Đấu giá ngược, cơn ác mộng của các nhà cung cấp

Chia sẻ: Vũ đình Phong | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:11

0
133
lượt xem
22
download

Đấu giá ngược, cơn ác mộng của các nhà cung cấp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong cơ chế đấu giá thông thường, nếu muốn mua một sản phẩm hay hàng hóa, người mua sẽ lần lượt đưa ra các mức giá mình sẵn sàng mua ở mức cao hơn người khác.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đấu giá ngược, cơn ác mộng của các nhà cung cấp

  1. Đấu giá ngược, cơn ác mộng của các nhà cung cấp.  (Trịnh Minh Giang) Trong cơ chế đấu giá thông thường, nếu muốn mua một sản phẩm hay hàng hóa, người   mua sẽ  lần lượt  đưa ra các mức giá  mình sẵn sàng mua  ở  mức cao hơn người khác. Lượt chào giá  quay  vòng cho đến khi chỉ còn lại một mức giá chào mua cao nhất và giao dịch được thực hiện. Các cơ chế đấu   giá trực tuyến, trên E­Bay chẳng hạn, cũng áp dụng cơ chế  này, ở đó người bán và người mua sẽ  liên tục   theo dõi diễn tiến trình đấu giá cho đến khi thời hạn quy định kết thúc.  Một đại siêu thị của Pháp muốn tìm một nhà cung cấp sản phẩm bơ để bán lại dưới thương hiệu của mình. Tập đoàn này lựa chọn một vài nhà cung cấp vừa ý nhất và mời họ truy cập vào một trang web với mật khẩu dành riêng tại một thời điểm nhất định. Các nhà cung cấp được thông báo có một số đối thủ cạnh tranh khác cùng tham gia nhưng không được biết chính xác là ai. Trong khoảng từ 30 phút đến 2 giờ đồng hồ, họ sẽ phải cạnh tranh lẫn nhau bằng phương thức đấu giá trực tuyến để đoạt được thị phần thông qua cách giảm dần giá chào bán. "Bạn có thể mất thị phần trong vài phút đồng hồ, giống như đánh bạc vậy", giám đốc một doanh nghiệp tâm sự. Người phát ngôn của một Hiệp hội nhà nông Pháp cho rằng hệ thống này sẽ dẫn tới việc các doanh nghiệp chào bán với giá bằng giá thành sản phẩm. Hệ thống này áp dụng cơ chế đấu giá ngược (reverse auction), một cơ chế mà người bán không lấy gì làm thích thú.   Trong cơ chế đấu giá thông thường, nếu muốn mua một sản phẩm hay hàng hóa, người mua sẽ lần lượt đưa ra các mức giá mình sẵn sàng mua ở mức cao hơn người khác. Lượt chào giá quay vòng cho đến khi chỉ còn lại một mức giá chào mua cao nhất và giao dịch được thực hiện. Các cơ chế đấu giá trực tuyến, trên E-Bay chẳng hạn, cũng áp dụng cơ chế này, ở đó người bán và người mua sẽ liên tục theo dõi diễn tiến trình đấu giá cho đến khi thời hạn quy định kết thúc.   Nếu như cơ chế đấu giá thông thường chỉ có một người bán thì cơ chế đấu giá ngược được thực hiện trong một khoảng thời gian cho trước với 1 người mua duy nhất. Giá chào bán được hạ xuống dần dần cho đến hết thời gian đã định trước. Người chào giá có thể bị loại khỏi cuộc chơi nếu bỏ qua lượt của mình. Gần đây, một đại siêu thị của Pháp đã "tra tấn" các nhà cung cấp thịt trong một cuộc đấu giá kéo dài 24 giờ. Với cơ chế đấu giá xếp hạng (ranking), các nhà cung cấp còn không được biết giá chào của đối thủ cũng như bất cứ thông tin nào khác ngoài vị trí xếp hạng giá chào của mình trong lượt vừa qua. Người ta ước tính đấu giá ngược có thể tiết kiệm khoảng 20% giá nhập cho các tập đoàn. Ở Pháp, các tập đoàn lớn như Danone, L'Oréal, la Redoute, Carrefour, les Mousquetaires hay Casino cùng với các hãng sản xuất ô tô đều áp dụng cơ chế này. Giám đốc thông tin (CIO) của General Electric, Gary Reiner, cho biết năm 2001, công ty đã tiết kiệm được khoảng 600 triệu đôla Mỹ, tức là khoảng 8% chi phí mua vào, nhờ hệ thống đấu giá ngược trực tuyến. Công ty phần mềm và dịch vụ đấu giá hàng đầu thế giới FreeMarkets tuyên bố trong báo cáo thường niên 2001 tỷ lệ 20% tiết kiệm mà họ đã giúp các khách hàng của mình đạt được trên tổng giá trị mua 30 tỷ đôla Mỹ kể từ năm 1995.   Các chính phủ cũng sử dụng cơ chế đấu giá ngược nhất là trong đấu thầu cơ sở trang thiết bị hành chính. Tổng cục hành chính Mỹ cho biết chương trình ứng dụng đấu giá ngược cho các binh chủng không quân và hải quân đã tiết kiệm được từ 12 đến 48%. Cộng đồng châu Âu cũng đang nghiên cứu các hình thức đấu thấu hay đấu giá để tạo ra một thị trường toàn châu Âu.Thierry de Cassan, giám đốc Synerdeal, tập đoàn hoạt động mạnh nhất trong thị trường đấu giá trực tuyến, cho rằng: "Có hai điều kiện cho cơ chế đấu giá: tồn tại một nhu cầu xác định và
  2. tồn tại cạnh tranh trên thị trường". Xét về lý thuyết kinh tế, có thể thấy cơ chế này hội đủ các điều kiện của độc quyền nhóm Bertrand với sản phẩm đồng nhất, các công ty đều có khả năng cung cấp cho toàn bộ thị trường, định giá cùng lúc và loại bỏ khả năng hợp tác hay liên minh. Cân bằng của mô hình này là gì thì hẳn nhiều bạn đọc đã biết: các công ty sẽ có xu hướng định giá ngày càng gần với chi phí biên. Nếu chi phí biên đồng nhất thì rõ ràng đây là một cơ chế thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nghịch lý Bertrand nổi tiếng.   Việc áp dụng ban đầu phục vụ cho chính phủ. Về phía Cộng đồng châu Âu, hình thức đấu thấu hay đấu giá được xem như một phương tiện để tạo ra một thị trường toàn châu Âu. Từ năm 2002, Cộng đồng châu Âu đang nghiên cứu đưa phương thức đấu thầu vào khung pháp lý. Bên cạnh tính tàn bạo, phương thức này đặc biệt thiếu tính minh bạch một cách có lợi cho người mua. Tạo cho họ khả năng nắm bắt các thông số về chất lượng của các nhà cung cấp khác nhau, chi phí vận chuyển, chất lượng sản phẩm, nhiều dữ liệu mà các đối thủ cạnh tranh không biết được ..   Như vậy, thông qua cơ chế này, người mua có thể tìm được mức giá thực hiện thấp nhất có thể. Trong một số trường hợp, đấu thầu đưa ra chỉ nhằm kiểm tra thị trường, tìm kiếm một cơ hội đàm phán trong tương lai. Tại Đức, việc thực hiện hình thức đấu thầu này trong lĩnh vực dịch vụ bị chỉ trích mạnh mẽ bởi tính khắc nghiệt của nó đối với các nhà cung cấp khi mức giá thực hiện quá thấp. Từ năm 2002, Cộng đồng châu Âu đã nghiên cứu đưa khung pháp lý cho hình thức đấu giá bởi bên cạnh tính khắc nghiệt, phương thức này đặc biệt thiếu tính công khai, theo hướng có lợi cho người mua. Theo một nghiên cứu của Rensselaer Polytechnic Institute, khả năng giúp người mua tiết kiệm của cơ chế này rất khó đo lường. Bên cạnh đó, nó có thể để lại hậu quả suy giảm lòng tin giữa các đối tác với nhau. Trong trường hợp của General Electric, khi áp dụng cơ chế đấu giá ngược các chi phí khác đã phát sinh do chất lượng sản phẩm, giao hàng chậm hay thậm chí không giao hàng. Nếu phân tích bằng lý thuyết trò chơi, có thể thấy cơ chế này là một trò chơi có tổng bằng 0 (zero-sum game), tức là người mua thắng dẫn tới người bán thua. Stec và Emiliani, tác giả của nghiên cứu trên đã đưa ra con số 70% nhà cung cấp cho biết muốn tăng giá thật cao nếu có thể để bù lại thua thiệt phải gánh chịu từ đấu giá ngược. Ngoài ra, họ cũng đẩy mạnh tìm kiếm cơ hội bán lẻ với kênh phân phối riêng của mình.   Tháng 7 vừa qua, Phong trào doanh nghiệp Pháp Medef (Mouvement des Entreprises de France) đã thông qua phương thức kiểm soát các hình thức đấu giá có khả năng bị lạm dụng, trước hết là giới hạn phạm vi các mặt hàng có thể đấu giá và loại trừ các ngành dịch vụ và bảo trì bảo dưỡng. Còn đối với Cục canh tranh, tiêu dùng và chống hàng giả DGCCRF (Direction générale de la concurrence, de la consommation et de la répression des fraudes), thì đây lại là giải pháp tái lập các điều kiện hoàn hảo cho một thị trường cạnh tranh. Cho đến khi có một khung pháp lý thực sự, có lẽ các doanh nghiệp sản xuất chỉ còn cách tìm kiếm thêm các kênh phân phối mới mà thôi. Trịnh Minh Giang
  3. Khái quát các hình thức đấu giá  (Trịnh Minh Giang) ­ Đấu giá là một cơ  chế thị trường trong   đó  một vật  hữu hình hay vô  hình (bằng sáng chế...), một  hay một tập hợp sản phẩm hay dịch vụ, (gọi chung là  vật  đấu giá) được trao đổi, mua bán trên cơ sở  giá  chào những   người tham gia  đấu giá  hay người trả  giá  (bidder), những  thành viên tham gia thị  trường.  Đấu giá  cung cấp một hệ  quy tắc  điều chỉnh qua  đó  quyết  định mua từ  hay bán cho   người trả giá thích hợp nhất. Đấu giá được tổ chức vào thời   điểm xác định với số người tham gia hạn chế.  K Ngày nay, cùng với sự  phát triển của thương mại  điện tử,  đấu   ái quát các hình thức đấu giá  h giá được mở rộng hơn rất nhiều và phát triển lên một bước mới. Là một tiêu điểm của các nhà khoa học về lý thuyết trò chơi, trọng tâm nghiên cứu về đấu giá thường xoay quanh   vấn  đề  lựa chọn phương thức và  chiến lược  đấu giá. Quy trình  đấu giá  thường bao gồm một người bán  đấu giá   (auctionneer) sở hữu vật đấu giá  hoặc được uỷ nhiệm điều khiển cuộc bán đấu giá  và  người tham gia. Người này   thông báo về vật  đấu cũng như  phương thức đấu giá  tới các  đối tượng xác  định (trừ  trường hợp đấu giá  rộng rãi).  Người quan tâm tới vật  đấu giá  sẽ   đăng ký  tham gia  đấu giá. Người bán muốn bán với giá  cao nhất có  thể, còn   người mua muốn mua với giá thấp nhất có thể. Tuỳ theo cơ chế đấu giá, người ta có thể chào giá một hoặc nhiều  lần.  Đôi khi, người bán  đấu giá  có  thể   đưa ra một mức giá  chấp nhận tối thiểu, gọi là  giá  hạn chế  ( reservation   price). Một trong những  đặc  điểm của  đấu giá  là  vật chào bán có  giá  trị  chung hay riêng  đối với những người tham gia.  Một vật có thể chỉ có giá trị (riêng) nếu nó rơi vào tay một người (hay một nhóm thiểu số người) nhất định, sưu tầm   đồ  cổ chẳng hạn. Một chiếc xe đạp sản xuất từ cách đây 50 năm đối với nhiều người thì không khác gì cục sắt rỉ   nhưng đối với nhà  sưu tầm thì nó lại là  cả một gia tài. Vật mang giá trị chung nếu nó  có cùng giá  trị tương  đương   đối với tất cả mọi người tham gia đấu giá. Chẳng hạn như bán đấu giá một liều thuốc trường sinh. Một đặc trưng khác của đấu giá là phương thức thực hiện. Người thắng cuộc có thể trả (hoặc được trả) theo giá mà  người  đó  chào (đấu giá  mức thứ  nhất) hoặc theo mức giá  liền kế  tiếp (đấu giá  mức thứ  hai). Việc  đấu giá  có  thể   được tổ chức công khai (open cry) hoặc theo hồ sơ niêm phong (sealed bid). Đấu giá mức thứ nhất cho phép người chào trả giá cao nhất được mua vật đấu giá và trả tiền tại mức giá đó. Mặt   khác, trong  đấu thầu (procurement auction), người thắng cuộc là  người thắng thầu là  người chào  ở  mức giá  thấp   nhất và được trả bằng với mức giá đó. Chẳng hạn như việc đấu thầu xây dựng công trình công cộng. Trên thực tế,  đấu   giá   mức   thứ   nhất   thường   là   đấu   giá   niêm   phong   hoặc   đấu   giá   kiểu   Hà   Lan   ( Dutch   auction). Đấu giá niêm phong: đây là hình thúc đấu giá trong đó người tham gia cùng nộp giá chào một lúc mà không được  biết giá của người khác cũng như giữ kín không cho người khác biết giá của mình. Thông thường người trả giá mua   cao nhất (hoặc giá bán thấp nhất như hình thức đấu thầu) sẽ thắng. Nguời thắng có thể trả theo giá đã chào hoặc   tại   mức   giá   thấp   hơn   ngay   sau   mức   giá   thắng   cuộc   (đấu   giá   mức   thứ   hai). Đấu giá kiểu Hà Lan: người bán đấu giá đưa ra một mức giá rất cao cho vật đấu giá mà thường là không người mua  nào trả nổi. Mức giá sẽ được hạ xuống dần dần theo một chiếc đồng hồ. Nếu người trả giá chấp nhận mức giá thì  phải ấn nút chấp nhận ngay, nếu không sẽ mất cơ hội. Phuơng thức này được áp dụng rộng rãi trong các chợ Hoa   nổi tiếng của Hà Lan. Đấu giá mức thứ hai chấp nhận người trả giá ở mức cao nhất và người thắng cuộc chỉ phải trả tiền ở mức giá thấp  liền dưới mức thắng cuộc. Trong  đấu thầu, người bỏ  thầu có  mức giá  thấp nhất sẽ   được chấp nhận thầu nhưng 
  4. được trả  tiền  ở  mức cao liền trên mức giá  chào thắng cuộc.  Đấu giá  mức thứ  hai thường là   đấu giá  niêm phong  hoặc   đấu   giá   kiểu   Anh   (English auction).   Đấu giá  kiểu Anh: người bán đấu giá điều khiển cuộc bán đấu giá sao cho người trả  giá thắng được mức giá  hiện  tại.  Giá  chào mới phải cao hơn giá  chào cũ  một khoảng cho trước. Cuộc  đấu giá  chấm dứt khi không còn người   nào đưa ra mức giá khá hơn. Người trả giá hiện tại sẽ thắng và trả số tiền theo giá đã chào. Đấu giá kiểu Anh được   coi là đấu giá mức thứ hai vì người thắng cuộc chỉ cần chào giá ở mức giá thứ hai (hoặc hơn mức thứ giá thứ 2 một   chút) Đấu giá  mức thứ  hai còn  được gọi là  đấu giá  Vickrey, lấy tên của William Vickrey, giải Nobel 1996. Ông là  người   đầu tiên mô tả và chỉ ra rằng người trả giá có một chiến lược vượt trội để trả giá theo giá trị thực mà người chơi mà   không cần quan tâm tới những gì mà đối thủ làm nhưng vẫn đạt được lợi ích cao nhất so với các chiến lược khác.   Phần chênh lệch giửa mức thứ nhất và thứ hai, theo Ông, khuyến khích người trả giá đưa ra con số lớn nhất mà họ   sẵn sàng trả. Các hình thức đấu giá không chỉ được áp dụng đối với những mặt hàng hiếm mà còn được sử dụng rộng rãi tại các   sàn giao dịch hàng hoá  theo lô,  đặc biệt là  với các cơ  chế  khớp lệnh giao dịch tự   động. Nghiên cứu  đấu giá  giúp   cho các nhà  thiết kế  thị  trường có  thể  tối  ưu hoá  hoạt  động mua bán. Hơn thế  nữa, kết hợp với lý thuyết trò chơi,   nghiên cứu đấu giá có thể giúp người bán đấu giá đạt được hiệu quả cao hơn.
  5. John Nash và lý thuyết cân bằng  (Trịnh Minh Giang) ­ John Forbes Nash Jr., sinh ngày 13 tháng 6 năm   1928, là một nhà toán học nghiên cứu về  lý thuyết trò chơi và  hình học   vi phân.  Ở  tuổi 30, khi  đang cống hiến hết mình cho toán học, Nash   mắc chứng tâm thần phân liệt kéo dài 25 năm. Năm 1994, nhờ  những   đóng góp của cân bằng Nash trong kinh tế, ông được trao giải Nobel Kinh tế.   J Cuộc  đời của Nash  đã   được chuyển thể  thành phim với tiêu  đề  "A Beautiful   ohn Nash và lý thuyết cân bằng  Mind",   dựa   theo   cuốn   sách   cùng   tên   của   Sylvia   Nasar   và   đã   đoạt   4   giải  Oscars 2002.  Cân bằng Nash là  một khái niệm trong Lý  thuyết Trò  chơi (Game Theory), được tiến sỹ  John Nash  đưa ra trong   luận án năm 1950 tại Priceton với mô hình trò chơi với n đối thủ. Cân bằng Nash [1] xác định một chiến lược tối ưu   cho các trò chơi khi chưa có điều kiện tối ưu nào được xác định trước đó. Định nghĩa cơ bản của cân bằng Nash là:  Nếu tồn tại một tập hợp các chiến lược cho một trò  chơi với  đặc tính là  không một  đối thủ  nào có  thể  hưởng lợi   bằng cách thay đổi chiến lược hiện tại của mình khi các đối thủ khác không thay đổi, tập hợp các chiến lược đó và   phần thu nhận tương ứng tạo nên cân bằng Nash. Nói cách khác, cân bằng Nash đạt được nếu như thay đổi một   cách đơn phương của bất cứ ai trong số các đối thủ cũng sẽ làm cho chính người đó thu lợi ít hơn mức có được với   chiến lược hiện tại. Khái niệm này áp dụng cho những trò chơi gồm từ hai đối thủ trở lên và Nash đã chi ra rằng tất   cả các khái niệm khác nhau về giải pháp (solution) trong các trò chơi được đưa ra trước đó đều có cân bằng Nash. Một ví dụ đơn giản [2]: trong một trò chơi gồm hai đối thủ cùng chọn song song một số bất kỳ từ 0 đến 10. Người   nào chọn số lớn hơn sẽ thua và phải trả tiền cho người kia. Trò chơi này chỉ có 1 cân bằng Nash duy nhất: cả hai  đối thủ đều chọn số 0. Bất kỳ sự lựa chọn nào khác (mà không biết sự lựa chọn của đối thủ kia) cũng có thể  làm   đối thủ thua cuộc. Khi thay đổi luật chơi: mỗi đấu thủ sẽ được hưởng số tiền bằng con số mà cả hai cùng chọn, nếu   không chọn trùng nhau thì không ai có tiền, ta sẽ có 11 cân bằng Nash. Một trò chơi có thể có nhiều hoặc không có cân bằng Nash. Nash cũng chứng minh rằng nếu cho phép các chiến   lược hỗn hợp (mixed strategies) tức là các  đối thủ  chọn ngẫu nhiên các chiến lược dựa vào khả  năng đã  được ấn   định trước, thì bất cứ một trò chơi với n đối thủ nào trong đó mỗi đối thủ có thể chọn trong giới hạn cho trước nhiều  chiến lược sẽ có ít nhất 1 cân bằng Nash của các chiến lược hỗn hợp. Ví  dụ  với Trò  chơi Phối hợp (Coordination Game) [2].  Đây là  trò  chơi ma trận  đôi cổ  gồm 2  đối thủ  A và  B. A  thường ở bên trái (tương ứng với số đầu tiên trong cặp số), B thường ở phía trên (tương ứng với số thứ hai trong cặp   số). Trò chơi phối hợp trong việc lái xe. Có thể chọn lái bên trái hoặc bên phải với 1 tức là không gây tai nạn và 0  tức là gây tai nạn. B   Trái Phải Trái 1,1 0,0 A Phải 0,0 1,1 Trong trường hợp này, ta thấy có 2 cân bằng Nash khi cả 2 cùng chọn hoặc lái bên trái hoặc lãi bên phải.
  6. Ví dụ với Song đề Tù nhân (Prisoner's dilemma)  [2]. Song đề này minh hoạ sự mâu thuẫn giữa hành vi cá nhân   có năng lực suy đoán và lợi ích của việc hợp tác. Vấn đề mấu chốt là mỗi đối thủ đều cố gắng tối đa hoá lợi ích của   mình mà không quan tâm tới lợi ích của những người khác, tức là đối thủ có tính ích kỷ. Song đề tù nhân có 1 cân   bằng Nash khi cả 2 đối thủ đều không tôn trọng giao ước. Tuy nhiên cả 2 đều sai rõ ràng không bằng cả hai cùng   hợp tác. Chiến lược hợp tác không bền vì một đối thủ có thể làm tốt hơn bằng cách không tôn trọng giao ước trong   khi đối thủ của anh ta vẫn hợp tác. Cân bằng Nash giúp làm rõ sự phân biệt giữa các trò chơi hợp tác và không hợp tác. Các trò chơi hợp tác có những   thoả  thuận có thể được áp đặt bời toà án chẳng hạn. Trong các trò chơi không hợp tác không tồn tại cơ chế thoả   thuận như  vậy. Và vì thế  chỉ  có các thoả  thuận cân bằng được duy trì. Một hướng lý  thuyết trò  chơi mới được mở   đường bằng cân bằng Nash xoá  bỏ  sự phân biệt này bằng cách xoá  bỏ  các cơ chế  áp đặt có liên quan trong mô   hình trò chơi, từ đó các trò chơi được mô hình hoá với tính chất không hợp tác. Lý  thuyết kinh tế  về   đấu giá  [3] cũng là  một trong những  áp dụng lớn của cân bằng Nash và lý  thuyết trò  chơi.   Trước kia, các nhà kinh tế thường chỉ phân tích thị trường thông qua cung và cầu hàng hoá mà không chú trọng tới   quy luật của "trò  chơi" làm cho các hình thức  đấu giá  trở  nên khác biệt với nhau và  với các hình thức thị  trường   khác (thị  trường chứng khoán, siêu thị...). Ngày nay nghiên cứu  đấu giá  thường dựa trên cân bằng Nash của các   quy luật đấu giá. P. Ordeshook [4] Giáo sư chính trị học, Học viện công nghệ California, tác giả cuốn "Lý thuyết trò chơi và lý thuyết   chính trị"  đã  viết: "Khái niệm cân bằng Nash có  lẽ  là   ý  tưởng quan trọng nhất trong lý  thuyết trò  chơi không hợp   tác... dù  trong việc phân tích chiến lược ứng viên / bầu cử, phân tích nguyên nhân chiến tranh, ..., hay hành động   của các nhóm quyền lợi, dự  báo về các sự kiện đều thu lại trong việc tìm kiếm và mô tả các trạng thái cân bằng.   Đơn giản hơn, các chiến lược cân bằng là những dự đoán về con người". Trong thế  kỷ 19, các nhà khoa học khác đã sử dụng lý thuyết cân bằng  như  Maxwell, Walrus, Gibbs.  Đầu thế kỷ  20, cân bằng kinh tế và hoá  học  được sử  dụng bởi van der Waals, Onnes, Keynes trước khi  được Nash sử dụng.   Nhiều nhà khoa học khác đã bổ sung cho lý thuyết của Nash trong thập kỷ 50 và 60 như Selten, Harsanyi, và tiếp  túc khám phá  các khả  năng khác nhau của Lý  thuyết cân bằng tổng thể  (General Equilibrium Theory ­ GET) từ  thập kỷ 70 tới thập kỷ 90, trong đó có Arrow, Hicks, và Debreu. Lý thuyết này vẫn được giảng dạy trong các trường  đại học ngày nay.Lý thuyết của Nash đã trở thành một hệ thống giải thích và chứng minh đa dạng hơn rất nhiều so  với khái niệm ban đầu của tác giả. Hệ thống ấy đang ngày một phát triển trong xã hội, ở cả những nơi mà Nash có  lẽ không bao giờ nghĩ đến.
  7. Zero­sum and non zero­sum games, trò  chơi có  tổng bằng 0 và khác 0  (Trịnh Minh Giang) ­ Lý  thuyết trò  chơi coi trò  chơi là  sự  kết hợp hoặc trao  đổi giữa hai hay nhiều đối thủ ở đó mỗi đối thủ cố gắng lựa chọn tối ưu hành   động (hay nước đi) của mình nhằm đạt được lợi ích tối đa. Người ta chia các   Z trò chơi ra làm 2 loại: trò chơi có tổng bằng 0 và trò chơi có tổng khác 0.  ero­sum and non zero­sum games,  trò chơi có tổng bằng 0 và khác 0  Trò  chơi có  tổng bằng 0 (zero­sum) là  trò  chơi có  tổng giá  trị  kết quả  (mà  người  thắng được hưởng) là cố định. Bất cứ bên nào thắng (+1) cũng làm cho bên kia thua cuộc (­1), tương ứng với tình  huống ganh đua thuần tuý, cuối cùng dẫn tới tổng (+1 ­1) = 0. Cờ vua là một trò chơi có tổng bằng 0 bởi không thể có trường hợp cả hai bên đều thắng hoặc đều thua. Nếu một   bên thắng thì bên kia nhất định là thua và ngược lại [1]. Thể thao là những ví dụ điển hình nhất của trò chơi có tổng   bằng 0. Nhà  vô   địch chỉ  có  thể   đạt  được vinh quang khi toàn bộ  các  đối thủ  khác  đều thua cuộc. Trong một giải  bóng đá tổng số trận thắng luôn bằng tổng số trận thua cũng là bởi cái tính chất tổng bằng 0 ấy. "Được ăn cả, ngã về không", việc đầu cơ chứng khoán cũng chính là một trò chơi có tổng bằng 0, ở đó, kẻ đầu cơ   có thể mất trắng hoặc thắng lớn, nhưng lợi nhuận mà anh ta thu được có thể đổi bằng cả gia tài, đôi khi mạng sống   của những nhà đầu tư tài chính khác. Khác với tổng bằng 0, trong những tình huống có tổng khác 0, lợi ích thu được của người nay không nhất thiết dẫn   tới sự mất mát của người kia. Các tình huống này tồn tại với điều kiện tổng kết quả  (mà người thắng được hưởng)   không bị giới hạn hay cố định. Về bản chất đây là trường hợp kiến tạo kết quả thay vì chia sẻ kết quả giữa các đối  thủ. Chẳng hạn như  khi nghe hoà  nhạc, người ta không phải thích một bản hoà  tấu vì  người khác không thích nghe.   Việc ai đó  không thích nghe chẳng có  ảnh hưởng gì tới sở thích của bạn trong điều kiện bạn không phải nghe lời  bình luận của người đó [2]. Thực ra trong trò chơi tổng bằng 0 cũng có thể tồn tại tình huống tổng khác 0. Chẳng hạn như ví dụ mà R. Kaplan   (2003) đưa ra [3]. Ở một trận tennis đơn, mỗi đối thủ chỉ có cơ hội thắng hoặc thua (hoặc là ... hoãn trận đấu). Còn   ở trận tennis đôi, mỗi đôi có cơ hội thắng hoặc thua ứng với trò chơi có tổng bằng 0, nhưng mỗi cầu thủ trong cùng  một đội lại đang tham gia vào một trò chơi có tổng khác 0 mà ở đó họ có thể cùng thua hay cùng thắng. Rõ ràng là   họ đang hỗ trợ nhau hết mình để cùng dành phần thắng đúng không. Các tiện ích công cộng, thông tin hay kiến thức cũng có tổng khác 0 bởi người ta có thể sử dụng mà không làm cạn   kiệt hay làm mất phần của người khác. Năng lượng mặt trời cũng vậy. Người ta có thể sử dụng thoải mái mà không   phải lo những người khác hay cho con cái đời sau không có mà dùng. Việc phát triển công nghệ này còn có lợi cho  bất cứ ai trên thế giới (có lẽ trừ mấy ông sản xuất điện truyền thống) và cho cả các thế hệ sau. Ngoài lề một chút, không biết bạn đã từng xem kiến càng "thi đấu" đến "hơi thở cuối cùng" bao giờ chưa. Đó là một   cuộc chơi có  tổng khác 0 giữa hai chú  kiến mà   ở   đó  không có  người thắng, chỉ  có  kẻ  chết trước và  chết sau mà   thôi. Giá  mà  hai chú  kiến có  thể  trao  đổi qua lại và  đổi "đối đầu" thành "đối thoại" thì  chắc mấy chú  nhóc nghịch  ngợm cũng chằng còn hứng thú nào mà làm khổ hai chú kiến cỏn con ấy nữa. Đừng tưởng mấy chị  buôn chuyến không biết chơi trò  tổng khác 0 nhé. Nếu  đôi bên không cùng có  lợi, có  lẽ  sẽ   chẳng có hoạt động buôn bán nào có  thể  diễn ra. Người  đi buôn chẳng dại gì tham gia vào thương vụ  mà không 
  8. nhìn thấy lợi nhuận gì. Tất nhiên không phải thương vụ buôn bán nào cũng sinh lợi, nhưng người ta vẫn cứ đi buôn   đấy thôi. Hầu hết các hiện tượng kinh tế đều có  tổng khác 0. Chẳng hạn khi sản lượng khai thác quặng tăng lên, nhà  khai   thác giảm giá đầu ra. Nhà máy luyện kim qua đó cung ứng đầu vào với giá rẻ hơn cho nhà máy cán thép đảm bảo   được vật liệu cho ngành xây dựng với giá thành hạ. Ngành xây dựng tăng trưởng. Người chủ  đầu tư  xây dựng hài   lòng, chủ nhà  máy cán thép rồi luyện kim cũng đều hài lòng từ việc gia tăng sản lượng khai thác quặng. Còn nhà   khai thác qua  đó  cũng bán thêm được nhiều quặng. Có  thể  thấy tất cả  đều thắng trong cuộc chơi có  tổng khác 0   này. Ngày nay, người ta ứng dụng tổng khác 0 vào những chiến lược kinh doanh  win­win, tức là đôi bên cùng có lợi. Bất  cứ  công ty nào cũng phải nghĩ  tới mối lợi của của những người cùng chơi,  đó  là  khách hàng, là  nhà  cung  ứng, là   những đối tượng mà người ta gọi là "steakholders" tức là ít nhiều có một chút lợi ích từ sự thành công của công ty,   trong  đó  có  xã  hội nữa. Muốn phát triển bền vững, hãy luôn lấy chiến lược  win­win làm mục  đích hướng tới cho  mình. Rõ ràng chiến lược kinh doanh tối ưu phải tham gia vào trò chơi có tổng khác 0 chứ không thể rơi vào vòng  xoáy của cuộc chơi có tổng bằng 0 sinh tử.
  9. Prisoners'   Dilemma   ­   Hợp   tác  hay không  (Trịnh Minh Giang) ­ "Ngụ  ngôn hai người tù" là  tên một trò  chơi nghiên cứu về  sự  hợp tác giữa  những người trong cuộc. Ý tưởng về trò chơi này   được hai ông Merrill Flood và Melvin Dresher đưa   ra   thảo   luận   từ   năm   1950,   trong   khuôn   khổ  nghiên   cứu   về   lý   thuyết   trò   chơi   của   Rand  Corporation.  Pr Cái   tên   "Ngụ   ngôn   hai   người   tù"   ( Prisoners'   isoners' Dilemma ­ Hợp tác hay không  Dilemma), dịch đúng là "tình trạng lưỡng nan của hai  người tù", được Albert Tucker đặt trong cuốn ghi chép không xuất bản của ông: "Two­person dilemma" năm 1950. Truyện kể  rằng Tanya và  Cingque bị  bắt khi mang súng vào Ngân hàng tiết kiệm Hibernia. Bị  nhốt  ở  hai phòng   giam riêng biệt, cả hai đều lo lắng cho số phận của mình hơn là cho đồng đảng. Nhân viên điều tra đã đưa ra một  điều kiện thông minh nhằm lấy lời khai của hai tên cướp. Anh ta nói với mỗi tên trong bọn chúng: "Anh có  quyền   chọn Im lặng hoặc Khai báo nhưng hãy nhớ  rằng nếu anh chịu Khai báo rằng các anh  định cướp ngân hàng và   đồng đảng của anh giữ Im lặng, anh sẽ được tự do và chúng tôi sẽ kết luận đồng đảng của anh phạm tội, hắn sẽ bị   ngồi tù. Ngược lại, nếu anh giữ Im lặng mà đồng đảng của anh Khai báo, chính anh sẽ phải ngồi tù còn hắn sẽ ung   dung tại ngoại. Nếu cả hai anh đều Khai báo, chúng tôi sẽ kết án với tình tiết giảm nhẹ, còn nếu cả hai đều giữ Im  lặng, chúng tôi sẽ bỏ tù các anh vì tội mang súng trái phép. Vậy anh chàng Tanya sẽ nghĩ sao nhỉ? Anh ta nghĩ đi nghĩ lại thì thấy mình chỉ có lựa chọn là Im lặng hoặc Khai   báo mà thôi. (1) Nếu đồng đảng của Tanya Im lặng, Tanya cũng Im lặng, cả hai cùng bị tù vì mang súng bất hợp  pháp. Nếu Tanya Khai báo, anh ta sẽ được tự do. Vậy thì Khai báo là hơn. (2) Nếu đồng đảng của Tanya Khai báo   mà Tanya Im lặng, anh ta sẽ phải ngồi tù vì tội cướp ngân hàng. Nếu Tanya cũng Khai báo, anh ta sẽ được hưởng  tình tiết giảm nhẹ. Vậy thì khai báo là hơn. Cingque cũng suy nghĩ như vậy. Và thế là cả hai đều chọn Khai báo và  phải ngồi tù vì  cướp nhà  bằng, mặc dù  có tình tiết giảm nhẹ  thì  cũng vẫn phải ngồi tù  lâu hơn tội mang súng trái  phép. Nếu trước đó, hai tên cướp có mối quan hệ tốt hơn hoặc chúng có thể trao đổi trước trong tù thì đâu đến nỗi. Ở đó có thể thấy xung đột giữa lợi ích nhóm và lợi ích cá nhân. Một nhóm với những cá nhân trục lợi có thể dẫn tới   kết quả  tồi hơn nhóm khác. Trò  chơi  đặt ra vấn  đề   ở  chỗ  cả  sẽ   đều thắng nếu cùng hợp tác, nhưng nếu có  một   người không hợp tác, tức là phá vỡ cam kết, người đó sẽ được lợi nhiều hơn. Nếu cả hai đều phá vỡ cam kết, cả hai   sẽ đều thua (hoặc được lợi chút ít). Có thể biểu diễn tình huống và kết quả của trò chơi như sau: Hợp tác Không hợp tác A/B Hợp tác Khá có lợi +5 Rất có hại -10 Không hợp tác Rất có lợi +10 Bình thường 0 Đây là kết quả của A sau khi B đưa ra quyết định. Có thể thấy nếu B chọn Hợp tác, A chọn Không hợp tác sẽ có lợi   hơn. Nếu B chọn Không hợp tác, A chọn Không hợp tác cũng có lợi hơn. B cũng sẽ chọn như vậy. Bất cứ ai hợp tác  mà  không  được  đáp lại sẽ  bị  thua thiệt bởi người kia, trừ  khi họ  tìm thấy lợi  ích gia tăng,  đôi bên cùng có  lợi lớn   (synergy), từ việc hợp tác. Như  vậy, prisoners' dilemma là một trò chơi có tổng bằng  0 khi không tìm thấy sự hợp tác giữa những người chơi.   Cả  2 đều nhận  được 0 nếu đều không hợp tác, nếu một người nhận  được +10 thì người kia sẽ nhận được ­10 với 
  10. tổng (+ 10 ­ 10) = 0. Rõ ràng là nếu trò chơi được chuyển sang tổng khác 0, hợp tác giữa hai người sẽ tạo ra cho   mỗi người +5, với tổng (+ 5 + 5) = 10. Vì lợi ích giữa việc cùng hợp tác (+5) nhỏ  hơn việc không hợp tác (+10) nên người ta có xu hướng không hợp tác.  Lập luận không phải hoàn toàn đúng. Chẳng hạn như ví dụ mà Pricipia Cybernetica đưa ra [1]: hai con sói luôn có   thể bắt được con mồi lớn hơn nhiều con mồi mà một con sói có thể bắt được. Ngay cả khi một con sói bắt được một   con thỏ và chia sẻ với bạn mình thì con sói lười nhác thứ hai cũng vẫn có ít thức ăn hơn nếu nó hợp tác với con sói   thứ nhất để bắt một con hoẵng. Tuy nhiên, việc hợp tác bắt một con hoãng không phải là đơn giản và người ta coi nó  như một sự hợp tác lâu dài,   đòi hỏi nhiều nỗ  lực và  công sức trong dài hạn.   Prisoners' Dilemma  tập trung nghiên cứu về  việc ra quyết  định   trong ngắn hạn, khi mà người tham gia không có thời gian hoặc không mong đợi vào sự hợp tác hay kết hợp trong   tương lai (giống như trường hợp hai người tù). Vấn đề đặt ra là hai người ra quyết định đều suy nghĩ một cách thuần   lý (rational) [2], tức là  lựa chọn phương  án có lợi nhất cho mình bất kể người kia muốn hợp tác hay không, vì vậy  mà họ sẽ luôn chọn không hợp tác và dẫn tới chẳng ai được gì ( 0). Nếu họ không thuần lý mà chọn hợp tác thì cả   hai đều có lợi (+5) mà không ai bị thua thiệt. Serendip   [3]   có   đưa   ra   một   trò   chơi   với   hai   người   A   và   B   như   sau: ­ Mỗi lần đi, A và  B phải chọn giữa hợp tác hoặc vượt lên người chơi cùng mình (bằng cách chọn cạnh tranh) mà  không   biết   người   kia   sẽ   chọn   gì. ­   Mỗi   lần   chơi,   A   và   B   mỗi   người   sẽ   có   một   số   tiền   tuỳ   thuộc   vào   lựa   chọn   của   hai   người. ­   Nếu   chọn   hợp   tác   sẽ   được   3   đồng. ­ Nếu một người chọn hợp tác mà người kia chọn cạnh tranh, người đó sẽ được 5 đồng, còn người chọn hợp tác sẽ  không   được   gì. ­   Nếu   cả   hai   cùng   chọn   cạnh   tranh,   mỗi   người   sẽ   có   0   đồng. Sau mỗi lượt chơi, người ta sẽ lấy ngẫu nhiên một số và so sánh với số tiền trung bình của những lần chơi trước đó   của mỗi người. Đến hết lượt cuối cùng, các kết quả so sánh sẽ được công bố, nếu có lần nào đó số tiền trung bình   nhỏ hơn số ngẫu nhiên, người chơi sẽ không được đồng nào cả. Nếu không, người chơi sẽ được hưởng tổng số tiền   mà anh ta kiếm được đến hết lượt cuối cùng. Như vậy, vì không thể biết được số ngẫu nhiên nên người chơi phải tìm cách tối đa số tiền anh ta thu được sau mỗi   ván chơi. Theo như đã phân tích ở trên, A sẽ có xu hướng chọn cạnh tranh.  Lượt thứ nhất: Số tiền thu về của mỗi người thể hiện ở bảng dưới đây. Hợp tác Cạnh tranh A/B Hợp tác 3/3 0/5 Cạnh tranh 5/0 0/0 Giả sử A chọn cạnh tranh và B chọn hợp tác, A sẽ được 5  đồng, B thì không được đồng nào. Trung bình của A là  5, và của B là 0. Nếu B chọn cạnh tranh thì cả hai đều không có đồng nào. Lượt thứ  hai: Ở lượt đi này A sẽ chỉ có lợi khi B chọn hợp tác. Vậy B có chọn hợp tác hay không? Dưới đây là ma   trận tổng số tiền của hai người nếu B chọn cạnh tranh (A đã có sẵn 5 đồng từ lượt chơi trước). Hợp tác Cạnh tranh A/B Hợp tác 3/3 0/5 Cạnh tranh 5/0 0/0
  11. Rõ ràng B sẽ phải chọn cạnh tranh để tìm cách quân bình điểm với A, các lựa chọn khác đều dẫn tới B thấp điểm   hơn A. Vậy khi B chọn cạnh tranh thì  điểm của A dừng lại ở  con số   5 cho dù  A chọn phương án nào. Trung bình   của A và B đều là: 2,5. Bây giờ ta xét trường hợp A và B cùng chọn hợp tác ở lượt thứ nhất. Lượt thứ nhất: Trung bình của cả hai người đều là 3. Lượt thứ hai: Nếu cả cùng chọn hợp tác, trung bình sẽ vẫn là 3 > 2,5. Cứ  như  vậy, nếu A hay B chọn cạnh tranh, tình huống sẽ  rơi về trường hợp 1, làm cho trung bình sẽ lại nhỏ  hơn   trung bình khi chọn hợp tác (3). Do suy nghĩ  thuần lý và không có trao đổi qua lại giữa hai bên, A và B đã  tự làm  tăng xác suất thua cuộc của mình lên trong khi cả hai có thể về đích an toàn và hưởng số tiền sau lượt chơi cuối   cùng bằng cách hợp tác. Robert   Axerold,  giáo  sư   chính  trị  và   chính  sách   công  của   Đại   học  Michigan,   tác   giả   cuốn   “The  Evolution   of   Cooperation”, đã  tổ chức thực hiện 200 trò  chơi Prisoners’ Dilemma từ  đơn giản đến vô cùng phức tạp với 14 nhà  kinh tế học và toán học nhằm tìm kiếm một chiến thuật tốt nhất cho mọi trò chơi. Kết quả là chiến thuật đơn giản  nhất của giáo sư  Anatol Rapoport của  Đại học Toronto, Canada,  đã   đạt số   điểm cao nhất. Chiến thuật  đó   được   chiến thuật "ăn miếng trả miếng" (Tit For Tat) chỉ gồm 2 quy tắc: ­ Lượt đầu tiên chọn hợp tác. ­ Các lượt sau chọn như đối thủ đã chọn ở lượt liền kề trước đó. Chiến thuật này càng khẳng định vị trí độc tôn sau khi Robert Axelrod tổ chức tiếp một vòng chơi khác gồm 62 đối   thủ  là các giáo sư   đến từ  6 nước. Sức mạnh của Tit For Tat là  khả  năng  ép các chiến thuật cạnh tranh phải hợp  tác. Sau khi xếp hạng các chiến thuật theo điểm số từ cao xuống thấp, Axerold nhận thất rằng những người ít tha   thứ  (tức là ít quay lại hợp tác nhất) có điểm số thấp nhất. Ông đi tới kết luận bằng 4 quy tắc nổi tiếng. ­   Không   bao   giờ   là   người   đi   quá   giới   hạn   trước   (luôn   hợp   tác   ở   những   lượt   chơi   đầu   tiên). ­   Tự   vệ   nhưng   biết   tha   thứ   (không   hợp   tác   nếu   đối   thủ   không   hợp   tác,   hợp   tác   nếu   đối   thủ   hợp   tác). ­   Không   đố   kỵ   cho   dù   người   ta   giàu   có   hơn   mình   (luôn   duy   trì   hợp   tác). ­ Biết chắc là đối thủ có khả năng hiểu được trò chơi như mình. Người ta nói rằng Martin Luther King Jr. và Assar Arafat, những nhà lãnh đạo được giải Nobel về hoà bình, đều đã   áp dụng xuất sắc chiến thuật ấy. Thực hư thế nào xin được dành đến bài viết sau

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản