Danh sách các sông dài nhất thế giới

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:23

2
366
lượt xem
176
download

Danh sách các sông dài nhất thế giới

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sông Mississippi phần phía Bắc của Louis, Missouri Đây là Danh sách các con sông dài nhất trên trái đất. Nó bao gồm cả hệ thống các sông. Màu chỉ thị các châu lục Châu Phi Châu Á Châu Úc Châu Âu Bắc Mỹ Nam Mỹ Sông Chiều dài (km) Chảy ra Chiều dài (dặm) Diện tích bề (km²) Lưu lượng trung bình (m³/s) Các nước thuộc lưu vực sông Ethiopia, Eritrea, Địa 1. Sông Nil 6.690 4.157 2.870.000 5.100 Trung Hải Sudan, Uganda, Tanzania, Kenya, Rwanda, Burundi, Ai Cập, Cộng hòa Dân chủ Congo Brasil, Peru, 2. Sông Amazon 6.387 (6.762) 3.969 (4.202)...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Danh sách các sông dài nhất thế giới

  1. Danh sách các sông dài nhất thế giới Sông Mississippi phần phía Bắc của Louis, Missouri Đây là Danh sách các con sông dài nhất trên trái đất. Nó bao gồm cả hệ thống các sông. Màu chỉ thị các châu lục Châu Phi Châu Á Châu Úc Châu Âu Bắc Mỹ Nam Mỹ Sông Chiều dài (km) Chiều dài (dặm) Diện tích bề (km²) Lưu lượng trung bình (m³/s) Chảy ra Các nước thuộc lưu vực sông Ethiopia, Eritrea, Sudan, Uganda, Địa Tanzania, Kenya, 1. Sông Nil 6.690 4.157 2.870.000 5.100 Trung Rwanda, Burundi, Hải Ai Cập, Cộng hòa Dân chủ Congo Brasil, Peru, Sông 6.387 3.969 Đại Tây Bolivia, Colombia, 2. 6.915.000 219.000 Amazon (6.762) (4.202) Dương Ecuador, Venezuela
  2. Sông Mississippi - Sông 6.270 3.896 Vịnh Hoa Kỳ (98,5%), 3. 2.980.000 16.200 Missouri - (6.420) (3.989) Mexico Canada (1,5%) Sông Jefferson Sông Dương Đông Tử 6.211 3.859 Hải 4. 1.800.000 31.900 Trung Quốc (Chang (5.797) (3.602) Trung Jiang) Quốc Sông Yenisei - Sông 5.550 3.449 Biển 5. 2.580.000 19.600 Nga, Mông Cổ Angara - (4.506) (2.800) Kara Selenga Sông Ob' - Nga, Kazakhstan, 6. 5.410* 3.449* 2.990,000 12.800 Vịnh Ob Irtysh Trung Quốc Biển Hoàng Hà 4.667 2.900 7. 745.000 2.110 Bohai Trung Quốc (Huang He) (4.350) (2.703) (Balhae) Amur Biển Nga, Trung Quốc, 8. 4.368* 2.714* 1.855.000 11.400 (Heilong) Okhotsk Mông Cổ Cộng hòa Dân chủ Congo, Cộng hòa Sông Congo 4.371 2.716 Đại Tây Trung Phi, Angola, 9. 3.680.000 41.800 (Zaire) (4.670) (2.902) Dương Tanzania, Cameroon, Zambia, Burundi, Rwanda 4.260 2.647 Sông 10. Sông Lena 2.490,000 17.100 Nga (4.400) (2.734) Laptev Sông 4.241 2.635 Biển 11. 1.790.000 10.300 Canada Mackenzie - (5.427) (3.372) Beaufort
  3. Sông Peace - Sông Finlay Nigeria (26,6%), Mali (25,6%), Niger (23,6%), Algérie (7,6%), 4.167 2.589 Vịnh Guinée (4,5%), 12. Sông Niger 2.090.000 9.570 (4.138*) (2.571*) Guinea Cameroon (4,2%), Burkina Faso (3,9%), Côte d'Ivoire, Bénin, Tchad Biển Trung Quốc, Lào, Sông Đông Thái Lan, 13. 4.023 2.500 810.000 16.000 Mekong Việt Cambodia, Việt Nam Nam, Myanma Brasil (46,7%), Sông Paraná Argentina (27,7%), 3.998 2.484 Đại Tây 14. (Río de la 3.100.000 25.700 Paraguay (13,5%), (4.700) (2.920) Dương Plata) Bolivia (8,3%), Uruguay (3,8%) Sông Murray 3.750 2.330 Southern 15. - Sông 1.061.000 767 Úc (3.520) (2.187) Ocean Darling Nga (99,8%), Biển 16. Sông Volga 3.645* 2.265 1.380.000 8.080 Kazakhstan (nhỏ), Caspi Belarus (nhỏ) Sông Shatt Iraq (40,5%), Thổ al-Arab / 3.596 2.234 Vịnh Ba Nhĩ Kỳ (24,8%), 17. 884.000 856 Arvandrud - (2.992) (1.859) Tư Iran (19,7%), Syria Euphrates (14,7%)
  4. 3.379 2.100 18. Sông Purus (2.948) (1.832) 63.166 8.400 Amazon Brasil, Peru (3.210) (1.995) Sông Madeira - Brasil, Bolivia, 19. 3.239 2.013 850.000 17.000 Amazon Sông Peru Mamoré Biển Hoa Kỳ (59,8%), 20. Sông Yukon 3.184 1.978 850.000 6.210 Bering Canada (40,2%) Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc, Khu Sông Ấn Biển Ả 21. 3.180 1.976 960.000 7.160 vực đang bàn cãi (Sindhu) Rập (Kashmir), Afghanistan (6,3%) São 3.180* 1.976* Đại Tây 22. 610.000 3.300 Brasil Francisco (2.900) (1.802) Dương Quang cảnh của sông Nil, con sông dài nhất thế giới Sông Nin (tiếng Ả Rập: ‫ ,لينلا‬an-nīl, tiếng Anh: Nile River), là dòng sông thuộc châu Phi, được cho là sông dài nhất thế giới, với chiều dài 6.650 km và đổ nước vào Địa Trung Hải. Sông này còn được người Việt phiên âm là Nhĩ Lô như trong sách Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ.
  5. Đây là dòng sông có ảnh hưởng nhất ở châu Phi, gắn liền với sự hình thành, phát triển và lụi tàn của nhiều vương quốc cổ đại, góp phần tạo dựng nên nền Văn minh sông Nin. Bước tới: menu, tìm kiếm Sông Nin Thượng nguồn Uganda và Ethiopia Cửa sông Ai Cập Các quốc gia Ai Cập, Sudan, Uganda lưu vực Độ dài 6.650 km (4.132 dặm) Cao độ thượng 1.134 m (3.721 ft) nguồn Cao độ cửa sông {{{Cao độ cửa sông}}} Lưu lượng 2.830 m³/s (99.956 trung bình ft³/s) Diện tích lưu 3.400.000 km² vực (1.312.740 dặm²) Sông Nin có hai nhánh chính, quan trọng nhất là sông Nin Trắng bắt nguồn từ vùng xích đạo Đông Phi, rồi đến sông Nin Xanh bắt nguồn từ Ethiopia.
  6. Nin Trắng Hồ Victoria, nằm giữa Uganda, Kenya và Tanzania, được xem là nơi bắt nguồn của dòng sông này. Nin Xanh Sông Nin Xanh bắt nguồn từ Hồ Tana trên vùng cao nguyên của Ethiopia. Dòng Nin Xanh chảy được khoảng 1.400 km (850 dặm) tới Khartoum thì hai dòng Nin Xanh và Nin Trắng gặp nhau, hợp lưu tạo nên sông Nin. Phần lớn nguồn nước của sông Nin được cung cấp từ Ethiopia, khoảng 80-85%, nhưng chỉ về mùa hè khi những cơn mưa lớn đổ xuống vùng naỳ. Dòng Nin Lịch sử Sông Nin với nguồn nước dồi dào đã tạo nên vùng thung lũng trù phú nhất "lục địa đen". Nó đã góp phần rất lớn tới sự hình thành nền văn minh Ai Cập cổ đại, với những kim tự tháp kỳ vĩ. Sông Nin đã ảnh hưởng lớn tới nền văn hoá Ai Cập cổ ngay từ thời đại đồ đá, khi mà sa mạc Sahara đang ngày càng xâm lấn sang phía Đông của lục địa châu Phi. Sông Nin bắt nguồn từ hồ Victoria ở khu vực xích đạo có mưa quanh năm nên lượng mưa khá lớn. Tới Khác-tum sông Nin nhận thêm nước từ phụ lưu Nin Xanh ở khu vực cận xích đạo, lưu lượng trở nên rất lớn, mùa nước lũ lên tới 90 000 m³/s; đến biên giới Ai Cập mặc dù sông Nin chảy giữa miền hoang mạc và không nhận được thêm phụ lưu nào nữa, nước sông vừa ngấm xuống đất, vừa bốc hơi mạnh, gần biển lưu lượng nước giảm nhiều nhưng ở Cai-rô ( Ai Cập ) về mùa cạn lưu lượng vẫn còn 700 m³/s.
  7. Hình ảnh Sông Nin ở Ai Cập Châu thổ sông Đồng bằng sông Nin và Sông Nin ở Nin toàn bộ dòng sông Cairo Sông Nin ở Louxor nhìn Đảo Voi, Aswan Nin ở Aswan Sông Nin ở Louxor từ trên máy bay Bản đồ Đông Bắc Châu Phi, có chỉ nguồn sông Nin Sông Amazon Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Sông Amazon
  8. Lưu vực sông tại Nam Mỹ Thượng nguồn Nevado Mismi Cửa sông Brasil Các quốc gia Brasil (62.4%), Peru lưu vực (16.3%) Bolivia (12.0%), Colombia (6.3%) Ecuador (2.1%) Độ dài 6.400 km (4.000 dặm) Cao độ thượng 5.597 m (18.364 ft) nguồn Cao độ cửa {{{Cao độ cửa sông}}} sông Lưu lượng 219.000 m³/s (7.735,080 trung bình ft³/s) Diện tích lưu 6.915.000 km² vực (2.669.882 mi²) Sông Amazon (tiếng Tây Ban Nha: Río Amazonas; tiếng Bồ Đào Nha: Rio Amazonas) là một dòng sông ở Nam Mỹ. Amazon là sông dài thứ hai trên thế giới (đứng sau Sông Nin ở châu Phi) và là sông có lưu vực lớn nhất thế giới.
  9. Mục lục [xem] • // Lịch sử Sông Amazon được Francisco De Orellan phát hiện năm 1542, ban đầu nó được đặt tên là Riomar. Địa lý Lưu vực Bản đồ lưu vực sông Amazon Lưu vực sông bao phủ phần lớn rừng Amazon, khu rừng nhiệt đới lớn nhất trên thế giới, chiếm diện tích 6.144.727 km² (phần lớn ở Brasil). Amazon có lưu vực rộng nhất thế giới với hơn 1.000 sông nhánh đan chéo nhau dệt thành một mạng sông dày đặc, trong đó có hơn 17 nhánh có chiều dài 1.500 km. Lưu vực Amazon chiếm khoảng 40% tổng diện tích đại lục Nam Mỹ, lớn gấp đôi diện tích lưu vực sông Congo ở châu Phi. Thượng nguồn
  10. Vào tháng 5 năm 2007, nhằm xác định thượng nguồn của con sông, các nhà khoa học Brasil và Peru đã làm một cuộc hành hành trình vất vả. Và họ thấy con sông này bắt nguồn từ vùng núi tuyết Mismi (5000 mét so với mực nước biển). Phong cảnh Thế giới sinh vật sông Amazon Động vật sông Amazon Sông Amazon Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Sông Amazon
  11. Lưu vực sông tại Nam Mỹ Thượng nguồn Nevado Mismi Cửa sông Brasil Các quốc gia Brasil (62.4%), Peru lưu vực (16.3%) Bolivia (12.0%), Colombia (6.3%) Ecuador (2.1%) Độ dài 6.400 km (4.000 dặm) Cao độ thượng 5.597 m (18.364 ft) nguồn Cao độ cửa {{{Cao độ cửa sông}}} sông Lưu lượng 219.000 m³/s (7.735,080 trung bình ft³/s) Diện tích lưu 6.915.000 km² vực (2.669.882 mi²) Sông Amazon (tiếng Tây Ban Nha: Río Amazonas; tiếng Bồ Đào Nha: Rio Amazonas) là một dòng sông ở Nam Mỹ. Amazon là sông dài thứ hai trên thế giới (đứng sau Sông Nin ở châu Phi) và là sông có lưu vực lớn nhất thế giới. Mục lục [xem] • // Lịch sử Sông Amazon được Francisco De Orellan phát hiện năm 1542, ban đầu nó được đặt tên là Riomar.
  12. Địa lý Lưu vực Bản đồ lưu vực sông Amazon Lưu vực sông bao phủ phần lớn rừng Amazon, khu rừng nhiệt đới lớn nhất trên thế giới, chiếm diện tích 6.144.727 km² (phần lớn ở Brasil). Amazon có lưu vực rộng nhất thế giới với hơn 1.000 sông nhánh đan chéo nhau dệt thành một mạng sông dày đặc, trong đó có hơn 17 nhánh có chiều dài 1.500 km. Lưu vực Amazon chiếm khoảng 40% tổng diện tích đại lục Nam Mỹ, lớn gấp đôi diện tích lưu vực sông Congo ở châu Phi. Thượng nguồn Vào tháng 5 năm 2007, nhằm xác định thượng nguồn của con sông, các nhà khoa học Brasil và Peru đã làm một cuộc hành hành trình vất vả. Và họ thấy con sông này bắt nguồn từ vùng núi tuyết Mismi (5000 mét so với mực nước biển). Phong cảnh Thế giới sinh vật sông Amazon Động vật sông Amazon
  13. Sông Ấn Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Sông Ấn Độ Đồng bằng sông Ấn Độ. Sông Ấn Độ gọi tắt là Sông Ấn (Sindh darya), còn được biết đến như là Sindhu trong tiếng Phạn, Sinthos trong tiếng Hy Lạp, và Sindus trong tiếng Latinh, là một con sông chính của Pakistan. Trước khi diễn ra sự chia cắt Ấn Độ thành các quốc gia ngày nay là Ấn Độ và Pakistan năm 1947 thì sông Ấn là con sông lớn thứ hai sau sông Hằng khi xét về khía cạnh tầm quan trọng văn hóa và thương mại của khu vực, và nó là nguồn gốc của tên gọi của Ấn Độ. Con sông này bắt nguồn từ Tây Tạng, chảy từ dãy núi Himalaya theo hướng đông bắc-tây nam qua Kashmir, và sau đó chảy theo hướng nam gần như theo toàn bộ đường chiều dài biên giới của Pakistan với Ấn Độ nhưng sâu trong lãnh thổ của Pakistan. Chiều dài của sông này được tính toán theo các nguồn
  14. khác nhau dao động từ 2.900 đến 3.200 km. Nền văn minh lưu vực sông Ấn có một số điểm định cư dân kiểu đô thị sớm nhất thế giới. Dòng sông và chế độ thủy văn Dòng sông Thượng nguồn của sông Ấn nằm ở Tây Tạng; nó bắt đầu ở chỗ hợp lưu của hai sông là sông Sengge và sông Gar là các con sông tiêu nước cho các dãy núi Nganglong Kangri và Gangdise Shan. Sông Ấn sau đó chảy theo hướng đông bắc-tây nam tới Gilgit- Baltistan ở phía nam của dãy núi Karakoram, sau đó dần dần chuyển hướng theo hướng nam, ra khỏi các vùng núi ở đoạn giữa Peshawar và Rawalpindi. Nó bị đắp đập ngăn nước ở khu vực này, tạo ra hồ chứa nước Tarbela. Phần còn lại trên hành trình của nó ra tới biển là các khu vực đồng bằng của Punjab và Sind, và dòng chảy của nó bị chậm đi rất nhiều. Nó nối với sông Panjnad tại Mithankot. Chảy qua Hyderabad, nó kết thúc tại khu vực đồng bằng châu thổ lớn ở phía đông nam Karachi. Các sông nhánh Hình ảnh từ vệ tinh của lưu vực sông Ấn. • Sông Gilgit • Sông Gizar • Sông Hunza
  15. • Sông Gumal • Sông Zhob • Sông Kabul • Sông Kunar • Sông Sutlej • Sông Shyok • Sông Beas • Sông Chenab • Sông Jhelum • Sông Ravi Linh tinh Sông Ấn là một trong số rất ít sông trên trên thế giới có hiện tượng sóng cồn khi thủy triều dâng. Sông Ấn, theo lưu lượng, là "sông ngoại lai lớn nhất (dòng chảy chính của nó không chảy qua quốc gia mà nó mang tên) trên thế giới. Lịch sử và khảo cổ Nền văn minh thung lũng sông Ấn là một trong bốn nền văn minh của thế giới cổ đại, ba nền văn minh cổ đại khác là nền văn minh Lưỡng Hà (Mesopotamia), nền văn minh Ai Cập cổ đại và nền văn minh Trung Hoa. Các đô thị chính của nền văn minh thung lũng sông Ấn, chẳng hạn như Harappa và Mohenjo Daro đã ra đời vào khoảng năm 3000 TCN, và là hiện thân của những khu vực con người cư trú lớn nhất trong thế giới cổ đại. Sinh vật hoang dã Cá heo sông Ấn là một phân loài của cá heo chỉ tìm thấy ở sông Ấn. Trước kia, chúng đã từng tồn tại ở các sông nhánh của sông Ấn. Cá palla (Hilsa ilisha) sống trong sông này là đặc sản của người dân sống dọc theo hai bờ sông.
  16. Nằm ở phía đông nam Karachi, đồng bằng châu thổ lớn được các nhà bảo tồn sinh thái đánh giá là một trong những khu sinh thái quan trọng nhất của thế giới. Sông Hằng Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Sông Hằng Thượng nguồn sông băng Gangotri Cửa sông Vịnh Ben gan Các quốc gia lưu Ấn Độ và Bangladesh vực Độ dài 2.510 km (1.560 dặm) Cao độ thượng 7.756 m nguồn Cao độ cửa sông {{{Cao độ cửa sông}}} Lưu lượng trung 14,270 m³/s (275,496 bình ft³/s) Diện tích lưu vực 907,000 km² (354,300 mi²)
  17. Sông Hằng (Latinh hóa: Ganges, tiếng Phạn: ) Sông Hằng, sông quan trọng nhất của tiểu lục địa Ấn Độ. Sông Hằng dài 2510 km bắt nguồn từ dãy Hymalaya của Bắc Trung Bộ Ấn Độ, chảy theo hướng Đông Nam qua Bangladesh và chảy vào Vịnh Bengal. Tên của sông được đặt theo tên vị nữ thần Hindu Ganga. Sông Hằng có lưu vực rộng 907.000 km2, một trong những khu vực phì nhiều và có mật độ dân cao nhất thế giới. Dòng chảy Sông Hằng được tạo thành bởi hai con sông đầu nguồn là sông Bhagirathi và sông Alaknanda ở dãy núi Himalaya của bang Uttaranchal thuộc Ấn Độ. Nguồn nước thường được mọi người thừa nhận là Bhagirathi, một con sông bắt nguồn từ một động băng tại độ cao 4000 m và là con sông nhỏ hơn trong hai chi lưu của sông Hằng. Sông Alaknanda bắt nguồn từ khu vực nằm dưới đỉnh Nanda Devi (7.817 m/25.646 ft) gần biên giới Tây Tạng. Được tạo thành từ những khối băng tuyết tan ra từ các địa điểm như Gangotri và các đỉnh như Nanda Devi và Kamet (7.756 m/25.446 ft), hai sông nhánh này chảy về phía Nam qua trung độ Haymalaya đến nơi hội tụ của chúng để tạo nên sông Hằng. Sau khi chảy hơn 200 km (125 dặm), sông Hằng đến thành phố Haridwar (độ cao 310 m/1.020 ft), nơi nó xẻ dọc Dãy núi Siwalik và bắt đầu chảy theo hướng nhìn chung là Đông-Nam qua Đồng bằng sông Hằng. Tại Haridwar, một con đập đã chuyển hướng nước đến Kênh thượng lưu sông Hằng. Giữa Haridwar và Allahabad, một khoảng cách gần 800 km (500 dặm), sông Hằng theo một đường ngoằn ngoèo và không thể lưu thông bằng tàu thuyền được do có nhiều chỗ nông và thác ghềnh. Tại Allahabad, sông Hằng được sông Yamuna chảy từ Tây Nam nhập vào, sau đó sông Hằng chảy theo hướng Đông qua các thành phố Mirzapur, Varanasi, Patna, và Bhagalpur gần biên giới với Bangladesh. Tại đoạn này, sông Hằng cũng nhận được nước đổ thêm vào từ sông Son từ phía Nam, sông Gumti, sông Ghaghra, sông Gandak, và sông Kosi từ phía Bắc. Qua Bhagalpur, sông chạy quanh dãy đồi Rajmahal tại biên giới Bangladesh. Ở đây, qua hướng Nam là Đồng bằng châu thổ sông Hằng, cách Allahabad khoảng 900 km về phía thượng lưu và cách Vịnh Bengal 450 km về phía hạ lưu. Gần Pakaur, Ấn Độ, sông Hằng chia nhánh. Nhánh Bhagirathi chảy về hướng Nam để tạo nên sông Hugli, là nhánh cực Tây của đồng bằng châu thổ, cũng như là kênh vận chuyển đường thủy chính của khu vực đồng bằng này. Các tàu
  18. biển có thể chạy vào Hugli từ cửa sông Hằng ở Vịnh Bengal đến thành phố Kolkata nằm cách cửa sông khoảng 130 km phía thượng lưu. Từ giữa thập niên 1970, Ấn Độ đã chuyển hướng nước vào sông Hugli hay lắng bùn để tăng khả năng vận chuyển đến Kolkata nhưng điều này đã dẫn đến tranh chấp về quyền sử dụng nước với quốc gia láng giềng Bangladesh. Nhánh chính của sông Hằng tiếp tục chảy qua Bangladesh, nơi có đoạn nó được gọi là sông Padma. Sông Hằng đã tạo ra nhiều nhánh sông tạo thành một mạng lưới đường thủy cũng như tạo ra một trong những đồng bằng châu thổ rộng lớn và phì nhiêu nhất thế giới. Dòng chính của sông Hằng tiếp tục chảy theo hướng Nam và được nhận thêm nước từ sông Brahmaputra đổ vào và tiếp nữa là từ sông Meghna (tên mà kể từ đoạn này nó được gọi) trước khi đổ vào Vịnh Bengal. Tại Vịnh Bengal, cửa sông Meghna có bề rộng 30 km. Lưu lượng nước hàng năm của sông Hằng chỉ xếp sau sông Amazon và sông Congo. Do sông hằng mang theo trong mình lượng phù sa lớn nên vùng đồng bằng châu thổ do nó tạo ra tiếp tục mở rộng về phía vịnh. Hình:Bouches-Gange.jpg Cửo sông Hằng Tầm quan trọng về kinh tế Lưu vực sông Hằng là khu vực đông dân nhất, sản xuất nông nghiệp lớn nhất và rộng lớn nhất ở Ấn Độ. Ở châu Á, chỉ có vùng Bình nguyên Hoa Bắc của Trung Quốc là có mật độ dân cư tương tự ở lưu vực này. Ở phần phía Tây của đồng bằng sông Hằng, con sông này cung cấp nước tưới và một hệt thống kênh rạch chằng chịt với các kênh huyết mạch chính là Kênh Thượng lưu sông Hằng và Kênh Hạ lưu sông Hằng. Các loại lương thực và hoa màu trồng trọt và thu hoạch ở khu vực này có: lúa, mía đường, đậu lăng, hạt có dầu, khoai tây và lúa mỳ. Hầu như cả khu vực đồng bằng sông Hằng đã bị khai hoang hết rừng cây và cỏ để phục vụ cho nông nghiệp. Thông thường, hai bên bờ sông Hằng có các vùng đầm lầy và các hồ nước. Ở các khu vực đầm lầy và các khu vực ao hồ này, người ta trồng rau, lúa, ớt, cây mù tạc, vừng (mè) và cây đay. Một số khu vực khác có rừng đước và có cá sấu sinh sống. Do sông Hằng được cấp nước từ các đỉnh núi phủ băng tuyết, lượng nước của nó vẫn giữ mức cao quanh năm và dòng sông vẫn được sử dụng làm thủy lợi thậm chí vào mùa khô và nóng từ tháng 4 đến
  19. tháng 6. Vào mùa mưa mùa Hè, lượng mưa lớn có thể gây lũ lụt hoành hành, đặc biệt là vùng đồng bằng châu thổ. Tầm quan trọng về tôn giáo Những người hành hương tắm ở sông Hằng Những người dân tộc Hindu, dân tộc chiếm đa số trong dân số Ấn Độ, xem sông Hằng là một dòng sông thiêng: Ganga là con gái của thần núi Himavan hay Himalaya. Theo tín ngưỡng Hindu, tắm trên sông Hằng được xem là gột rửa mọi tội lỗi, và nước sông được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ thờ cúng. Uống nước sông Hằng trước khi chết là một điềm lành và nhiều người Hindu đã yêu cầu được hỏa thiêu dọc hai bên sông Hằng và lấy tro thiêu của họ rải lên dòng sông. Những người hành hương Hindu hành hương đến các thành phố thánh của Varanasi, nơi các nghi lễ tôn giáo thường được cử hành; Haridwar được tôn sùng vì nó là nơi sông Hằng rời dãy Himalaya; còn Allahabad, nơi dòng sông Saraswati huyền thoại được người ta tin là chảy vào sông Hằng. Mỗi 12 năm, một lễ hội Purna Kumbha (Vạc Đầy) được tổ chức ở Haridwar và Allahabad mà trong các lễ hội này hàng triệu người đến để tắm trong sông Hằng. Những người hành hương cũng đến các địa điểm linh thiêng khác gần các thượng nguồn sông Hằng, bao gồm đền thờ dưới núi băng Gangotri. Sông Hằng ngày nay Kể từ thập niên 1950, dân số và ngành công nghiệp dọc theo các sông Hằng và sông Hugli đã nhanh chóng phát triển và nước thải công nghiệp và dân cư đã được đổ thẳng vào sông với số lượng khổng lồ. Ngoài ra, do tầm quan trọng về tôn giáo của sông Hằng, những người Hindu thường hỏa thiêu hai bên bờ sông và rắc tro và than xuống dòng sông, điều này thường được thực hiện ở Varanasi. Tất cả những điều này đã cùng nhau gây ô nhiễm dòng nước sông Hằng đến mức việc tắm và uống nước sông Hằng
  20. đang trở nên nguy hiểm. Năm 1986, chính phủ Ấn Độ đã phát động một Kế hoạch Hành động sông Hằng, một chương trình giảm ô nhiễm cho sông Hằng ở 40 thành phố ở các bang Uttar Pradesh, Bihar, và Tây Bengal. Theo kế hoạch này, nước thải được chặn lại đưa qua các nhà máy xử lý. Các lò thiêu điện cũng được xây dựng và nhiều khu vực hai bên bờ sông đã được quy hoạch lại. Sau một thế kỷ triển khai kế hoạch hành động này, mức độ ô nhiễm sông Hằng đã được giảm xuống phần nào. Hoàng Hà Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Hoàng Hà Dòng chảy của Hoàng Hà qua Trung Quốc Thượng nguồn Dãy Côn Lôn, Thanh Hải Cửa sông Hoàng Hải Các quốc gia lưu Trung Quốc vực Độ dài 5.464 km Cao độ thượng 4.500 m nguồn Cao độ cửa sông {{{Cao độ cửa
Đồng bộ tài khoản