Đề án “Kế toán tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp”

Chia sẻ: Minh Tam | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:32

4
4.480
lượt xem
1.225
download

Đề án “Kế toán tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kể từ năm 1986 cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã bước sang một hướng mới, đó là chuyển từ nền kinh tế với cơ chế quản lý tập trung sang nền kinh tế thị trường. Trong bối cảnh như vậy các doanh nghiệp sản xuất đang đứng trước những thử thách gay gắt của quy luật cạnh tranh. Do vậy trong điều kiện hiện nay, muốn tồn tại và phát triển được trong sự khắc nghiệt của nền kinh tế thì doanh nghiệp phải nắm bắt được thị trường, tạo chỗ đứng cho sản phẩm của mình...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề án “Kế toán tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp”

  1. TRƯỜNG......................................... KHOA............................................. ĐỀ ÁN “Kế toán tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp”
  2. LỜI MỞ ĐẦU 1.Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài cần nghiên cứu. Kể từ năm 1986 cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã bước sang một hướng mới, đó là chuyển từ nền kinh tế với cơ chế quản lý tập trung sang nền kinh tế thị trường. Trong bối cảnh như vậy các doanh nghiệp sản xuất đang đứng trước những thử thách gay gắt của quy luật cạnh tranh. Do vậy trong điều kiện hiện nay, muốn tồn tại và phát triển được trong sự khắc nghiệt của nền kinh tế thì doanh nghiệp phải nắm bắt được thị trường, tạo chỗ đứng cho sản phẩm của mình trên thị trường. Để đạt được mục đích tiêu đó, các doanh nghiệp cần phải có một hệ thống quản lý tài chính cung cấp thông tin chính xác để ra quyết định đứng đắn trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Trong đó, hạch toán kế toán là một bộ phận chức năng, một công cụ có tầm quan trọng với vai trò “ Thực hiện kiểm tra và xử lý thông tin cung cấp cho lãnh đạo và các cơ quan quản lý kinh doanh phục vụ cho công tác quản lý. Hạch toán kế toán như một phần thông tin kinh tế quan trọng trong cấu thành hệ thống thông tin kinh tế của đơn vị”. Và để có thể tạo chỗ đứng cho sản phẩm và cạnh tranh được với các doanh nghiệp trên thị trường thì doanh nghiệp phải quan tâm đến các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, đặc biệt là chất lượng sản phẩm v.v... Không những thế doanh nghiệp còn phải tổ chức tốt hạch toán chi phí sản phẩm và tính giá sản phẩm nhằm đánh giá được mọi khía cạnh và chi tiết của mọi nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, từ đó tìm ra nguyên nhân và có những biện pháp thích hợp phát huy các yếu tố tích cực, hạn chế các yếu tố tiêu cực để tiết kiệm chi phí sản xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm một cách có hiệu quả. Có như vậy doanh nghiệp mới đạt chỉ tiêu lợi nhuận và có thể mở rộng sản xuất để có thể tăng sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường . Trong công tác quản trị doanh nghiệp, kế toán được coi là một công cụ quan trọng nhất phục vụ đắc lực cho các nhà quản trị doanh nghiệp, trong đó công tính giá thành sản phẩm là một phần kế toán quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp sản xuất bởi thông qua khâu này, doanh nghiệp xác định được hao phí bỏ ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu. 2. Mục đích nghiên cứu đề tài: Tập trung phân tích , hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề lí luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán tính giá thành sản phẩm. Trên cơ sở đó góp phần hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
  3. 3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài. Đề tài nghiên cứu có nội dung chủ yếu sau: Khái quát cơ sở lý luận về hạch toán tính giá thành sản phẩm nhằm xem xét đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành, phương pháp tính giá thành. Nghiên cứu thực tế về tổ chức tính giá thành ở các doanh nghiệp sản xuất trong nền kinh tế thị trường. Đề xuất mô hình tính giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý hiện hành. 4.Nội dung của đề tài gồm 2 chương: Chương I: Lý luận chung về kế toán tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp. Chương II : Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tính giá thành sản xuất của sản phẩm sản xuất . Đề tài: Tính Giá Thành Sản Xuất Của Sản Phẩm Sản Xuất
  4. CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM. 1.1. Ý nghĩa của việc tổ chức công tác kế toán tính giá thành sản phẩm. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều cần phải hiểu rõ về các quy luật kinh tế như quy luật cạnh tranh , quy luật cung cầu, quy luật giá trị. Nghĩa là doanh nghiệp phải sản xuất sản phẩm ra phải có chất lượng tốt , giá cả hợp lý và phù hợp với nhu cầu thị trường. Điều đó chứng tỏ doanh nghiệp phải coi trọng công tác tính giá thành sản phẩm. Vì giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng, chúng phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất. Có làm tốt công tác này, kế toán mới cung cấp được những thông tin chính xác cho nhà quản trị doanh nghiệp để tìm ra nguyên nhân và từ đó đa ra quyết định quản lý trong việc thực hiện tiết kiệm chi phí và hạ giá thành hợp lý. Điều này chỉ có kế toán mới thực hiện được vì đây là một công cụ quan trọng trong quản lý. Như vậy kế toán tính giá thành sản phẩm là một phần không thể thiếu được khi thực hiện chế độ hoạch toán kinh tế. 1.2. Vai trò của kế toán tính giá thành sản phẩm. Kế toán có vai trò quan trọng trong công tác tính giá thành sản phẩm. Kế toán với chức năng ghi chép, tính toán, phản ánh đầy đủ trung thực giám sát một cách thường xuyên liên tục sự biến động vật tư, tài sản và tiền vốn. Kế toán xác định thước đo giá trị và thước đo hiện vật để quản lý chi phí, từ đó kế toán có thể cung cấp những tài liệu cần thiết về những chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy tổ chức công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một công việc cần thiết và quan trọng đối với công tác quản lý nói chung và công tác tính giá thành sản phẩm nói riêng.Việc tổ chức tốt công tác tính giá thành sản phẩm giúp cho các nhà quản lý biết được tình hình các yếu tố chi phí là tiết kiệm hay lãng phí khi so sánh với chi phí định mức, với chi phí thực tế, từ đó đề ra những biện pháp thích hợp nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và có quyết định phù hợp với sự phát triển sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý doanh nghiệp. 1.3 Nhiệm vụ của kế toán tính giá thành sản phẩm. Xác định đối tượng tính giá thành phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất , kinh doanh và qui trình công nghệ sản xuất ở doanh nghiệp để tổ chức tính giá thành sản phẩm. Lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp để tính giá. Thông qua ghi chép kế toán mà kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch sản xuất, kiểm tra việc tuân thủ các định mức tiêu hao nguyên vật liệu, kiểm tra việc sử dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh.
  5. Lập báo cáo về giá thành sản xuất của sản phẩm, lao vụ sản xuất đợc trong kì nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho việc điều hành, quản lý hoạt động SX của doanh nghiệp. II GIÁ THÀNH SẢN PHẨM. 2.1. Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm. Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác,sản phẩm , lao vụ đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trinh sản xuất, tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực tế của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống. Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá- tiền tệ , không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. 2.2. Phân loại giá thành. Trong nền kinh tế thị trường, giá thành sản xuất là một phạm trù kinh tế, phản ánh mức hao phí lao động sản xuất ra sản phẩm hoặc hoàn thành sản phẩm dịch vụ. Hạ thấp chi phí sản xuất là điều kiện quan trọng để hạ giá thành sản phẩm. Xét về bản chất, giá thành sản xuất là lượng hao phí lao động kết tinh trong sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn thành được bằng tiền. Giá thành vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Tính khách quan của giá thành sản phẩm dịch vụ thể hiện ở chỗ nó là sự dịch chuyển giá trị của những tư liệu sản xuất và sự hao phí lao động sống trong quá trình thực hiện sản phẩm dịch vụ. Tính chủ quan của giá thành thể hiện ở chỗ: việc tính toán đo lường hao phí lao động và việc phân bổ các hao phí lao động được thể hiện bằng tiền cho các đối tượng. Việc tính toán này có chính xác hay còn phụ thuộc còn phụ thuộc rất nhiều vào người làm công tác kế toán ở doanh nghiệp. Trên góc độ quản lý doanh nghiệp, giá thành sản phẩm dịch vụ là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng công tác của doanh nghiệp. Mức hạ giá thành phản ánh tình hình tiết kiệm các loại vật tư, tiền vốn và tiết kiệm hao phí lao động của doanh nghiệp. Trên góc độ kinh tế, giá thành là thước đo chi phí và khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì trong điều kiện giá bán không đổi, hạ giá thành sẽ tăng lợi nhuận và ngược lại. Để nghiên cứu giá thành được tốt, trước hết phải nghiên cứu đánh giá được kết cấu giá thành sản phẩm dịch vụ. Kết cấu giá thành sản phẩm là tỷ trọng các khoản mục giá thành so với tổng giá thành sản phẩm. Mỗi loại sản phẩm, mỗi ngành nghề khác nhau có những đặc điểm khác nhau nên kết cấu giá thành cũng khác nhau. Do đó, trong quá trình quản lý và phân tích tính giá thành phải căn cứ
  6. vào đặc điểm của từng ngành cụ thể để đánh giá công việc. Để phục vụ cho công tác kế toán cũng như công tác quản lý tính giá thành sản phẩm dịch vụ, cần phải nghiên cứu các loại giá thành sản phẩm dịch vụ. Thông thường người ta phân loại giá thành sản phẩm dịch vụ như sau: 2.2.1. Phân loại theo thời điểm tính giá và nguồn số liệu để tính giá thành. Giá thành kế hoạch : Giá thành kế hoạch được xác đinh trước khi bước vào kinh doanh trên cở sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức , các dự toán chi phí của kì kế hoạch. Giá thành định mức : Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành đinh mức cũng được xác định trước khi bắt đầu vào sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kì kế hoạch, giá thành định mức được xác định trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại các thời điểm nhất định trong kì kế hoạch ( thường là ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành. Giá thành thực tế : giá thành thực tế là chỉ tiêu xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí , xác định được các nguyên nhân vượt ( hụt ) định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó , điều chỉnh kế hoạch hoặc hoạch định mức chi phí cho phù hợp. 2.2.2.Phân theo phạm vi phát sinh chi phí. Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ. Giá thành sản xuất ( còn gọi là giá thành công xưởng): là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất , chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất . Giá thành tiêu thụ (hay còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ ): là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức sau: Giá thành Giá thành Chi phí Chi phí toàn bộ = sản xuất + quản lý + bán hàng của SP của SP DN Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh ( lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ còn mang tính học thuật, nghiên cứu. III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM. 3.1. Xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm. Do có sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán chi phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị , việc hạch
  7. toán quá trình sản xuất có thể phân thành 2 giai đoạn là giai đoạn xác định đối tư- ợng tập hợp chi phí và xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm. Về thực chất xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định thành phẩm , bán thành phẩm, công việc lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tượng đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây chuyền sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm. Để phân biệt được đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành ngay cả khi chúng đồng nhất là một, cần dựa vào đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất( giản đơn hay phức tạp) , vào loại hình sản xuất( đơn chiếc , hàng loạt), vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh( cao hay thấp) v.v… 3.2. Xác định phương pháp tính giá thành sản phẩm. Do có sự khác nhau cơ bản giữa đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm. Về cơ bản, phương pháp tính giá thành bao gồm các ph- ương pháp sau: Phương pháp trực tiếp ( còn gọi là phương pháp giản đơn): Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số l- ượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn như các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác( quặng , than, gỗ…) Đối tượng hạch toán chi phí ở các doanh nghiêp này là từng loại sản phẩm, dịch vụ. Giá thành sản phẩm cộng (+) hoặc trừ (-) số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm dở dang đầu kì so với cuối kì chia cho số lượng sản phẩm hoàn thành. Tổng giá thành Chi phí SX chi phí SX Chi phí SX sản xuất của = dở dang + phát sinh đã - dở dang cuối kì sản phẩm đầu kì tập hợp được đã đánh giá được Phương pháp tổng cộng chi phí: áp dụng với các doanh nghiệp mà quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các bộ phận chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất. Giá thành sản phẩm đợc xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất của các bộ phận , chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn , bộ phận sản xuất tạo nên thành phẩm: Tổng giá thànhSX = Tổng cộng chi phí SX của sản phẩm, lao vụ đã tập hợp trong kỳ Phương pháp tổng cộng chi phí được áp dụng chủ yếu trong các doanh nghiệp khai thác, dệt , nhuộm, cơ khí chế tạo, may mặc… Phương pháp hệ số : Được áp dụng trong những doanh nghiêp mà trong cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hơp riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho cả quá trinh sản xuất. Theo phương pháp này, trước hết, kế toán căn cứ vào hệ số qui đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc, rồi từ đó , dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp để tính giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại sản phẩm:
  8. Giá thành đơn vị = Tổng giá thành của tất cả các loại sản phẩm sản phẩm gốc Tổng số sản phẩm gốc( kể cả qui đổi)
  9. Giá thành đơn vị = Giá thành đơn vị * Hệ số qui đổi sản phẩm từng loại sản phẩm gốc sản phẩm từng loại Tổng giá thành Giá trị SP Tổng chi phí Giá trị sản xuất của các = dở dang + SX phát - sản phẩm DD loại sản phẩm đầu kỳ sinh trong kì cuối kì Phương pháp tỷ lệ : Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách , phẩm chất khác nhau như : may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế tạo( dụng cụ , phụ tùng…) v.v… để giảm bớt khối lượng hạch toán, kế toán thường tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế hoạch( hoặc định mức), kế toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành sản phẩm cùng loại. Giá thành thực tế đơn = Giá thành kế hoạch (hoặc định mức) * tỷ lệ chi vị sản phẩm từng loại đơn vị sản phẩm từng loại phí Tỷ lệ Tổng giá thành thực tế của các loại sản phẩm chi phí = x 100 Tổng giá thành kế hoạch của các loại sản phẩm Phưhơng pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ: Đối với các doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm chính thu đợc còn có thể thu được những sản phẩm phụ (các doanh nghiệp chế biến đường rượu, bia, mì ăn liền…), để tính giá trị sản phẩm chính kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ ra khỏi tổng chi phí sản xuất sản phẩm. Giá trị sản phẩm phụ có thể được xác định theo nhiều phương pháp nh giá có thể sử dụng được, giá ước tính, giá kế hoạch , giá nguyên liệu ban đầu… Tổng Giá trị Tổng chi phí Giá trị Giá trị giá thành = sản phẩm + sản xuất - sản phẩm - sản phẩm sản phẩm chính DD phát sinh phụ thu hồi dở dang chính đầu kỳ trong kỳ ớc tính cuối kỳ Phương pháp liên hợp : Là phương pháp áp dụng trong những doanh nghiệp có tổ chức sản xuất , tính chất qui trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như các doanh nghiệp hoá chất , dệt kim, đóng giầy, may mặc… Trên thực tế , kế toán có thể kết hợp các phương pháp trực tiếp với tổng cộng chi phí, tổng cộng chi phí với tỷ lệ , hệ số với loại trừ sản phẩm phụ … 3.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu. Trên cơ sở các phương pháp chung để tính giá thành sản phẩm, kế toán cần lựa chọn và áp dụng vào từng loại hình doanh nghiệp cho phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất , đặc điểm qui trình công nghệ cũng như đối tợng hạch toán chi phí.
  10. Sau đây là phương pháp tính giá thành sản phẩm áp dụng trong một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu: 3.3.1. Doanh nghiệp sản xuất giản đơn. Doanh nghiệp sản xuất giản đơn thường là những doanh nghiệp chỉ sản xuất một hoặc một số ít mặt hàng với khối lượng lớn , chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang không có hoặc có không đáng kể như các doanh nghiệp khai thác than, quặng , hải sản…; các doanh nghiệp sản xuất động lực ( điện, nước, hơi nước, khí nén , khí đốt…) Do số lượng mặt hàng ít nên đối tợng hạch toán chi phí sản xuất đ- ược tiến hành theo sản phẩm, mỗi mặt hành sản xuất được mở một sổ (hoặc thẻ) hạch toán chi phí sản xuất. Công việc tính giá thành thường được tiến hành vào cuối tháng theo phương pháp trực tiếp (giản đơn) hoặc phương pháp liên hợp. PHIẾU TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Tên sản phẩm…. Tháng … năm…Đơn vị :… CPSXD CPSX CPSX Tổng Giá Khoản mục chi phí D ĐK PSTK ĐCK giá thành thành đơn vị 1. Ng. vật liệu trực tiếp 2. Nhân công trực tiếp 3. Sản xuất chung Cộng 3.3.2. Doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng. Đối với các doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng, đối t- ượng hạch toán chi phí sản xuất là từng đơn đặt hàng cụ thể. Đối tượng tính giá thành sản phẩm là sản phẩm của từng đơn đặt hàng. Phương pháp tính giá thành tuỳ theo tính chất và số lượng sản phẩm của từng đơn sẽ áp dụng phơng pháp thích hợp như phương pháp trực tiếp, phương pháp hệ số, phương pháp tổng cộng chi phí hay phương pháp liên hợp v.v… Đặc điểm của việc hạch toán chi phí trong các doanh nghiệp này là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh đều được tập hợp theo từng đơn đặt hàng, không kể số l- ượng sản phẩm của đơn đặt hàng nhiều hay ít, quy trình công nghệ giản đơn hay phức tạp. Đối với các chi phí trực tiếp( nguyên vật liệu, nhân công) phát sinh trong kỳ liên quan trực tiếp đến đơn đặt hàng nào thì hạch toán trực tiếp cho đơn đặt hàng đó theo các chứng từ gốc( hay bảng phân bổ chi phí). Đối với chi phí sản xuất chung , sau khi tập hợp xong sẽ phân bổ cho từng đơn theo tiêu chuẩn phù hợp( giờ công sản xuất, nhân công trực tiếp…) Việc tính giá thành ở trong các doanh nghiệp này chỉ tiến hành khi đơn đặt hàng hoàn thành nên kỳ tính giá thành thường không nhất trí với kỳ báo cáo. Đối với những đơn đặt hàng đến kì báo cáo cho hoàn thành thì toàn bộ chi phí đã tập hợp theo đơn đó đều coi là sản phẩm dở dang cuối kì chuyển kỳ sau. Đối với những đơn đặt hàng đã hoàn thành thì tổng chi phí tập hợp được theo đơn đó chính là tổng giá thành sản phẩm của đơn và giá thành đơn vị sẽ tính bằng cách lấy tổng giá thành sản phẩm của đơn chia cho số lượng sản phẩm trong đơn.
  11. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết, theo yêu cầu công tác quản lý cần xác định khối lượng công việc hoàn thành trong kỳ thì đối với những đơn đặt hàng chỉ mới hoàn thành một phần , việc xác định sản phẩm dở dang của đơn vị đó có thể dựa vào giá thành kế hoạch (hay định mức) hoặc theo mức độ hoàn thành của đơn. Tổng giá thànhSX = Tổng chi phí SX Vật liệu trả lại kho theo đơn đặt hàng tập hợp theo -và phế liệu thu hồi hoá đơn được nhập kho 3.3.3. Doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất- kinh doanh phụ. Hoạt động SX kinh doanh phụ là hoạt động SX kinh doanh mà D N tiến hành thêm ngoài nhiệm vụ SX kinh doanh chính được giao hoặc đã đăng ký SX kinh doanh khi thành lập DN. Hoạt động kinh doanh phụ cũng tạo ra sản phẩm , lao vụ để tiêu thụ. Hoạt động kinh doanh phụ cũng có quá trình kinh doanh như SX kinh doanh chính nên kế toán kinh doanh phụ cũng tiến hành trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành SX của sản phẩm như hoạt động kinh doanh chính và cũng sử dụng các tài khoản kế toán cấp 1 cùng với hoạt động SX kinh doanh chính( mở tài khoản chi tiết). Sản phẩm, lao vụ của sản xuất kinh doanh phụ được sử dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất- kinh doanh chính, phần còn lại có thể cung cấp ra bên ngoài. Phương pháp tính giá thành sản phẩm , lao vụ của sản xuất kinh doanh phụ tuỳ thuộc vào đặc điểm công nghệ và mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất phụ trong doanh nghiệp, cụ thể là: Trường hợp không có sự phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận sản xuất, kinh doanh phụ hoặc giá trị và khối lượng phục vụ không đáng kể. Chi phí sản xuất sẽ được tập hợp riêng theo từng bộ phận, từng hoạt động sản xuất kinh doanh phụ. Giá thành sản phẩm , lao vụ của từng bộ phận được tính theo từng phương pháp trực tiếp . Trường hợp có sự phục vụ lẫn nhau đáng kể giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh phụ. Với các doanh nghiệp có tổ chức nhiều bộ phận sản xuất kinh doanh phụ và giữa chúng có sự phục vụ lẫn nhau thì có thể áp dụng một trong các phương pháp khác tính giá thành sau đây: Phương pháp đại số . Là phương pháp xây dựng và giải các phương trình đại số để tính giá thành sản phẩm , lao vụ của sản xuất -kinh doanh phụ phục vụ các đối tượng. Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành ban đầu : Theo phương pháp này trước hết tính giá thành đơn vị ban đầu của từng bộ phận sản xuất kinh doanh phụ và xác định giá trị phục vụ lẫn nhau giữa chúng. Tiếp theo, xác định giá trị sản phẩm, lao vụ của sản xuất phụ phục vụ cho các bộ phận khác theo giá thành đơn vị mới. Giá Tổng chi Giá trị lao vụ Giá trị lao vụ thành phí ban đầu + của từng bộ phận - phục vụ đơn sản xuất phụ khác cho bộ phận sx phụ khác. vị = mới Sản lượng ban đầu - Sản lượng phục vụ bộ phận sản xuất phụ khác
  12. và sản lượng tiêu dùng nội bộ (nếu có) Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành kế hoạch: Trình tự tính giá thành tương tự như phương pháp trên, chỉ khác thay giá thành đơn vị ban đầu bằng giá thành đơn vị kế hoạch để tính giá trị phục vụ giữa các phân xưởng sản xuất - kinh doanh phụ. Tiếp theo xác định giá trị phục vụ cho các đối tượng khác theo giá thành đơn vị mới. 3.3.4. Doanh nghiệp áp dụng hệ thống hạch toán định mức. Trên cơ sở hệ thống định mức tiêu hao lao động , vật tư hiện hành và dự toán về chi phí sản xuất chung, kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng loại sản phẩm. Đồng thời, hạch toán riêng các thay đổi, các chênh lệch so với định mức phát sinh trong quá trình sản xuât sản phẩm và phân tích toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong kỳ thành ba loại: Theo định mức, chênh lệch do thay đổi định mức và chênh lệch so với định mức. Từ đó, tiến hành xác định giá thành thực tế của sản phẩm bằng cách. Giá thành thực = Giá thành định +(-) Chênh lệch do +(-) Chênh lệch so tế sản phẩm mức sản phẩm thay đổi định mức với định mức Việc tính toán giá thành định mức được tiến hành trên cơ sở định mức tiên tiến hiện hành ngày đầu kì ( thường là đầu tháng) .Tuỳ theo tính chất quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và đặc điểm sản phẩm mà áp dụng các phương pháp tính giá thành định mức khác nhau (theo sản phẩm hoàn thành, theo chi tiết , theo bộ phận sản phẩm rồi tổng hợp lại…) Việc thay đổi định mức được tiến hành vào ngày đầu tháng để thuận lợi cho việc thực hiện định mức cũng như việc kiểm tra thi hành định mức. Trường hợp thay đổi định mức diễn ra vào ngày giữa tháng thì đầu tháng sau mới phải điều chỉnh giá thành định mức. Những khoản chi phí phát sinh ngoài phạm vi định mức và dự toán qui định được gọi là chênh lệch so với định mức hay thoát ly định mức. 3.3.5 . Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục . Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục là doanh nghiệp có quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm bao gồm nhiều bước (giai đoạn ) nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định , mỗi bước tạo ra một loại bán thành phẩm và bán thành phẩm của từng bước trước là đối tượng hay nguyên liệu chế biến của bước sau. Trong những doanh nghiệp này, phương pháp hạch toán chi phí thích hợp nhất là hạch toán theo bước chế biến ( giai đoạn công nghệ) .Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh thuộc giai đoạn nào sẽ được tập hợp cho giai đoạn đó. Riêng với chi phí sản xuất chung sau khi được tập hợp theo phân xưởng sẽ đ- ược phân bổ cho các bước theo tiêu thức phù hợp. Tuỳ theo tính chất hàng hóa của bán thành phẩm và yêu cầu công tác quản lý, chi phí sản xuất có thể tập hợp theo phương án có bán thành phẩm và theo phương án
  13. không có bán thành phẩm. Phương pháp tính giá thành thường là phương pháp trực tiếp kết hợp phương pháp tổng cộng chi phí hay hệ số (hoặc tỷ lệ). 3.3.5.1. Tính giá thành phân bước theo phơng án hạch toán có bán thành phẩm. Phương án hạch toán này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có yêu cầu hạch toán nội bộ cao hoặc bán thành phẩm bán ra ngoài. Đặc điểm của phương án hạch toán này là khi tập hợp chi phí sản xuất của các giai đoạn công nghệ, giá trị bán thành phẩm của các bước trước chuyển sang bước sau được tính theo giá thành thực tế và được phản ánh theo từng khoản mục cho đến bước cuối cùng tính ra giá thành thành phẩm nên còn gọi là kết chuyển tuần tự.(Mỗi công đoạn sản phẩm đều được tính giá thành theo phương pháp giản đơn trên cơ sở số liệu về chi phí SX tập hợp được ở những tài khoản kế toán chi tiết trong từng công đoạn. Bán thành phẩm công đoạn trước kết chuyển sang công đoạn sau tuần tự đến giai đoạn cuối cùng, Nếu kết chuyển từ công đoạn nọ sang công đoạn kia là bán thành phẩm( gọi là kết chuyển tuần tự tổng hợp) thì đến công đoạn thành phẩm phải hoàn nguyên chi phíaSX cấu thành bán thành phẩm ở các công đoạn mới tính giá thành SX của thành phẩm theo khoản mục giá thành. Nếu kết chuyển bán thành phẩm từ công đoạn nọ sang công đoạn kia theo các khoản mục chi phí cấu thành giá ( gọi là kết chuyển tuần tự từng khoản mục ) thì đến công đoạn cuối tính ngay được giá thành SX của thành phẩm theo khoản mục. Công đoạn 1 Công đoạn 2 Công đoạn hoàn thành Chi phí NVL trực Trị giá vốn bán Trị giá vốn bán tiếp thành phẩm công thành phẩm công đoạn 1 chuyển sang đoạn 2 chuyển sang + + + Chi phí chế biến Chi phí chế biến Chi phí chế biến công đoạn 1 ở công đoạn 2 ở công đoạn 2 Tổng giá thành và Tổng giá thành và Tổng giá thành và giá thành đơn vị giá thành đơn vị giá thành đơn vị BTP công đoạn 1 BTP công đoạn 2 thành phẩm 3.3.5.2. Tính giá thành phân bước theo phương án không có bán thành phẩm. Trong những doanh nghiệp mà yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ không cao hoặc bán thành phẩm chế biến ở từng bước không bán ra ngoài thì chi phí chế biến phát sinh trong các giai đoạn công nghệ được tính nhập vào giá thành thành phẩm
  14. một cách đồng thời, song song nên còn được gọi là kết chuyển song song. Theo phương án này, kế toán không cần tính đến giá thành bán thành phẩm hoàn thành trong từng giai đoạn mà chỉ tính giá thành thành phẩm hoàn thành bằng cách tổng hợp chi phí nguyên vật liệu chính và các chi phí chế biến khác trong các giai đoạn công nghệ .
  15. Công đoạn 1 Công đoạn 2 Công đoạn hoàn tất Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất phát sinh ở công phát sinh ở công phát sinh ở công đoạn 1 đoạn 2 đoạn cuối Chi phí sản xuất ở Chi phí sản xuất ở Chi phí sản xuất ở công đoạn 1 tính công đoạn 2 tính công đoạn cuối cho thành phẩm cho thành phẩm tính cho thành phẩm Tổng giá thành sản xuất của thành phẩm theo khoản mục giá thành Sơ đồ trên còn được thể hiện dưới dạng sau: Sơ đồ tính giá thành theo phương án phân bước không tính đến giá thành bán thành phẩm. Chi phí nguyên vật liệu chính tính cho thành phẩm TỔNG Chi phí bước 1 tính cho GIÁ thành phẩm THÀNH Chi phí bước 2 tính cho THÀNH thành phẩm PHẨM Chi phí bước …. tính cho thành phẩm Chi phí bước n tính cho thành phẩm
  16. 4.Các phương pháp đánh giá lại sản phẩm dở dang. Các doanh nghiệp sản xuất liên tục, sản phẩm của doanh nghiệp của doanh nghiệp từ kì này sang kì khác thì cuối kì có sản phẩm dở dang trong dây chuyền SX của DN.Vì vậy, muốn tính được giá thành sản xuất của thành phẩm, sản xuất được trong kì thì cuối kì phải tiến hành kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang chuyển sang kì sau. Sản phẩm dở dang do DN tự kiểm kê đánh giá có thể sử dung các cách đánh giá sản phẩm dở dang sau: 4.1. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Cách tính này sử dụng chủ yếu trong trường hợp NVL đa vào SX một lần, ngay từ công đoạn SX đầu tiên. Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỉ trong lớn trong giá thành sản phẩm. Trị giá sản phẩm dở dang cuối kì được tính như sau: Trị giá SPDD CP NVL trực tiếp + Số lượng Trị giá SP đầu kỳ phát sinh trong kỳ = x SP DD DD cuối kỳ Số lượng TP Số lượng sản + cuối kỳ sản xuất được phẩm dở dang 4.2.Đánh giá khối lượng sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương . Theo cách này doanh nghiệp phải kiểm kê sản phẩm dở dang còn ở trong dây chuyền sản xuất xác định mức độ hoàn thành tương đương (tức là tỷ lệ hoàn thành so với thành phẩm) sau đó quy đổi số lượng sản phẩm dở dang xem tương đương bằng bao nhiêu thành phẩm để tính. Cần phân biệt hai trường hợp: Nếu nguyên vật liệu phân bổ vào một lần từ công đoạn đầu của quy trình sản xuất thì phải phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho thành phẩm và sản phẩm dở dang như nhau. Cách tính phân bổ nguyên vật liệu như ở (4.1) trên. Còn chi phí sản xuất chung và chi phí nhân công trực tiếp phân bổ cho sản phẩm dở dang như sau: Trị giá Trị giá NVL CPNC và CPSXC SPD D = trong SP + phân bổ cho cuối kỳ dở dang sản phẩm DD Nếu nguyên vật liệu phân bổ dần trong suốt quá trình sản xuất thì tính phân bổ chung toàn bộ chi phí sản xuất cho thành phẩm và sản phẩm dở dang đã quy đổi theo thành phẩm. Có thể tính từng khoản mục chi phí rồi tổng hợp lại để tính giá trị sản phẩm dở dang. Cách tính được thực hiện theo công thức sau: Chi phí CP phân bổ cho CP cần phân bổ phân bổ SPD D đầu kỳ + phát sinh trong kỳ Số lượng cho sản = * SPD D phẩm Số lượng thành phẩm Số lượng SPD D đã quy đổi dở dang SX được trong kỳ + quy đổi
  17. Trong trường hợp nguyên vật liệu bỏ vào một lần người ta có thể tính trị giá sản phẩm dở dang bằng trị giá nguyên vật liệu trong một đơn vị sản phẩm cộng với 50% chi phí chế biến khác. Để đơn giản cho việc tính toán , đối với những sản phẩm mà chi phí chế biến chiếm tỷ trọng thấp trong tổng chi phí, kế toán thường sử dụng phương pháp xác định giá trị sản phẩm dở dang theo 50 % chi phí chế biến. Thực chất đây là một dạng của phương pháp ước tính theo sản lượng tương đương ttong đó giả định sản phẩm dở dang đã hoàn thành ở mức độ 50% so với thành phẩm. Giá trị sản phẩm = Giá trị NVL chính nằm + 50% chi phí dở dang chưa hoàn thành trong sản phẩm dở dang chế biến 4.3. Phương pháp tính giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí định mức. Cách này sử dụng trong trường hợp sản phẩm sản xuất ở doanh nghiệp đều có định mức chi phí ở từng công đoạn sản xuất và cuối kỳ kiểm kê sản phẩm dở dang ở từng công đoạn để tính trị giá của chúng theo chi phí định mức. Ngoài ra trên thực tế, ngời ta còn áp dụng các phương pháp khác để xác định giá trị sản phẩm dở dang như phương pháp thống kê kinh nghiệm, phương pháp tính theo chi phí vật liệu chính và vật liệu phụ nằm trong sản phẩm dở dang v.v… 5. Kế toán tính giá thành. 5.1. Tài khoản sử dụng. Theo chế độ kế toán hiện hành việc sử dụng các tài khoản kế toán để tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản xuất của sản phẩm phụ thuộc vào doanh nghiệp sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ hàng tồn kho. Sự khác nhau về sử dụng tài khoản kế toán và trình tự ghi chép kế toán được khái quát như sau: Phương pháp kê khai thường Phương pháp kiểm kê định kỳ xuyên Sử dụng các TK 621,TK Sử dụng tài khoản:TK 622, TK 627 để tập hợp chi phí phát 621, TK 622, TK 627 để tập hợp chi sinh trong kỳ. phí phát sinh trong kỳ. TK 154 sử dụng phản ánh Sử dụng tài khoản TK vốn sản phẩm dở dang cuối kỳ này, 154 vừa phản ánh vốn sản phẩm dở đầu kỳ sau; còn sử dụng tài khoản dang vừa để tính giá thành sản xuất 631 để tập hợp chi phí sản xuất và của sản phẩm. tính giá thành sản xuất của sản phẩm. TK 155 chỉ sử dụng phản ánh thành phẩm tồn kho cuối kỳ này, đầu kỳ sau; còn thành phẩm luân chuyển trong kỳ phản ánh ở TK 632. Kết cấu TK 154. Dư Nợ đầu kỳ : Phản ánh vốn sản phẩm dở dang đầu kỳ.
  18. PS bên Nợ : Tập hợp chi phí sản xuất trong kỳ kết chuyển từ các TK621, TK622, TK 627 sang. PS bên Có : Phản ánh tổng giá thành SX của sản phẩm, lao vụ SX đợc trong kỳ đã tính được. Dư Nợ cuối kỳ : Phản ánh vốn sản phẩm dở dang cuối kỳ. Ghi chú : Vốn sản phẩm dở dang cuối kỳ xác định bằng kiểm kê đánh giá SPD D sau đó tính được tổng giá thành SX của sản phẩm , lao vụ SX được trong kỳ theo công thức tính giá thành giản đơn. Kết cấu của TK 631. Bên Nợ : Phản ánh chi phí SXKD dở dang đầu kì kết chuyển từ TK 154 chuyển sang. Tổng chi phí SX phát sinh trong kỳ từ các TK 621,622,627 sang. Bên Có : Phản ánh tổng giá thành thực tế của sản phẩm SX được trong kỳ. Phản ánh vốn sản phẩm dở dang kết chuyển. Cuối kỳ tài khoản này không có số dư. 5.2. Sơ đồ tài khoản kế toán . 5.2.1. Phương pháp kê khai thường xuyên. TK 621 TK 154 TK 155 Kết chuyển CPNVL trực Tổng giá thành phẩm tiếp(1) nhập kho(4) TK 622 TK 157 Kết chuyển CPNC Gửi bán (5) trực tiếp (2) TK 627 TK 632 Kết chuyển chi phí SXC Tiêu thụ thẳng(6) ( 3) 5.2.2. Phương pháp kiểm kê định kỳ Kết chuyển giá trị SPDD đầu kỳ TK 621 TK 631 TK 154 Kết chuyển CPNVL trực tiếp(1) Giá trị SPDD cuối kỳ TK 622 Kết chuyển CPNC trực tiếp (2) TK 627 TK 632
  19. Kết chuyển chi phí SXC Tổng giá thành SX SP ( 3) (4) 6. Lập bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm. Bảng tính giá thành SX của sản phẩm là phương tiện để kế toán ghi chép, phản ánh việc tính giá thành ( chứng từ nghiệp vụ nội sinh ) đồng thời là ph- ơng tiện cung cấp thông tin về sản lượng sản xuất và giá thành SX của sản phẩm đã SX được phục vụ cho yêu cầu quản lý SXKD của DN. Bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm nhằm phản ánh được kết quả sản xuất và tình hình thực hiện kế hoạch giá thành nên đòi hỏi kế toán phải lập các bảng tính giá thành cho từng loại sản phẩm SX và các khoản mục giá thành (các khoản mục chi phí cấu thành giá) đã xác định hoặc quy định, thể hiệ khi xây dựng kế hoạch giá thành, Căn cứ để lập bảng tính giá thành SX của sản phẩm. Muốn lập được các bảng tính giá thành kế toán phải căn cứ vào Biên bản kiêm kê, đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ đã kiểm kê đánh giá được. Trong biên bản kiểm kê phải ghi rõ chi phí cấu thành giá của sản phẩm dở dang đã tính được và căn cứ vào sổ chi tiết của chi phí SX phát sinh trong kỳ. Bảng tính giá thành SX của toàn bộ thành phẩm sản xuất được trong tháng chỉ phản ánh tổng giá thành sản xuất thực tế của toàn bộ thành phẩm sản xuất được trong kỳ, số liệu trong bảng hoàn toàn phù hợp với số liệu ở tài khoản tính giá thành trên sổ kế toán DN. Bảng tính giá thành của nhóm sản phẩm cùng loại chỉ phản ánh tổng giá thành sản xuất thực tế của nhóm sản phẩm cùng loại đã sản xuất được trong kỳ theo các khoản mục chi phí cấu thành giá, phản ánh được tỷ trọng của từng khoản mục chi phí cấu thành giá. Trong bảng tính giá thành này số liệu phải phù hợp với số liệu trên các tài khoản chi tiết của tài khoản giá thành (chi tiết tài khoản 154) . Trong trường hợp này khi cần tính tổng giá thành sản xuất và giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm trong nhóm đã sản xuất được trong kỳ kế toán sử dụng phương pháp toán (phương pháp hệ số , phương pháp tỷ lệ ) để tính và lập đ- ược bảng tính giá thành sản xuất của từng loại sản phẩm. Các khoản mục chi phí cấu thành giá có tỷ trọng tương ứng với tỷ trọng các khoản mục chi phí cấu thành giá của nhóm sản phẩm cùng loại. Bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm sản xuất được trong kỳ, đ- ược lập trên cơ sở tổng hợp số liệu ở các sổ chi tiết tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành mở cho loại sản phẩm này. Mẫu bảng tính giá thành như sau:
  20. BẢNG TÍNH GIÁ THÀNH SẢN XUẤT CỦA SẢN PHẨM. Của ……. Kỳ tính giá thành…. Sản lượng sản xuất được ……. CPSX Tổng giá Giá T Khoản mục giá thành SPD D phát sinh SPD D thành thành S T đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ sản xuất X đơn vị 1 Vật liệu chính ………. 2 Vật liệu phụ 3 Tiên lơng 4 Các khoản trích theo l- ương 5 Khấu hao TSCĐ 6 Chi phí công cụ dụng cụ 7 Tiền điện dùng cho SX 8 ………………………… Cộng Nếu doanh nghiệp sản xuất theo từng đơn đặt hàng và kế hoạch tiến hành tập hợp sản phẩm sản xuất theo từng đơn đặt hàng và tính giá thành SX theo đơn đặt hàng thì Bảng tính giá thành sản xuất đồng thời cũng là Báo cáo giá thành có thể thiết lập theo mẫu có kết cấu gồm các yếu tố phục vụ cho người sử dụng thông tin. Mẫu Bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm có thể như sau: BẢNG TÍNH GIÁ THÀNH: HẠNG MỤC CÔNG TRÌNH A Đơn vị đặt hàng:……………….. T Chênh lệch so với T Khoản mục Dự toán Thực DT hiện Số tiền Tỷ lệ(%) 1 Gạch xây 2 Xi măng 3 Sắt 4 Đá 5 Sỏi 6 Cát 7 Chi phí NC 8 Chi phí tiền điện 9 Chi phí tiền nước 10 Chi phí …… Cộng

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản