ĐAU ĐẦU (Kỳ 4)

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
34
lượt xem
7
download

ĐAU ĐẦU (Kỳ 4)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Có 3 loại thuốc có thể dùng đó là các thuốc chống nhức: . Paracétamol (Dolipran, Dafalgan, Efferalgan, liều 1 đến 2 g/ngày); Dextropropoxyphène (Diantalvic, Propofan); Noramidopyrine (Optadion, Viscéralgin, Baralgin); các dẫn chất của Codéin hoặc của Morphin (Veganine, Efféralgan codéin). . Các thuốc chống viêm, chống nhức không stéroid Aspirine (Aspégic) với liều 300 mg và 2 g/ngày thường có tác dụng với các thể nhẹ bán đầu thống. Các loại chống viêm chống nhức không stéroid khác. . Các dẫn chất của cựa lúa mạch: Tartrate ergotamine (Gynergène caféine viên 1mg hoặc đạn nạp hậu môn 2mg; Migwel viên 2 mg)....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: ĐAU ĐẦU (Kỳ 4)

  1. ĐAU ĐẦU (Kỳ 4) Có 3 loại thuốc có thể dùng đó là các thuốc chống nhức: . Paracétamol (Dolipran, Dafalgan, Efferalgan, liều 1 đến 2 g/ngày); Dextropropoxyphène (Diantalvic, Propofan); Noramidopyrine (Optadion, Viscéralgin, Baralgin); các dẫn chất của Codéin hoặc của Morphin (Veganine, Efféralgan codéin). . Các thuốc chống viêm, chống nhức không stéroid Aspirine (Aspégic) với liều 300 mg và 2 g/ngày thường có tác dụng với các thể nhẹ bán đầu thống. Các loại chống viêm chống nhức không stéroid khác. . Các dẫn chất của cựa lúa mạch: Tartrate ergotamine (Gynergène caféine viên 1mg hoặc đạn nạp hậu môn 2mg; Migwel viên 2 mg). Đây là loại thuốc có tác dụng nhất trong đau đầu bán đấu thống (kết quả khoảng 40-90% tuỳ công trình), nhưng có thể làm tăng nôn. Cần phải cho uống rất sớm lúc chớm có cơn, và tiếp tục uống lần thứ hai sau 30 phút nếu chưa thấy tác dụng. Thường dùng loại uống, nhưng nếu cần có thể dùng đường hậu môn nếu bệnh nhân có nôn nhiều.
  2. Dihydroergotamine đường mũi (Diergospray), dùng tiêm bắp, dưới da, hoặc đường tĩnh mạch. Sumatriptan (viên 25-50 mg/ống 6 mg tiêm dưới da) thuốc co mạch trung ương, đồng vận của Sérétonine loại "5-TH1; thuốc làm giảm đau đầu trong 60% qua đường uống và 80% khi tiêm dưới da. Chống chỉ định khi có thiếu máu cơ tim, đau thắt ngực Prinzmetal, đau đầu sống nền. - Điều trị dự phòng: Khi có từ 2 cơn trong 1 tháng, điều trị triệu chứng bán đầu thống chống chỉ định, đau đầu có aura kéo dài hay đau đầu kèm nhồi máu não. Thuốc chống tác dụng kiểu Sérotonine: Oxétorone (Nocertone) 2-3 viên/ngày. Nguy cơ ngủ gà và tăng cân. Methysergide (Désernil) 2 đến 3 viên mỗi ngày bằng cách tăng dần liều, ví dụ, cứ 5 ngày tăng 1/2 viên, để tránh các tác dụng không mong muốn xảy ra sớm, buồn nôn, chuột rút, mất ổn định. Có một biến chứng hiếm gặp, xuất hiện dài ngày là xơ sau phúc mạc. Nguy cơ này đòi hỏi theo dõi lâm sàng (tìm dấu đau lưng - bụng), sinh hoá (lắng máu kiểm tra trong vòng 3- 4 tháng, urê, créatinine tăng nếu có xơ thận), và nên ngừng thuốc 1 tháng mỗi 6 tháng, hoặc cứ 8, 9 tháng ngừng 3 tháng. Các chống chỉ định là suy mạch vành, cao huyết áp, có thai. - Các thuốc chẹn Bêta:
  3. . Không phải mọi loại đều tác dụng với bán đầu thống. Trong thực hành, được dùng nhiều nhất là Avlocardyl 1 đến 3 viên/ngày (40 đến 120 mg) và Atenolol (Ténormine). Các chống chỉ định: suy tim, hen, nghẽn nhĩ thất, loét dạ dày tiến triển, Raynaud. - Các thuốc ức chế Calci: flunarizine (Sibelium) 1 viên buổi tối. Nguy cơ buồn nôn và tăng cân. - Thuốc chống trầm cảm như Amitriptyline/Fluoxetine buổi tối 1 viên. - Thuốc chống co giật: Divalproex 500 mg/ngày. - Điều trị không dùng thuốc có thể có hiệu quả như châm cứu, thư giãn,... b. Đau dây V: - Biểu hiện lâm sàng: Xuất hiện sau 50 tuổi. Phụ nữ gặp nhiều: 3 nữ cho 2 nam, nguyên nhân còn chưa biết. Họa hoằn tìm thấy tính chất gia đình. Cũng có thể mắc bệnh sớm hơn và lan toả hai bên. Bắt đầu đột ngột, ngay tức thì bởi cơn nhức dữ dội, như kim đâm, như phóng điện, xâu xé, nghiền nát. Xuất hiện nhức cách hồi, với các giai đoạn tiềm tàng hoàn toàn giữa các cơn nhức. Vị trí nhức thay đổi, nhưng cố định đối với cùng một bệnh nhân và bao giờ cũng một bên ở giai đoạn đầu. Đau giới hạn lúc đầu ở 1 khu vực của dây V, thường là khu vực dây hàm trên (môi
  4. trên, cánh mũi, răng nanh trên), ít gặp hơn là vùng thuộc dây hàm dưới (cằm, răng nanh dưới), hoạ hoằn thuộc dây mắt. Trong quá trình tiến triển có thể đau cả 3 khu vực dây V và lan toả ra hai bên. Các cơn đau có thể gây ra các hiện tượng vận động như rung cơ, có thể co cứng cơ đó là "chứng máy cơ mặt". Đau kéo dài vài giây đến 2 phút, khởi phát và hết đều đột ngột, tiến triển từng đợt đau nhói và lặp lại hàng loạt cơn. Các cơn có thể phát động bởi các kích thích khác nhau đối với từng bệnh nhân (nhai, lời nói, ho, hắt hơi, cười, kích thích vào một vùng niêm mạc hoặc da ở mặt...) Sự tồn tại một vùng "cò súng" hoặc "vùng kích thích" là đặc điểm của đầu dây V không nguyên do. Cách tiến triển thông thường là sự xen kẽ các đợt đau với giai đoạn giảm bệnh. Tần suất các cơn rất khác nhau cách nhau vài ngày đến nhiều tháng, nhưng bệnh có xu hướng nặng lên theo tuổi, các đợt giảm dãn xa ra, trở nên ngắn hơn, có thể mất đi; tuy nhiên trong các ca đó, giấc ngủ vẫn không bị ảnh hưởng. Chẩn đoán hoàn toàn dựa vào lâm sàng. Khám thần kinh bình thường (không có các dấu hiệu tổn thương dây V hoặc các dây sọ não khác nếu khám giai
  5. đoạn giữa các cơn. Nếu có một bất thường của dây V dù nhỏ, dù không điển hình cũng cần chụp cắt lớp vi tính hay cộng hưởng từ. Đau có thể lan ra tai (dây thần kinh Jacobson), hoặc ra vùng của dây thần kinh hàm dưới rất rõ. Các dấu hiệu phối hợp như nhịp tim chậm, ngất. Ngoài vô căn có thể có những nguyên nhân sau: các u (u vòm họng, u góc cầu tiểu não, u màng não xoang bên). Nhiễm khuẩn (viêm tai, viêm hạnh nhân mạn tính, cốt tuỷ viêm, viêm khớp cột sống cổ, viêm màng nhện). Các túi phồng động mạch cảnh trong, động mạch sống. Điều trị: Carbamazepine: Tégrétol 3-4 viên/ngày hay Diphényl hydantoine (Dihydan). Clonazépam: Rivotril 1-2 mg 1 đến 4 viên/ngày. Lamotrigine 40 mg/ngày, Baclofen10-20 mg 3-4 lần/ngày. Trường hợp thất bại có thể tiêm rượu vào các nhánh ngoại vi của dây V, có thể đốt điện hạch Gasser bằng đường qua da, hoặc cắt dây thần kinh sau hạch Gasser. 3. Các loại đau đầu dai dẳng: a. U não, bệnh Horton.
  6. b. Các đau đầu nguồn gốc tâm thần: Hay gặp (50% các loại đau đầu). Các dấu hiệu gợi ý: - Kiểu đau như cảm giác kim châm, cảm giác thân thể kỳ lạ, thấy như bị súc vật gậm nhấm não, nhức như bị kẹp đầu. - Mất cân xứng giữa cường độ nhức do bệnh nhân kêu và sự chịu đựng dễ dàng. - Định khu: lan toả hoặc ngược lại rất khu trú (nhức vùng đỉnh đầu là triệu chứng rất gợi ý). Nhức có thể ảnh hưởng cả gáy và vùng chẩm: như vậy, nhứctương ứng với đau đầu dạng căng cơ hoặc với hội chứng Atlas (liên quan đến co các cơ gáy quá mức). - Khuynh hướng tiến triển là yếu tố có tính chất gợi ý nhất: đau đầu mãn tính, tiến triển trong nhiều tháng thậm chí nhiều năm, đau từng ngày từ sáng đến tối. - Các bệnh nguyên chính của các đau đầu nguồn gốc tâm thần: . Các trạng thái lo âu. . Các trạng thái ám ảnh. . Loạn thần kinh chức năng.
  7. . Các hội chứng trầm cảm: tất cả các dạng trầm cảm đều có thể kèm đau đầu. Đau đầu là một trong các triệu chứng chính của trầm cảm ở người cao tuổi. Nó có thể trội lên về triệu chứng học đến mức các triệu chứng trầm cảm trở nên hàng thứ yếu. Thấy được sự liên quan của đau đầu với một nguyên nhân cụ thể là đặc biệt quan trọng để bắt đầu điều trị các thuốc chống trầm cảm. c. Đau đầu chuyên khoa: - Bệnh lý mắt: tất cả đau đầu không đặc hiệu cần khám mắt. Glôcôm cấp gây rối loạn thị lực nhanh chóng 1 hay cả 2 mắt; rối loạn về khúc xạ không điều chỉnh tốt có thể đau đầu ít dữ dội, nặng nề ở hai bên trán và xảy ra hàng ngày. - Bệnh lý tai mũi họng: viêm xoang đặc biệt là xoang trán và xoáng bướm. - Bệnh lý răng hàm mặt: hội chứng Coster do rối loạn chức năng của khớp thái dương hàm liên quan đến sai khớp cắn. Các triệu chứng bao gồm đau, nhai cùng cục, khớp nhô lên, trật khớp thái dương - hàm khi nhai.
Đồng bộ tài khoản