt dưới có gân nổi rõ, khi vò ra có mùi thơm đặc trưng. Cụm hoa mọc thành chùy ở ngọn hay gần ngọn, ngắn hơn lá, có lông mang lá hoa nhỏ và thuôn, hình mác, có lông dạng mi. Hoa nhỏ, màu xanh trắng, có lông mềm, cánh hoa 5, dài 8 - 10 mm, nhị 10, đĩa mật nguyên, bầu trên 5 ô. Quả hạch hình cầu hơi dẹt, đường kính độ khoảng 2 cm, khi chín màu vàng sẫm, một hạt. Phân bố Việt Nam: Phân bố tự nhiên ở các tỉnh trung du Bắc Bộ và Sấu - Dracontomelon duperreanum Pierre Đà Nẵng, Lâm Đồng, Đồng Nai. Hiện được trồng ở 1. Lá kép; 2. Hoa; 3. Quả nhiều nơi, chủ yếu là các đường phố, vườn cây ăn quả. Thế giới: Trung Quốc. Đặc điểm sinh học Cây gỗ thường xanh có bạnh, mọc rải rác trong rừng thường xanh, rừng nửa rụng lá, vùng núi đất ở độ cao 100-1200 m so với mặt nước biển. Là cây ưa ẩm và mọc tương đối nhanh, thích hợp với loại đất có tầng mặt sâu, còn giầu chất dinh dưỡng. Ở một số vùng rừng kín thường xanh ẩm, sấu trong rừng còn tương đối nguyên sinh, có những cây khổng lồ cao trên 30 m, cây có hệ thống bạnh vè lớn tạo nên sắc thái cho rừng ẩm nguyên sinh nhiệt đới của Việt Nam (VQG Cúc Phương, Bến En, Phong Nha - Kẻ Bàng…). Trong những quần thể tự nhiên thường mọc chung với sấu rừng (D. mangiferum Blume).
  2. Cây có ra hoa kết quả hàng năm tuy nhiên tỉ lệ đậu hoa, quả còn phụ thuộc vào thời tiết lúc cây ra hoa, nếu vào lúc đó có mưa nhiều thì năng suất sẽ kém do hoa không đậu. Mùa hoa: tháng 4-5, mùa quả: tháng 6-8. Kỹ thuật nhân giống, gây trồng Sấu tái sinh tự nhiên là chủ yếu. Hạt giống sau mùa bảo quản là những hạt đã được chọn từ những cây khỏe mạnh và sau khi đã được loại bỏ hết vỏ, cơm, làm khô, ngâm trở lại nước sôi, để tự nguội rồi được ủ trong cát ẩm. Hạt gieo sau khoảng 7-10 ngày thì nứt nanh, lúc này ta mới cho vào bầu. Công tác gieo hạt được tiến hành vào mùa thu hàng năm. Đất trong bầu cũng được chọn lựa một cách kĩ càng gồm: 90 - 95% đất thịt nhẹ, 5 - 8% phân chuồng hoai, 1 - 2% super lân. Các hốc gieo song song được tạo ra trên mặt luống, trên có giàn che, cần tưới ẩm thường xuyên. Đến tháng ba hoặc tháng tư năm sau cây non có thể được đem trồng. Khi trồng cần có phân chuồng hoai lót vào hố, trộn phân với đất để lấp đầy hố. Nếu không có phân lót thì hố đào nhỏ hơn. Chú ý: xé rách vỏ bầu trước khi đặt cây vào hố trồng, cố gắng không làm vỡ bầu, đứt rễ. Phân bố sấu ở Việt Nam Mặc dù là cây ưa sáng nhưng trong giai đoạn còn non cần được che bóng, được tưới nước cho tới khi bén rễ. Thỉnh thoảng cần phát quang, xới đất. Sấu có thể được trồng trên nhiều loại đất nhưng để có năng suất tốt thì cần được trồng trên đất còn đầy đủ dinh dưỡng như đất đồi, đất có độ tơi xốp tốt, đủ ẩm nhưng thoát hơi nước. Mật độ trồng trên đồi khoảng 400 - 500 cây / ha. Tận dụng đất còn lại sau khi cây lớn bằng việc trồng xen những cây ưa bóng như chè (Camellia sinensis), cà phê (Coffea spp.), đặc biệt là trồng xen với những cây họ Đậu (Fabaceae) để tiết kiệm được chi phí cho việc bón phân đạm trong giai đoạn sấu còn non. Ngoài ra có thể trồng theo băng, theo đường đồng mức để tránh sự xói mòn. Sấu trồng thành hàng lối bên đường đi với khoảng cách 10 - 12 m. Công dụng Gỗ có phẩm chất trung bình, vân đẹp dùng trong xây dựng, đóng đồ gia dụng. Quả ăn được, thường được dùng làm gia vị (nấu canh chua), làm mứt, xi-rô, giải khát (hấp hay ngâm quả sấu với đường). Canh nấu có quả sấu giúp ngon miệng và kích thích tiêu hóa.
  3. Quả được dùng để chữa ngứa cổ, làm long đờm, thanh giọng, quả được hấp với gừng, đường và ớt thành món ăn có tác dụng tiêu thực. Quả sấu cũng trị bệnh nhiệt miệng khát, giải say rượu, chữa phong độc, khắp mình nổi mẩn, mụn cóc sưng lở, ngứa hoặc đau. Lá dùng nấu nước rửa mụn loét, hoại tử. Vỏ thân dùng trị bỏng, tử cung xuất huyết. Vỏ rễ dùng trị sưng vú. Hoa hấp với mật ong chữa cho trẻ em bị ho. Phụ nữ bị nôn nghén: nấu canh quả sấu ăn với cá diếc hay thịt vịt cũng chóng lành. Ở Vân Nam (Trung Hoa) người ta dùng quả giã ra trị ngứa, lở, ăn uống không tiêu, còn vỏ rễ được dùng trị sưng vú. Khai thác, chế biến và bảo quản Sấu được trồng trong vườn, trang trại, hai bên đường phố, đường làng… vừa mang lại mỹ quan, tạo môi trường trong lành, tạo bóng mát và mang lại lợi nhuận lớn về kinh tế trong mùa thu hoạch quả. Quả sấu được hái trực tiếp trên cây vào mùa dịp hè thu, vì lượng quả ở một cây là rất lớn do đó khi thu hoạch thì toàn bộ quả của cùng một cây được thu hái một lần theo phương thức phổ thông truyền thống: bẻ cành mang quả. Quả sau đó được tập trung lại và xuất vào các xe tải chở về thành phố hay những nơi tiêu thụ khác. Sấu bắt đầu cho quả sau 7-8 năm, sản lượng quả sẽ tăng dần cho tới hơn 30 năm sau nữa. Có thể khai thác gỗ sấu ở tuổi 40 hoặc hơn. Quả hái vào dịp hè thu, rửa sạch hay gọt vỏ để nấu canh chua, lấy cơm làm mứt. Quả có thể được gọt, rạch dao thành các đường xoắn ốc, ngâm với đường làm si-rô. Đối với quả và hạt có nhiệm vụ tái sinh, khi vỏ quả chuyển sang màu vàng, thu hái trên những cây đứng, khỏe mạnh, có tuổi từ 8 năm trở lên, bóc bỏ phần cơm và vỏ (dùng cho tác dụng khác), hạt đem ngâm vào nước rồi xát sạch thịt quả, hong khô và bảo quản nơi khô ráo. Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn Sấu được trồng thành vườn, thậm chí thành trang trại, người ta lợi dụng cả đường đi là nơi trồng sấu, vừa có tác dụng tạo bóng mát, mỹ quan lại có giá trị kinh tế bởi sản lượng quả của sấu hàng năm là rất lớn, mang lại lợi nhuận cao mà lại tốn ít công chăm sóc, bảo vệ. Quả sấu được ưa chuộng trên thị trường là vì dễ chế biến, bảo quản và sử dụng một cách dễ dàng, đặc biệt là tính đa tác dụng và chất lượng các sản phẩm từ quả Sấu. Phát triển thành một nguồn cung cấp đầu vào cho công nghiệp thực phẩm, dược phẩm. Tài liệu tham khảo 1. Nguyễn Tiến Bân, Bùi Minh Đức (chủ biên), 1994. Một số rau dại ăn được ở Việt Nam: 212-213. Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội; 2. Đỗ Huy Bích và cs., 2004. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập II, trang 718 - 719.
  4. Nxb Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội; 3. Võ Văn Chi, 1997. Từ điển cây thuốc Việt Nam: 1037. Nxb Y học, Tp. Hồ Chí Minh; 4. Võ Văn Chi - Trần Hợp, 1999. Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập I: 277-279. Nxb Giáo dục, Hà Nội; 5. Phạm Hoàng Hộ, 2001. Cây cỏ Việt Nam, tập II:, 374. Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh; 6. Trần Hợp, 2002. Tài nguyên cây gỗ Việt Nam: 597. Nxb Nông nghiệp, Tp. Hồ Chí Minh; 7. Đỗ Tất Lợi (1999). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam: 762. Nxb Y học, Hà Nội; 8. Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003. Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập II: 944. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản