Đái tháo đường - những điều cần biết

Chia sẻ: De Monteiro Sheila | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:26

0
93
lượt xem
37
download

Đái tháo đường - những điều cần biết

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Những người thuộc nhóm nguy cơ là: béo phì, thói quen ít vận động tay chân, gia đình có bệnh đái tháo đường, có bệnh tăng huyết áp, bị rối loạn mỡ máu, có bệnh xơ vữa động mạch, phụ nữ có tiền căn sinh con nặng ký (hơn 4kg), phụ nữ có tiền căn đái tháo đường thai kỳ, người trước đây có rối loạn đường huyết...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đái tháo đường - những điều cần biết

  1. Nhưng ngươi thuôc nhom nguy cơ la: beo phi, thoi quen it vân đông tay chân, gia đinh ̣ ́ ̀ ́ ̀ ́ ́ ̣ ̣ ̀ có bênh đai thao đương, có bênh tăng huyêt ap, bị rôi loan mơ mau, có bênh xơ vưa ̣ ́ ́ ̣ ́ ́ ́ ̣ ́ ̣ đông mach, phụ nư có tiên căn sinh con năng ký (hơn 4kg), phụ nư có tiên căn đai thao ̣ ̣ ̀ ̣ ̀ ́ ́ đương thai ky, ngươi trươc đây có rôi loan đương huyêt… Nhưng ngươi nay nên đi ̀ ́ ̣ ́ ̀ kiêm tra đương huyêt đinh kỳ (có thể là môi năm). ̉ ́ ̣ ̃ Khi đương huyêt tăng cao nhiêu, ngươi bênh thương có biêu hiên: khat, khô miêng, ́ ̀ ̣ ̉ ̣ ́ ̣ uông nhiêu, tiêu nhiêu, đêm đi tiêu 2-3 lân hoăc hoăc nhiêu hơn, sut cân, mêt moi. Môt ́ ̀ ̉ ̀ ̉ ̀ ̣ ̣ ̀ ̣ ̣ ̉ ̣ số biêu hiên khac it găp hơn như: mơ măt, tê tay chân, ngưa da, nhiêm trung da lâu lanh, ̉ ̣ ́ ́ ̣ ́ ̃ ̀ ̀ nươc tiêu có kiên bu… ̉ ́ Đái tháo đường Chỉ mục bai viết ̀ Đái tháo đương Nguyên nhân Triệu chưng Khi nào cần đến sự can thiệp của bác sĩ Lâm sàng & Cận lâm sàng Điều trị Nhưng bươc tiếp theo Tất cả các trang Đái tháo đương là tên chung của một nhóm bệnh có biểu hiện là cơ thể không thể điều hòa được lượng đương (đặc biệt là glucose) có trong máu. Glucose trong máu cung cấp năng lượng cho các hoạt động hằng ngày chẳng hạn như đi bộ, đạp xe, tập thể thao, và làm việc nhà. • Glucose được gan sản xuất từ thưc ăn hằng ngày (gan là cơ quan nằm bên trái bụng, gần dạ dày). • Ở ngươi khỏe mạnh, nồng độ glucose trong máu được điều hòa bởi một số loại hormon, trong đó có insulin. Insulin được sản xuất từ tụy, một cơ quan nhỏ nằm giưa dạ dày và gan. Tụy tiết ra nhưng enzyme quan trọng giúp tiêu hóa thưc ăn. • Insulin giúp glucose đi từ gan vào máu, cơ và nhưng tế bào mơ, nhưng nơi cần nó để làm nhiên liệu. • Nhưng ngươi bị đái tháo đương là do cơ thể không sản xuất đủ insulin (đái tháo đương type I) hoặc không sử dụng được insulin một cách hiệu quả (đái tháo đương type II), hoặc có thể gặp cả hai trương hợp nêu trên.
  2. • Ở bệnh đái tháo đương, glucose trong máu không di chuyển vào trong tế bào được nên nó vẫn nằm lại ở đó. Điều này không chỉ gây hủy hoại các tế bào vốn cần glucose để làm nhiên liệu hoạt động mà còn gây hủy hoại một số cơ quan hoặc mô của cơ thể do bị tiếp xúc vơi glucose nồng độ cao. Đái tháo đường type 1. Cơ thể ngừng sản xuất insuline hoặc lượng insulin được sản xuất quá ít không đủ để điều hòa lượng glucose có trong máu. • Đái tháo đương type 1 chiếm khoảng 10% các trương hợp bị đái tháo đương ở M ỹ. • Đái tháo đương type 1 thương gặp ở trẻ em hoặc thiếu niên. Còn được biết đến vơi cái tên "Đái tháo đương tuổi vị thành niên" hoặc "Đái tháo đương phụ thuộc insulin" • Đái tháo đương type 1 cũng có thể gặp ở nhưng ngươi lơn tuổi hơn do tụy bị hủy hoại bởi rượu, bệnh tật hoặc bị phẫu thuật cắt bỏ. Nó cũng có thể là kết quả của bệnh suy tế bào beta tuyến tụy tiến triển, vốn là nhưng tế bào sản xuất insulin. • Nhưng bệnh nhân bị đái tháo đương type 1 cần phải được điều trị bằng insulin mỗi ngày để duy trì cuộc sống. Đái tháo đường type 2. Tụy có khả năng sản xuất insulin được nhưng cơ thể mất khả năng sử dụng được lượng insulin này (một phần hay hoàn toàn). Hiện tượng này đôi khi được gọi là đề kháng insulin. Cơ thể cố gắng chống lại sự đề kháng này bằng cách chế tiết insulin nhiều hơn. Nhưng ngươi bị đề kháng insulin sẽ phát triển thành bệnh đái tháo đương type 2 khi cơ thể của họ không thể tiếp tục chế tiết đủ insulin để đáp ưng vơi nhu cầu cao hơn. • Có ít nhất 90% bệnh nhân đái tháo đương bị đái tháo đương type 2. • Đái tháo đương type 2 thương gặp ở tuổi trưởng thành, thương là sau 45 tuổi. Nó cũng thương được gọi là "đái tháo đương tuổi trưởng thành" hoặc "đái tháo đương không phụ thuộc insulin". Nhưng tên gọi này đã không còn được dùng nưa vì đái tháo đương type 2 cũng có thể xảy ra ở ngươi trẻ và một số bệnh nhân cũng cần phải sử dụng insulin để điều trị. • Đái tháo đương type 2 thông thương có thể kiểm soát được bằng chế độ ăn, giảm cân, thể thao, và thuốc uống. Hơn 50% bệnh nhân đái tháo đương type 2 cần sử dụng insulin để kiểm soát đương huyết ở một số giai đoạn tiến triển của bệnh. Đái tháo đường thai kỳ là một thể đái tháo đương xảy ra trong nửa cuối thai kỳ • Mặc dù đái tháo đương thai kỳ thương sẽ khỏi sau khi sinh tuy nhiên nhưng phụ nư bị bệnh này sẽ dễ bị đái tháo đương type 2 hơn nhưng phụ nư khác sau này. • Nhưng phụ nư bị đái tháo đương thai kỳ dễ sinh con to. Hội chứng chuyển hóa (còn được gọi là hội chưng X) là một nhóm nhưng biểu hiện bất thương trong đó đái tháo đương type 2 hầu như luôn hiện diện cùng vơi tăng huyết áp, mơ máu cao (tăng lipid máu, nổi bật là tăng LDL, giảm HDL và tăng triglyceride), béo phì trung tâm, và bất thương đông máu và phản ưng viêm. Một tỷ lệ lơn bệnh tim mạch cũng có liên quan đến hội chưng chuyển hóa. Tiền đái tháo đường là tình trạng đương huyết cao hơn mưc bình thương nhưng không đủ cao để được chẩn đoán là đái tháo đương.
  3. • Tiền đái tháo đương làm gia tăng nguy cơ bị đái tháo đương type 2 và bệnh tim mạch hay đột quỵ. • Thông thương tiền đái tháo đương có thể khỏi mà không cần sử dụng insulin hoặc thuốc bằng cách giảm cân vừa phải và gia tăng các hoạt động thể lực. Cách giảm cân này có thể phòng ngừa, hay ít nhất là làm chậm lại, sự khởi phát của đái tháo đương type 2. • Ủy ban quốc tế của hiệp hội đái tháo đương Hoa Kỳ đã định nghĩa lại tiêu chuẩn chẩn đoán của tiền đái tháo đương, hạ thấp mưc đương huyết giơi hạn của tiền đái tháo đương, do đó có thêm khoảng 20% ngươi trưởng thành được xem là bị tiền đái tháo đương và có thể phát triển thành đái tháo đương trong vòng 10 năm tơi nếu không tập thể dục hoặc giảm cân thích hợp. Tỷ lệ ngươi bị đái tháo đương gia tăng nhanh chóng do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là sự gia tăng tỷ lệ nhưng ngươi bị béo phì và thương xuyên ngồi một chỗ nhiều. Các biến chứng của đái tháo đường Những biến chứng chính của đái tháo đường Cả hai thể đái tháo đương đều dẫn đến sự gia tăng lượng đương trong máu. Nếu kéo dài, có thể sẽ gây tổn thương võng mạc, thận, thần kinh, và mạch máu. • Tổn thương võng mạc có thể dẫn đến mù. • Tổn thương thận có thể gây suy thận.
  4. • Tổn thương thần kinh có thể gây ra nhưng vết thương và loét ở bàn chân, thương phải cắt cụt bàn và cẳng chân. • Tổn thương các dây thần kinh thuộc hệ thần kinh tự chủ có thể dẫn đến liệt dạ dày, tiêu chảy mạn, và không kiểm soát được tần số tim và huyết áp khi thay đổi tư thế. • Đái tháo đương cũng thúc đẩy xơ vưa động mạch (hình thành nhưng mảng chất béo bên trong động mạch) có thể dẫn đến hẹp hoặc tắc nghẽn. Nhưng thay đổi này có thể dẫn đến cơn suy tim cấp, đột quỵ và giảm lưu lượng tuần hoàn đến tay và chân (bệnh lý mạch máu ngoại biên). • Đái tháo đương có thể dẫn đến tăng huyết áp và tăng cholesterol, triglycerid. Nhưng bệnh này tiến triển độc lập kết hợp vơi đái tháo đương để gia tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch, bệnh thận, và nhưng biến chưng về mạch máu khác. Trong giai đoạn ngắn, đái tháo đương có thể gây ra nhưng tình trạng cấp tính sau: • Nhiều bệnh nhiễm trùng có thể liên quan đến đái tháo đương, và ở nhưng ngươi bị đái tháo đương, nhiễm trùng trở nên nguy hiểm hơn vì khả năng chống đơ của cơ thể đối vơi các tác nhân nhiễm trùng đã bị bệnh đái tháo đương làm cho suy yếu đi. Nhiễm trùng cũng có thể làm khả năng kiểm soát đương huyết của cơ thể trở nên tồi tệ hơn dẫn đến làm chậm trễ tiến trình phục hồi của cơ thể sau nhiễm trùng. • Hạ đường huyết có thể xảy ra từ từ ở hầu hết bệnh nhân đái tháo đương do sử dụng quá nhiều thuốc đái tháo đương hoặc insulin (còn được gọi là phản ưng insulin), bỏ bưa ăn, tập thể dục nhiều quá mưc bình thương, uống quá nhiều rượu, hoặc uống thuốc để điều trị một bệnh khác. Việc nhận biết các dấu hiệu hạ đương huyết và chuẩn bị sẵn sàng điều trị nó là rất quan trọng. Nhưng triệu chưng thương gặp là nhưc đầu, hoa mắt, kém tập trung, run tay và vã mồ hôi. Bệnh nhân có thể sẽ bị ngất nếu như đương huyết xuống quá thấp. • Nhiễm ceton acid do đái tháo đường: đây là một tình trạng nguy kịch được gây ra do đương huyết trong máu cao không được kiểm soát kéo dài (thương là do thiếu insulin hoàn toàn hoặc một phần) dẫn đến sự tích tụ nhưng sản phẩm thừa có tính acid trong máu có tên là ceton. Nồng độ ceton cao trong máu rất nguy hiểm. Tình trạng này thương gặp ở nhưng ngươi bị đái tháo đương type 1 không kiểm soát tốt đương huyết. Nhiễm ceton acid có thể bị thúc đẩy bởi nhiễm trùng, stress, chấn thương, không sử dụng thuốc, hoặc nhưng tình trạng cấp cưu như trụy tim mạch và đột quỵ. Hội chứng tăng áp lực thẩm thấu không do ceton: đây là một tình trạng nguy kịch gây ra do đương huyết trong máu rất cao. Cơ thể cố gắng chống cự lại bằng cách thải lượng đương dư ra ngoài nươc tiểu. Điều này là gia tăng lượng nươc tiểu đáng kể và thương dẫn đến thiếu nươc nặng, có thể gây tai biến, hôn mê, và thậm chí là tử vong. Hội chưng này thương gặp ở nhưng bệnh nhân bị đái tháo đương type 2 không kiểm soát mưc đương huyết, hoặc nhưng ngươi bị thiếu nươc, bị stress, tổn thương, đột quỵ hoặc đang sử dụng một số loại thuốc, chẳng hạn như steroid. NGUYÊN NHÂN Đái tháo đường type 1: đái tháo đương type 1 được cho là do bệnh tự miễn. Hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công nhưng tế bào tuyến tụy sản xuất insulin. • Có tính chất gia đình ở một số trương hợp, tuy nhiên nguyên nhân do di truyền thương gặp hơn ở đái tháo đương type 2.
  5. • Yếu tố môi trương, bao gồm nhiễm siêu vi không tránh được, cũng có thể là một tác nhân đóng góp. • Đái tháo đương type 1 thương gặp nhất ở nhưng ngươi không có nguồn gốc La tinh, Bắc Âu (đặc biệt là ở Phần Lan và Sardinia), sau đó là dân Mỹ gốc Phi, dân Mỹ có nguồn gốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Ít gặp ở Châu Á. • Đái tháo đương type 1 ở nam nhiều hơn một ít so vơi nư. Đái tháo đường type 2: có tính di truyền mạnh, có nghĩa là đái tháo đương type 2 có khuynh hương phát triển theo gia đình. Một số loại gen đã được xác định và một số khác đang trong giai đoạn nghiên cưu được nghi ngơ là nguyên nhân gây ra đái tháo đương type 2. Yếu tố nguy cơ của đái tháo đương type 2 bao gồm: • Tăng huyết áp • Tăng triglyceride (mơ) máu. • Đái tháo đương thai kỳ hoặc sinh con nặng hơn 4kg • Chế độ ăn nhiều chất béo. • Uống nhiều rượu • Ngồi nhiều • Béo phì hoặc thừa cân. • Chủng tộc, đặc biệt khi có nhưng ngươi thân bị đái tháo đương type 2 hoặc bị đái tháo đương thai kỳ. • Tuổi tác: sự gia tăng tuổi tác là yếu tố nguy cơ rõ rệt của đái tháo đương type 2. Nguy cơ bắt đầu tăng rõ rệt ở tuổi 45 và tăng đáng kể sau 65 tuổi. TRIỆU CHỨNG Triệu chứng của đái tháo đường type 1 thương xuất hiện đột ngột. • Đái tháo đương type một thương gặp ở trẻ em hoặc giai đoạn sơm của tuổi trưởng thành, thương đi kèm vơi nhưng bệnh khác như bị nhiễm virus hoặc nhiễm trùng đương niệu hoặc bị tổn thương. • Gia tăng thêm stress có thể gây ra nhiễm ceton acid. • Triệu chưng của nhiễm ceton acid bao gồm nôn và buồn nôn. Thiếu nươc và thương gặp rối loạn nghiêm trọng nồng độ kali trong máu. • Nếu không được điều trị, nhiễm ceton acid có thể dẫn đến hôn mê và tử vong. Triệu chứng của đái tháo đường type 2 thương khó phát hiện và có thể bị cho là nguyên nhân do tuổi già và béo phì gây nên. • Bệnh nhân có thể đã bị đái tháo đương type 2 trong nhiều năm mà không phát hiện ra. • Bệnh nhân đái tháo đương type 2 có thể tiến triển thành hội chưng tăng áp lực thẩm thấu không liên quan đến cetone. • Diễn tiến của đái tháo đương type 2 có thể bị thúc đẩy nhanh hơn bởi thuốc có chưa steroid và stress. • Nếu không được điều trị đúng cách, đái tháo đương type 2 có thể gây ra các biến chưng như mù, suy thận, bệnh tim mạch và tổn thương thần kinh. Những triệu chứng chung của cả 2 type đái tháo đường thường gặp: • Mệt mỏi: khi bị đái tháo đương, cơ thể giảm hay đôi khi không còn khả năng sử dụng glucose để tạo năng lượng nưa. Do đó, cơ thể phải chuyển sang dùng mơ, một phần hay hoàn toàn, để tạo ra năng lượng. Quá trình này đòi hỏi cơ
  6. thể phải sử dụng năng lượng nhiều hơn và kết quả cuối cùng là ngươi bệnh sẽ cảm thấy mệt mỏi thương xuyên. • Giảm cân không rõ nguyên nhân: bệnh nhân bị đái tháo đương không thể xử lý được calori trong thưc ăn dẫn đến giảm cân ngay cả khi ăn đủ hay thậm chí là ăn nhiều. Mất đương và nươc qua nươc tiểu cũng là một tác nhân góp phần vào triệu chưng giảm cân này. • Khát nước nhiều: Bệnh nhân bị đái tháo đương có mưc đương huyết cao làm lấn át khả năng giư lại đương của thận khi lọc máu để tạo thành nươc tiểu. Một lượng nươc tiểu lơn được hình thành khi thận bị đầy tràn đương. Cơ thể cố gắng chống lại hiện tượng này bằng cách gửi một tín hiệu lên não để làm máu loãng ra bằng cách tạo cảm giác khát, đòi hỏi phải đưa vào cơ thể thêm nhiều nươc để làm loãng nồng độ đương trong máu đang cao trở về mưc bình thương và để bù vào lượng nươc bị mất do tiểu nhiều. • Tiểu nhiều: một cách khác giúp cơ thể thoát khỏi tình trạng dư thừa đương là thải đương ra ngoài qua nươc tiểu. Hiện tượng này sẽ làm cơ thể bị thiếu nươc do khi thải đương ra ngoài cơ thể sẽ mang theo một lượng lơn nươc cũng đi ra theo chung vơi nó. • Ăn nhiều: nếu cơ thể vẫn còn đủ khả năng, nó sẽ tiết ra nhiều insulin hơn để đối phó vơi tình trạng nồng độ đương cao trong máu. Hơn nưa, cơ thể trở nên đề kháng vơi hoạt động của insulin trong đái tháo đương type 2. Một trong nhưng chưc năng của insulin là kích thích cảm giác đói. Do đó, nồng độ insulin cao trong cơ thể sẽ dẫn đến tăng cảm giác đói và muốn ăn. Bất chấp sự gia tăng lượng calori nhập vào cơ thể, ngươi bệnh có thể chỉ tăng cân rất ít hay thậm chí là giảm cân. • Chậm lành vết thương: nồng độ đương cao trong máu ngăn chặn bạch cầu hoạt động bình thương (bạch cầu là nhưng tế bào đóng vai trò quan trọng trong chưc năng tự bảo vệ của cơ thể chống lại vi trùng và nó cũng dọn dẹp nhưng mô và tế bào chết). Khi bạch cầu hoạt động không bình thương, các vết thương trở nên lâu lành hơn và bị nhiễm trùng thương xuyên hơn. Ngoài ra, đái tháo đương kéo dài còn dễn đến dày thành của các mạch máu gây cản trở các tế bào máu có chưa oxy và chất dinh dương đến nuôi các mô của cơ thể. • Nhiễm trùng: một số hội chưng nhiễm trùng, như nhiễm nấm sinh dục, nhiễm trùng da, nhiễm trùng đương niệu do hệ thống miễn dịch đã bị ưc chế bởi bệnh đái tháo đương và bởi sự hiện diện của glucose trong mô (giúp vi khuẩn phát triển tốt). Nó cũng là dấu hiệu chỉ điểm cho biết có sự kiểm soát đương huyết kém ở nhưng bệnh nhân đái tháo đương. • Thay đổi về trạng thái tâm thần: nhưng biểu hiện như lo âu, cáu gắt vô cơ, mất tập trung, ngủ mê, hoặc lẫn lộn cũng đều có thể là dấu hiệu của tình trạng đương huyết rất cao, nhiễm ceton acid, hội chưng tăng áp lực thẩm thấu, hoặc hạ đương huyết. Do đó, khi thấy bất kỳ một biểu hiện nào kể trên ở nhưng bệnh nhân đái tháo đương, cần phải gọi điện thoại cấp cưu để có được sự can thiệp của bác sĩ. • Nhìn mờ: triệu chưng này không đặc hiệu cho đái tháo đương nhưng cũng thương hay xuất hiện khi mưc đương huyết lên cao. KHI NÀO CẦN ĐẾN SỰ CAN THIỆP CỦA BÁC SĨ Nếu bạn hoặc ngươi quen tuy chưa biết mình có bị đái tháo đương hay không nhưng lại có bất kỳ một triệu chưng nghi ngơ nào của đái tháo đương, hãy đến gặp bác sĩ ngay khi có thể. Khi đến khám, bạn nên nói cho bác sĩ biết mối lo lắng của bạn về đái tháo đương để ông/cô ta có thể cho bạn đi làm nhưng xét nghiệm cần thiết về đương huyết.
  7. Nếu một bệnh nhân đã biết mình đang bị đái tháo đương, hãy đến khám ngay lập tưc nếu như có nhưng triệu chưng sau: • Xuất hiện nhưng triệu chưng của đái tháo đương. Điều này có nghĩa là mưc đương huyết của bạn đang không được kiểm soát dù đang điều trị. • Nồng độ đương huyết cao hơn 200 mg/dL. Nồng độ đương huyết cao kéo dài là nguồn gốc của tất cả nhưng biến chưng do đái tháo đương. • Nồng độ đương huyết của bệnh nhân thấp (dươi 60 mg/dL). Điều này có nghĩa là bệnh nhân đã được điều trị quá mưc cần thiết. Nó cũng có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng hoặc nhưng stress khác của hệ thống như suy thận, suy gan, suy tuyến thượng thận, hoặc do tác dụng của nhưng loại thuốc khác đang được sử dụng cùng lúc. • Bệnh nhân bị vết thương ở bàn hay cẳng chân, dù nhỏ. Ngay cả một vết cắt nhỏ nhất hay một vết bỏng cũng có thể trở nên rất nghiêm trọng ở nhưng bệnh nhân đái tháo đương. Chẩn đoán và điều trị sơm cùng vơi chăm sóc chân tốt là yêu cầu cần thiết để bảo tồn chưc năng của chân và tránh cho bệnh nhân khỏi phải bị cắt cụt chân. • Bệnh nhân bị sốt nhẹ (thấp hơn 38.5°C). Sốt là dấu hiệu của nhiễm trùng. Ở nhưng bệnh nhân đái tháo đương, nhưng nhiễm trùng thông thương có thể sẽ trở nên nguy hiểm hơn so vơi nhưng ngươi bình thương. Lưu ý đến bất kỳ triệu chưng nào, chẳng hạn như tiểu rát, đỏ hay sưng phồng da, đau bụng, đau ngực, hay ho, đó có thể là nhưng dấu hiệu chỉ điểm vị trí của nhiễm trùng. • Bệnh nhân bị nôn, hoặc buồn nôn nhưng cố gượng lại được. Nôn ói kéo dài có thể là dấu hiệu của nhiễm ceton acid, một tình trạng đe dọa đến tính mạng, cũng có thể là triệu chưng của một số bệnh nặng nề khác. • Bệnh nhân có một vết loét ở bàn hay cẳng chân. Bất kỳ một vết loét nào ở bàn hay cẳng chân của ngươi bị đái tháo đương cũng cần phải được đưa đến khám ngay lập tưc. Một vết loét ngắn hơn 2.5 cm, không chảy mủ và không để lộ nhưng mô bên dươi hoặc xương ra ngoài có thể được đánh giá một cách an toàn bởi bác sĩ nếu bệnh nhân không bị sốt và đương huyết vẫn được kiểm soát tốt. Khi đến khám bệnh, hãy nói vơi bác sĩ rằng bạn đang bị đái tháo đương hoặc đang nghi ngơ về điều đó. • Có thể bạn sẽ được đưa đến chỗ một y tá và ngươi này sẽ hỏi bạn một số câu hỏi và cho bạn một số lơi khuyên về nhưng việc nên làm. • Hãy chuẩn bị tốt cho cuộc trao đổi này. Lập ra một danh sách nhưng loại thuốc bạn đang uống, nhưng vấn đề về sưc khỏe mà bạn gặp phải, nhưng loại thuốc bạn bị dị ưng, và nồng độ đương huyết bạn đo được hằng ngày. • Y tá có thể sẽ cần một số hoặc tất cả nhưng thông tin trên để quyết định xem mưc độ nguy cấp của bệnh và cách giải quyết tốt nhất cho vấn đề của bạn. Những tình trạng cấp cứu • Bệnh nhân bị biến chưng nặng do đái tháo đương cần phải được đưa đến phòng cấp cưu ngay lập tưc. • Nên để một ngươi đi theo để trao đổi vơi bác sĩ nếu bệnh nhân không thể nói được. • Mang kèm một danh sách nhưng loại thuốc đang uống, nhưng vấn đề về sưc khỏe gặp phải, nhưng loại thuốc bị dị ưng, và nồng độ đương huyết đo được hằng ngày của ngươi bệnh theo đến phòng cấp cưu. Nhưng thông tin này sẽ giúp các bác sĩ chẩn đoán được bệnh và điều trị đúng.
  8. Dươi đây là nhưng tình trạng cần phải đến phòng cấp cưu ngay lập tưc: • Thay đổi trạng thái tâm thần: ngủ mê, lo âu, hay quên, hoặc là nhưng hành động lạ cũng có thể là biểu hiện của mưc đương huyết xuống quá thấp hay lên quá cao. o Nếu đã biết ngươi bệnh bị đái tháo đương, thử cho ngươi bệnh ăn trái cây (khoảng 170 gr) hoặc bánh nếu bệnh nhân đủ tính táo để nuốt thưc ăn bình thương mà không bị nghẹn. Tránh cho bệnh nhân ăn nhưng thưc ăn cưng như kẹo do nó có thể nằm lại bên trong cổ họng. Bác sĩ có thể sẽ cho ăn nhưng loại bánh đương có thể tan được dươi lươi. o Nếu bệnh nhân không thể tỉnh dậy và có ý thưc bình thương được trong vòng 15 phút, hãy gọi cấp cưu. o Nếu không biết ngươi bệnh có bị đái tháo đương hay không, nhưng triệu chưng trên có thể là dấu hiệu của đột quỵ, ngộ độc thuốc, ngộ độc rượu, thiếu oxy và một số tình trạng nguy hiểm khác, hãy gọi cấp cưu ngay lập tưc. • Buồn nôn hoặc nôn: nếu bệnh nhân không thể nuốt thưc ăn, thuốc, các chất lỏng xuống dạ dày, có thể đây là dấu hiệu của nhiễm ceton acid, hội chưng tăng áp lực thẩm thấu, hoặc nhưng biến chưng khác của đái tháo đương. o Nếu bệnh nhân đã được dùng liều insulin hoặc thuốc điều trị đái tháo đương đủ, không nên cho thêm mà không có ý kiến của bác sĩ. o Nếu bệnh nhân bị hạ đương huyết, cho thêm liều insulin hoặc thuốc đái tháo đương sẽ chỉ làm cho mưc đương huyết hạ xuống thấp hơn nưa, có thể là xuống đến mưc nguy hiểm. • Sốt cao hơn 38.5°C: đưa bệnh nhân đái tháo đương đến phòng cấp cưu nếu bị sốt cao. Lưu ý bất kỳ một triệu chưng nào khác, chẳng hạn như ho, tiểu rát, đau bụng hoặc đau ngực. • Mức đường huyết tăng cao: khi mưc đương huyết tăng lên cao quá 400 mg/dL. Mưc đương huyết tăng quá cao có thể là dấu hiệu của nhiễm ceton acid do đái tháo đương hoặc hội chưng tăng áp lực thẩm thấu, tùy thuộc vào type đái tháo đương nào mà bạn bị. Cả hai tình trạng trên đều có thể gây tử vong nếu không được điều trị đúng cách. • Vết loét lớn ở bàn chân hay cẳng chân: nếu bệnh nhân bị đái tháo đương có vết loét vơi đương kính lơn hơn 2.5 cm có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng chi dươi. o Nhưng dấu hiệu và triệu chưng khác cần phải được cấp cưu là nhưng vết thương lộ xương và mô bên dươi, một khu vực lơn xung quanh bị đỏ tấy, nóng, sưng và đau nhiều ở bàn hay cẳng chân. o Nếu không điều trị thì có thể sẽ buộc phải cắt cụt chi dươi. • Vết cắt hay vết đứt: bất kỳ một vết cắt nào làm xuyên thủng tất cả các lơp da, đặc biệt là ở cẳng chân đều có khả năng gây nguy hiểm cho bệnh nhân đái tháo đương. Chăm sóc vết thương tốt đặc biệt quan trọng đối vơi bệnh nhân bị đái tháo đương để bảo đảm vết thương có thể lành tốt. • Đau ngực: nếu bệnh nhân đái tháo đương bị đau ngực nặng nề, đặc biệt là ở giưa hoặc ở ngực trái, hãy đến khám bệnh ngay lập tưc. o Bệnh nhân bị đái tháo đương dễ bị cơn suy tim cấp hơn là nhưng ngươi bình thương, có thể có đau ngực hoặc không. o Nhịp tim bất thương hoặc nhịp thở ngắn không rõ nguyên nhân cũng có thể là dấu hiệu của cơn suy tim cấp. • Đau bụng nặng nề: tùy thuộc vào vị trí đau, đây có thể là dấu hiệu của cơn suy tim cấp, phình động mạch chủ bụng, nhiễm ceton acid, máu không đến được ruột.
  9. o Tất cả nhưng tình trạng trên thương gặp ở bệnh nhân đái tháo đương hơn ở ngươi bình thương và có khả năng đe dọa mạng sống. o Nhưng ngươi bị đái tháo đương cũng có thể bị đau bụng do nhưng nguyên nhân hay gặp khác như viêm ruột thừa, loét thủng, viêm và nhiễm trùng túi mật, sỏi niệu, tắc ruột. o Đau nặng ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể cũng đều là dấu hiệu báo động cần phải đi khám bệnh. LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG Bác sĩ có thể cho nhưng xét nghiệm đặc hiệu trong chẩn đoán đái tháo đương và cũng có thể kiểm tra mưc độ kiểm soát đương huyết ở nhưng bệnh nhân đái tháo đương. Nếu bệnh nhân có triệu chưng nghi ngơ nhưng chưa được chẩn đoán là đái tháo đương lần nào thì luôn cần phải đánh giá một cách đầy đủ bằng cách hỏi bệnh sử và thăm khám lâm sàng. Bác sĩ sẽ đánh giá bệnh nhân về nhưng triệu chưng, yếu tố nguy cơ đối vơi đái tháo đương, nhưng bệnh đã bị trươc đây, nhưng loại thuốc hiện đang dùng, các thuốc bị dị ưng, gia đình có ai bị đái tháo đương hay không và nhưng vấn đề về sưc khỏe khác chẳng hạn như cholesterol cao hoặc bệnh tim mạch, và thói quen cá nhân cùng vơi lối sống. Một số xét nghiệm có thể được sử dụng để xác định chẩn đoán. Thử đường huyết trên ngón tay: đây là một xét nghiệm dùng để tầm soát nhanh và có thể thực hiện được ở bất kỳ đâu. • Xét nghiệm này không cho kết quả chính xác bằng cách thử máu bệnh nhân ở phòng xét nghiệm nhưng dễ thực hiện và cho kết quả ngay lập tưc. • Xét nghiệm được thực hiện bằng cách đâm vào ngón tay của bệnh nhân để lấy mẫu máu, sau đó đặt vào một que thử, đưa que thử vào máy để đọc kết quả đương huyết. Máy thử chỉ cho kết quả chính xác trong khoảng 10% so vơi giá trị thực được đo ở phòng xét nghiệm. • Xét nghiệm này có thể cho kết quả thiếu chính xác hoặc quá cao hoặc quá thấp, do đó nó chỉ được dùng trong nhưng nghiên cưu tầm soát sơ bộ. Đây là cách mà hầu hết nhưng bệnh nhân bị đái tháo đương dùng để theo dõi đương huyết tại nhà.
  10. Thử đường huyết lúc đói: bệnh nhân được yêu cầu không được ăn uống bất kỳ thư gì trong vòng 8 giơ trươc khi lấy máu (thương là vào đầu buổi sáng). Nếu nồng độ đương huyết bằng hoặc cao hơn 126 mg/dL mà không ăn uống gì, có thể bệnh nhân đã bị đái tháo đương. • Nếu kết quả bất thương, xét nghiệm này sẽ được thực hiện lại vào một ngày khác để khẳng định lại kết quả, hoặc bệnh nhân sẽ được cho thử test dung nạp glucose qua đương uống hoặc cho đo glycosylated hemoglobin (còn được gọi là hemoglobin A1c) để xác định chẩn đoán. • Nếu kết quả đương huyết cao hơn 100 nhưng thấp hơn 126 mg/dL, bệnh nhân được chẩn đoán là rối loạn đương huyết lúc đói (IFG - impaired fasting glucose). Đây được xem là giai đoạn tiền đái tháo đường. Bệnh nhân không bị đái tháo đương nhưng có nguy cơ cao tiến triển thành đái tháo đương trong một tương lai gần. Test dung nạp glucose qua đường uống: cách thực hiện bao gồm: lấy máu để thử đương huyết lúc đói, sau đó lấy máu lần thư hai 2 giơ sau khi uống nươc có chưa 75 gr đương. • Nếu đương huyết sau khi uống nươc đương cao hơn hoặc bằng 200 mg/dL thì có thể kết luận bệnh nhân bị đái tháo đương. • Nếu đương huyết nằm trong khoảng 140 - 199, thì bệnh nhân được chẩn đoán là giảm dung nạp glucose (IGT - Impaired glucose tolerance), đây cũng được xem là giai đoạn tiền đái tháo đường.
  11. Glycosylated hemoglobin hoặc hemoglobin A1c: đây là xét nghiệm đo nồng độ đương trong máu trong vòng 120 ngày trươc đó (dựa vào đơi sống trung bình của hồng cầu). • Glucose thừa trong máu bị gắn vào hemoglobin trong hồng cầu và nằm ở đó trong suốt giai đoạn sống của hồng cầu. • Ngươi ta có thể đo được tỷ lệ hemoglobin có gắn glucose thừa trong máu. Xét nghiệm này cũng cần phải lấy một ít máu làm mẫu thử. • Xét nghiệm hemoglobin A1c (HbA1c) là phương pháp tốt nhất để kiểm tra mưc độ kiểm soát đương huyết ở bệnh nhân bị đái tháo đương. HbA1c cho kết quả bằng hoặc thấp hơn 7% có nghĩa là đương huyết được kiểm soát tốt. Nếu kết quả bằng hoặc cao hơn 8% cho biết đương huyết đã tăng quá cao trong thơi gian dài. • HbA1c có ích trong theo dõi bệnh hơn là trong chẩn đoán bệnh. Mặc dù vậy, HbA1c cho kết quả cao hơn 6.1% gợi ý nhiều đến đái tháo đương. Thông thương thì trong trương hợp đó cần phải thực hiện một xét nghiệm khác có tính xác nhận trươc khi có thể chẩn đoán là bệnh nhân đã bị đái tháo đương. • Thương xét nghiệm này sẽ được thực hiện mỗi 3 đến 6 tháng ở nhưng bệnh nhân đái tháo đương và nó được thực hiện thương xuyên hơn đối vơi nhưng ngươi gặp khó khăn trong kiểm soát đương huyết. • Xét nghiệm này không được dùng cho nhưng ngươi không bị đái tháo đương hoặc không bị gia tăng nguy cơ đái tháo đương. • Giá trị bình thương của xét nghiệm này thay đổi tùy theo các phòng xét nghiệm mặc dù đã có sự nỗ lực để chuẩn hóa các phương thưc thực hiện. Chẩn đoán các biến chứng của đái tháo đường Bệnh nhân bị đái tháo đương cần phải được kiểm tra thương xuyên để phát hiện ra nhưng dấu hiệu sơm của biến chưng và đôi khi cũng cần phải có sự tham gia của các bác sĩ chuyên khoa. • Bệnh nhân nên được khám mắt định kỳ ít nhất 1 lần mỗi năm bởi bác sĩ nhãn khoa để tầm soát bệnh lý võng mạc do đái tháo đương có thể dẫn đến mù. • Cần phải thử nươc tiểu để tìm protein (microalbumin) ít nhất một hoặc 2 lần mỗi năm. Sự xuất hiện của protein trong nươc tiểu là dấu hiệu sơm của bệnh lý về thận của đái tháo đương, có thể gây ra suy thận.
  12. • Cũng cần nên kiểm tra cảm giác chân thương xuyên bằng âm thoa hoặc bằng một dây đơn. Bệnh lý thần kinh do đái tháo đương có thể gây loét ở chi dươi và thương dẫn đến việc phải cắt cụt bàn hoặc cẳng chân. • Bác sĩ cũng sẽ kiểm tra bàn chân, phần dươi cẳng chân để phát hiện ra nhưng vết đưt, vết xươc, vết phỏng hoặc nhưng tổn thương khác có thể bị nhiễm trùng. • Bệnh nhân cũng sẽ được tầm soát thương xuyên nhưng tình trạng có thể dẫn đến bệnh lý tim mạch như cao huyết áp, tăng cholesterol. ĐIỀU TRỊ Tại nhà Nếu bạn bị đái tháo đương, cần phải chọn một lối sống có lợi cho sưc khỏe ở chế độ ăn, luyện tập thể dục và nhưng thói quen sưc khỏe khác. Chúng sẽ giúp bạn cải thiện khả năng kiểm soát đương huyết và ngăn ngừa hoặc làm giảm thiểu các biến chưng do đái tháo đương. Chế độ ăn: một chế độ ăn lành mạnh là bí quyết để kiểm soát đương huyết và ngăn ngừa biến chưng. • Nếu bệnh nhân bị béo phì và gặp khó khăn trong chuyện tự giảm cân, hãy nói chuyện vơi bác sĩ để được giơi thiệu đến một chuyên gia về dinh dương hoặc một chế độ giảm cân có thể giúp bệnh nhân đạt được mục đích. • Ăn một bưa ăn cân bằng, thương xuyên và giàu chất xơ, ít chất béo bão hõa, ít đương. • Chế độ ăn đều đặn có cùng một lượng calori, cùng một thơi điểm trong ngày vào mỗi ngày giúp cho bác sĩ có thể kê toa thuốc điều trị đái tháo đương hoặc insulin vơi một liều lượng chính xác. • Nó cũng giúp giư đương huyết ở mưc bình thương và tránh làm đương huyết hạ xuống quá thấp hoặc tăng quá cao có thể gây nguy hiểm hoặc thậm chí là đe dọa tính mạng. Tập thể dục: luyện tập thể dục thương xuyên, bất kỳ hình thưc nào đều có thể làm giảm nguy cơ bị đái tháo đương. Các hoạt động thể lực cũng giúp là giảm nguy cơ bị các biến chưng của đái tháo đương như bệnh tim mạch, đột quỵ, suy thận, mù hoặc loét chân. • Đi bộ ít nhất 20 phút, 3 lần mỗi tuần đã được chưng minh là có hiệu quả tốt. Bất kỳ một bài tập luyện nào cũng có ích, không cần thiết là phải kéo dài hay nặng nề. • Nếu bệnh nhân bị nhưng biến chưng của đái tháo đương (mắt, thận hoặc thần kinh), họ có thể sẽ bị giơi hạn về thể loại cũng như số lượng các bài tập để bảo đảm an toàn, tránh làm tình trạng trở nên nặng nề hơn. Nên đến gặp bác sĩ nhơ tư vấn trươc khi bắt đầu chương trình luyện tập. Uống rượu: hạn chế uống rượu. Cố gắng uống ít hơn 7 ly mỗi tuần và không bao giơ uống nhiều hơn 2 hay 3 ly mỗi tối vơi 1 ly theo tiêu chuẩn quy định là bằng 45ml rượu, 170ml rượu vang, hoặc 340ml bia. Uống rượu quá nhiều được xem là yếu tố nguy cơ của đái tháo đương type 2. Uống rượu có thể gây tăng hay hạ đương huyết, đau dây thần kinh (còn được gọi là viêm dây thần kinh), tăng triglyceride vốn là một loại chất béo có trong máu.
  13. Hút thuốc: nếu bệnh nhân đái tháo đương có hút thuốc hoặc dùng bất kỳ dạng nào của thuốc lá đều có thể tăng nguy cơ của hầu hết các biến chưng của đái tháo đương. Thuốc lá có thể làm tổn thương các mạch máu và dẫn đến bệnh tim, đột quỵ, kém tươi máu đến các chi. Tự theo dõi đường huyết: kiểm tra đương huyết thương xuyên, ít nhất là trươc một bưa ăn và vào lúc đi ngủ sau đó ghi lại vào sổ. • Cũng có thể ghi thêm vào sổ nhưng thông tin như: liều lượng insulin và thuốc điều trị đái tháo đương mà bạn sử dụng, bạn đã ăn cái gì, vào lúc nào, bạn tập luyện lúc nào, trong bao lâu, nhưng sự kiện quan trọng diễn ra trong ngày chẳng hạn như tăng hay giảm đương huyết và cách điều trị như thế nào. • Hiện nay đã có nhưng thiết bị giúp thử đương huyết ít đau hơn và ít phưc tạp hơn bao giơ hết. Tuy nhiên, cuốn nhật ký theo dõi đương huyết mỗi ngày là không có ích đối vơi bác sĩ để kiểm tra xem bệnh nhân có đáp ưng vơi thuốc, chế độ ăn hay chế độ tập luyện hay không. Tại cơ sở y tế Phương thưc điều trị thay đổi theo từng bệnh nhân, tùy thuộc vào type đái tháo đương mà bệnh nhân đó mắc phải, nhưng bệnh khác mà bệnh nhân đó đang bị, có bị biến chưng của đái tháo đương hay chưa, tuổi tác, tình trạng sưc khỏe chung của bệnh nhân ở thơi điểm được chẩn đoán. • Có thể bác sĩ sẽ đặt cho bạn nhưng mục tiêu để thay đổi lối sống, kiểm soát đương huyết và điều trị. • Bệnh nhân và bác sĩ sẽ phải làm việc chung vơi nhau để cho ra một kế hoạch có thể giúp đạt được nhưng mục tiêu đó. Đái tháo đường type 1 Điều trị đái tháo đương luôn bao gồm tiêm insulin mỗi ngày, thương là kết hợp giưa insulin tác dụng ngắn [chẳng hạn như lispro (Humalog) hay aspart (NovoLog)] vơi insulin tác dụng dài [chawngr hạn như NPH, Lente, Glargine (Lantus), detemir, hoặc ultralente]. • Insulin phải được đưa vào cơ thể qua đương tiêm vì nếu đưa vào bằng đương miệng nó sẽ bị hủy bởi dạ dày trươc khi vào máu. • Hầu hết nhưng ngươi bị đái tháo đương type 1 đều có thể tự tiêm insulin cho mình. Ngay cả khi thương được ngươi khác tiêm insulin thì họ cũng cần phải biết cách tự tiêm cho mình trong nhưng trương hợp không nhơ ngươi giúp được, • Có thể bạn sẽ được huấn luyện cách bảo quản và tiêm insulin thương là bởi các y tá. • Insulin thương được tiêm 2 hoặc 3 mũi mỗi ngày, thương là trong khoảng thơi gian xung quanh bưa ăn. Liều lượng thay đổi tùy theo nhu cầu của bệnh nhân được đánh giá bởi bác sĩ. Insulin tác dụng kéo dài thương được tiêm 1 hay 2 lần mỗi ngày. • Một số ngươi được tiêm insulin qua một máy bơm liên tục để kiểm soát được đương huyết tốt nhất. Máy bơm sẽ được lập trình để thêm liều insulin phụ vào thơi gian ăn bởi bệnh nhân dươi sự hương dẫn của bác sĩ. • Điều quan trọng cần phải nhơ là phải ăn nếu đang sử dụng insulin vì insulin sẽ làm giảm lượng đương huyết bất kể là bệnh nhân có ăn hay không. Nếu tiêm
  14. insulin mà không ăn sẽ dẫn đến hạ đương huyết. Hiện tượng này được gọi là phản ưng insulin. • Ghi lại chỉ số đương huyết và liều insulin là điều cốt yếu trong việc điều trị bệnh đái tháo đương. • Ăn vơi một chế độ ăn đều đặn, khỏe mạnh và phù hợp vơi kích cơ và cân nặng của bệnh nhân là điều kiện cơ bản để kiểm soát đương huyết. Đái tháo đường type 2 Tùy thuộc vào mưc độ tăng của đương huyết và HbA1c tại thơi điểm chẩn đoán, bệnh nhân có thể có cơ hội hạ thấp mưc đương huyết mà không cần dùng thuốc. • Cách tốt nhất để làm điều này là giảm cân nếu bạn bị béo phì và bắt đầu tập thể dục. • Thương sẽ được thử trong vòng 3 đến 6 tháng, sau đó bệnh nhân sẽ được đo đương huyết và HbA1c lại. Nếu các trị số trên vẫn còn cao, bệnh nhân sẽ phải bắt đầu dùng thuốc uống, thương là sulfonylurea hay biguanide [metformin (Glucophage)]. • Ngay cả khi đang được sử dụng thuốc thì chế độ ăn cũng rất quan trọng để giảm cân nếu như bạn đang bị thừa cân, ngoài ra cũng nên thực hiện các hoạt động thể lực càng thương xuyên càng tốt. • Bác sĩ sẽ theo dõi bệnh nhân một cách cẩn thận trong giai đoạn đầu sử dụng thuốc do việc cho vừa đúng liều lượng và đúng loại thuốc là rất quan trọng để đưa đương huyết về giơi hạn bình thương mà có ít tác dụng phụ nhất. • Bác sĩ cũng có thể quyết định phối hợp 2 loại thuốc lại vơi nhau để kiểm soát tốt đương huyết. • Dần dần thì ngay cả bệnh nhân bị đái tháo đương type 2 cũng cần phải tiêm insulin để giư đương huyết ở mưc bình thương. • Nhưng trương hợp bệnh nhân bị đái tháo đương type 2 phải sử dụng phối hợp thuốc uống vơi tiêm insulin để kiểm soát tốt đương huyết đang ngày càng trở nên phổ biến hơn. Các loại thuốc Nhiều loại thuốc khác nhau được sử dụng để làm giảm lượng đương trong máu ở bệnh nhân đái tháo đương type 2. Mỗi loại có các cơ chế tác dụng khác nhau. Thương thì các bác sĩ sẽ phối hợp 2 hay nhiều loại thuốc để cho hiệu quả tốt nhất vơi tác dụng phụ ít nhất. • Sulfonylureas: có tác dụng kích thích tụy sản xuất nhiều insulin hơn. • Biguanide: có tác dụng làm gan giảm sản xuất glucose. • Ức chế Alpha-glucosidase: giúp làm giảm hấp thu tinh bột khi ăn do đó làm cho quá trình sản xuất glucose bị chậm lại. • Thiazolidinedione: giảm độ nhạy cảm đối vơi insulin. • Meglitinide: kích thích tụy sản xuất nhiều insulin hơn. • Dẫn xuất D - phenylalanine: kích thích tụy sản xuất insulin nhiều hơn và nhanh hơn. • Dẫn xuất Amylin nhân tạo: amylin là một loại hormon tự nhiên được tụy tiết ra cùng vơi insulin. Dẫn xuất của amylin, chẳng hạn như pramlintide (Symlin), được chỉ định khi đương huyết không được kiểm soát mặc dù đã được điều trị bằng insulin một cách tốt nhất. Pramlintide được tiêm dươi da cùng lúc vơi insulin để giúp đạt được mưc đương huyết thấp sau bưa ăn, giảm sự dao động của đương huyết trong cả ngày và cải thiện tình trạng hemoglobin A1c.
  15. • Những loại thuốc mô phỏng chất nội tiết: có khả năng tăng cương hoạt động tiết insulin của tụy và mô phỏng một số cơ chế tự nhiên làm giảm lượng đương có trong máu của cơ thể. Exenatide (Byetta) là thuốc mô phỏng chất nội tiết đầu tiên được chấp nhận tại Hoa Kỳ. Nó được chỉ định cho nhưng bệnh nhân đái tháo đương type 2, được cho kèm vơi metformin hoặc sulfonylurea khi 2 loại thuốc này không đủ khả năng kiểm soát đương huyết một mình. • Insulin: tại Hoa Kỳ thì chỉ có Human insulin (insulin ngươi) là loại insuline duy nhất được chấp nhận vì nó ít gây ra nhưng phải ưng dị ưng hơn nhưng loại insulin có ngươi gốc động vật. Loại insulin được chọn lựa để điều trị cho từng ngươi dựa vào mục tiêu kiểm soát được mưc đương huyết ở giá trị tối ưu. Các loại insulin được phân loại dựa trên thơi gian bắt đầu có tác dụng và thơi gian tác dụng kéo dài của nó. Có nhưng chế phẩm thương mại kết hợp một vài loại insulin chung vơi nhau cũng có thể được dùng để kiểm soát được mưc đương huyết cơ bản hoặc có thể cho tác dụng kiểm soát ngay lập tưc. o Insulin tác dụng nhanh: o  Regular insulin (Humulin R, Novolin R)  Insulin lispro (Humalog)  Insulin aspart (Novolog)  Insulin glulisine (Apidra)  Prompt insulin zinc (tác dụng bán chậm) o Insulin tác dụng tưc thơi:  Isophane insulin, neutral protamine Hagedorn (NPH) (Humulin N, Novolin N)  Insulin zinc (Lente) o Insulin tác dụng kéo dài:  Extended insulin zinc insulin (Ultralente)  Insulin glargine (Lantus)  Insulin detemir (Levemir) NHỮNG BƯỚC TIẾP THEO Tuân thủ điều trị • Tuân thủ theo nhưng hương dẫn điều trị của bác sĩ. Lưu lại chỉ số đương huyết theo hương dẫn bao gồm: thơi điểm kiểm tra, đã sử dụng bao nhiêu thuốc và bao nhiều insulin rồi, ăn khi nào và ăn cái gì, đã tập thể dụng lúc nào và trong bao lâu. Gọi cho bác sĩ nếu như bệnh nhân gặp bất kỳ vấn đề nào về điều trị hoặc có nhưng triệu chưng gợi ý về kiểm soát đương huyết không tốt. • Thương xuyên đi khám bệnh. • Nếu bệnh nhân đang sử dụng insulin thì nên đến khám sau mỗi 3 tháng hoặc sơm hơn. Đối vơi nhưng trương hợp khác, nên đến khám sau mỗi 3 đến 6 tháng là đủ trừ khi xuất hiện một triệu chưng nào đó • Nhận biết được các triệu chưng hạ đương huyết và biết cách điều trị. • Bệnh nhân và gia đình nên được hương dẫn cách nhận biết nhưng dấu hiệu và triệu chưng của hạ đương huyết. Bệnh nhân nên có một bảng hương dẫn rõ ràng về cách điều trị hạ đương huyết và biết cách gọi cấp cưu. Có nhưng triệu chưng nhẹ như lú lẫn, vã mồ hôi cũng có thể tiến triển thành hôn mê, hoặc thâm chí là tai biến. Phòng ngừa
  16. Hiện thơi chúng ta vẫn chưa biết các phòng đái tháo đương type 1, tuy nhiên đái tháo đương type 2 có thể phòng ngừa được trong một số trương hợp. • Kiểm soát cân nặng ở mưc bình thương hoặc gần bình thương bằng cách ăn ít mơ, giàu chất xơ. • Thương xuyên tập luyện thể dục là cách cốt yếu để phòng đái tháo đương type 2. • Uống ít rượu. • Bỏ hút thuốc. • Uống thuốc nếu như bạn có nhưng chỉ số mơ trong máu cao (chẳng hạn như cholesterol cao). • Thay đổi lối sống và/hoặc một số loại thuốc có thể được sử dụng ở nhưng bệnh nhân tiền đái tháo đường có thể ngăn chặn tiến triển thành đái tháo đương. Có thể chẩn đoán được tiền đái tháo đường bằng cách thử đương huyết lúc đói và 2 giơ sau khi uống 75 gr glucose. Nếu bạn đã bị đái tháo đương, nên tập trung vào việc phòng ngừa nhưng biến chưng, có thể gây ra nhưng tàn phế nghiêm trọng như mù, suy thận cần phải lọc thận, đoạn chi, hoặc thậm chí là tử vong. • Kiểm soát chặt đương huyết: cách tốt nhất mà bệnh nhân có thể làm là kiểm soát mưc đương huyết ở mưc được các bác sĩ đề nghị mỗi ngày. Cách duy nhất để làm được điều đó là kết hợp giưa kiểm soát đương huyết thương xuyên, chế độ ăn cân bằng ít đương đơn và chất béo và nhiều carbohydrate và chất xơ cùng vơi nhưng biện pháp điều trị y khoa thích hợp. Hãy nhơ nhưng chuyên gia dinh dương tham vấn hoặc hỏi các bác sĩ nếu như bạn có thắc mắc gì đó về chế độ ăn. • Bỏ hút thuốc. • Giư cân nặng ở mưc tốt nhất. • Gia tăng các hoạt động thể lực, hương đến mục tiêu thực hiện nhưng hoạt động thể lực trong ít nhất 30 phút mỗi ngày. • Uống đủ nươc và tránh ăn quá nhiều muối. • Cũng cần nên chú ý đến da, giư cho nó được sạch sẽ để tránh loét và tổn thương có thể dẫn đến nhiễm trùng nặng. • Đánh răng mỗi ngày. Đi khám nha thương xuyên để phòng ngừa nhưng bệnh về lợi. • Rửa chân và kiểm tra mỗi ngày, tìm nhưng vết đưt nhỏ hoặc nhưng vết loét, chúng có thể gây rắc rối cho bạn sau này. Nên giũa móng tay tay vì cắt để tránh tổn thương vùng da xung quanh. Tiên lượng Đái tháo đương là nguyên nhân dẫn đến tử vong nhiều nhất ở nhưng nươc đã được công nghiệp hóa. Nhìn chung, nhưng bệnh nhân bị đái tháo đương có nguy cơ chết sơm cao gấp 2 lần so vơi ngươi không bị. Tiên lượng tùy thuộc vào type đái tháo đương, mưc độ kiểm soát đương huyết và tiến triển của các biến chưng. Đái tháo đường type 1 Khoảng 15% bệnh nhân bị đái tháo đương type 1 chết trươc 40 tuổi, cao gấp khoảng 20 lần tỷ lệ ở nhưng ngươi bình thương cùng độ tuổi.
  17. • Nguyên nhân gây tử vong thương gặp nhất là nhiễm ceton acid, suy thận và bệnh tim mạch. • Tuy nhiên điều may mắn là nhưng ngươi này có thể cải thiện được tiên lượng cho chính mình bằng cách kiểm soát tốt đương huyết. Kiểm soát chặt đương huyết đã được chưng mình là có thể ngăn ngừa và làm chậm lại diễn tiến của các biến chưng, hoặc thậm chí là cải thiện được nhưng biến chưng đã có của đái tháo đương type 1. Đái tháo đường type 2 Khả năng sống còn của nhưng bệnh nhân được chẩn đoán là đái tháo đương type 2 giảm xuống khoảng 5 - 10 năm khi họ ở độ tuổi 40 bởi bệnh tật. • Bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong thương gặp nhất ở bệnh nhân đái tháo đương type 2. • Kiểm soát tốt đương huyết và giư nồng độ cholesterol "xấu" (LDL) ở dươi mưc 100 mg/dL (hoặc thấp hơn, đặc biệt trong trương hợp có nhưng yếu tố nguy cơ khác của bệnh tim mạch), và nồng độ cholesterol "tốt" cao nhất có thể. Sử dụng aspirin khi được chỉ định có thể ngăn ngừa, làm chậm lại hoặc cải thiện được nhưng biến chưng ở nhưng bệnh nhân đái tháo đương.
  18. Những điều cần biết về đường huyết Đường huyết (ĐH) của mỗi người biến động từ trước khi ăn đến sau khi ăn. Đây là mối quan tâm không chỉ của người bị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) mà còn của tất cả những ai quan tâm đến sức khỏe và vóc dáng của mình. Tăng ĐH là gì? Tăng ĐH là có quá nhiều glucose trong máu, phản ánh sự dư thừa glucose tại các mô của cơ thể. Theo Tổ chưc Y tế Thế giơi, nếu ĐH lúc đói lơn hơn hoặc bằng 1,26g/l (7mmol/l) là có tăng ĐH. Nếu ĐH thử vào bất cư lúc nào trong ngày lơn hơn hoặc bằng 2g/l (11mmol/l) là tăng ĐH sau bưa ăn. Vì sao ĐH tăng? Cơ quan có nhiệm vụ điều chỉnh và ổn định lượng đương trong máu là tuyến tụy, thông qua nội tiết tố insulin. Nếu vì lý do nào đó mà insulin không được bài tiết đủ để giải quyết lượng đương trong máu thì ĐH cao hơn mưc bình thương. Tình trạng đó nếu kéo dài thì bệnh ĐTĐ xuất hiện. Điểm khác biệt giưa ngươi bình thương và bệnh nhân ĐTĐ là thơi gian để lượng đương trong máu sau bưa ăn trở về trị số sinh học kéo dài hơn ở ngươi bị bệnh - khoảng thơi gian này càng lâu, bệnh càng nặng. Test thử đương huyết. Thế nào là hạ ĐH? Hạ ĐH là một cụm từ dùng để chỉ sự giảm lượng đương trong máu dươi mưc bình thương (đương ở đây muốn ám chỉ là loại đương glucose và mưc bình thương được quy định từ 3,9-6,4 mmol/l). Nguyên nhân dẫn tới tình trạng hạ ĐH? Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tơi tình trạng hạ ĐH, sau đây là một số lý do thương gặp: Dùng quá liều insulin hay thuốc uống, hoặc tiêm insulin không đúng kỹ thuật (đối vơi bệnh nhân ĐTĐ).
  19. Bỏ bưa hay ăn muộn. Phải làm việc mệt nhọc hay tập luyện thể lực quá nhiều. Đang đau ốm (vì lý do bệnh khác). Uống rượu lúc đói. Vai trò của đường trong máu Glucose là nguồn năng lượng chính của cơ thể, đồng thơi cũng là nguồn nhiên liệu cực kỳ quan trọng và cần thiết cho hệ thần kinh và tổ chưc não bộ. Nhưng glucose vừa là thực phẩm tốt nhất mà cũng xấu và cần được tiêu thụ một cách thận trọng. Glucose huyết thấp khi tỷ lệ glucose thấp hơn 0,8g/l và cao khi ở mưc 1,2g/l. Khi glucose huyết cao thì nhiều cơ chế thích nghi xảy ra: insulin được sản xuất bởi tuyến tụy, nhằm mục đích giảm tỷ lệ đương trong máu và đương sẽ được tích tụ lại trong gan và cơ bắp dươi dạng glycogen, còn số thừa sẽ bị biến thành mơ. Mức ĐH thế nào là an toàn? Theo Hiệp hội Đái tháo đương Hoa Kỳ (ADA) mưc ĐH an toàn là: Trươc bưa ăn: 90-130mg/dl (5,0- 7,2mmol/l). Sau bưa ăn 1-2 giơ: nhỏ hơn 180mg/dl (10mmol/l). Trươc lúc đi ngủ: 110-150mg/dl (6,0- 8,3mmol/l). Tùy lưa tuổi, giai đoạn bệnh, mưc độ các biến chưng… mà mưc ĐH an toàn của mỗi ngươi bệnh có thể khác nhau nhưng không nhiều. Vì sao phải giữ ĐH ổn định? Lượng đương trong máu phải ổn định vì: Các cơ quan tham gia vào chuyển hóa đương. Nếu ĐH quá thấp, cơ thể thiếu năng lượng và gây nên tình trạng mệt lả, chóng mặt, đột quỵ… Nếu ĐH quá cao, mọi phản ưng sinh học bị xáo trộn. Hậu quả là chất đạm, chất béo không được chuyển thể như bình thương khiến chất mơ tích lũy một cách thái quá, chất đạm bị phân hủy một cách cương điệu do phản ưng sai lầm của cơ thể trong tình trạng chất đương trong máu tăng cao quá lâu. Do đó gây xơ vưa mạch máu, chai não, thoái hóa võng mạc, viêm thận, hoại tử mô mềm, dị ưng… và thậm chí ung thư. Chỉ số ĐH là gì? Chỉ số ĐH viết tắt là GI (glycemic index) là chỉ số phản ánh tốc độ làm tăng ĐH sau khi ăn các thực phẩm giàu chất bột đương. Chất bột đương hiện diện ở hầu hết các loại thực phẩm chúng ta dùng hàng ngày như: cơm, bún, bánh mì và ngay cả trong sưa công thưc dành cho trẻ đang lơn.
  20. Chỉ số GI của một thực phẩm được phân loại: thấp, trung bình hoặc cao. Thực phẩm có chỉ số GI cao thương chưa loại đương glucose hấp thu nhanh. Điều đó có nghĩa là sau khi ăn các thực phẩm loại này, thì mưc đương glucose trong máu sẽ tăng vọt lên rất nhanh, nhưng cũng giảm nhanh ngay sau đó. Trong khi đó, các thực phẩm có chỉ số GI thấp sẽ tốt hơn vì mưc ĐH được tăng lên từ từ đều đặn và cũng giảm xuống một cách chậm rãi, giúp giư được nguồn năng lượng ổn định, có lợi hơn cho sưc khỏe và trí não. Vơi bệnh nhân ĐTĐ, việc dùng các loại thưc ăn chỉ số ĐH thấp làm cho ĐH dễ kiểm soát hơn, vì sẽ tăng từ từ sau ăn chư không tăng vọt một cách đột ngột. Ngoài ra, thực phẩm có chỉ số ĐH thấp còn cải thiện chuyển hóa lipid, đặc biệt đối vơi ĐTĐ týp 2. BS. Nguyễn Thị Hạnh
Đồng bộ tài khoản