Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bước ngoặt quyết định của cách mạng Việt Nam

Chia sẻ: maytroiphieudu

Tháng 3-1935 Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng đã họp tại một địa điểm ở phố Quan Công, Ma Cao (Trung Quốc). Trên cơ sở đánh giá tình hình thế giới và trong nước, Đại hội đề ra 3 nhiệm vụ chủ yếu của toàn Đảng trong thời gian trước mắt là: Củng cố và phát triển Đảng; tranh thủ quần chúng rộng rãi; chống chiến tranh đế quốc. Đại hội đã thông qua Nghị quyết chính trị và Điều lệ Đảng; thông qua các nghị quyết về vận động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính và các nghị...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bước ngoặt quyết định của cách mạng Việt Nam

1.     Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bước ngoặt quyết định
của cách mạng Việt Nam.

Tháng 3-1935 Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng đã họp tại một
địa điểm ở phố Quan Công, Ma Cao (Trung Quốc). Trên cơ sở đánh giá
tình hình thế giới và trong nước, Đại hội đề ra 3 nhiệm vụ chủ yếu của
toàn Đảng trong thời gian trước mắt là: Củng cố và phát triển Đảng; tranh
thủ quần chúng rộng rãi; chống chiến tranh đế quốc. Đại hội đã thông qua
Nghị quyết chính trị và Điều lệ Đảng; thông qua các nghị quyết về vận
động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính và các nghị quyết
về công tác liên minh phản đế, công tác trong các dân tộc thiểu số, về đội
tự vệ và cứu tế đỏ.

Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng;
Đại hội đã đánh dấu sự khôi phục được hệ thống tổ chức của Đảng từ
Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước, thống nhất
phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp
nhân dân khác dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Sau Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiều đồng chí Trung ương bị bắt;
công tác của Ban Chấp hành Trung ương do Ban chỉ huy ở nước ngoài
đảm nhiệm.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông
Dương họp từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951, tại xã vinh quang,
huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Đại hội đã thông qua nghị quyết khẳng định: Đường lối đoàn kết toàn
dân, kháng chiến trường kỳ giành độc lập, dân chủ là hoàn toàn đúng đắn.
Trong điều kiện lịch sử mới, Đại hội chủ trương xây dựng ở mỗi nước
Việt Nam, Lào, Cămpuchia, một Đảng cách mạng thích hợp với hoàn
cảnh cụ thể, để lãnh đạo cuộc kháng chiến từng nước đến thắng lợi hoàn
toàn. Ở Việt Nam, Đại hội quyết định xây dựng Đảng Lao động Việt
Nam. Kế thừa truyền thống của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Lao
động Việt Nam đảm nhận sứ mệnh lịch sử trọng đại vừa tiếp tục lãnh
đạo cuộc kháng chiến của nhân dân ta, vừa có nghĩa vụ giúp đỡ các Đảng
cách mạng ở Lào và Cămpuchia đấu tranh thắng lợi.
Trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn hơn 20 năm lãnh đạo
cách mạng nước ta, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm
của phong trào cách mạng thế giới, Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam
của đồng chí Trường Chinh đã phân tích rõ tính chất, những mâu thuẫn

1
trong xã hội Việt Nam và chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt
Nam là tiêu diệt bọn đế quốc xâm lược, làm cho nước Việt Nam hoàn
toàn độc lập và thống nhất, xóa bỏ hình thức bóc lột phong kiến, làm cho
người cày có ruộng, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Báo cáo xác định lực lượng
cách mạng Việt Nam gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp
tiểu tư sản và giai cấp tư sản dân tộc. Động lực của cách mạng Việt Nam
bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và giai cấp tư sản, chủ
yếu là công nhân và nông dân. Lực lượng lãnh đạo cách mạng là giai cấp
công nhân. Báo cáo Bàn vè cách mạng Việt Nam là một văn kiện lịch sử
rất quan trọng, đã bổ sung hoàn chỉnh và phát triển lý luận của Đảng ta về
cách mạng dân tộc, dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến hành
trong điều kiện một nước thuộc địa, nửa phong kiến.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đánh dấu một mốc quan
trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta. Đường lối do
Đại hội đề ra đã đáp ứng yêu cầu trước mắt của kháng chiến và yêu cầu
lâu dài của cách mạng và thực sự là những đóng góp quý báu vào kho tàng
lý luận cách mạng nước ta.
Đại hội lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5-9-1960
đến ngày 10-9-1960. Đồng chí Hồ Chí Minh Chủ tịch Đảng đã khái quát
nhiệm vụ mới của cách mạng Việt Nam và chỉ rõ “Đại hội lần này là Đại
hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống
nhất nước nhà”. Báo cáo Chính trị nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng
miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và
phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần
xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và
giầu mạnh. Vì vậy nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là
đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và
gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc
Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam,
thực hiện độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ và cải thiện đời sống
nhân dân, giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở
độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông-Nam-Á và
trên thế giới. Báo cáo nhấn mạnh tính chất lâu dài, gian khổ và phức tạp
của cách mạng miền Nam và quá trình giành thắng lợi của cách mạng
miền Nam là quá trình phát triển từ thấp đến cao, kết hợp nhiều hình thức
đấu tranh, lấy việc xây dựng, củng cố, phát triển lực lượng cách mạng
của quần chúng làm cơ sở.
Báo cáo Chính trị đã phân tích một cách sâu sắc về đường lối cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc trước hết phải biến miền Bắc thành căn cứ vững chắc cho

2
cách mạng cả nước, giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà. Báo cáo
chính trị chỉ rõ nội dung cơ bản của công cuộc cải tạo xã hội chủ và xây
dựng chủ nghĩa xã hội của miền Bắc, đó là một quá trình cải biến cách
mạng về mọi mặt nhằm đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên
sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa
dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, từ chế độ sản xuất nhỏ tiến
lên chế độ sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Đường lối chung của cách
mạng miền Bắc trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội là: Đoàn
kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn và truyền thống phấn
đấu anh dũng, lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường
đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, để đưa miền Bắc tiến
nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời
sống ấm no, hạnh phúc, củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho
cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng
cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới.
Tiếp theo Báo cáo Chính trị, đồng chí Lê Đức Thọ đọc báo cáo về việc
sửa đổi Điều lệ Đảng. Báo cáo chỉ rõ trước tình hình mới, yêu cầu cơ bản
của việc xây dựng Đảng là phải ra sức củng cố Đảng về mặt tư tưởng và
tổ chức, phải giữ vững và nâng cao hơn nữa tính chất giai cấp và tính chất
tiên phong của Đảng để nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của
Đảng, bảo đảm cho Đảng có khả năng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo quản
lý kimh tế và văn hoá, xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và
làm tròn nghĩa vụ lãnh đạo cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước
nhà.

Trong diễn văn bế mạc Đại hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người khẳng
định: Đại hội lần thứ hai đã đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chắc chắn
rằng Đại hội lần thứ III này sẽ là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho
toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.
Đại hội lần thứ IV của Đảng là Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải
phóng dân tộc; là Đại hội tổng kết những bài học lớn của cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, là Đại hội thống nhất Tổ quốc đưa cả nước
tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa. Đại hội họp từ ngày 14 đến 20-12-
1976 tại Hà Nội.
Báo cáo Chính trị đã tổng kết quá trình đấu tranh anh dũng, bền bỉ,
liên tục và thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta chống lại cuộc chiến
tranh xâm lược lớn nhất và vô cùng ác liệt của đế quốc Mỹ để giải phóng
miền Nam thống nhất nước nhà. Báo cáo cũng chỉ rõ những nguyên nhân
đưa đến thắng lợi và những bài học có giá trị để lại cho Đảng và nhân dân

3
ta.
Trên cơ sở phân tích mọi mặt tình hình của đất nước khi bước vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; Đại hội xác định đường lối chung của
cách mạng xã hội chủ nghĩa là: Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy
quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba
cuộc cách mạng : Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học
kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học-
kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là
nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng
chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã
hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội
chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc
hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng,
giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; xây dựng thành công Tổ
quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp
phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc
lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đường lối chung,
Báo cáo vạch rõ đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa;
phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1976-
1980. Đại hội cũng đã nêu ra những nhiệm vụ cụ thể về kinh tế, xã hội,
an ninh, quốc phòng và công tác xây dựng Đảng. Đại hội quyết định đổi
tên đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Điều lệ mới của
Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng họp từ ngày 27 đến
ngày 31-3-1982 tại Thủ đô Hà Nội. Báo cáo khẳng định: Thành công rực
rỡ của Đảng ta và nhân dân ta là đã nhanh chóng thống nhất nước nhà về
mặt nhà nước, thiết lập hệ thống chuyên chính vô sản trong cả nước và
thực hiện nhiều chính sách thúc đẩy quá trình thống nhất về mọi mặt, tạo
nên cuộc sống hòa hợp dân tộc, chan hòa từ Bắc đến Nam. Thắng lợi của
hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là thắng lợi có ý nghĩa lịch sử hết
sức to lớn. Báo cáo nêu bật những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, văn
hóa; đồng thời xác định rõ hai nhiệm vụ chiến lược là: Xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội; sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa. Đại hội khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối cách
mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa do Đại hội lần thứ IV của Đảng vạch ra.
Báo cáo về công tác xây dựng Đảng đã nhấn mạnh công tác xây dựng
Đảng có vị trí đặc biệt quan trọng và chỉ rõ nhiệm vụ then chốt của công
tác xây dựng Đảng hiện nay là tiếp tục nâng cao tính giai cấp công nhân,
tính tiên phong của Đảng, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư

4
tưởng và tổ chức nhằm bảo đảm thực hiện thắng lợi đường lối của
Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, làm cho Đảng ta luôn luôn giữ vững
bản chất cách mạng và khoa học, một Đảng thật sự trong sạch, có sức
chiến đấu cao, gắn bó chặt với quần chúng.
Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam họp tại
Thủ đô Hà Nội từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986.
Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội nhận định
năm năm qua là một chặng đường đầy thử thách đối với Đảng và nhân
dân ta. Chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an
ninh chính trị và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đã giành được những thắng
lợi to lớn. Khẳng định những thành tựu, đồng thời Đại hội cũng chỉ rõ tình
hình kinh tế - xã hội nước ta đang có nhiều khó khăn, chúng ta chưa thực
hiện được mục tiêu do Đại hội lần thứ V đề ra là về cơ bản ổn định tình
hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống của nhân dân.
Đại hội lần thứ VI của Đảng nhấn mạnh: Để khắc phục được khuyết
điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta trước hết phải thay đổi nhận
thức, đổi mới tư duy. Phải nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với
hệ thống quy luật khách quan. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình,
Đại hội đề ra đường lối đổi mới. Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế.
Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải
tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Đổi mới cơ ché quản lý kinh tế,
thực hiện các chính sách xã hội. Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân
dân lao động, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước. Nâng cao năng
lực và sức chiến đấu của Đảng. Đổi mới đội ngũ cán bộ, kiện toàn các cơ
quan lãnh đạo và quản lý. Đổi mới phong cách làm việc, giữ vững các
nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt trong Đảng. Nâng cao chất lượng đảng
viên, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực và nâng cao sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở Đảng.

Đại hội lần thứ VI của Đảng đã hoạch định đường lối đổi mới toàn diện,
sâu sắc và triệt để. Đó là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng và toàn dân,
thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của Đảng trước đất nước và dân tộc.
Đường lối do Đại hội VI đề ra thể hiện sự phát triển tư duy lý luận, khả
năng tổng kết và tổ chức thực tiễn của Đảng mở ra thời kỳ mới của sự
nghiệp cách mạng nước ta trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng họp tại Thủ đô
Hà Nội từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991.. Báo cáo đánh giá việc thực hiện

5
đổi mới hơn 4 năm trên các lĩnh vực đời sống xã hội, đề ra phương hướng
nhiệm vụ chủ yếu trong 5 năm (1991-1995). Công cuộc đổi mới đã đạt
được những thành tựu bước đầu: Tình hình chính trị của đất nước ổn
định. Nền kinh tế có những bước phát triển đã đạt được những tiến bộ rõ
rệt trong việc thực hiện các mục tiêu của 3 chương trình kinh tế, bước
đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, huy động được nguồn lực
sản xuất của xã hội, tốc độ lạm phát được kiềm chế, đời sống của một
bộ phận nhân dân được cải thiện.
Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến
năm 2000; Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng.
Đại hội lần thứ VII là Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương -
đoàn kết.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam
diễn ra từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996 tại Thủ đô Hà Nội.
Báo cáo Chính trị đã khẳng định những thành tựu quan trọng đã đạt được:
Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, hoàn thành vượt mức nhiều mục
tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm. Tạo được một số chuyển biến tích cực
về mặt xã hội. Giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh.
Thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị.
Phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bao vây cấm vận, tham
gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế.
Đảng cũng chỉ rõ những khuyết điểm, yếu kém: Nước ta còn nghèo và
kém phát triển. Chúng ta chưa thực hiện tôt cần kiệm trong sản xuất, tiết
kiệm trong tiêu dùng, dồn vốn cho đầu tư phát triển. Tình hình xã hội còn
nhiều vấn đề tiêu cực. Nạn tham nhũng, buôn lậu, lãng phí của công chưa
ngăn chặn được. Tiêu cực trong bộ máy nhà nước, đảng và đoàn thể,
trong các doanh nghiệp nhà nước…nghiêm trọng kéo dài. Việc lãnh đạo
xây dựng quan hệ sản xuất mới có phần vừa lúng túng vừa buông lỏng.
Chậm tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, chính sách để tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp nhà nước nâng cao hiệu quả hoạt động phát
huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Quản lý nhà nước về kinh
tế, xã hội còn yếu. Hệ thống chính trị còn nhiều nhược điểm. Năng lực và
hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của nhà nước,
hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chính trị, xã hội chưa nâng lên kịp
với đòi hỏi của tình hình.
Trên cơ sở phân tích những đặc điểm nổi bật của tình hình thế giới và
trong nước, Đại hội định ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2000 và 2020 của
sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là: Tiếp tục

6
nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mục tiêu của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công
nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan
hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời
sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giầu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Về công tác xây dựng Đảng, Báo cáo Chính trị khẳng định, toàn bộ thành
tựu và khuyết điểm của công cuộc đổi mới gắn liền với trách nhiệm lãnh
đạo và hoạt động của Đảng. Sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng là một
nhân tố quyết định tạo ra những thành tựu đổi mới. Thắng lợi của công
cuộc đổi mới chứng tỏ Đảng ta tiếp tục giữ vững và phát huy được bản
lĩnh và kinh nghiệm của các thời kỳ trước, lãnh đạo có kết quả công cuộc
xây dựng và bảo vệ đất nước trong tình hình hết sức phức tạp.

Đại hội lần thứ IX của Đảng là “Đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết,
đổi mới” họp tại Hà Nội từ ngày 19 đến 22-4-2001, Đánh giá kết quả
thực hiện kế hoạch 5 năm 1996-2000, Báo cáo Chính trị khẳng định 5
nhóm thành tựu quan trọng: Kinh tế tăng trưởng khá; văn hóa - xã hội có
những tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện; tình hình chính
trị, xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng và an ninh được tăng cường; công
tác xây dựng Đảng được chú trọng; hệ thống chính trị được củng cố;
quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế
được tiến hành chủ động và đạt nhiều kết quả. Bên cạnh những thành
tựu, Đại hội cũng chỉ rõ những khuyết điểm, yếu kém: Nền kinh tế phát
triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp; một số vấn đề
văn hóa, xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết; cơ chế chính
sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển; tình trạng
tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng.
Đại hội xác định mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Đại hội xác định động lực chủ yếu để phát triển đất nước
là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân
và trí thức do Đảng lãnh đạo.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam
họp từ ngày 18-4 đến ngày 25-4-2006 tại Thủ đô Hà Nội. Đồng chí Tổng
Bí thư Nông Đức Mạnh đọc Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương

7
Đảng khóa IX “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng,
phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới,
sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”. Các Văn kiện trình
Đại hội: Báo cáo Chính trị; Báo cáo về phương hướng phát triển kinh tế-
xã hội 5 năm 2006-2010; Báo cáo công tác xây dựng Đảng; Báo cáo về
một số vấn đề bổ sung sửa đổi Điều lệ Đảng và dự thảo Điều lệ Đảng
(bổ sung, sửa đổi); Báo cáo về kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương
6 (lần 2) khóa VIII trên lĩnh vực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham
nhũng, lãng phí trong nhiệm kỳ Đại hội IX và Báo cáo kiểm điểm sự lãnh
đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX.
Đại hội xác định mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5 năm 2006-
2010 là: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy
sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động
và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước; phát triển văn hóa; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng
cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và
tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị-xã hội; sớm
đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại.
Đại hội X của Đảng nêu cao ý chí sắt đá của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân, triệu người như một, năng động và sáng tạo, nắm bắt thời cơ, vượt
qua thách thức, quyết tâm đổi mới toàn diện và mạnh mẽ theo con đường
xã hội chủ nghĩa, nhằm thực hiện bằng được mục tiêu “ dân giầu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Lịch sử Việt Nam
a. năm1931
Thời kỳ sau Xô Viết Nghệ Tĩnh, phong trào cách mạng gặp phải sự
khủng bố cực điểm của thực dân Pháp. Đứng trước tình thế khó khăn ấy,
Đảng vẫn kiên trì hoạt động với sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân khắp
nước. Nhờ thế phong trào đấu tranh vẫn được tiếp tục dưới nhiều hình
thực khác nhau.
b. năm1940

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ vào tháng 9/1939, nước Pháp bị phát
xít Đức chiếm đóng, nhà nước Pháp đầu hàng. Trong khi ấy tại châu á
Phát xít Nhật bành trướng thế lực của mình, muốn hất cẳng Pháp ra khỏi
Đông Dương.




8
Phát xít Nhật cho quân đánh vào Lạng Sơn (9/1940). Nhân dịp quân Pháp
đang bối rối, nhân dân Bắc Sơn cướp khí giới của quân Pháp, đứng lên
thành lập chính quyền cách mạng tại Bắc Sơn. Chính quyền cách mạng
tịch thu của cải của thực dân Pháp đem chia cho người nghèo. Quần chúng
gia nhập lực lựng quân đội rất đông và thành lập được đội quân du kích
Bắc Sơn. Nhưng thực dân Pháp thỏa hiệp cùng Nhật, củng cố lực lượng.
Thực dân Pháp được Nhật trao lại Lạng Sơn, thẳng tay đàn áp, giết chết
hàng loạt người dân. Tuy thế đội du kích Bắc Sơn vẫn tồn tại để rồi sau
đó hợp với các đội du kích khác mà trở thành đội du kích đầu tiên của
Việt Minh.

Trong thời kỳ thế chiến thứ hai, nhân dân Việt Nam vừa bị Pháp đô hộ,
vừa bị Nhật bóc lột, đó là tình trạng mà các nhà viết sử thường gọi là
"một cổ hai tròng". Trước tình hình khẩn trương đó, Nguyễn ái Quốc về
nước triệu tập hội nghị Trung ương Đảng tại Pác Bó để hạ quyết tâm
giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương khỏi ách Pháp Nhật.

Ngày 22/12/1944 Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân ra đời dưới
chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị
kết hợp với võ trang.

b. năm1945

Tháng 5/1945 Phát xít Đức thua trận. Nhật đầu hàng quân đồng minh
vô điều kiện. Tình hình biến chuyển có lợi cho cách mạng Việt Nam.
Đảng họp hội nghị toàn quốc vào ngày 13/8/1945 ở Tân Trào (Tuyên
Quang) quyết định Tổng khởi nghĩa

Mùa hè năm 1945, ngay sau khi Nhật đầu hàng phe Đồng Minh, chính
phủ Pháp dùng nhiều biện pháp để quay trở lại Đông Dương. Một đạo
quân viễn chinh được thành lập do tướng Leclerc chỉ huy. Đô đốc
d'Argenlieu làm Cao ủy Pháp tại Đông Dương.

Vào những ngày đầu của tháng 9 năm 1945, quân Anh đổ bộ vào Sài
Gòn với danh nghĩa Đồng Minh để tước khí giới Nhật nhưng kỳ thật mở
đường cho Pháp trở lại Việt Nam. Ngày 23/9/1945 với sự giúp sức của
quân Anh, quân Pháp chiếm được trụ sở UBND Nam Bộ rồi mở rộng
chiến tranh ra toàn Nam Bộ, Campuchia và miền Nam Trung Bộ. Ngày
6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký hiệp định Sơ bộ



9
Việt Nam đã áp dụng biện pháp nhân nhượng với đối phương khi ký Hiệp
ước sơ bộ và Tạm ước, nhưng thực dân Pháp không tôn trọng các thỏa
ước ấy, ngày càng lấn tới, ráo riết đánh chiếm nhiều nơi. Đêm 19/12/1946
cuốc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Tháng 3/1947 d'Argenlieu bị triệu hồi về Pháp, Emile Bollaert thay thế,
xúc tiến việc lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại, cắt đứt mọi đàm phán với
chính phủ Việt Nam và lập kế hoạch tấn công Việt Bắc.
Tháng 10/1947, 12.000 quân Pháp mở cuộc tiến công qui mô vào vùng
giải phóng Việt Bắc

Đầu tháng 9 năm 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn thể Vệ
Quốc Đoàn, bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân tích cực
tham gia chiến dịch. Ngày 16/9, chiến dịch bắt đầu. chiến dịch Cao Bắc
Lạng kết thúc thắng lợi,

e.Năm 1954

Cuộc kháng chiến chống đế Quốc Mỹ (1954-1975)

Sau hiệp định Genève, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bắt đầu chuyển
sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Miền Bắc gặp một số khó
khăn nhưng đồng thời cũng có những thuận lợi cơ bản. Khó khăn lớn nhất
là nền kinh tế lạc hậu, lại bị tàn phá nặng nề sau gần trăm năm lệ thuộc
và 15 năm chiến tranh.

Sau khi quân Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký
kết, đế quốc Mỹ gạt hẳn thực dân Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam,
trực tiếp thực hành ý đồ xâm lược của mình. Tháng 6.1954 đế quốc Mỹ
ráo riết tiến hành việc hất cẳng thực dân Pháp, đưa Ngô Đình Diệm từ
Mỹ về thành lập chính phủ bù nhìn, triển khai kế hoạch phá hoại việc thi
hành Hiệp định Genève.

Cuối năm 1959 cuộc đấu tranh của miền Nam chuyển hướng thành cuộc
đấu tranh vũ trang.

Đầu năm 1964, đế quốc Mỹ thực hiện kế hoạch mới, đó là kế hoạch
Johnson-Mac Namara nhằm bình định miền Nam trong vòng hai năm
(1964-1965

f. Năm 1965

10
Cuối năm 1965 số quân Mỹ và chư hầu đưa vào miền Nam lên đến
hơn 20 vạn cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân. "Chiến tranh
cục bộ

Tết Mậu Thân, vào ngày 30 và 31.1.1968 quân và dân miền Nam đồng
loạt tiến công và nổi dậy ở 64 thành phố và thị xã

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, đế quốc Mỹ bị tấn
công từ nhiều phía, ngay cả trong nội bộ nước Mỹ. Phong trào chống
chiến tranh xâm lược Việt Nam dấy lên khắp nước Mỹ. Hạ nghị viện Mỹ
đòi phải rút tất cả quân Mỹ ở Việt Nam về nước trong thời gian ngắn
nhất. Nixon phải hứa sẽ chấm dứt chiến tranh trong vòng sáu tháng, cho
ra đời cái gọi là "Học thuyết Nixon" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến
tranh". Theo chiến lược này, lúc đầu quân Mỹ và quân ngụy vẫn là hai lực
lượng chiến lược rồi sau đó Mỹ rút dần quân viễn chinh và chư hầu, tăng
thêm quân ngụy.Mỹ tăng viện trợ quân sự và kinh tế và đồng thời tiến
hành chiến tranh phá hoại miền Bắc thêm một lần nữa.

Ngày 1.1.1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: "Đánh cho Mỹ cút,
đánh cho ngụy nhào" Đến năm 1972, cuộc tiến công chiến lược của quân
dân miền Nam bắt đầu từ Quảng Trị và sau đó lan ra khắp miền, cùng với
trận "Điện Biên trên không" của quân dân miền Bắc buộc Mỹ phải xuống
thang chiến tranh. Hiệp định Paris được ký vào ngày 27.1.1973 công nhận
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt nam, Mỹ phải rút hết quân và
chư hầu ra khỏi miền Nam.




11
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản