Dấu hiệu đau đầu do căn nguyên u não (Kỳ II)

Chia sẻ: Hoason Hoason | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
64
lượt xem
8
download

Dấu hiệu đau đầu do căn nguyên u não (Kỳ II)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Những nét đặc biệt của đau đầu do di căn, do áp-xe và do bọc máu não Các di căn ung thư có biểu hiện bằng nhiều cách: khi thì là một di căn trong nhu mô, đôi khi là một viêm màng não tân sản ở nền sọ: sự thâm nhiễm tế bào của màng mềm có thể gây đau dữ dội và làm tổn thương những dây thần kinh sọ não một cách pha tạp và lại ở hai bên. Chụp Xquang cũng thấy hình ảnh bình thường, mặc dầu hướng chẩn đoán đã được đặt ra...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Dấu hiệu đau đầu do căn nguyên u não (Kỳ II)

  1. Dấu hiệu đau đầu do căn nguyên u não (Kỳ II) Áp-xe não trên phim chụp MRI. Những nét đặc biệt của đau đầu do di căn, do áp-xe và do bọc máu não Các di căn ung thư có biểu hiện bằng nhiều cách: khi thì là một di căn trong nhu mô, đôi khi là một viêm màng não tân sản ở nền sọ: sự thâm nhiễm tế bào của màng mềm có thể gây đau dữ dội và làm tổn thương những dây thần kinh sọ não một cách pha tạp và lại ở hai bên. Chụp Xquang cũng thấy hình ảnh bình thường, mặc dầu hướng chẩn đoán đã được đặt ra dựa trên những yếu tố của một ung thư nguyên phát (vú, phổi...). Đau đầu trội ở một bên, do tổn thương những rễ cảm giác. Nếu có nhiều dây thần kinh sọ não cùng bị tổn thương, thường ở cùng một bên thì đó là hội chứng Garcin. Cần ghi nhận thêm một đặc điểm tương đối hay gặp là đau nhức trên ổ mắt kèm theo giảm cảm giác trong khu vực phân bố của nhánh thần kinh mắt, thuộc về một hội chứng khá phong phú của thành xoang
  2. hang và tương ứng với những tổn thương tân sản của vùng tuyến yên và xương bướm, do di căn hay nguyên phát ung thư biểu mô (epithelioma) của xoang bướm. Nói chung đau đầu do căn nguyên di căn ung thư đều mang những tính chất riêng nổi bật là cường độ đau đầu ngày càng khốc liệt và đau không chịu nổi, dẫn đến một tâm trạng đau khổ, gây xúc động cho những người thân, buộc phải cho bệnh nhân dùng thuốc giảm đau mạnh. - Áp-xe, bọc máu (hématome) não: đau đầu do áp-xe não và bọc máu não đều mang hầu như đầy đủ những đặc điểm của di căn ung thư não như đã mô tả ở trên. Trong bọc máu tự phát hay chấn thương, dù là loại bọc máu ngoài não (dưới hay ngoài màng cứng), ấn vào hộp sọ ở đấy đều gợi phát lên một điểm đau. Những bọc máu ngoài màng cứng xuất hiện sớm và thường là hậu quả của vỡ xương đỉnh, mà đường rạn, vỡ xuyên qua đoạn đường đi của động mạch màng não giữa. Tất nhiên, những yếu tố chấn thương nói chung đều đã rõ ràng. Những bọc máu dưới màng cứng thường hay xuất hiện muộn và đôi khi tiếp theo sau những chấn thương sọ nhẹ, khó có thể truy là nguyên nhân gây chấn thương, ở đây, đau đầu có thể nhẹ và thoáng qua. Những kiểu đau đầu khác thường khó định hướng do u Thực tế lâm sàng bao giờ cũng phong phú, đa dạng, nên có những u não mà đau đầu mang tính chất pha trộn, không theo quy luật đặc trưng, làm cho thầy thuốc dễ nhầm lẫn, bỏ qua:
  3. - Do nhịp điệu đau đầu: Thông thường đau đầu do u não liên tục và "định vị", nhưng trong u não thất bên, u não thất III và đôi khi trong não thất IV, đau đầu lại có tính chất cơn kịch phát với thời gian khá ngắn do khối u lỏng lẻo trong não thất nên nhiều lúc đã trở thành cái "nắp cơ động" được đóng mở theo tư thế của đầu hay của cơ thể. Khi khối u chẹn con đường lưu thông dịch não - tủy sẽ lập tức xuất hiện cơn đau đầu rồi sau đó lại có thể biến đi nhanh chóng, do bệnh nhân thay đổi tư thế. Vì vậy những bệnh nhân có loại u này thường hay cố giữ đầu và cơ thể ở một tư thế "chọn lọc" nhất định. - Do vị trí của đau đầu: Theo nguyên tắc, đau đầu do u não là cùng bên, tương ứng với khối u và thường là một bên hay ưu thế trội ở một bên. Nhưng quy luật này lại rõ ràng là sai ở trong một số trường hợp sau: u khu trú ở giữa hai bán cầu; u não ở giai đoạn muộn, khi hội chứng tăng áp nội sọ rất mạnh, đã tác động đến hầu hết các cấu trúc nhạy cảm đau trong hộp sọ. Có trường hợp u hố sọ sau, nhưng đau đầu lại lan ra toàn bộ đầu và có xu hướng ưu thế ở khu vực trước của đầu; một số u màng não lại gây nhức cả nửa đầu, theo mạch đập trong một thời gian ngắn; một số u mạch (angiomes) cũng có biểu hiện như cơn đau nửa đầu (Migraine), đau nhói theo mạch đập...; có khi loại u (không phải là u mạch) lại được tăng phân bố mạch cũng mang tính chất đau nửa đầu theo mạch nẩy. - Do một số triệu chứng kèm theo: đau đầu kèm theo rối loạn khí sắc (humeur) và hành vi, thái độ có thể gợi lên ban đầu một hội chứng trầm cảm, nhưng lại không có một dấu hiệu gì của hội chứng u sầu. Bệnh nhân lãnh đạm chứ
  4. không phải là lo âu, đôi khi có bán lú lẫn tâm thần và có một vài dấu hiệu nhỏ đáng nghi (đi loạng choạng, rối loạn cơ thắt). Đó là những đặc điểm của một vài loại u trán. Một bệnh nhân "trầm cảm" mất chứng mót tiểu, có nhiều khả năng là do u thể trai- trán. Trong u hố sọ sau, sự kết hợp đơn điệu và đau đầu, nôn mửa, đôi khi gợi lên một bệnh cảnh Migraine thể tiêu hóa. - Giả u não Theo Seymour Diamond và José L. Media, khoảng 20% có phù đĩa thị, nghi do u, lại là giả u não. Thể bệnh này xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng đỉnh cao là ở tuổi 30, nữ thường gấp 2 lần nam. Khoảng 50% trường hợp là nguyên nhân do viêm tai giữa (tràn dịch não do tai), nhiễm khuẩn không đặc hiệu, hoặc nguyên nhân hỗn hợp như dùng tetracyclin liệu pháp và vitamin quá liều. Các trường hợp còn lại là tự nhiên không rõ nguyên nhân và thường xảy ra ở những phụ nữ béo phì, mức độ nặng hay vừa, có kinh nguyệt không đều. Triệu chứng thường xuyên nhất của giả u là đau đầu khu trú, thường là ở trán, hai bên hay lan tỏa toàn bộ đầu với tính chất như bị ép và đau dữ dội lên cách hồi. Một triệu chứng chung thường gặp nữa là nhìn tối sầm thoảng qua trong mấy giây. Nhịp điệu xuất hiện triệu chứng này là tiêu chuẩn để đo mức độ nặng nhẹ của bệnh. Khi rối loạn thị lực này xảy ra ngày càng tăng thường xuyên tới 30 lần/ngày hay hơn thì mù thật sự đe dọa bệnh nhân (5% số bệnh nhân). Nhìn đôi có thể xuất hiện do yếu dây thần kinh VI, còn ngoài ra không có triệu chứng thực thể nào khác. Chọc sống thắt lưng thấy có tăng áp lực dịch não - tủy, nhưng xét nghiệm hóa học và tế bào đều bình thường.
  5. Xquang, chụp cắt lớp vi tính đều cho kết quả bình thường. Quá trình bệnh trung bình vào khoảng 8 tháng, có kết quả điều trị tốt bằng steroid liệu pháp.
Đồng bộ tài khoản