Đề cương chi tiết môn học Pháp luật đại cương

Chia sẻ: hisari

Những người theo thuyết thần học cho rằng thượng đế là người sắp đặt mọi trật tự xã hội. Nhà nước là do thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung. Vì vậy nhà nước là lực lượng siêu nhân và quyền lực nhà nước là vĩnh cửu và sự tuân theo quyền lực nhà nước là vĩnh cửu, là tất yếu.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề cương chi tiết môn học Pháp luật đại cương

Bài 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC
1.Nguồn gốc của nhà nước :
1.1.Một số học thuyết phi Macxit về nhà nước:
- Thuyết thần học:
Những người theo thuyết thần học cho rằng thượng đế là người sắp đặt
mọi trật tự xã hội. Nhà nước là do thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự
chung. Vì vậy nhà nước là lực lượng siêu nhân và quyền lực nhà nước là vĩnh
cửu và sự tuân theo quyền lực nhà nước là vĩnh cửu, là tất yếu.
- Thuyết gia trưởng:
Cho rằng nhà nước ra đời là kết quả phát triển của gia đình và quyền gia
trưởng là hình thức tổ chức tự nhiên của con người. Vì vậy nhà nước cũng như
gia đình tồn tại trong mọi xã hội quyền lực. Nhà nước cũng như quyền lực gia
trưởng.
- Thuyết khế ước xã hội:
Cho rằng sự ra đời của một nhà nước là kết quả của một khế ước với
hợp đồng được ký kết giữa những con người sống ở trạng thái tự nhiên. Vì vậy
nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội.
-Thuyết bạo lực:
-Thuyết tâm lý:
Nhìn chung do hạn chế về mặt lịch sử và nhận thức còn thấp kém và hạn
chế bởi giai cấp, họ đã cố tình giải thích sai lệch đi nguyên nhân đích thực làm
phát sinh nhà nước, nhằm che đậy đi bản chất nhà nước…
1.2. Học thuyết Mác-Lênin về nguồn gốc nhà nước
Nhà nước là một phạm trù lịch sử có quá trình phát triển, tiêu vong. Nhà
nước là một lực lượng nảy sinh từ xã hội. Nhà nước chỉ ra đời khi xã hội có sự
phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp không thể điều hòa được, khi xã hội
phát triển đến một giai đoạn nhất định nhà nước sẽ tiêu vong (khi điều kiện
khách quan cho sự tồn tại của nhà nước mất đi).
1.2.1.Chế độ Cộng sản nguyên thủy và quyền lực thị tộc.
- Là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên của loài người. Ở đó không có giai
cấp vì vậy chưa xuất hiện nhà nước.
- Cơ sở kinh tế:
Là sở hữu tập thể công xã đối với tư liệu sản xuất và phân phối bình
đẳng của cải. Vì vậy trong xã hội chưa có giai cấp và đấu tranh giai cấp.
- Tổ chức xã hội:
+ Thị tộc: được tổ chức theo huyết thống, nền tảng là sở hữu tập thể và
quyền sở hữu công cộng. Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực cao nhất của thị
tộc. Người đứng đầu là tù trưởng, thủ lĩnh quân sự để thực hiện quyền lực
chung.
+ Bào tộc: các thị tộc liên kết với nhau.
+ Bộ lạc: các bào tộc liên kết với nhau.
+ liên minh bộ lạc: là sự tổng hợp của các đơn vị cơ sở của xã hội có
cùng nền tảng kinh tế.
Tóm lại: chế độ Cộng sản nguyên thủy là chế độ không có nhà nước, các
quan hệ xã hội được duy trì nhờ sức mạnh của phong tục tập quán.

1.2.2. Sự tan rã của chế độ Cộng sản nguyên thủy và sự xuất hiện
của nhà nước.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động theo hướng
chuyên môn hóa và việc con người tìm ra kim loại để chế tác công cụ lao động
đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của lực lượng sản xuất làm tiền đề cho
sự tan rã của chế độ Cộng sản nguyên thủy và nhà nước xuất hiện.
- Cuối đời nguyên thủy xã hội loài người trải qua 3 lần phân công lao
động:
+ Chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt.
+ Thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp.
+ Buôn bán và thương nghiệp xuất xuất hiện.
- Các ngành kinh tế phát triển sản phẩm làm ra ngày càng nhiều và việc
phân công lao động đã tạo khả năng chiếm đoạt sản phẩm dư thừa làm của
riêng, đây là nguồn gốc nảy sinh chế độ tư hữu.
- Chế độ hôn nhân một vợ một chồng làm cho gia đình tách khỏi ra đình
lớn hình thành các đơn vị kinh tế độc lập.
Trong xã hội hình thành giai cấp, mâu thuẫn giữa hai giai cấp thống trị và
bị trị ngày càng quyết liệt làm phá vỡ sự tồn tại của thị tộc. Để điều hành và
quản lý xã hội mới đòi hỏi phải có một tổ chức mới khác trước về chất. Giai
cấp thống trị về kinh tế lập ra một tổ chức để duy trì trật tự và bảo vệ lợi ích
của mình. Tổ chức đó là nhà nước.
2.Bản chất của nhà nước.
2.1.Tính giai cấp của nhà nước:
- Nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp và luôn mang
bản chất giai cấp sâu sắc. Đó là vấn đề cơ bản của mọi thời đại.
- Nhà nước là một bộ máy thống trị của giai cấp này đối với giai cấp
khác, là bộ máy duy trì quyền lực và lợi ích của giai cấp thống trị (chính trị, kinh
tế, tư tưởng,…).
- Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp, biểu hiện các mâu thuẫn
đối kháng không thể điều hòa được.
- Nhà nước là công cụ cơ bản của quyền lực chính trị trong xã hội có giai
cấp, nó tồn tại để bảo vệ lợi ích chủ yếu của giai cấp thống trị.
- Thông qua nhà nước ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị được hợp
pháp hóa thành ý chí của nhà nước buộc các giai cấp khác phải tuân theo.
2.2.Vai trò của nhà nước:
- Vai trò đối nội: Nhà nước thể hiện vai trò đối nội trong việc giải quyết
các công việc của xã hội phục vụ lợi ích chung của xã hội như: phát triển kinh
tế, đảm bỏa các chế độ phúc lợi xã hôị …
- Vai trò đối ngoại: thực hiện chức năng này nhà nước bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ, trao đổi với các quốc gia khác ….
2.3. Các dấu hiệu đặc trưng của nhà nước.
- Thứ nhất: nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt hầu
như tách khỏi xã hội, quyền lực công này là quyền lực chính trị chung.
- Thứ hai: Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính, lãnh thổ.
- Thứ ba: Nhà nước có chủ quyền quốc gia.
- Thứ tư: nhà nước ban hành pháp luật và quản lý bắt buộc đối với mọi
thành viên trong xã hội.
- Thứ năm: Nhà nước quy định và tiến hành thu các loại thuế dưới hình
thức bắt buộc.
* Khái niệm nhà nước:
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy
chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực thi các chức năng quản lý xã hội,
nhằm thể hiện và bảo vệ trước hết lợi ích giai cấp thống trị trong xã hội có giai
cấp đối kháng, của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trong Xã hội chủ
nghĩa.
3. Các kiểu lịch sử của nhà nước
3.1.Khái niệm kiểu nhà nước:
Kiểu nhà nước là tổng thể các đặc điểm cơ bản của nhà nước thể hiện
bản chất giai cấp, vai trò xã hội, điều kiện phát sinh, tồn tại và phát triển của
nhà nước trong một hình thái kinh tế có giai cấp nhất định.
3.2.Các kiểu nhà nước:
- Kiểu nhà nước chủ nô.
- Kiểu nhà nước phong kiến.
- Kiểu nhà nước tư sản.
- Kiểu nhà nước Xã hội chủ nghĩa.
3.3. Nhà nước XHCN và nhà nước CHXHCNVN
4. Chức năng của nhà nước.
a. Khái niệm chức năng:
Chức năng của nhà nước là những phương diện ( hay những mặt ) hoạt động
cơ bản của nhà nước thể hiện bản chất và vai trò của nhà nước.
b.Phân loại chức năng:
-Chức năng đối nội: là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội
bộ đất nước, bao gồm:
.Tổ chức quản lý kinh tế.
.Tổ chức và quản lý nền văn hóa , giáo dục, khoa học.
. Giữ gìn an ninh trật tự xã hội…
-Chức năng đối ngoại: là những hoạt động của nhà nước đối với các quốc gia
và các dân tộc khác ngoài đất nước.
5.Bộ máy nhà nước.
Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa
phương được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc chung, thống nhất nhằm
thực hiện nhiệm vụ và chức năng của nhà nước vì lợi ích của giai cấp thống trị.
-Mỗi kiểu nhà nước có cách tổ chức riêng tùy thuộc vào bản chất giai cấp,
nhiệm vụ, chức năng và mục tiêu hoạt động của nhà nước.
Trong lịch sử tồn tại 4 kiểu nhà nước do đó cũng tồn tại 4 kiểu tổ chức bộ máy
nhà nước:
+Bộ máy nhà nước chủ nô: được tổ chức đơn giản theo mô hình quân sự -hành
chính đứng đầu là vua, dưới vua là các cơ quan cưỡng chế như là cảnh sát, tòa
án, nhà tù và một số cơ quan khác.
+Bộ máy nhà nước phong kiến: bộ máy nhà nước phong kiến thì phát triển hơn
cả về số lượng lẫn chất lượng. Nhà nước phong kiến phát triển qua hai giai
đoạn chủ yếu là nhà nước quân chủ phân quyền cắt cứ và nhà nước quân chủ
trung ương tập quyền.
Tổ chức theo vua (đứng đầu )-> triều đình ( các quan lại thân tín,…) -> hệ thống
cơ quan hành chính và các quân đội, cảnh sát, tòa án,..
_Bộ máy nhà nước tư sản: nhìn chung các nhà nước Tư sản được tổ chức khá
giống nhau và đều dựa theo nguyên tắc phân quyền: Lập pháp- Tư pháp – hành
chính.
_Bộ máy nhà nước XHCN: được tổ chức theo nguyên tắc chung thống nhất
quyền lực nhưng có sự phân công lao động một cách khoa học, cụ thể.
6.Hình thức nhà nước:
Hình thức nhà nước bao gồm hai yếu tố cấu thành là hình thức chính thể và
hình thức cấu trúc nhà nước.
_Hình thức chính thể: là hình thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao, cơ
cấu trình tự và mối liên hệ của chúng với nhau cũng như mức độ tham gia của
nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này.
Bao gồm:
+Chính thể quân chủ: chính thể quân chủ tuyệt đối và chính thể quân chủ hạn
chế.
+Chính thể cộng hòa: quyền lực tối cao của nhà nước được thực hiện bởi các
cơ quan đại diện được bầu theo thời hạn nhất định:
Chính thể cộng hòa dân chủ.
Chính thể cộng hòa quý tộc.
_Hình thức cấu trúc nhà nước: là sự tổ chức nhà nước theo các đơn vị hành
chính lãnh thổ và tính chất quan hệ giữa các bộ phận cấu thành giữa cơ quan
nhà nước trung ương với địa phương.
II.Những vấn đề cơ bản về pháp luật.
1.Nguồn gốc của pháp luật
-Theo học thuyết Mác-LêNin nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng lịch sử cơ
bản nhất của đời sống chính trị-xã hội. Cùng xuất hiện, tồn tại và phát triển và
cùng tiêu vong khi nhân loại tiến tới XHCS.
-Nguyên nhân xuất hiện nhà nước cũng là nguyên nhân xuất hiện pháp luật đó là
chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sự phân hóa xã hội thành giai cấp.
-Chế độ Cộng sản nguyên thủy không có nhà nước vì vậy cũng không có pháp
luật. Hành vi của con người được điều chình bằng tập quán và tín điều tôn giáo.
-Khi xã hội phân hóa giai cấp quy tắc tập quán trở nên bất lực trong việc điều
chỉnh hành vi của con người, đòi hỏi phải có một quy tắc áp dụng bắt buộc đối
với hành vi của con người.
Con đường hình thành pháp luật.
2.Bản chất của pháp luật.
2.1.Tính giai cấp của pháp luật
Pháp luật là con đẻ của xã hội có giai cấp, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống
trị, thể hiện ý chí của giai cấp vì vậy nó mang bản chất giai cấp sâu sắc.
-Pháp luật là sự biểu thị của giai cấp thống trị, nội dung ý chí đó được cụ thể
hóa thành các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành. Là công cụ thống trị của giai cấp thống trị.
2.2.Giá trị xã hội của pháp luật.
-Trong xã hội các hành vi của con người được số đông chấp nhận phù hợp với
số đông trong xã hội, cách xử sự này được thể chế hóa thành các quy phạm pháp
luật.
-Pháp luật là thước đo hành vi của con người. Là công cụ để nhận thức và điều
chỉnh quan hệ xã hội hướng chúng tới sự phá triển của quy luật khách quan.
2.3.Tính dân tộc
Pháp luật phản ánh được những phong tục tập quán đặc điểm lịch sử, điều
kiện địa lý , trình độ văn hóa của dân tộc.
2.4.Tính mở
Pháp luật phải là hệ thống mở tiếp nhận những thành tựu văn minh của nhân
loại….
*Khái niệm pháp luật:
Pháp luật là hệ thống các quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận thể hiện ý
chí của nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp giáo dục và
cưỡng chế bằng bộ máy nhà nước.
3.Chức năng của pháp luật
*Chức năng điều chỉnh của pháp luật:
Là tác động trực tiếp tới các quan hệ xã hội tạo lập hành lang pháp lý để hướng
các quan hệ xã hội phát triển trong trật tự và ổn định theo mục tiêu mong muốn.
*Chức năng bảo vệ của pháp luật:
Những quy tắc là phương tiện để bảo vệ các quan hệ xã hội, nền tảng của xã
hội trước các vi phạm. Khi có hành vi vi phạm pháp luật thì sẽ bị áp dụng các
biện pháp cưỡng chế trong phần chế tài.
*Chức năng giáo dục của pháp luật:
Pháp luật tác động vào ý thức của con người làm cho con người hành động phù
hợp với cách xử sự ghi trong quy phạm pháp luật phù hợp với đạo đức tiến bộ
của xã hội, hướng hành vi của con người phù hợp với lợi ích chung của toàn xã
hội.
4.Các thuộc tính của pháp luật.
.1.Tính quy phạm phổ biến.
-Là khuôn mẫu chung cho mọi người không phụ thuộc vào những yếu tố dân
cư, địa lý.
-Được áp dụng nhiều lần và trong một thời gian dài.
-Tính quy phạm phổ biến của pháp luật dựa trên ý chí của nhà nước được đề
lên thành luật.
4.2.Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức.
-Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức là sự thể hiện nội dung pháp luật đối
với hình thức nhất định. Nội dung xác định rõ ràng chặt chẽ khái quát trong từng
điều khoản của luật.
4.3.Tính cưỡng chế của pháp luật.
-Việc tuân theo của pháp luật không phụ thuộc vào ý thích chủ quan của bất kỳ
người nào.
-Nếu ai không tuân theo pháp luật thì tùy vào mức độ mà bị xử lý.
-Tính quyền lực của nhà nước là yếu tố không thể thiếu đảm bảo pháp luật
được tôn trọng, đảm bảo thực hiện.


Bài 3 : Hệ thống pháp luật và quan hệ pháp luật

I.Hệ thống pháp luật

1.hệ thống các ngành luật

Là tổng thể các quy phạm pháp luật, có mối quan hệ nội tại , thống nhất
và phối hợp với nhau được phân chia thành các chế địnhvà các ngành luật.
Hệ thống các ngành luật bao gồm 3 yếu tố ở 3 cấp độ khác nhau:
-Quy phạm pháp luật: là quy phạm quy tắc xử sự trong các trường hợp cụ
thể do nhà nước quy định có tính bắt buộc chung và được nhà nước bảo đảm
thực hiện bởi đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống luật.
-Chế định pháp luật: là tập hợp hai hay nhiều quy phạm pháp luật, điều
chỉnh một nhóm quan hệ xã hội có tính bắt buộc chung và liên kết mật thiết với
nhau, các quy phạm này tạo ra quy phạm pháp luật mà mình cần.
-Ngành luật: là tổng hợp các chế định pháp luật điều chỉnh các nhóm quan
hệ xã hộicùng tính chất mà có thể xếp thành từng nhóm để điều chỉnh của một
ngành luật
Vd: ngành luật hôn nhân gia đình điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội như kết hôn
ly hôn, vợ chồng,..
-Hệ thống các ngành luật nước ta:
+Luật nhà nước, luật hôn nhân – gia đình.
+Luật hành chính, luật hình sự.
+Luật tài chính, luật tố tụng hình sự.
+Luật dân sự, luật tố tụng dân sự.
+Luật đất đai, luật kinh tế.
+Luật lao động.
Ngoài ra bên cạnh hệ thống pháp luật còn tồn tại hệ thống pháp luật quốc tế:
+Công pháp quốc tế.
+Tư pháp quốc tế.
2.Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
Hiến pháp 1992 nước ta quy định các văn bản quy phạm pháp luật có
giá trị pháp lý từ cao tới thấp như sau:
-Hiến pháp là đạo lực cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống
quy phạm pháp luật.
-Nghị quyết của Quốc hội.
-Các đạo luật , bộ luật.
-Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban trung ương Quốc hội.
-Nghị quyết, nghị định của chính phủ.
-Nghị quyết, chỉ thị, thông tư của bộ trưởng cơ quan ngang bộ.
-Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp.
-Quyết định chỉ thị của ủy ban nhân dân các cấp.
Sơ đồ……………………………………………………
II.Quan hệ pháp luật
1.Khái niệm, đặc điểm và phân loại.
a.Khái niệm:
Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội xuất hiện dưới
tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật và sự kiện pháp lý.
b. Đặc điểm:
-Là quan hệ mang tính ý chí xuất hiện trên cơ sởpháp luật ( do phản ánh ý chí
của nhà nước ).
-Là quan hệ của tư tưởng, quan hệ của kiến trúc thượng tầng.
-Xuất hiện trên cơ sở pháp luật.
-Là quan hệ mà các bên tham gia ( các chủ thể ) quan hệ đó mang những quyền
chủ thể và nghĩa vụ pháp lý.
-Sự thực hiện quan hệ pháp luật được đảm bảo bằng cưỡng chế nhà nước,
ngoài ra còn phụ thuộc vào ý thức tự nguyện, tự giác của các bên tham gia.
-Là loại quan hệ có tính xác định tức là chỉ xuất hiện khi có sự kiện pháp lý.
c.Phân loại:
Căn cứ vào quan hệ xã hội tồn tại trong xã hội rất đa dạng và phong phú có thể
phân loại theo căn cứ:
Phân loại theo quan hệ pháp luật tương ứng với các ngành luật theo đó chúng ta
có quan hệ pháp luật nhà nước, hành chính, hình sự..
-Căn cứ vào cách xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia thì có quan
hệ pháp luật phức tạp và quan hệ pháp luật đơn giản:
+Quan hệ pháp luật phức tạp là mỗi bên tham gia có cả quyền và nghĩa vụ.
+Quan hệ pháp luật đơn giản là một bên thuần túy có quyền bên kia thuần túy
có nghĩa vụ.
-Căn cứ vào đặc trưng tác động quan hệ pháp luật được chia thành quan hệ pháp
luật và quan hệ pháp luật điều chỉnh.
2. Cấu trúc của quan hệ pháp luật.
Quan hệ pháp luật được cấu thành bởi các yếu tố là chủ thể của quan hệ pháp
luật, nội dung của quan hệ pháp luật và khách thể của quan hệ pháp luật.
a.Chủ thể của quan hệ pháp luật:
Chủ thể của quan hệ pháp luật là người hay tổ chức có năng lực chủ thể tham
gia vào quan hệ pháp luật.
-Năng lực pháp luật là khả năng của chủ thể được các quyền chủ thể và những
nghĩa vụ pháp lý được nhà nước thừa nhận (điều kiện cần ).
-Năng lực hành vi là khả năng của chủ thể được nhà nước thừa nhận bằng hành
vi của mình thực hiện một cách độc lập các quyền của và nghĩa vụ pháp lý tham
gia vào các quan hệ pháp luật.
b. Nội dung của quan hệ pháp luật:
Nội dung của quan hệ pháp luật là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể của quan
hệ pháp luật.:
-Quyền chủ thể có một số đặc điểm, khả năng hành động bên kia thực
hiện nghĩa vụ yêu cầu cơ quan nhà nước cưỡng chế nếu bị vi phạm.
-Nghiã vụ pháp lý không phải là khả năng ứng xử mà là cần thiết phải xử
sự của các chủ thể quan hệ pháp luật. ví dụ mua bán phải trả tiền,..
-Nghĩa vụ pháp lý có đặc điểm là bắt buộc phải xử sự nhất định như luật
quy định nhằm thực hiện quyền bên kia nếu không nhà nước phải cưỡng chế.
c. Khách thể của quan hệ pháp luật:
Khách thể của quan hệ pháp luật là cái mà chủ thể đó hướng tới, tác động đó là
những giá trị về vật chật (tài sản ) giá trị tinh thần ( danh dự, nhân phẩm )hoặc
lợi ích về chính trị.
3.Sự kiện pháp lý.
Sự kiện pháp lý là những tình huống, hiện tượng, quá trình xảy ra trong đời
sống có liên quan tới sự xuất hiện thay đổi và chấm dứt các quan hệ pháp luật.
-Chúng được quy định rõ ràng trong phần giả địnhcủa các quy phạm pháp
luật.
-Căn cứ vào những quy định của quy phạm pháp luật, những sự kiện làm
nảy sinh hiệu quả pháp lý nhất định.
III. Thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật

Bài4: Vi phạm pháp luật – trách nhiệm pháp lý và vấn đề tăng cường pháp
chế
I/ Vi phạm pháp lý và trách nhiiệm pháp luật
Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái với
pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện xâm
hại tới các quan hệ xã hội dược pháp luật bảo vệ.
Hành vi của con người được pháp luật chia làm 2 loại:
+ Hành vi hợp pháp là những hành vi đúng pháp luật là nhừng điều pháp luật
cho phépkhông làm những điều pháp luật cấm.
+ Hành vi bất hợp pháp(hành vi vi phạm pháp luật) là hành vi không phù hợp
với quy định pháp luật.
Vi phạm pháp luật phải có đủ 4 yếu tố sau:
+ Vi phạm pháp luật luôn là hành vi(hành động hoặc không hành động)xác định
của con người được biểu hiện ra bên ngoài.
+ Hành vi đó phải trái với các quy định của pháp luật xâm hại tới các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ.
+ Hành vi trái với pháp luật phải chứa đựng lỗi(vô ý hoặc cố ý)của chủ thể
hành vi đó.
+ Chủ thể hành vi vi phạm pháp luật phải có năng lực trách nhiệm pháp lý tức
là người đó có khả năng nhận thức điều khiển được việc làm của mình và chịu
trách nhiệm hành vi đó.
- Hiện tượng vi phạm pháp luật được chia làm 4 loại :
+ Vi phạm hình sự (là tội phạm )Là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong bộ luật hình sự do người có năng lực trach nhiệm hình sự gây ra 1
cách cố ý hoặc vô ý.
+ Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân hay tổ chức thực hiện 1 cách cố ý
hay vô ý xâm hại tới các quy tắc quản lý của nhà nước(không phải là tội phạm
hình sự )mà bị xử phạt hành chính.
+ Vi phạm dân sự là hành vi trái với pháp luật liên quan tới quan hệ nhân thân
tài sản và quan hệ nhân thân vi tài sản.
+ Vi phạm kỷ luật là hành vi có lỗi trái với quy chế quy tắc trong nội bộ cơ
quan xí nghiệp trường học.
2 Trách nhiệm pháp lý
a. Khái niệm và đặc điểm:
+ Khái niệm: Trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa
nhà nước(thông qua các cơ quan có thẩm quyền)với chủ thể vi phạm pháp luật.
Trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những
biện pháp cưỡng chế của nhà nước quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật.
+ Đặc điểm:
- Cơ sở của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật
- Trách nhiệm pháp lý là sự lên án của nhà nước đối với xã hội đối với chủ
thể vi phạm pháp luật, là sự phản kháng của nhà nước đối với hành vi vi
phạm pháp luật.
- Trách nhiệm pháp lý liên quan mật thiết với tính cưỡng chế nhà nước.
- Cơ sở của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quyết định có hiệu lực của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan quản lý nhà nước tòa án).
b: Các loại trách nhiệm pháp lý
+ Trách nhiệm hình sự được tòa án áp dụng đối với những người có hành vi
phạm tội được quy định trong bộ luật hình sự .
+ Trách nhiệm dân sự được tòa án áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp
luật (cá nhân hay tổ chức).Các chế tài trách nhiệm hình sự chủ yếu mang tính
chất bồi hoàn thiệt hại .
+ Trách nhiệm hành chính chủ yếu được các cơ quan quản lý nhà nước áp
dụng đối với cá nhân hay tổ chức thực hiện vi phạm hành chính . Chế tài trách
nhiệm hành chính (phạt tiền, cảnh cáo )so với chế tài hình sự ít nghiêm khắc
hơn.
+ Trách nhiệm kỷ luậtdo thủ trưởng các cơ quan giám đốc các xí nghiệp áp
dụng đối với cán bộ, nhân viên, người lao động nói chung khi họ vi phạm kỷ
luật lao động.
+ Mô hình về vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý.
/………………………………………………
III/ Pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.Khái niệm pháp chế XHCN:
-Pháp chế XHCN là một yêu cầu về sự hiện diện của một hệ thống pháp
luật cần và đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội làm cơ sở cho sự tồn tại một
trật tự pháp luật và kỷ luật, là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong
tổ chức và trong hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị tổ chức và đối với
công dân (xét về mặt bản chất và ý nghĩa xã hội).
-Xét về mặt hình thức: pháp chế XHCN là một chế độ đặc biệt của đời
sống chính trị-xã hội. Trong đó tất cả các cơ quan nhà nước , tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, nhân viên nhà nước, tổ chức và mọi công dân đều phải tôn trọng và
tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh và triệt để.
2.Những yêu cầu( nguyên tắc) cơ bản của pháp chế XHCN
-Tôn trọng tính tối cao của hiến pháp và pháp luật.
-Đảm bảo tính thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn quốc.
-Các cơ quan xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật phải
hoạt động tích cực, chủ động và có hiệu quả.
-Không tách rời pháp chế với văn hóa.
3.Vấn đề tăng cường pháp chế XHCN
-Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác pháp chế.
-Đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật XHCN.
-Tăng cường công tá tổ chức và thực hiện pháp luật trong đời sống.
-Tăng cường kiểm tra giám sát, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp
luật.




Phần II: Các ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luât Việt nam

Bài 4: Luật nhà nước

I.Khái niệm Luật nhà nước và đối tượng điều chỉnh của luật nhà nước.
1.Khái niệm:
Luật nhà nước là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật bao gồm
tổng thể các quy phạm pháp luật được nhà nước ban hành trong các văn bản
pháp luật như: hiến pháp, các luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà
nước cùng điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hộiliên quan đến tổ chức quyền lực
nhà nước như chế độ kinh tế , văn hóa,quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân ,..các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà
nước.
2. Đối tượng điều chỉnh.
Đối tượng điều chỉnh của luật nhà nước là những nhóm quan hệ xã hội quan
trọng nhất thể hiệnquyền làm chủ của nhân dân như chế độ chính trị, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân, chế độ kinh tế, văn hóa,..Luật nhà nước ( Hiến
pháp ) là đạo luật gốc (mẹ ) của các ngành luật khác.
-Điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất là nền tảng chính trị của một nhà
nước.
-Củng cố cơ sở kinh tế, các quan hệ cơ bản trong lĩnh vực kinh tế, chế độ sở
hữu,thành phần kinh tế, chiến lược, mục tiêu.
-Điều chỉnh quan hệ cơ bản giữa nhà nước và công dân.
Điều chỉnh những quan hệ cơ bản thuộc chủ quyền quốc gia ( ví dụ như tên
nước, quốc huy,..)
3.Phương pháp điều chỉnh:
Vì luật nhà nước là luật gốc tạo cơ sở cho mọi quan hệ xã hội, vì vậy luật
nhà nước sử dụng phương pháp điều chỉnh bắt buộc, quyền uy để điều chỉnh
quan hệ xã hội.
4.Nguồn của luật nhà nước
-Hiến pháp là nguồn cơ bản nhất.
-Luật tổ chức Quốc hội.
-Luật tổ chức chính phủ.
-Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Viện Kiểm soát nhân.
-Luật tổ chức Hội đồng nhân dân.
Ngoài các văn bản trên còn có các văn bản khác như pháp lệnh, nghị quyết của
các cơ quan về việc tổ chức nhà nước là nguồn của luật nhà nước.
II.Một số nội dung cơ bản của Hiến pháp 1992
Hiến pháp 1992 được Quốc hội thông qua ngày 15/4/1992 khóa VII và được
Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ X ngày 25/12/2001 sửa đổi và bổ sung gồm 12
chương 147 điều.
1.Về chế độ chính trị (Điều 1-14)
Chế độ chính trị thực chất là chế độ thực hiện quyền lợi nhà nước. Chế độ
chính trị thông qua hoạt động của hệ thống chính trị đó là Đảng lãnh đạo, nhà
nước quản lý, nhân dân làm chủ.
-Điều 4 Hiến pháp: “ĐCSVN đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam,
đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân
tộctheo chủ nghĩa Mác-LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh là lực lượng lãnh đạo
nhà nước và xã hội..” Đảng lãnh đạo thông qua hình thức đề ra chủ trương,
đường lối đào tạo càn bộ, giới thiệu đảng viên ưu tú vào các cơ quan nhà nước
bằng giáo dục thuyết phục.
-nhà nước Việt nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống,
nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các đồng
bào, nghiêm cấm hành vi kỳ thị dân tộc (Điều 5).
-Quy định phương thức sử dụng, quyền lực của nhân dân thông qua Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấpdo nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước
nhân dân.( Điều 6).
-Quy định chế độ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là bỏ phiếu
kín (Điều 7).
-Khẳng định quyền dân tộc cơ bản: Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước độc
lập có chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền và các
vùng hải đảo (Điều1).
2.Chế độ kinh tế (15-29)
Hiến pháp 1992 khẳng định có 3 hình thức sở hữu:
-Sở hữu nhà nước(sở hữu toàn dân).
-Sở hữu tập thể.
-Sở hữu tư nhân.
Trên cơ sở các hình thức sở hữu ở nước ta trong thời kỳ qua độ lên CNXH thì
xuất hiện các thành phần kinh tế tương ứng:
-Kinh tế quốc doanh.
-Kinh tế tập thể.
-Kinh tế cá thể tiểu chủ.
-Kinh tế tư nhân.
-Kinh tế tư bản nhà nước.
-Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Nhà nước thực hiện chính sách nhất quán lâu dài, chính sách kinh tế thị trường
định hướng XHCN.
3.Chính sách văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ
-(Điều 30) Nhà nước và xã hội bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt nam,
dân tộc, hiện đại,nhân văn, kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến
các dân tộc Việt nam, tư tưởng, đạo đức,…tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại,
phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân.
-( Điều 36 ) Giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhà nước phát triển giáo dục
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
-(Điều 37) Nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách khoa học và công nghệ
quốc gia, xây dựng nền khoa học công nghệ, tiên tiến.
4.Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
-Các quyền về chính trị: công dân có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý
nhà nước, xã hội, kiến nghị, biểu quyết khi nhà nước thực hiện trưng cầu dân
ý.
-Các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội:
+Công dân có quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, quyền sở hữu những thu
nhập hợp pháp, của để dành, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản.
+Các tổ chức và công dân có quyền sở hữu đất lâu dài, quyền chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
+Mọi công dân có quyền học tập, nghiên cứu khoa học, nghệ thuật, bảo hộ
quyền tác giả,..,bảo vệ sức khỏe, bình đẳng nam nữ, bảo vệ hôn nhân gia
đình.
-Quyền về tự do dân chủ, tự do cá nhân:
Tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, tập hội, biểu tình theo quy đinh của pháp
luật, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bất khả xâm phạm thân thể, chỗ ở,..,thư tín.
Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.
-Nghĩa vụ:
+Công dân phải trung thành với Tổ quốc( 76).
+Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân(77).
5.2.Bộ máy nhà nước Việt nam theo Hiến pháp 1992
……………………………………sơ đồ
Bài 5: Luât hành chính
I.Khái niệm luật hành chính:
1. Khái niệm luật hành chính và cơ quan hành chính nhà nước:
a.Khái niệm:
Luật hành chính bao gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động, quản lý của nhà nước trên tất cả
các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.
-Khái niệm hoạt động hành chính nhà nước hay hoạt động quản lý nhà nước là
khái niệm hoạt động chấp hành và điều hành.
-Hành chính được hiểu là quản lý, lãnh đạo về hoạt động công vụ hàng ngày
trong các công sở của bộ máy nhà nước.
b.Cơ quan hành chính nhà nước:
-Cơ quan hành chính nhà nước là một loại cơ quan trong bộ máy nhà nước
hoạt động thường xuyên, liên tục, có vị trí tương đối ổn định, đưa đường lối,
chính sách của Đảng vào cuộc sống.
-Cơ quan hành chính chia làm 2 loại:
+Chính phủ-bộ, ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền chung:
.Cơ quan nhà nước Trung ương ( chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ).
.Cơ quan nhà nước địa phương (ủy ban nhân dân, sở cục, chi cục ).
+Các vụ, sở, phòng ban là cơ quan chuyên môn.
c. Đối tượng điều chỉnh:
-Là những quan hệ xã hội mang tính chấp hành, điều hành phát sinh giữa chủ
thể tham gia hoạt động của nhà nước.
-Hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện bởi nhà nước hoặc nhân danh
nhà nước mà đối tượng là các hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan
quản lý hành chính nhà nước.
d.Phương pháp điều chỉnh:
Là xuất phát từ quyền uy phục tùng đó là phương pháp mệnh lệnh đơn
phương, một bên nhân danh nhà nước ra các quyết định hành chính có tính chất
mệnh lệnh bắt buộc thi hành và một bên là đối tượng quản lý có nghĩa vụ
phục tùng mệnh lệnh đó.
e. Hệ thống luật hành chính:
Hệ thống luật hành chính bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật nằm rải
rác trong các văn bản khác nhau quy định về nhiều lĩnh vực của tổ chức quản
lý nhà nước. Những văn bản đó bao gồm nhiều nhóm quy phạm chia thành 2
phần của luật hành chính:
-Phần chung bao gồm những nhóm quy phạm mệnh lệnh và bắt buộc.
-Phần riêng bao gồm những quy phạm quy định từng lĩnh vực quản lý hành
chính nhà nước về chuyên môn như: tài chính kế hoạch, giá cả, tín dụng, hoặc
các lĩnh vực của đời sống, văn hóa, kinh tế.
II.Trách nhiệm hành chính-Vi phạm hành chính-Xử lý vi phạm hành chính
1.Trách nhiệm hành chính:
Trách nhiệm hành chính là loại trách nhiệm pháp lý được áp dụng trong hoạt
động quản lý nhà nước đó là những biện pháp cưỡng chế hành chính mang
tính xử phạt hoặc khôi phục lại những quyền lợi bị xâm hại được quy định
trong chế tài của quy phạm pháp luật hành chính nhà nước. Thực chất nó là
hậu qủ mà cá nhân hay tổ chức vi phạm hành chính phải ghánh chịu.
-Cơ sở của việc truy cứu trách nhiệm hành chính là vi phạm hành chính.
-Trách nhiệm hành chính được áp dụng bởi cơ quan nhà nước, người có thẩm
quyền.
-Người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi hành vi do
cố ý hay vô ý của bản thân , từ 14 tuổi phải chịu thách nhiệm hành chính về
hành vi cố ý.
-Cơ quan nhà nước, đơn vị kinh tế phải chịu trách nhiệm hành chính.
-Quân nhân, người thuộc lực lượng vũ trang.
-Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ Việt
nam.
2.Vi phạm hành chính
( pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 02-07-2002 )
Vi phạm hành chính là những hành vi ( hành động hoặc không hành động ) trái
pháp luật do các chủ thể của luật hành chính thực hiện một cách cố ý hay vô ý
xâm hại tới các quan hệ xã hội do luật hành chính bảo vệ và theo quy định
phải xử phạt hành chính.
3.Xử phạt vi phạm hành chính:
*Pháp luật quy định xử phạt hành chính chủ yếu thuộc thẩm quyền của các cơ
quan nhà nước được tiến hành theo thủ tục hành chính:
-Xử lý vi phạm hành chính phải do người có thảm quyền tiến hành, đó là : chủ
tịch ủy ban nhân dân từ xã trở lên, xã, huyện, tỉnh, thành phố, chiến sĩ cảnh sát,
nhân viên thuế, thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ, đội thi hành án.
-Các vi phạm hành chính xảy ra ở địa phương do chủ tịch ủy ban nhân dân xử
lý, lĩnh vực chuyên ngành do cơ quan chuyên môn xử lý.
*Nguyên tắc xử lý:
-Việc xử lý vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành.
-Chỉ bị xử phạt khi có vi phạm.
-Vi phạm hành chính chỉ bị xử lý một lần, kịp thời, công minh, nhanh chóng
theo đúng luật định.
-Không xử lý hành chính trong các trường hợp cấp thiết, phòng vệ chính đáng,
hoặc bất ngờ.
4.Các hình thức xử phạt hành chính
-Cảnh cáo.
-Phạt tiền.
-Tước quyền sử dụng giấy phép.
-Tịch thu tang vật.
-Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu.
-Buộc khắc phục khác.
-Bồi thường thiệt hại.
-Buộc tiêu hủy vật phẩm độc hại.
Ngoài ra còn áp dụng xử phạt hành chính khác như giáo dục tại xã, phường,
đưa vào cơ sở giáo dục, giáo dưỡng, chữa bệnh, quản chế hành chính.
III.Viên chức, công chức, quyền hạn và trách nhiệm, khen thưởng và kỷ luật
1.Viên chức nhà nước:
Viên chức nhà nước là công dân Việt nam làm việc trong các cơ quan nhà
nước do được tuyển dụng, bầu hoặc bổ nhiệm giữ một chức vụ nhất định
hoặc bằng hoạt động của chính mình góp phần vào thực hiện một chức vụ
nhất định và được trả lương theo chức vụ của họat động đó.
Viên chức nhà nước được chia thành 2 loại:
-Viên chức nhà nước là công chức.
-Viên chức nhà nước không là công chức như sĩ quan, hạ sĩ quan, bộ đội biên
phòng, người giữ chức vụ trong cơ quan quyền lực nhà nước, hành chính, xét
xử, người hoạt động trong các đơn vị sản xuất kinh doanhcủa bộ máy quản lý
nhà nước.
2.Công chức nhà nước:
Công chức nhà nước là công dân Việt nam được tuyển dụng giữ một chức vụ
thường xuyên, lâu dài trong công sở nhà nước từ trung ương đến địa phương
(ở trong nước hay ngoài nước ) được xếp vào ngạch công chức và được
hưởng lương theo ngạch, bậc lương nhất định.
Bao gồm:
-Người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa
phương.
-Người làm việc trong các đại sứ quán, lãnh sự quán của nước ta ở nước
ngoài.
-Người làm việc trong các trường học, bệnh viện, cơ quan khoa học nhận
lương từ ngân sách.
-Nhân viên trong cơ quan bộ quốc phòng.
-Người được bổ nhiệm giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan tư pháp,
kiểm sát, xét xử, quốc hội và hội đồng nhân dân.
3.Quyền hạn, trách nhiệm, khen thưởngvà kỷ luật
a.Quyền hạn và trách nhiệm:
-Công chức khi được tuyển dụng phải trung thành với nhà nước và chế độ,
phải làm tròn nhiệm vụ được giao.
-Quyền ra mệnh lệnh hành chính đối với cơ quan nhân viên dưới quyền.
-Quyền kháng nghị, kiến nghị của kiểm soát viên.
-Công chức phải chịu trách nhiệm khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà quy định trong bộ luật hình sự.
-Phải chịu trách nhiệm dân sự nếu gây ra những thiệt hại cho nhà nước và tập
thể, nhân dân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao.
-Chịu trách nhiệm hành chính nếu vi phạm luật hành chính.
b.Khen thưởng và kỷ luật:
* Danh hiệu:
-Anh hùng lao động.
-Chiến sĩ thi đua.
-Lao động tiên tiến, giỏi, hoặc nhà giáo ưu tú.
* huy hiệu:
-Huân chương, bằng khen, giấy khen.
*Kỷ luật:
-Khiển trách.
-Cảnh cáo.
-Hạ bậc công tác, hạ bậc kỹ thuật, chuyển công tác.
-Buộc thôi việc.
Bài 6 :Luật lao động
I.Khái niệm luật lao động, các quan hệ pháp luật lao động và hợp đồng lao
động.
1.Khái niệm:
Luật lao động là tổng hợp những quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành
nhằm điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với
người sử dụng lao độngvà các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ
lao động.
2. Đối tượng điều chỉnh:
Đối tượng điều chỉnh của luật lao động là quan hệ lao động hay quan hệ về sử
dụng lao động và quan hệ liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.
3.Các quan hệ pháp luật lao động:
a.Khái niệm và đặc điểm:
-Quan hệ pháp luật laô động ( hay cò gọi là quan hệ pháp lý về sử dụng lao
động ) là quan hệ pháp lý trong quá trình tuyển chọn và sử dụng lao động của
người lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, tại các cơ
quan nhà nước và các tổ chức xã hội.
-Đặc điểm:
+Quan hệ pháp luật lao động được thiết lập chủ yếu trên cơ sở giao kết hợp
đồng lao động.
+Khi tham gia quan hệ pháp luật lao động người lao động tự đặt hoạt động của
mình vào sự quản lý của người sử dụng lao động.
+Có sự tham gia của công đoàn với tư cách là đại diện cho tập thể người lao
động.
b. Nội dung của quan hệ pháp luật lao động
Bao gồm: các quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia quan hệ ( cá nhân, người
sử dụng lao động, tổ chức ).
*Quyền và nghĩa vụ của người lao động:
-Quyền: người lao động có quyền tự do giao kết hợp đồng lao động với người
sử dụng lao động, quyền được đảm bảo tiền lương, tiền thưởng, quyền đảm
bảo an toàn lao động, quyền được bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật,
được nghỉ ngơi theo quy định của pháp luật và theo sự thỏa thuận của các bên .
-Nghĩa vụ: người lao động có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước
lao động tập thể, chấp hành các nội quy của đơn vị, thực hiện các quy định về
an toàn vệ sinh lao động, chấp hành kỷ luật lao động.
*Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động:
-Quyền: người sử dụng lao động có quyền tuyển chọn, bố trí và điều hành lao
động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh, quyền khen thưởng và xử lý vi phạm
kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật.
-Nghĩa vụ: người sử dụng lao động phải thực hiện đúng hợp đồng lao động,
thỏa ước lao động tập thể và các thỏa thuận khác đối với người lao động, đảm
bảo trả lương và các chế độ khác, quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần
cho người lao động.
c. Một số quan hệ pháp luật khác có liên quan
-Quan hệ pháp luật giữa tổ chức công đoàn đại diện cho tập thể người lao động
với người sử dụng lao động.
-Quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội:
+quan hệ pháp luật trong việc tạo lập quỹ bảo hiểm xã hội.
+Quan hệ pháp luật trong việc chi trả trợ cấp bảo hiểm xã hội.
-Quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại vật chất:
+Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
+Bồi thường thiệt hại về tình trạng sức khỏe , tính mạng người lao động.
-Quan hệ pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động.
3. Hợp đồng lao động.
Theo điều 26 chương IV của bộ luật lao động quy định thì chỉ được coi là hợp
đồng lao động khi có đủ các điều kiện, yếu tố sau:
-Có sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động.
-Có việc làm cụ thể, có trả công theo công việc đã thỏa thuận.
-Có thảo thuận về điều kiện lao động ( thời gian lao động, thời gian nghỉ ngơi,
thưởng phạt, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội,..).
-có quy định về quyền và nghĩa vụ của cácbên tham gia thực hiện hợp đồng lao
động.
-Có năng lực pháp lý và năng lực hành vi.
*Nguyên tắc khi giao kết hợp đồng lao động:
-Tự do, tự nguyện.
-Bình đẳng.
-Không trái pháp luật và thỏa ước lao động tập thể.
-Giao kết trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động hoặc với
người đại diện hợp pháp của người lao động.
-giao kết giữa đại diện của một nhóm người lao động với người sử dụng lao
động.
III. Quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động
1.Quyền và nghĩa vụ của người lao động:
Khi tham gia quan hệ lao động người lao động có các quyền cơ bản sau:
-Được trả công theo số lượng và chất lượng lao động và hiệu quả lao động,
tiền lương ngang nhau cho công việc như nhau.
-Được bảo hộ lao động toàn diện, được làm việc trong điều kiện an toàn cho
tính mạng và sức khỏe.
-Được gnhỉ ngơi theo chế độ của nhà nước quy định như nghỉ hàng năm, ngày
lễ, nghỉ hàng tuần, .. mà vẫn hưởng lương.
-Được hưởng chế độ bảo hiểm khi ốn đau, thai sản, giảm mất khả nămg làm
việc, rủi ro hết tuổi lao động hoặc mất việc làm.
-Được hưởng phúc lợi tập thể và các quyền lợi khác.
-Được đình công theo quy định của pháp luật.
b. Nghĩa vụ của người lao động:
- Làm tròn trách nhiệm theo đúng hợp đồng lao động đã ký kết.
- Chấp hành kỷ luật lao động và nội quy lao động
- Tuân thủ sự quản lý và điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động
2. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động
a. Quyền của người sử dụng lao động
- Quyền tuyển chọn bố trí và điều hành hoạt độngtheo nhu cầu sản xuất công
tác
- Quyền được cử đại diện để thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể
trong doanh nghiệp hoặc trong ngành
- Quyền khen thưởng và kỷ luật vi phạm hợp đồng lao động theo pháp luật
- Quyền được chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp nhất định
b. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động
- Thực hiện hợp đồng lao động thỏa ước lao động tập thể và các thỏa thuận
khác với người lao động
- Đảm bảo an toàn vệ sinh lao động và các điều kiện lao động khác
- Đảm bảo kỷ luật lao động
- Tôn trọng nhân phẩm và đối xử đúng đắn với người lao động đồng thời quan
tâm đến đời sống của họ và gia đình
III Bảo hiểm xã hội vai trò quyền hạn của tổ chức công đoàn trong quan hệ với
người lao đọng và người bảo hiểm xã hội
1.Bảo hiểm xã hội
a. Loại hình
- Có 2 lại hình bảo hiểm xã hội là bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiễm xã
hội tự nguyện
- Theo điều 140 khoản 2 của luật lao động về nguyên tắc: các lọai bảo hiểm
xã hội bắt buộc hoăc tự nguyện được áp dụng đối với từng loại đối tượng và
từng lọai doanh nghiệp để đảm bảo cho người lao động được hưởng các chế
độ bảo hiểm xã hội thích hợp
+ Loại bảo hiểm xã hội bắt buộc (điều 141 Bộ luật lao động ) được áp dụng
đối với các doanh nghiệp cơ quan tổ chức có sử dụng lao động làm việc theo
hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng không xác định
thời hạn
. Người sự dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội 15 % so với tổng quỹ
lương
. Người lao động đóng 5% tiền lương và được hưởng các chế độ bảo hiểm xã
hội ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí, tử tuất…
+ Loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện áp dụng cho người lao động theo hợp
đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng
. Người tham gia bảo hiểm xã hội theo hình thức tự nguyện hoặc tự lo liệu về
bảo hiểm
Khi hết hợp đồng lao động người sử dụng lao động tiếp tục sử dụng thì sẽ áp
dụng theo điều 141 khoản 1 Bộ luật lao động
d. Chế độ bảo hiểm xã hội
- Hiện nay ở nước ta đang áo dụng 5 chế độ bảo hiểm xã hội
+ Chế độ trợ cấp ốm đau áp dụng khi người lao đông bị ốm đau thì được khám
bệnh và điều trị tại cơ sở y tế theo chế độ bảo hiểm y tế
+ Chế độ trợ cấp khi bị tai nạn lao động bị bệnh nghề nghiệp
+ Chế độ trợ cấp thai sản (Điều 114 )
+ Chế độ trợ cấp hưu trí (Điều 145 ): Nam đủ tuổi đời là 60 tuổi và đủ 30 năm
đóng bảo hiểm xã hội, nữ 55 tuổi và đóng đủ 25 năm
. Người lao động đủ tuổi dời nhưng chưa đủ thời gian 20 năm đóng bảo hiểm xã
hội, trường hợp này người lao động phải có ít nhất 15 năm đóng bảo hiểm xã
hội sẽ được trợ câp hưu trí hàng tháng thấp hơn
. Người lao động đủ điều kiện đóng bảo hiểm xã hội là 20 năm nhưng chưa đủ
điều kiện tuổi đời trường hợp này nam phải đủ 50 tuổi nữ 45 tuổi ngoài ra khi
về hưu sức khỏe phải suy giảm 61% trở lên
. Người lao động nặng nhọc độc hại thì không giới hạn về độ tuổi nhưng phải
đủ điều kiện đóng bảo hiểm xã hội từ 20 năm trỏ lên và suy giảm khả năng lao
động từ 61% trở lên.
Lưu ý: Người lao động không đủ điều kiện hưởng chế độ lao động hàng tháng
theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 145 Bộ luật lao động thì được
hưởng trợ cấp 1 lần
+ Chế độ trợ cấp tử tuất
2. Vai trò quyền hạn của tổ chức công đoàn
a. Vai trò của tổ chức công đoàn :
*Khái niệm:
Công đoàn là một tổ chức chính trị xã hội và rộng lớn nhấtcủa giai cấp công
nhân Việt nam và nhân dân lao động được thành lập và hoạt động theo quy định
của pháp luật.
-Tham gia quản lý nhà nước về lao động, quản lý sản xuất kinh doanh, thực
hiện quyền làm chủ tập thể.
-Chăm lo cải thiện đời sống người làm việc, bảo vệ quyền và lợ ích hợp pháp
của người lao động được pháp luật quy định
b. Quyền hạn của tổ chức công đoàn trong quan hệ của người lao động và
người sử dụng lao động (Điều 144 )
. Quyền tham gia quản lý xây dựng quy chế lao động trong đơn vị
. Cùng với người sử dụng lao động tổ chức công nhân viên chức
. Than gia cải thiện và nâng cao đời sống cho người lao động đảm bảo nguyên
tắc, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với điều kiện đơn vị sử dụng lao
động
. Quyền thay nặt người lao động kiểm tra việc chấp hành pháp luật của người
sử dụng lao động
. Quyền tham gia và quản lý sử dụng quỹ khen thưởng quỹ phúc lợi của cơ quan
xí nghiệp.
.Quyền tham gia xử lý kỷ luật lao động và tranh chấp lao động theo quy định
của pháp luật.
.Quyền đại diện ký kết thỏa ước lao động tập thể.
.Qquyền tổ chức đình công theo quy định của pháp luật .
Điều173 khoản 2


LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ___________ .
1.LUẬT HÌNH SỰ.
1/khái niệm.
Nhằm thực hiện nhiêm vụ bảo vệ chế độ xã hội,trật tự xã hội,nhà nước dùng
nhiều biện pháp vừa có tính thuyết phục vừa có tính cưỡng chế để đấu tranh
ngăn ngừa những hành vi.khi sự vi phạm có tính nguy hiểm cho xã hội chưa cao
cho xã hội :như giết người , cướp của ,phá hủy công trình…thì nhà nước phải
dùng những biện pháp xử lý manh mẽ và nghiêm khắc nhất-các biện pháp hình
sự.
* luật hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt
Nam,bao gồm tổng thể những quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành,xác
định những hành vi nào nguy hiểm cho xã hội là tội phạm , đồng thời quy định
hình phạt đối với tội phạm ấy.
Trong hệ thống pháp luật của nước CHXHCNVN chỉ có luật hình sự mới quy
định về tội phạm và hình phạt các quy phạm pháp luật hình sự được chia làm
hai loại :
(1)loại quy định những nguyên tắc ,nhiệm vụ của luật hình sự,những vấn đề
chung về tội phạm và hình sự -những quy phạm này hợp hợp thành phần chung
của tội phạm.
(2)Loại quy định dấu hiệu pháp lý của những tội phạm cụ thể và mức hình phạt
có thể áp dụng đối với tội phạm ấy.Những quy phạm này hợp thành các tội
phạm của LHS Vnam.
=>phần chung và phần các tội phạm liên quan mật thiết với nhau ,chúng đều có
chung một nhiệm vụ quan trọng là giải quyết một cách khoa học các vấn đề về
tội phạm và hình phạt.
2) Đối tượng điều chỉnh .
Là những quan hệ xã hội phát sinh giữa nhà nươc và người phạm tội ,khi
người này thực hiện phạm tội.
Như vậy trong quan hệ phát sinh hình sự có hai chủ thể với những vị trí pháp
lý khác nhau.
(1)Nha nước:là chủ thể của qhệ pháp luật HS với tư cách là người bảo vệ pháp
luật và lợi ích của toàn xã hội .Nhà nước có quyền truy tố và xết xử kẻ phạm
tội buộc kẻ phạm tội phải gánh chịu những hình phạt nhất định,tương ứng với
tính chất mức đọ tội phạm mà họ gây ra.
(2)Người phạm tội :người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình
sự hỏi là tội phạm có trách nhiệm chấp hành các biện pháp cưỡng chế mà nhà
nước áp dụng với mình đồng thời họ cũng có quyền yêu cầu nhà nước bảo vệ
lợi ích hợp pháp của mình.
*phương pháp điều chỉnh của luật hình sự là phương pháp quyền uy .
Đó là phương pháp sử dụng quyền lực nhà nước trong việc điều chỉnh các
quan hệ pháp luật hình sự giữa nhà nước và kẻ phạm tội. Nhà nước với tư cách
là người quản lý xã hội và điều chỉnh xã hội được coi là người trực tiếp có
quyền buộc kẻ phạm tội chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ gây
ra.Việc buộc chủ thể chịu trách nhiệm hình sự này được thể hiện bằng quyền
lực nhà nước. Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp hình sự nhất định ( các
chế tài hình sự ) đối với kẻ phạm tội mà không bị một sự cản trở nào của cá
nhân, xã hội.
3. Tội phạm và các yếu tố cấu thành tội phạm
a.khái niệm:
Điều 8 luật hình sự nước CHXHCNVN đã đưa ra khái niệm tội phạm như sau:
tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự
do người có năng lực hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý xâm phạm tới
độc lập chủ quyền, xâm pạhm tới chế độ chính trị, chế dộ kinh tế, nền văn hóa,
quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền , lợi ích hợp pháp của tổ chức,
xâm hại tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, xâm hại tới những lĩnh vực khác của trật tự
pháp luật xã hội xhủ nghĩa.
Từ định nghĩa đầy đủ có thể định nghĩa khái quát như sau: Tội phạm là hành vi
nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự, và phải chịu trách nhiệm
hình sự.
-Tính nguy hiểm cho xã hội về mặt khách quan có nghĩa là gây ra hoặc đe dọa
gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Tính
Nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản quan trọng nhất quyết định những
dấu hiệu khác của tội phạm một hành vi sở dĩ bị quy định trong bộ luật hình sự
là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự vì có tính nguy hiểm cho xã hội
-Tính có lỗi của tội phạm: Một người được coi là có lỗi khi thực hiện một hành
vi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn quyết định của chủ thể khi có
đủ điều kiện lựa chọn và quyết định một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã
hội. Trong bộ luật hình sự Việt Nam tính có lỗi được nêu trong định nghĩa về
tội phạm là một dấu hiệu độc lập cùng với tính nguy hiểm trong xã hội nhưng
không phải để tách có lỗi ra khỏi tính nguy hiểm cho xã hội mà để nhấn mạnh
tính có lỗi. Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc quy tội khách quan
tức là quy trách nhiệm một người chỉ căn cứ vào việc người đó đã thực hiện
một hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà không căn cứ vào lỗi của họ chúng ta áp
dụng một hình phạt không phải để trừng trị một hành vi mà để trừng trị người
đã thực hiện tội phạm nhằm cải tạo giáo dục họ mục đích giáo dục cải tạo này
chỉ có thể đạt được nếu hình phạt được áp dụng cho người có lỗi. Đối với
người không có lỗi hình phạt không thể phát huy được tác dụng giáo dục đào
tạ o
-Tính trái pháp luật: Theo luật hình sự Việt Nam một hành vi nguy hiểm cho xã
hội chỉ bị coi là tội phạm khi xâm hại tới các khách thể của luật hình sự bảo
vệ.Như vậy tính được quy định trong bộ luật hình sự mang tính trái pháp luật
hình sự là dấu hiệu đòi hỏi phải có ở những hành vi coi là tội phạm. Vì vậy mà
luật quy định chỉ người nào phạm một tội đã được luật hình sự quy định mới
phải chịu trách nhiệm hình sự.
-Tính chịu hình phạt: Có nghĩa là bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều bị đe
dọa phải chịu một hình phạt. Đây là một loại biện pháp cưỡng chế nhà nước có
tính nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế của nhà nước.
Nhưng điều đó không có nghĩa là việc áp dụng và thi hành trong thực tế một
hình phạt cụ thể là có tính bắt buộc tuyệt đối cho mọi trường hợp trong thực tế
có trường hợp người phạm tội không phải chịu hình phạt cụ thể đó là những
trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự được miễn hình phạt hoặc được
miễn trách nhiệm hình phạt( Chương 15 điều 61)
b. Các yếu tố cấu thành tội phạm:
-Khách thể của tội phạm: Là những quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Bất cứ
một hành vi phạm tội nào cũng đều gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho
một hoặc một số quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự quy định. Ví dụ:
Giết người xâm hại tới quan hệ nhân thân, Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa
xâm hại tới sở hữu xã hội chủ nghĩa.
-Chủ thê của tội phạm: Là con người cụ thể đã thực hiện một hành vi phạm tội
,chủ thể của tội phạm đòi hỏi phải có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ
tuổi nhất định. Năng lực hình sự là người có năng lực nhận thức được tính nguy
hiểm cho xã hội hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi
ấy.Người mắc bệnh tâm thần hoặc một số bệnh khác mất khả năng nhận thức
thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người say rượu thực hiện hành vi
phạm tội có lỗi cũng phải chịu trách nhiệm vì lỗi đó ngoaì ra những tội nhất
định chủ thể đòi hỏi phải có dấu hiệu khác.
-Mặt khách quan của tội phạm: Là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm
gồm: Hành vi của tội phạm phải có tính nguy hiểm cho xã hội nếu không có tính
nguy hiểm cho xã hội thì không phải là tội phạm.Ví dụ: Đe dọa giết người
nhưng không thực hiện thì không phải là tội phạm trừ khi người đe dọa đó gây
nên được hậu quả gì.Hậu quả của tội phạm do hành vi phạm tội gây ra gồm
thiệt hại về vật chất, thiệt hại về thể chất và thiết hại về tinh thần.Mối quan
hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả có nghĩa là anh A đâm anh B bị thương
nhưng trên đường đi cấp cứu anh B…
Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội
phạm gồm: Lỗi,mục đích, động cơ phạm tội
+Lỗi: - lỗi cố ý trực tiếp
-Lỗi cố ý gián tiếp
-Lỗi vô ý do quá tự tin
-Lỗi vô ý do cẩu thả
+Mục đích:
-Là mốc trong ý thức của người phạm tội được đặt ra cho hành vi phạm
tội phải đạt đến. Ví dụ mục đích của anh A là đánh chết B,nhưng anh B chỉ bị
thương
+Động cơ là yếu tố tinh thần người phạm tội.Ví dụ: Động cơ phòng vệ chính
đáng là dấu hiệu định khung được phản ánh trong chế tài,tội phạm giảm nhẹ
của tội cố ý gây thương tích.
3. Hình phạt các loại hình phạt:
a.khái niệm:
-Hình phạt là biện pháp cưỡng chế của nhà nước do tòa án áp dụng đối với
người thực hiện tội phạm theo quy định của tội phạm tước bỏ hoặc hạn chế
những quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án. Nhằm mục đích cải tạo
giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm.
-Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất. Tính nghiêm khắc của
hình phạt thể hiện ở chỗ nó có thể tước bỏ những quyền và lợi ích thiết thực
của người bị kết án như quyền tự do, quyền chính trị, quyền sở hữu thậm chí
cả quyền sống. Ngoài ra hình phạt bao giờ cũng để lại cho người bị kết án hậu
quả pháp lý là án tích trong thời hạn do luật quy định.
-Hình phạt được luật hình sự quy định và do tòa án áp dụng:
Mức độ nghiêm khắc của hình phạt được quy định trong luật hình sự phụ thuộc
vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Hình phạt là biện pháp
cưỡng chế do tòa án nhân dân nhân danh nhà nước quy định áp dụng đối với
người phạm tội. Hình phạt đã được tòa án tuyên đối với người phạm tội thể
hiện sự lên án của nhà nước đối với họ và hành vi do họ gây ra.
-Hình phạt chỉ cí thể áp dụng đối với người có hành vi phạm tội
Hình phạt chính là sự thực hiện quan hệ pháp luật hình sự nảy sinh giữa người
có hành vi phạm tội và nhà nước. Do vậy chỉ có thể áp dụng với người có hành
vi phạm tội. Hình phạt không thể áp dụng đối với các thành viên trong gia đình
cũng như người thân khác của người phạm tội ngay cả trong trường hợp người
phạm tội lẩn tránh hình phạt. Hình phạt có liên quan đến tài sản cũng chỉ áp
dụng đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của người có hành vi phạm tội.
b. Các loại hình phạt:
*Các hình thức phạt chính:
-Cảnh cáo: là sự khiển trách công khai của nhà nước do tòa tuyen án với người
bị kết án.
Điều 29 luật hình sự quy định: cảnh cáo được áp dụng đối người phạm tội ít
nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng chưa đến mứca miễn phạt.
-Phạt tiền: là hình phạt tước đoạt của người bị kết án một khoản tiền nhất định
xung công quỹ nhà nước.
Điều 30: phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít
nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự hành
chínhvà một số tội phạm khác do luật quy định.
-Cải tạo không giam giữ:
Điều 31: cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 6 tháng đến 3 năm đối với
người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do bộ luật này quy
định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng nếu xét
thấy không càn thiết phải cách ly người ấy với xã hội..
-Trục xuất:
Điều 32: trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ
nước CHXHCNVN.
-Tù có thưòi hạn:
Điều 33: tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt
tại trại giam trong một thời gian nhất định. Tù có thời hạn đối vời người phạm
một tội có mức tối thiểu là 3 tháng và tối đa là 20 năm.
Lưu ý: Điều 50 : quy định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội hình phạt
chung không quá 30 năm đối với hình phạt có thời hạn.
-Tù chung thân:
Điều 34: tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn đối với người phạm tội
đặc biệt nghiêm trọng nhưng chưa đến mức tử hình, không áp dụng tù chung
thân đối với người chưa thành niên phạm tội.
-Tử hình:
Điều 35: tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc
biệt nghiênm trọng, không áp dụng tử hình đối với người chưa thành niên phạm
tội, phụ nữ có thai hoặc phụ nữ nuôi co dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc
khi xét xử.Trường hợp này án tử hình được chuyển xuống chung thân.Trong
trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm thì hình phạt tử hình được
chuyển thành chung thân
*Hình phạt bổ xung.
(1)-Cấm đảm nhiệm chức vụ và cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định(điều 36).
(2)-Cấm cư trú (điều 37).
-Quản chế (đ38).
-Tước một số quyền công dân (đ34).
-Tịch thu tài sản (điều 40).
-Phạt tiền và trục xuất.
* Một số hình phạt tư pháp.
(1) Tịch thu tài sản, tang vật trực tiếp liên quan đến tội phạm (đ41).
(2) Trả lại tài sản ,sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại,hoặc xin lỗi công khai(đ
42).
(3) Bắt buộc chữa bệnh (đ 43).
4) TỘI PHẠM CỤ THỂ (trang 429 môn pháp luật).

(1)-Các tội phạm xâm hại an ninh quốc gia(đượ quy định từ điều 78 đến điều 91
và điều 92 là hình phạt bổ xung).
(2)-Các tội phạm tính mạng ,sức khoẻ ,nhân phẩm ,danh dự của con người
(được quy định từ điều 93->122).
(3) –Các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân (được quy định từ
điều 123 - 145)
-Các tôị phạm đến chế độ hôn nhân gia đình (Điều 146 – 152 )
-Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (điều 153-181).
-Các tội phạm về môi trường (điều 182- 191).
-Các tội về ma tuý (điều 192 – 201).
-Các tội xâm phạm đến an toàn công cộng (điều 202 – 256).
-Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính (điều 257- 276).
-Các tội phạm về tham nhũng(điều 278- 284 ).
-Các tội phạm khác về chức vụ (điều 285-297).
-Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (điều 292-314).
-Các tội xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm quân nhân (điều 315- 340).
-Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh(điều 341-
344).
II.Luật Tố tụng hình sự
1.Khái niệm:
Luật tố tụng hình sự là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật , tổng
hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh caca quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt
động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Luật tố tụng hình sự là một ngành luật độc lập có đối tượng điều chỉnh và
phương pháp điều chỉnh riêng trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, giữa
cơ quan điều tra tố tụng và những người tham gia tố tụng phát sinh một quan hệ
nhất định.
Ví dụ: để thu thập chứng cứ của một vụ án cơ quan điều tra phải tiến hành các
hoạt động hỏi cung bị can, nhân chứng,.. và như vậy phát sinh mối quan hệ giữa
cơ quan điều tra với vị can với người làm chứng .. Khi tiến hành các hoạt động
khác cũng phát sinh các mối quan hệ tương tự. Luật tố tụng hình sự điều chỉnh
mối quan hệ đó.
-Đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng hình sự là những quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình điều tra, khởi tố, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
-Phương pháp điều chỉnh: là phương pháp quyền uy và phối hợp chế ước.
+phương pháp quyền uy là phương pháp đặc trưng của luật tố tụng hình sự ,
quyền uy thể hiện ở chỗ giữa cơ quan tiến hành truy tố và những người tham
gia tố tụng, các quyết định của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án có tính
chất bắt buộc đối với cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân.
Quyền uy không có nghĩa là cơ quan điều tra muốn làm gì thì làm mà phải thực
hiện quyền lực của mình theo đúng pháp luật.
+Phương pháp phối hợp ước chế: điều chỉnh mối quan hệ giữa các cơ quan
điều tra, viện kiểm sát, toà án. Các cơ quan này có nhiệm vụ phối hợp với nhau
tiến hành các hoạt động của mình theo bộ luật của tố tụng hình sự. Cơ quan này
làm sai thì cơ quan khác có quyền phát hiện tự mình sửa chữa hoặc đề nghị sửa
chữa những sai xót đó.
2. Các khâu tố tụng hình sự:
-Khởi tố vụ án hình sự: là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự trong đó cơ
quan có thẩm quyền xác có hay không dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố
hay không khởi tố.
Trường hợp khẩn cấp, bắt quả tang phạm tội thì bắt người trước khi khởi tố.
+Cơ quan điều tra của cảnh sát và lực lượng an ninh gồm: cục trưởng, trưởng
phòng điều tra cấp tỉnh, trưởng công an huyện, thủ trưởng các cục, các phòng
cảnh sát trực tiếp đấu tranh chống tội phạm, ban giám thị trại giam ở cấp tỉnh
và trại giam.
+Cơ quam điều tra trong quân đội nhân dân khởi tố vụ án hình sự các tội phạm
thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự.
+cơ quan điều tra của viện kiểm sát khởi tố vụ án trong trường hợp pháp luật
quy định..
+Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự thẩm quyền thuộc viện trưởng viện kiểm
sát các cấp.
+toà án khởi tố vụ án hình sự thẩm quyền trong hội đồng xét xử .
+Đơn vị bộ đội biên phòng, cơ quan hải quan, cơ quan kiểm lâm khởi tố vụ án
hình sự.
-Điều tra vụ án hình sự:
Là giai đoạn tố tụng hình sự trong đó cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp
do bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện
hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc xét xử của toá án.
Nhiệm vụ của cơ quan điều tra là xác định tội phạm và người thực hiện hành vi
phạm tội, xác định thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra tạo điều kiện cần thiết
cho việc giải quyết vụ án, xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội, yêu cầu
cơ quan tổ chức áp dụng biện pháp ngăn ngừa.
Lưu ý:
Luật tố tụng hình sự quy định thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 4 tháng
kể từ ngày khởi tố vụ án, nếu do tính chất phức tạp phải điều tra thêm trước
khi hết hạn 10 ngày thì phải làm văn bản gửi viện trưởng viện kiểm sát tỉnh
hoặc quân khu cấp này có quyền ra hạn thêm 4 tháng đối với vụ án do cấp dưới
hoặc cấp mình điều tra.
Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền ra hạn thêm hai lần đối
với vụ án cấp mình điều tra và một lần đối với cấp dưới mình. Trường hợp đặc
biệt nếu điều tra chưa kết thúc viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao có
quyền ra hạn thêm một lần nữa nhưng không quá 4 tháng . Như vậy nói chung
thời hạn điều tra tối đa cấp tỉnh , cấp quân khu là 16 tháng, đối với cấp huyện là
12 tháng.
-Truy tố vị can ra trước tòa: đây vừa là nghĩa vụ vừa la quyền của viện kiểm sát
thực hiện quyền công tố được nhà nước giao sau khi nhận được hồ sơ vụ án do
cơ quan điều tra chuyển sang . Trong thời hạn 30 ngày viện kiểm sát phải quyết
định việc khởi tố hay không truy tố vị can.
Nếu truy tố thì ra quyết đình bằng văn bản cáo trạng, không truy tố thì có thể ra
quyết định trả lại hồ sơ để điều tra bổ xung, đình chỉ hay tạm đình chỉ.
-Xét xử sơ thẩm:
+Thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện và toà án quân sự năm 1981 là tội
không nghiêm trọng 5 năm tù, đến 1986 nâng lên là 7 năm tù giam , năm 2003 là
10 năm tù giam.
+Thẩm quyền của toà án nhân dân tỉnh và toà án quân sự quân khu là xét xử sơ
thẩm những vụ án không thuộc thẩm quyền cấp huyện và khu vực.
+toà án nhân dân tối cao và quân sự trung ương xét xử so thẩm đổng thời là
chung thẩm những vụ án đặc biệt nghiêm trọng và phức tạp( bản án có hiệu lực
ngay)
Lưu ý: thành phần hội đồng xét sử sơ thẩm có một thẩm phán và hai hội thẩm,
trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng có 2 thẩm phán và 3 hội thẩm. Nếu
bị cáo là ngườichưa thành niên thì thành phần hội đồng xét xử phải có một hội
thẩm nhân dân là giáo viên hoặc cán bộ đoàn thanh niên Cộng sản việt nam.
Hội đồng xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm gồm 3 thẩm phán và 2 hội
thẩm.
Toá án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà viện kiểm sát
truy tố và toà án quyết định đưa ra xét xử (214 LTTHS ).
-Xét xử phúc thẩm:
Xét xử bán án và quyết định chưa có hiệu lực pháp luật khi có kháng cáo, kháng
nghị (đ229), thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ khi tuyên cáo.Thời hạn kháng
nghị của viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày và viện kiểm sát cấp trên là 30 ngày
kể từ ngày tuyên án.
Thời hạn xét xử: toà án cấp tỉnh quân khu phải xét xử trong thời hạn 60 ngày ,
toà án nhân dân tối cao và toà án quân sự trung ương không quá 90 ngày.Khi xét
sử phúc thẩm hội đồng xét xử gồm 3 thẩm phán trong trường hợp cần thiết có
thể thêm 2 hội thẩm (áp dụng vụ án có ảnh hưởng chính trị lớn)
-Thi hành bản án và quyết định của toà án:
+Cơ quan công an thi hành án phạt tù có thời hạn, tù trung thân, tham gia hội
động thi hành án tử hình.
+Chính quyền xã thị trấn hoặc cơ quan tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc
làm việc có nhiệm vụ theo dõi, giám sát việc cải tạo những người được hưởng
án treo hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ.
+Cơ quan y khoa thi hành quy định về bắt buộc chữa bệnh đối với người mắc
bệnh tâm thần có hành vi nguy hiểm cho xã hội.
+chấp hành việc thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản, bồi thường thiệt hại
phải có cơ quan công an phối hợp khi áp dụng cưỡng chế.
-Giám đốc thẩm: là xét xử bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật
nhưng bị kháng nghị và phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án.
+Chánh án, phó chánh án của toà án nhân dân tối cao và quân sự trung ương,
viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát nhân dan tối cao có quyền kháng
nghị bản án của toà án các cấp. (lưu ý cáp phó chỉ kháng nghị 2 cấp huyện và
tỉnh).
+Chánh án toà án nhân dân cấp tỉnh, quân khu, viện kiểm sát cấp tỉnh, viện kiểm
sát quân khu có quyền kháng nghị bản án quyết định toà án cấp dưới.
Lưu ý:
Việc kháng án không có lợi cho người bị kết án, chỉ đựoc tiến hành trong thời
hạn một năm kể từ ngày bản án có hiệu lực. Ngược lại việc kháng nghị theo
hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào kể cả
trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.
Lưu ý: Đối với bản án của cấp tỉnh và quân khu thì toà án nhân dân tối cao hoặc
toà án quân sự trung ương có quyền giám đốc thẩm ( thành phần xét xử gồm 3
thẩm phán ).
-Tái phẩm:
Là xét xử lại những bán án hoặc quyết định đã có hiệu lực mà phát hiện ra
những tình tiết mới, những tình tiết này có thể làm thay đổi nội dung của bản
án hoặc quyết định mà toà án không biết được khi ra bản án quyết định đó.
+viện trưởng viện kiểm sát tối cao có quyền kháng nghị tất cả các bản án kháng
nghị của toà án nhân dân các cấp hoặc toà án quân sự các cấp.
+viện trưởng viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị tất cả các
bản án đã có hiệu lực của toà án quân sự các cấp.
+viện trưỏng viện kiểm sát cấp tỉnh và cấp quân khu có quyền kháng nghị bản
án của cấp huyện và cấp khu vực ( viện trưởng không uỷ quyền cho cáp phó
kháng nghị).
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
I.Khái niệm luật hôn nhân và gia dình
1. Khái niệm hôn nhân-gia đình
a. Hôn nhân là gì ?
Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên
nguyên tắc bình đẳng và tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung
sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc dân chủ và hoà thuận.
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra các đặc điểm của hôn nhân XHCN như
sau:
-Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Hôn nhân
một vợ một chồng (đặc điểm này là sự khác biệt cơ bản giữa hôn nhân XHCN
với hôn nhân phong kiến).
-Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên
nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, trên cơ sở tình yêu chân chính.
-Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm
chung sống với nhau suốt đời, xây dựng gia đình hạnh phúc, hoà thuận.
-Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên cơ sở
quy định của pháp luật. Theo quy định của luật hôn nhân gia đình Việt nam việc
kết hôn hay ly hôn được tiến hành theo trình tự pháp luật, các nghi lễ mang tính
chất tôn giáo, phong tục tập quán không bị cấm đoán nhưng chỉ có tính chất
riêng tư. Để được công nhận là hôn nhân hợp pháp, việc đăng kí kết hôn phải
tuân theo các quy định của pháp luật.
Như vậy hôn nhân dưới XHCn là sự liên kết tự nguyện, bình đẳng, sự liên kết
bền vững trên cơ sở tình yêu, quýd trọng lẫn nhau, sự liên kết dó không bị phụ
thuộc vào yếu tố vật chất. Hôn nhân không phải là hợp đồng mà là sự liên kết
đặc biệt bởi mục đích xây dựng mối quan hệ bền vững đảm bảo nhu cầu vật
chất và tinh thần của đôi bên, sinh đẻ và giáo dục con cái.Chúng xuất phát từ
việc xác định hôn nhân là sự liên kết như vậy nên pháp luật của nhà nước ta quy
định về hôn nhân trên cơ sở hôn nhân mới phát sinh những quan hệ pháp luật về
nhân thân và tài sản giữa vợ với chồng.
b. Gia đình là gì ?
Khái niệm:
Gia đình theo luật hôn nhân gia dình Việt nam là sự liên kết nhiều người trên cơ
sở hôn nhân và huyết thống, nuôi dưỡng có quyền và nghĩa vụ tương ững với
nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, xây dựng gia
đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của nhà nước và xã hội.
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình thực hiện các chức năng xã hội của mình.
Mỗi chế độ xã hội khác nhau có mô hình gia đình và các chức năng xã hội khác
nhau . tuy nhiên ở chế độ xã hội nào cũng có các chức năng chủ yếu sau:
-chức năng sinh đẻ ( tái sản xuất ra con người ).
-Chức năng giáo dục: đây là chức năng chủ yếu của gia đình. mỗi con người
sinh ra và lớn lên trong một gia đình cụ thể. Việc giáo dụ bắt đầu từ mới sinh ra
cho đến cuối đời. Trong gia đình vai trò của bố mẹ rất quan trọng đối với giáo
dục con cái. Mặt khác vai trò của các thành viên khác trong gia đình cũng có vai
trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách.
-Chức năng kinh tế: chức năng kinh tế của gia đình ở mỗi chế độ khác nhau có
nội dung khác nhau. Trong xã hôi có giai cáp bóc lọt quan hệ gia đình bị điều
kiện kinh tế của chế độ tư hữu chi phối. chức năng chủ yếu của gia đình là
chức năng kinh tế. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến mỗi gia đình là
một đơn vị kinh tế. Trong chế độ tư bản sản xuất đã mang tính xã hội hơn
nhưng chức năng kinh tế của gia đình vẫn là chức năng chủ yếu.
Khi mà xã hội chế độ công hữu về tư liệu sản xuất đã xác lập gia đình không
còn là một đơn vị kinh tế nữa, mà chức năng tổ chức đời sống của mọi thành
viên trong gia đình thoả mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần của các
thành viên trong đó.
2.Khái niệm luật hôn nhân và gia đình, những nguyên tắc chủ yếu
-Khái niệm:
Luật hôn nhân và gia đình là một ngành luật trong hệ thống pháp luật việt nam
tổng thể những quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thể chế hoá
nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình về nhân thân và tài sản.
Với ý nghĩa là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt nam luật hôn nhân
và gia đình có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng:
-Đối tượng điều chỉnh: của luật hôn nhân và gia đình là quan hệ xã hội trong
lĩnh vực hôn nhân và gia đình cụ thể là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản
giữa những người thân thích ruột thịt khác. Hay nói cách khác đối tượng điều
chỉnh của luật hôn nhân và gia đình là các quan hệ phát sinh giữa các thành viên
trong gia đình về lưọi ích nhân thân và tài sản.
+quan hệ nhân thân là quan hệ phát sinh giữa các thành viên trong gia dình về lợi
ích nhân thân. Đó là những quan hệ như: quan hệ giữa vợ và chồng về sự yêu
thương chăm sóc giúp đỡ về việc xác định chỗ ở chun, quan hệ giữa bố mẹ và
con cái về việc xác lập chế độ pháp lý nhân thân của con chưa thành niên.
+Quan hệ tài sản: là quan hệ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình về lơị
ích tài sản. Đó là những quan hệ như quan hệ cáp dưỡng giữa vợ và chồng, cha
mẹ va con cái, giữa các thành viên trong gia đình, quan hệ sở hữu giữa vợ với
chồng.
-Phương pháp điều chỉnh: là những cách thức và biện pháp mà các quy phạm
pháp luật hôn nhân và gia đình tác động lên các quan hệ xã hội thuộc đối tượng
điều chỉnh của nó. Phương pháp tác động của luật hôn nhân gia đình có các đặc
điểm:
+Trong quan hệ hôn nhân gia đình quyền đồng thời là nghĩa vụ của các chủ thể.
Ví dụ luật hôn nhân và gia đình quy định: “vợ chồng có nghĩa vụ chung thuỷ với
nhau, thương yêu , quý trọng , chăm sóc giúp đỡ nhau tiến bộ”, theo quy định đó
nghĩa vụ của vợ chồng đồng thời là quyền chủ thể ….
-(2)Các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mìnhnphải xuất phát từ lợi ích
chung của gia đình:
-(3)Các chủ thể chỉ thực hiện quyền và nghĩa vụ bằng thoả thuận không được
làm thay đổi những quyền và mà pháp luật đã quy định .
-(4)Các quy phạm pháp luật HN và GĐ gắn bó mật thiết các quy phạm truyền
thống ,phong tục tập quán .Việc thực hiện luật HN và GĐ được đảm bảo bởi
tính cưỡng chế của nhà nước trên tinh thần phát huy tính tự giác thông qua giáo
dục ,khuyến khích và hướng dẫn thực hiện .
b)Những nguyên tắc cơ bản của luật HN và GĐ (34)
1-HN tự nguyện và tiến bộ :
Dưới chế độ phong kiến ,cha mẹ quy định việc hôn nhân nên tình yêu không
phải là cơ sở của hôn nhân ,chế dộ tư bản cũng công bố tự do hôn nhân .Tuy
vậy hôn nhân chỉ tự do chừng nào được xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính
giữa nam và nữ ,nghĩâ là không bị những tính toán vật chất , địa vị xã hội chi
phối. Song chúng ta cần phân biệt hôn nhân tự nguyện tự do với “tự do yêu
đương “.
+)Dưới chế độ XHCN khi đã xoá bỏ chế độ tư hữu tư liệu sản xuất xác lập
chế độ sở hữu XHCN thì mới có điều kiện đảm bảo hôn nhân đảm bảo hôn
nhân tự do thực sự nghĩa là hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu chân chính giữa
nam và nữ:Hiến pháp Việt Nam quy định “nhà nươc bảo hộ hôn nhân và gia
đình hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyên , tiến bộ: một vợ một chồng bình đẳng
“.Luật HN Việt Nam quy định “việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định
“không bên nào được ép buộc bên nào,không ai được cưỡng ép và cản trở.

Hôn nhân tự do tự nguyện và tiến bộ cũng đòng thời phải đảm bảo tự do ly
hôn .Tuy nhiên không có nghĩa là ly hôn tuỳ tiện ,việc ly hôn phải đặt dưới sự
kiểm soát của nhà nước .Trong mọi trường hợp ly hôn toà án phải tiến hành
điều tra, hoà giải đoàn tụ vợ chồng và toà chỉ có thể xử ly hôn khi xét thấy quan
hệ vợ chồng thực sự đã đến lúc “Tính trầm đời sống chung không thể kéo
dài ,mục đích của kết hôn không thể đạt được “.
2-Hôn nhân một vợ một chồng:
Nguyên tắc 1 vợ chồng xây dựng trên nềntảng hôn nhân tự nguyện ,tiến bộ
và nam nữ bình đẳngnhằm xoá bỏ chế độ nhiều vợ trong hôn nhân phong kiến
gây nhiều đau khổ cho phụ nữ .bản chất của hôn nhân tự nguyện trên cơ sở tình
yêu là hôn nhân một vợ một chồng.Vì vậy luật HN và GĐ “cấm người có vợ có
chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.
3-Nguyên tắcc vợ chồng bình đẳng .
Đây là nguyên tắc cơ bản của luật HN và GĐ trên cơ sở nguyên tắc nam nữ
bình đẳng mà phạm luật quy định .Chế độ phong kiến thừa nhận sự bất bình
đẳng đặt người phụ nữ phụ thuộc thấp kém.
Hồ chí Minh đã nói: luật lấy vợ lấy chồng nhằm giải phóng người phụ nữ tức
giải phóng phần nửa xã hội, giải phóng phụ nữ đồng thời phải tiêu diệt tư
tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản của người đàn ông. Đồng thời Người chỉ ra
rằng : “sự nghiệp giải phóng người phụ nữ là một bộ phận trong sự nghiệp xây
dựng CNXH, nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng CNXH chỉ có một nửa.
Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng được cụ thể hoá trong luật hôn nhân gia đình
như “vợ chồng có nghĩa vụ và quyền như nhau về mọi mặt trong gia đình, vợ
chồng có quyền tự do lựa chọn ngành nghề chính đáng tham gia các công tác
chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội. Đồng thời xác lập chế độ tài sản của vợ chồng
như chế độ sở hữu, về chia tài sản khi ly hôn, về chế độ cấp dưỡng lẫn nhau,..
4-Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi cha mẹ và con cái
Đây là nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình, được xác định theo tinh
thần mới, một mặt bảo vệ quyền lợi của cha mẹ, các con mặt khác giáo dục
tinh thần trách nhiệm giữa họ với nhau “ cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con cái
thành những người công dâncó ích cho xã hội, con cái có nghĩa vụ kinhs trọng,
chăm sóc cha mẹ.
Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi cha mẹ con cái trong luật hôn nhân gia đình được
cụ thể hoas trong nhiều chương luật nhiều điều khoản khác nhau. Ví dụ “ cấm
mgược đãi hành hạ cha mẹ, vợ chồng,con cái” “ cha mẹ không được phân biệt
đối xử giữa các con” “ các con có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong gia
đình” . Mặt khác điều cần lưu ý là: quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và các con
tồn tại không phụ thuộc vào việc hôn nhân giữa cha mẹ có hợp pháp hay không,
đang tồn tại hay đã chấm dứt.
Luật hôn nhân gia đình quy định: “ con ngoài giá thú được cha mẹ nhận hoặc toà
án nhân dân cho nhận cha mẹ có quyền và nghĩa vụ như con trong giá thú”.
5-Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em
Luật hôn nhân gia đình quy định: “nhà nước và xã hội bảo vệ chức năng của
người mẹ”. Luật còn quy định hạn chế quyền xin ly hôn của người chồng trong
trường hợp người vợ có thai, nuôi con còn bú với mục đính là chăm sóc nuôi
dưỡng trẻ em, nhất là trẻ em không nơi nương tựa.
*Nói tóm lại các nguyên tắc của luật hôn nhân gia đình có nội dung phong phú
liên hệ mật thiết với nhau, bổ xung cho nhau. Tuân thủ các nguyên tắc là bắt
buộc đối với tất cả mọi người, mọi cơ quan trong hoạt dộng nghiên cứu thực
hiện và áp dụng pháp luật cũng như xây dựng pháp luật.
II. NỘI DUNG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
1. Các điều kiện kết hôn
-Phải đủ tuổi kết hôn: luật quy dịnh nam từ 20 tuổi trở lên, nữ là 18 tuổi trở lên
mới được kết hôn.
Như vậy muốn kết hôn những người kết hôn phải đạt độ tuổi nhất định. Độ
tuổi tối thiểu đối với nam là 20 với nữ là 18. Đay là một điều kiện quan trọng
để hôn nhân có giá trị pháp lý.
Luật hôn nhân gia đình quy định kết hôn là căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý
của con người, căn cứ vào các điều kiện kinh tế - xã hội của nhà nước ta. Quy
định này thể hiện sự quan tâm của nhà nước ta đối với sức khoẻ nam nữ nhằm
đảm bảo cho con cái sinh ra được khoẻ mạnh cả về thể chất lẫn trí tuệ. Và quy
định độ tuổi tối thiểu cho pháp nam nữ kết hôn là tạo điều kiện cho việc xây
dựng gia dình hạnh phúc.
-Kết hôn phải có sự tự nguyện của cả hai phía nam, nữ, không bên nào được
quyền ép buộc bên nào, không ai được cưỡng ép, cản trở việc kết hôn.
Sự tự nguyện của hai bên nam và nữ trong việc kết hôn phải thể hiện rõ là họ
muốn chung sống cùng nahu nhằm thoả mãn những nhu cầu về tình cảm phát
sinh giữa hai người, sự tự nguyện là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hôn nhân
gia đình được lâu dài và bền vững.
Để đảm bao việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện những người muốn kết hôn phải
trực tiếp đến uỷ ban nhân dân xin đăng ký kết hôn. Pháp luật không cho phép cử
người đại diện trong việc kết hôn và cũng không cho phép kết hôn vắng mặt.
Đối với những trường hợp một trong hai bên không thể có mặt tại nơi đâưng ký
kết hôn với lý do chính đáng . Ví dụ đi công tác xa, đi nghĩa vụ quân sự, ốm đau
nặng,..luật cững không cho phép kết hôn vắng mặt. Trong trường hợp cần thiết
để đảm bảo quyền lợi 2 bên thì việc đăng ký có thể được tiến hành tại nhà, cơ
quan, bệnh viện nhưng vẫn phải có hai người.
Như vậy ở thời điểm kết hôn các bên phải thể hiện rõ nguỵện vọng của mình
là được xác lập quan hệ vợ chồng và tình yêu thương chân chính thì hôn nhân
của họ mới có giá trị pháp lý.
-Phải tuân theo nguyên tắc một vợ một chồng:
Theo quy định của pháp luật thì chỉ những người chưa có vợ hoặc những người
chưa có chồng hay những người đã có vợ có chồng rồi nhưng vợ hoặc chồng
của họ đã chết hoặc ly hôn mới có quyền kết hôn với người khác.
Bên cạnh việc cấm những người đang có chồng đang có vợ kết hôn, luật hôn
nhân còn cấm cả những người đã có vợ có chồng chung sống với người khác
như vợ chồng.
Để đảm bảo hôn nhân theo nguyên tắc một vợ một chồng các cơ quan nhà nước
chịu trách nhiệm kết hôn phải hết sức thận trọng, phải thẩm tra chính xác các
điều kiện kết hôn trước khi công nhận kết hôn, đồng thời xử lý nghiêm minh
đối với những trường hợp vi phạm .
-Những người kết hôn mắc một số bệnh chưa chữa khỏi như bệnh tâm thần
không có khả năng nhận thức hành vi của mình, đang mắc bệnh hoa liễu.
Luật hôn nhân gia đình quy định các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng giữa
cha mẹ và con cái, quy định trách nhiệm của vợ chồng đối với gia đình và xã
hội. Những người mắc bệnh tâm thần không thể nhận thức được trách nhiệm
làm vợ làm chồng, làm cha, làm mẹ. Do đó họ không thể kết hôn. Hơn nữa một
trong những điều kiện hôn nhân có giá trị pháp lý là phải có sự tự nguyện của
hai bên, nhưng những người mắc bệnh tâm thần không thể thể hiện ý chí của
họ một cách đúng đắn được vì thế không thể đánh giá được sự tự nguyện của
họ trong việc kết hôn. Những người mắc bệnh hoa liễu và di truyền khi họ kết
hôn sẽ lây cho vợ hoặc chồng có thể để lại di chứng cho con cái.
-Những người kết hôn với nhau không có quan hệ thân thuộc: Luật hôn nhân gia
đình quy định cấm giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng
mẹ khác cha, giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời, giữa cha mẹ
đẻ với con nuôi. Từ việc nghiên cứu trên cơ sở khoa học hiện đại và khảo sát
thực tế, các nhà khoa học kết luận rằng kết hôn giữa những người có quan hệ
huyết thống thì con cái do họ sinh ra thường bị bệnh tật và dị dạng.
Để đảm bảo cho con cái sinh ra khoẻ mạnh đảm bảo lợi ích gia đình và xã hội,
luật hôn nhân gia đình cấm những người có quan hệ huyết thống kết hôn với
nhau.
-Phải được uỷ ban nhân dân cơ sở, nơi thường trú của một trong hai người kết
hôn công nhận.
+Luật hôn nhân quy định: “ việc kết hôn do uỷ ban nhân dân xã phường, thị trấn
nơi thường trú của một trong hai người công nhận ghi vào sổ sách và giấy kết
hôn theo nghi thức của nhà nước quy định.
+Việc kết hôn giữa các công dân Việt nam vớiư nhau ở nước ngoài do cơ quan
đại diện ngoại giao nước CHXHCNVN công nhận, mọi nghi thức kết hôn khác
đều không có giá trị pháp lý. Khi hai bên nam nữ muốn kết hôn họ phải làm giấy
khai sinh xin đăng ký kết hôn gửi tới uỷ ban nhân dân xã, uỷ ban nhân dân xã sẽ
tiến hành kiểm tra những lời khai của các bên, sau khi đièu tra nếu thấy các bên
có đủ điều kiện kết hôn thì sẽ tiến hành đăng ký kết hôn và ghi vào sổ kết hôn.
Kể từ ngày uỷ ban nhân dân xã trao giấy kết hôn hai bên mới phát sinh quyền và
nghĩa vụ vợ chồng với nhau. Việc kết hôn phải do uỷ ban nhân dân xã công
nhận có ý nghĩa quan trọng. Đây là biện pháp để nhà nước kiểm tra việc tuân
theo pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn là chứng cớ xác lập giữa hai bên đã
phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng, quan hệ này được nhà nước bảo hộ.
• Hôn nhân trái pháp luật :
Về nguyên tắc toà án sẽ huỷ hôn nhân nếu khi kết hôn đã vi phạm một trong
những điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Huỷ hôn nhân trái pháp
luật( hay còn gọi là biện pháp tiêu hôn ) là biện pháp xử lý những hành vi vi
phạm các điều kiện kết hôn. Đay là thể hiện thái độ của nhà nước đối với
những cuộc hôn nhân trái pháp luật. Những căn cứ để huỷ hôn nhân trái pháp
luật:
-Chưa đến tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật mà đã kết hôn.
-Thiếu sự tự nguyện của hai người kết hôn hoặc một trong hai người kết hôn.
-người đang có vợ chồng lại kết hôn hoặc chung sống với người khác như vợ
chồng.
-Những người bị mắc bệnh chưa chữa khỏi mà luật cấm kết hôn mà lại vẫn kết
hôn.
-Những người có họ hàng gần gũi mà luật cấm lại kết hôn với nhau.
-Hai người cùng giới tính lại kết hôn với nhau.
Luật hôn nhân gia đình quy định quyền khởi kiện, khởi tố đối với hôn nhân trái
pháp luật. Viện kiểm sát, hội liên hiệp phụ nữ Việt nam, đoàn thanh niên
CSHCM, công dân việt nam có quyền yêu cầu toá án nhân dân huỷ việc kết hôn
trái pháp luật.
Đối với hôn nhân vi phạm các điều kiện kết hôn ngoài biện pháp xử lý theo luật
hôn nhân gia đình là huỷ bỏ hôn nhân, chúng ta còn có thể áp dụng các dụng các
quy định của luật hình sự nếu mức độ vi phạm nghiêm trọng.
VD: điều 147 tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là cảnh cáo cải
tạo không giam giữ đến 1 năm, phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.
2.Quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng
a. Quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng:
-Vợ chồng có nghĩa vụ thuỷ chung, thương yêu, quý trọng, chăm sóc giúp đỡ lẫn
nhau tiến bộ, cùng nhau thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gía đình dân chủ, hoà thuận, bền vững và
hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó thì điều cơ bản nhất là hai người trong
cuộc hôn nhân phải chung thuỷ với nhau, thương yêu quý trọng lẫn nhau, giúp
nhau cùng tiến bộ.
Đây không chỉ là nghĩa vụ về pháp lý mà còn là quyền, quy định này nhằm đảm
bảo quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ về nhân thân đồng thưòi
ngăn ngừa những hiện tượng vợ chồng có quan hệ bất chính ngoài hôn nhân,
ngăn ngừa những hành vi đánh đập ngược đãi xam hại tới thân thể và nhân
phẩm của nhau giữa vợ và chồng, ảnh hưởng xấu tới quyền lợi của vợ chồng,
gây hậu quả xấu tới gia đình và xã hội.
-vợ chồng bình đẳng về nghĩa vụ nuôi dạy con cái:
Luật hôn nhân gia đình quy định: “ cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con cái trở
thành những công dân có ích cho xã hội “ và “ chồng có nghĩa vụ tạo điều kiện
cho vợ thực hiện tốt chức năng của người mẹ”.
Từ đó chúng ta thấy trong gia đình vợ chồng đều bình đẳng với nhau trong việc
nuôi dạy con cái, đều có nghĩa vụ va quyền lợi ngang nhau trong việc giáo dục
con cái đảm bảo cho con cái phát triển toàn diện về thể chất, trí lực và đạo đức.
Cha mẹ phải là tấm gương sáng cho con cái học tập và noi theo. Đây không chỉ
là nghĩa vụ của cha mẹ với con cái mà còn là nghĩa vụ của cha mẹ trước nhà
nước, trước xã hội trong việc nuôi dạy thế hệ trẻ, tương lai của đất nước.
-Vợ chồng có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp chính đáng, tham gia công tác,
chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, vợ chồng có quyền tự do lựa chọn chỗ ở. Như
vậy với tư cách là công dân, vợ chồng cũng được thực hiện quyền đó. Quy định
này nhằm đảm bảo cho vợ chồng đều có quyền bình đẳng ngang nhau trong
việc tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với nguyện vọng và năng lực của
mình, nhằm phát huy khả năng, nâng cao sự hiểu biết, trình độ. Khi vợ hoặc
chồng thực hiện quyền của mình thì người kia lại có nghĩa vụ là không được
cản trở. Đây đảm bảo cho quyền tự do của con người, là biện pháp giải phóng
người phụ nữ khỏi những ràng buộc của tư tưởng phong kiến.
b. Quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng
-Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng:
+Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất: Luật hôn nhân gia
đình quy định “ tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng làm
ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được
cho chung”. Mặt khác những tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn
hoặc được thừa kế, được cho được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân nhưng họ
không tự nguyện sát nhập vào khối tài sản chung.
Tài sản chung của vợ chồng được sở hữu hợp nhất thì theo nguyên tắc vợ
chồng đều có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
đối với tài sản chung hợp nhất.
_ Quyền của vợ chồng đối với tài sản riêng:
Luật quy định : Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài
sản được thừa kế riêng hay cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài
sản đó có quyền nhâpj hay không nhập vào tài sản chung của vợ chồng. Như
vậy luật hôn nhân gia đình đã ghi nhận vợ chồng có quyền có tài sản riêng trong
thời kỳ hôn nhân và xác định rõ nguồn gốc tài sản riêng là vợ chồng có trước
khi hôn nhân người có tài sản riêng có quyền định đoạt tài sản của mình không
phụ thuộc vào ý chí của người kia. VD: người chồng phải có nghĩa vụ chu cấp
thì anh ta có thể lấy tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ đó mà không cần phải
có sự đồng ý của người vợ.
_ Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng là nghĩa vụ chăm sóc nhau :
Do đó quyền và nghĩa vụ này phát sinh kể từ khi kết hôn cho đến khi chấm
dứt hôn nhân trong một số trường hợp đặc biệt thì quyền và nghĩa vụ cấp
dưỡng giữa vợ và chồng tồn tại cả khi vợ chồng đã ly hôn với điều kiện là :
+ Một bên túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng.
+ Bên kia phải có khả năng cấp dưỡng.
Trường hợp túng thiếu phải là trường hợp có khó khăn trong cuộc sống ngay
sau khi ly hôn do ốm đau lâu dài mất sức lao động, nếu túng thiếu là do lười
biếng ỷ lại nghiện ngập thì không coi là đủ điều kiện để được cấp dưỡng. Mặt
khác người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo yêu cầu của bên kia phải có khả năng
về kinh tế nếu vì cấp dưỡng mà đe doạ đến cuộc sống của chính họ thì nghĩa
vụ cấp dưỡng cũng không được đặt ra
_ Quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng:
+ Luật hôn nhân gia đình quy định “ vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của
nhau khi một bên chết trước. Như vậy khi một bên chết, người còn sống sẽ
được thừa kế tài sản của vợ hoặc chồng mình đã chết”.
Vợ (chồng) thuộc hàng thừa kế thứ nhất cùng với cha mẹ con của người chết
(thừa kế theo pháp luật). Ngoài ra vợ chồng còn được thừa kế tài sản của nhau
theo di chúc.
3) Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con
Căn cứ để xác định quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con là sự kiện sinh đẻ
và nhận con nuôi (xem con nuôi T150)
a)Nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con
_Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu giáo dục con. Chăm lo việc học tập và phát
triển lành mạnh của con về thể lực và trí tuệ, đạo đức, cha mẹ không được
phân biệt đối xử giữa các con không được lạm dụng sức lao động của con chưa
thành niên không được xúi dục ép buộc con làm những việc trái pháp luật.
_Con có bổn phận kính yêu chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ, lắng nghe lời khuyên
của cha mẹ, giữ gìn truyền thống tốt đẹp của gia đình.
_Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.
_Cha mẹ có quyền đại diện cho con cái chưa thành niên trước pháp luật nhằm
bảo vệ lợi ích hợp pháp của con.
_Con đã thành niên ở chung với cha mẹ có quyền lựa chọn ngành nghề, tham gia
công tác kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội
b)Nghĩa vụ về tài sản giữa cha mẹ và con .
_Cha mẹ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con kể từ khi con sinh ra cho đến
khi con thành niên (đủ 18tuổi).Nếu con đã thành niên không có khả năng lao
động (tàn tật mất năng lực hành vi dân sự)thì cha mẹ vẫn phải có nghĩa vụ nuôi
con.
_Các con có nghĩa vụ ngang nhau trong việc cấp dưỡng cha mẹ.
_Các con cònn ở chung với chs mẹ dù thành niên hay chưa thành niên đều có tài
sản.
_Cha mẹ có quyền quản lý tài sản của con chưa thành niên .Nếu con cái từ
16=>18 tuổi thì phải có sự đồng ý của con cha mẹ mới được mua bán ,cầm cố
tài sản của con do mình quản lý.
_Cha mẹ có nghĩa vụ bồi dưỡng thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con dưới
16 tuổi (trong trườnh hợp này cha mẹ là người bị đơn)
_Cha mẹ và con có quyền thừa kế tài sản của nhau.
c)Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên khác và gia đình .
_Ông bà có nghĩa vụ nuôi dưỡng giáo dục cháu chưa thành niên .
_Cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng ông bà (nội ngoại)-trong trường
hợp ông bà không còn ai cấp dưỡng.
_Anh chị em có nghĩa vụ đùm bọc nuôi dưỡng lẫn nhảu trong trường hợp không
còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có đủ khả năng lao động và không có tài sản để
cấp dưỡng cho con.
4)Giám hộ giữa các thành viên trong gia đình .
Theo luật dân sự giám hộ là việc cá nhân tổ chức hoặc cơ quan nhà
nước(gọi là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực
hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền ,lợi ích hợp pháp của người chưa thành
niên ,người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khắc mà không thể nhận
thức hoặc làm chủ được hành vi của mình (gọi là người được giám hộ )
_Người được giám hộ có thể là:
+)Người chưa thành niên không còn cha mẹ .không xác định được cha mẹ hoặc
cha mẹ đều bị mất năng lực hành vi hoặc bị hạn chế về năng lực hành vi nhân
sự hoặc còn cha mẹ nhưng cha mệ không có điều kiện chăm sóc gia đình người
chưa thành niên đó và nếu cha mẹ đo yêu cầu .
+)Người đa thành niên bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khắcc mà không
thể nhận thức làm chủ được hành vi của mình .
LƯU Ý:
Việc cử người giám hộ phải được uỷ ban nhân dân xã phường ,thị trấn
nơi cư trú của người giám hộ công nhận và lập thành văn bản trong đó ghi rõ lý
do cử người giám hộ ,quyền và nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ và tình
trạng tài sản của người giám hộ.
_Người giám hộ phải có đủ các điều kiện sau :
+)Đủ 18 tuổi trở nên
+)Có năng lưc hành vi nhân sự đầy đủ
+)Có điều kiện cân thiết thực hiện việc giám hộ
_Nghĩa vụ của người giám hộ
+)Chăm sóc giáo dục người được giám hộ
+)Đại diện cho người đươc giám hộ trong các giao dịch dân sự theo quy định
của pháp luật
+)Quản lý tài sản của người đươc giám hộ
+)Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
Chú ý:
-Gia đình cha mẹ có thể là người giám hộ cho con cái đã thành niên mất năng
lực hành vi hoặc cử người giám hộ cho con khi không có đủ điều kiện trực tiếp
trông nom ông bà và ngược lại anh chị em ruột có thể là người giám hộ cho nhau
nếu có đủ điều kiện là người được giám hộ. Việc giám hộ giữa các thành viên
quy định trong luật dân sự và luật hôn nhân gia đình
5) Chấm dứt hôn nhân
Hôn nhân chấm dứt do vợ (chồng) chết, hay do tuyên cáo tử vong đối với
vợ (chồng) khi vợ chồng còn sống , hôn nhân chấm dứt bằng ly hôn.
_Hôn nhân chấm dứt do vợ (chồng) chết
+ Nếu hôn nhân là sự kiện bình thường là thời điểm đầu tiên của hôn nhân thì
trường hợp vợ hay chồng chết là thời điểm cuối cùng của hôn nhân .
+ Đối với tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia, người vợ hay chồng còn
sống là sở hữu…phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng.
Phần tài sản của người chết sẽ được chuyển cho người thừa kế vợ, chồng có
quyền thừa kế tài sản của nhau theo di chúc hoặc theo pháp luật thuộc diện
hàng thừa kế thứ nhất.
+Trong trường hợp người vợ (chồng) chết mà không để lại di chúc hoặc
những người thừa kế theo luật không yêu cầu chia tài sản ngay thì người chồng
(vợ) còn sống quản lý phần tài sản của người chết để lại
_ Hôn nhân chấm dứt có tuyên cáo tử vong đối với vợ (chồng ) .
+ Thời hạn một người quân nhân, công nhân quốc phòng được coi là mất tích
(chết ) chậm nhất là hai năm sau khi việc tìm kiếm không có kết quả.
+ Trường hợp vợ hoặc (chồng ) tuyên cáo là tử vong thì hôn nhân được coi là
chấm dứt kể từ thời điểm có quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật vào
ngày được ghi trong giấy báo tử.
+ Hậu quả pháp lý về quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản sau khi người vợ
(chồng ) bị tuyên cáo tử vong được giải quyết như trường hợp vợ (chồng ) chết.
Trường hợp vợ (chồng ) bị tuyên cáo tử vong nhưng một thời gian sau vì những
lý do nào đó mà họ lại trở về thì việc huỷ bỏ mà quy định toà án hoặc giấy báo
tử là cơ sở phục hồi lại quan hệ hôn nhân ( lưu ý nếu người vợ hpặc chồng
chưa kết hôn với ai ) .
_ Chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn .
+ Ly hôn là hình thức chấm dứt quan hệ vợ chồng khi cả hai còn sống do một
bên yêu cầu hoặc cả hai bên yêu cầu. Được toà án công nhận bằng bản án xử
cho ly hôn. Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật.
+ Luật hôn nhân và gia đình quy định có hai trường hợp ly hôn.
*) Trường hợp thuận tình ly hôn
Luật hôn nhân và gia đình quy định trường hợp cả hai vợ chồng xin ly hôn nếu
hoà giải không thành và xét thấy nếu cả hai bên hoàn toàn tự nguyện ly hôn Toà
án nhân dân công nhận cho thuận tình ly hôn .
*) Tự nguyện thật sự trong việc thuận tình ly hôn là đương sự phải được tự
do trình bày tỏ ý chí của mình không bị ai ép buộc cưỡng chế hay lừa dối bày tỏ
ý chí là cái được biểu hiện ra bên ngoài (mặt khách quan ) phải hoàn toàn do
đương sự quyết định và ý chí bên trong (mặt chủ quan) phải thống nhất với
nhau phù hợp với pháp luật có trường hợp nhìn bên ngoài tưởng như thống nhất
giữa ý chí và bày tỏ ý chí nhưng lại không phù hợp với pháp luật :ví dụ do
người vợ không có con ( mắc bệnh vô sinh) hai vợ chồng đã bàn bạc xin thuận
tình ly hôn giả để cho người chồng lấy người khác. Trường hợp này toà án
không thể công nhận việc thuận tình ly hôn của đương sự.
*)Trong trường hợp hai vợ chồng thuận tình ly hôn nhưng qua công tác điều tra
thấy đương sự ly hôn vì nóng nổi sĩ diện, tự ái thì toà án cần xử bác đơn ly hôn
của đương sự để phục vụ cho công tác hoà giải đoàn tụ gia đình.
+) Trường hợp lỵ hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu:
Luật hôn nhân gia đình quy định “ Trong trường hợp một bên vợ hoặc
chồng xin ly hôn nếu hoá giải không thành thì toà án nhân dân xét xử. Nếu xét
thấy tính trầm trọng. Đời sống chung không thể kéo dài mục đích của hôn nhân
không đạt được thì toà án xử cho ly hôn.
Như vậy : giữa việc công nhận thuận tình ly hôn và xử cho ly hôn có sự
khác nhau về thư tục tố tụng còn về bản chất của sự việc là giống nhau đều là
toà án nhân dân xác định một cuôc hôn nhân đã chết không thể tồn tại nữa.
Cần lưu ý là trong trường hợp hai vợ chồng xin thuận tình ly hôn. Sau khi
điều tra toà án xét thấy một bên không tự nguyện thì xử bác đơn ly hôn thuận
tình mà giải quyết theo thủ tục một bên xin ly hôn.
• Hạn chế ly hôn
Luật hôn nhân và gia đình quy định trường hợp vợ có thai thì chồng có thể
ly hôn sau khi vợ mới sinh con được 1 năm - Điều hạn chế này không áp dụng
đối với việc xin ly hôn của người vợ
Luật HN-GĐ “chồng chỉ có thể ly hôn sau khi vợ đã sinh con được 1 năm là
đối với cả trường hợp người con chết sau khi sinh” điều này nhằm bảo về về
mặt vật chất và tinh thần cho người mẹ thể hiện tính nhân đạo của XHCN việc
đứa con chết đã thể hiện sự tác động rất lớn vào tình cảm người phụ nữ nên
không có lý do gì, nó lại là cơ sở để người chồng thoát khỏi hạn chế do pháp
luật quy định, “sau khi người vợ sinh được 1 năm thì chồng có quyền ly hôn vừa
để bảo vệ quyền lợi sức khoẻ người mẹ.
• Hậu quả pháp lý của ly hôn:
Theo luật định khi ly hôn việc của vợ chồng thoả thuận và được toà án
công nhận. Nếu vợ chồng không thể thoả thuận được thì toà án nhân dân sẽ
quyết định.
_Trước hết đối với tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của
bên ấy. Nghĩa là sau khi ly hôn người có tài sản riêng sẽ lấy vợ. Tuy nhiên
người có tài sản riêng phải chứng minh được đó là tài sản riêng của mình (việc
chứng minh có thể bằng văn tự hoặc bằng công nhận bên kia) nếu không
chứng minh được thì đó là tài sản chung để chia.
_Trường hợp các con có đóng góp vào công việc và phát triển tài sản của cha
mẹ thì sẽ được trích chia phần đóng góp của họ trong phần tài sản của cha mẹ
khi cha mẹ ly hôn.
_Về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng sẽ chia đôi.Tuy nhiên trong mỗi
trường hợp cụ thể để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mỗi bên toà sẽ quyết
định khác với nguyên tắc chung đó (xem xét vợ hay chồng đã kết hôn lâu, hay
mới, có nhiều con hay ít con, đưa vào công sức chung của mỗi người.
-Về con cái: nếu con chưa thành niên 18 tuổi thì giao cho một trong hai bên có
điều kiện chăm sóc, giáo dục và bên kia có trách nhiệm đóng góp để nuôi và
giáo dục con đến tuổi trưởng thành.
Nếu con còn bú về nguyên tắc là giao cho người mẹ và người bố có quyền
chăm sóc và phải đóng góp phí tổn nuôi dưỡng giáo dục con đến tuổi trưởng
thành.
LUẬT DÂN SỰ, LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
I.Khái niệm luật dân sự và quan hệ pháp luật dân sự
1. Khái niệm luật dân sự, đối tượng và phương pháp điều chỉnh
* Khái niệm:
Luật dân sự việt nam là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Vịêt
Nam bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản
mang tính chất hàng hoá và tiền tệ và một số quan hệ nhân thân phi tài sản trên
cơ sở bình đẳng, độc lập, quyền tự định đoạt của các chủ thể tham gia vào các
mối quan hệ đó.
Đối tượng điều chỉnh: Là những nhóm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phi
tài sản phát sinh trong quá trình sản xuẩt, phân phối, lưu thông, tỉêu thụ hàng hoá
nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của các thành viên trong xã hội.
• Quan hệ tài sản: Là quan hệ giữa người với người thông qua tài sản dưới
dạng tư liệu sản xuẩt và tư liệu tiêu dùng hoặc dich vụ chuyển, sửa chữa
tài sản đó trong qua trình sản xuất và lưu thông, cho nên quan hệ tài sản
bao giờ cũng gắn liền với một tài sản.
• Quan hệ nhân thân phi tài sản: Như tên gọi của nó không mang nội dung
kinh tế, không tính được thành tiền. các quan hệ này phát sinh từ một giá
trị tinh thần của một cá nhân hay một tổ chức luôn luôn gắn liền với chủ
thể đó không thể chuyển dịch đi chỗ khác và trong nhiều trường hợp
không thể tước đoạt được
• Luật dân sự điều chỉnh quan hệ bằng các biện pháp công khai xin lỗi, cải
chính trên báo chí nhằm phục hồi tình trạng như khi xưa có vi phạm các
quan hệ nhân thân phi tài sản do luật dân sự điều chỉnh có thể chia làm 2
nhóm:
- Quan hệ nhân thân có liên quan đến tài sản: Trong nhóm quan hệ này quan
hệ nhân thân là tiền đề để phát sinh quan hệ tài sản, nó chỉ phát huy trên
quan hệ nhân thân như: Tác giả các tác phẩm nghệ thuật, khoa học kỹ
thuật …được hưởng tiền nhuận bút, được hưởng tiền do áp dụng sáng
chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghệ
- Quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản như: nhân phẩm, uy tín của
công dân hay tổ chức..
* Phương pháp điều chỉnh:
Phương pháp điều chỉnh của luật dân sự là biện pháp và cách thức và nhà nước
tác động lên các quan hệ tài sản, các quan hệ nhân thân phi tài sản làm cho các
quan hệ này phát sinh, thay đổi chấm dứt theo ý chí của nhà nước.
Chú ý: Chủ thể tham gia các quan hệ tài sản có địa vị pháp lý như nhau độc lập
với nhau về tổ chức và tài sản và sự tự định đoạt của các chủ thể trong việc
tham gia vào các quan hệ tài sản
- Xuất phát từ sự bình đẳng của chủ thể và sự tự định đoạt của họ trong
việc tham gia vào các quan hệ đó nên đặc trưng của phương pháp giải
quyết các tranh chấp dân sự là “Hoà giải”mặc tự thoả thuận mà hoà giải
được thì xét xử theo thủ tục tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của toà án,
sự đền bù tương ứng là phương pháp điều chỉnh đặc trưng của luật dân sự
- Các quan hệ mà pháp luật dân sự điều chỉnh là quan hệ tải sản mang tính
chất hàng hoá và tiền tệ nếu vi phạm của một bên trong quan hệ đó có thể
dẫn đến thiệt hại về tài sản.
2. Quan hệ pháp luật dân sự:
a. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật dân sự
Quan hệ pháp luật dân sự là quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật dân
sự điều chỉnh. Trong đó các bên tham g ia độc lập về tổ chức và tài sản bình
đẳng về địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các bên được nhà nước đảm bảo
thực hiện thông qua các biện pháp cưỡng chế
- Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật độc lập với nhau về tổ chức và tài sản
được phép tự định đoạt trong quan hệ pháp luật dân sự nhưng trái với quy
định của pháp luật
- Địa vị pháp lý của các chủ thể dựa trên cơ sở bình đẳng không phụ thuộc
vào một quan hệ nào đó (hành chính lao động) không bên nào ép buộc bên
nào phải thực hiện sự áp đặt của nhau. Họ tự lựa chọn cách thực hiện
quyền và nghĩa vụ sao cho có lợi nhất.
- Các biện pháp cưỡng chế đa dạng không chỉ do pháp luật quy định mà có
thể tự do các bên quyết định để đảm bảo các bên tham gia phải thực hiện
nghĩa vụ của mình ( các biện pháp cưỡng chế trong luật dân sự chủ yếu
mang tính chất tài sản ).
- Lợi ích: là tiền đề trong các mối quan hệ pháp luật dân sự, khi mà quan hệ
tài sản mang tính chất hàng hoá và tiền tệ. Việc điều chỉnh chúng bằng các
quy phạm pháp luật dân sự cũng phải nhằm tạo cho các bên thoả mãn lợi
ích của mình, nên sự đền bù tương ứng là đặc trưng cơ bản của phương
pháp điều chỉnh luật dân sự.
b. Thành phần quan hệ pháp luật:
Quan hệ pháp luật dân sự cũng như các quan hệ xã hội khác bao gồm những
yếu tố cấu thành quan hệ đó: chủ thể, khách thể và nội dung.
-Chủ thể: là những người tham gia vào các quan hệ xã hội đó. Phạm vi chủ thể
của quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng bao gồm: cá nhân, thể nhân ( công
dân, người nước ngoài, người không quốc tịch ), pháp nhân. Trong nhiều quan
hệ pháp luật dân sự nhà nước CHXHCNVN tham gia với tư cách là chủ thể đặc
biệt của quan hệ pháp luật dân sự.
-Khách thể: chính là cái xử sự của các chủ thể nhằm tác động tới, nói cách khác
đó là những lợi ích vật chất và phi vật chất mà pháp luật bảo vệ cho các chủ
thể trong các quan hệ xã hội đó.
-nội dung của quan hệ pháp luật dân sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của
các bên tham gia vào các quan hệ đó.
+Quyền dân sự là cách xử sự mà chủ thể được phép tiến hành trong quan hệ dân
sự. Quyền yêu cầu người khác thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi
nhất định, không làm điều gì cản trở chủ sở hữu thực hiện quyền sở hữu.
Khi các quyền dân sự bị vi phạm người có quyền bị vi phạm có thể dùng các
biện pháp bảo vệ mà pháp luật cho phép ( tự bảo vệ, các biện pháp tác động và
yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền dân sự của mình, kiện
đến toà án, khiếu nại với uỷ ban nhân dân.
+Nghĩa vụ dân sự: nếu quyền dân sự là cách xử xự được phép của người có
quyền năng thì nghĩa vụ dân sự là cách xử sự bắt buộc. Trong các quan hệ pháp
luật dân sự nghĩa vụ của một chủ thể cũng ứng với quyền của một chủ thể
khác. Thực hiện nghĩa vụ của một chủ thể là nhằm thoả mãn yêu cầu của chủ
thể bên kia, thoả mãn yêu cầu của người có quyền năng. Người có nghĩa vụ có
thể phải thực hiện một trong nhiều hành vi nhất định ( trả tiền trong mua bán,
vay mượn, khoán việc, thực hiện công việc trong khoán việc hoặc bồi thường
thiệt hại, chuyển giao tài sản hoặc phải kiềm chế không được thực hiện những
hành vi này xâm hại đến lợi ích bên kia.
Trong một số trường hợp nội dung của quan hệ pháp luật dân sự quy định
người có nghĩa vụ có thể lựa chọn cách thức xử sự có lợi cho họ nhất ( bồi
thường bằng tiền hoặc bằng vật chất hoặc sửa chữa đồ vật do hành vi đó ) nếu
người có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ của họ một cách tự nguyện,
họ sẽ phải bị cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ đó. Ngoài ra nếu việc thực hiện
nghĩa vụ đó đã gây ra thiệt hại cần phải bồi thường thiệt hại đã gây cho bên kia.
II.MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT DÂN SỰ
A.Quyền sở hữu
1. Khái niệm quyền sở hữu và quan hệ sở hữu
*Quyền sở hữu:
Là tổng hợp một hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để
điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trong xã hội.
Quan hệ sở hữu là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất
về chiếm hữu những của cải vật chất trong xã hội là quan hệ sở hữu.
*Nội dung của quyền sở hữu:
Là quyền kiểm soát và làm chủ một vật thể nào đó của một chủ sở hữu biểu
hiện ở chỗ trong thực tế vật đang nằm trong sự chiếm giữ của người đó, họ
đang kiểm soát làm chủ và chi phối vật đó theo ý chí của mình.
Như vậy có nghĩa rằng trong thực tế xảy ra trường hợp có những người không
phải là chủ sở hữu nhưng vẫn chiếm hữu tài sản đó. Vấn đề là cần phải xem
xét sự chiếm hữu của người đó có hợp pháp hay không. Vì vậy cần phân biệt
hai loại chiếm hữu sau:
-Chiếm hữu hợp pháp: là loại chiếm hữu tài sản đó có dựa trên cơ sở pháp luật.
Sự chiếm hữu được coi là hợp pháp trước hết là sự chiếm hữu tài sản của một
chủ sở hữu. Nếu người khác chiếm giữ thì chỉ được coi là chiếm hữu hợp pháp
nếu sự chiếm hữu đó đúng với quy định của pháp luật:
. Do chủ sở hữu giao vật trên cơ sở của một hợp đồng hợp pháp.
. Được dựa trên cơ sở mệnh lệnh cùa một cơ quan nhà nước nếu có thẩm
quyển và quy định của pháp luật.
_Chiếm hữu bất hợp pháp: là sự chiếm hữu của một người đối với một tài sản
mà không dựa trên cơ sở pháp luật, cụ thể đó là trường hợp một người chiếm
hữu một tài sản không phải là chủ sở hữu của tài sản đó và cũng không có các
căn cứ khác để được coi là chiếm hữu hợp pháp.
*Quyền sử dụng: là quyền khai thác những giá trị sử dụng của tài sản nhằm
thoả mãn những nhu cầu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cho bản thân mình.
Mặt khác thực hiện quyền sử dụng còn là việc con người khai thác lợi ích vật
chất của tài sản để thoả mãn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. VD : một người
dùng ô tô để chở hàng hóa.
Ngoài ra việc khai thác lợi ích vật chất của tài sản bao gồm cả việc thu nhận
những kết quả do tài sản mang lại như hưởng trứng của gia cầm, thu hoạch hoa
quả.
Tóm lại: quyền sử dụng là quyền năng mà pháp luật quy định do chủ sở hữu
hoặc người chiếm hữu hợp pháp, được phép sử dụng tài sản đó nhằm đáp ứng
nhu cầu sinh hoạt và sản xuất kinh doanh, nhưng việc sử dụng đó không làm
thịêt hại đến lợi ích của người khác, trái với đạo đức chung của toàn xã hội.
*Quyền định đoạt: là quyền năng của chủ sở hữu để quyết định về số phận của
sự vật, chủ sở hữu thực hiện quyền này biểu hiện ở hai khía cạnh:
-Định đoạt về số phận thực tế của vật, làm cho vật còn hoặc không còn trong
thực tế, ví dụ như tiêu dùng hết hoặc đốt phá,..
-Định đoạt về số phận pháp lý của một vật chính là sự chuyển dịch quyền sở
hữu đối với vật từ người này sang người khác, thường thông qua mua bán bằng
hợp đồng dân sự.
3. Các hình thức sở hữu:
Pháp luật nước CHXHCNVN quy định các hình thức sở hữu sau:
-Sở hữu toàn dân: là sở hữu đối với những tài sản mà nhà nước là đại diện chủ
sở hữu. Chính phủ thống nhất quản lý và đảm bảo sử dụng đúng mục đích,
hiệu quả và tiết kiệm. Các tài sản thuộc quyền sở hữu toàn dân: Điều 117 hiến
pháp và điều 205 luật dân sự quy định tài sản thuộc sở hữu toàn dân bao gồm:
đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất,..Cùng với các
tài sản khác do nhả nước quy định là của nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân.
Nhà nước cũng như các chủ sở hữu khác thực hiện trong việc chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản của mình. Nhà nước là chủ sở hữu đối với các tư liệu
sản xuất chủ yếu nhưng không ai quy định cho nhà nước phạm vi quyền hạn
đối với những tư liệu sản xuất đó, nhà nước tự quy định cho mình cái quyền
năng đó. Điều này không có nghĩa rằng quyền hạn của nhà nước là vô tận đối
với tài sản của mình mà phải thực hiện quyền sở hữu của mình trong phạm vi
pháp luật cho phép.
-Sở hữu của các tổ chức chính trị: là sở hữu của cả tổ chức đó nhằm thực hiện
một mục đích chung quy định trong điều lệ: theo quy định tại điều 215 bộ luật
dân sự thì tài sản thuộc sở hữu của các tổ chức chính trị-xã hội được hình thành
từ nguồn đóng góp của các thành viên, tài sản được tặng cho chung, và từ các
nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật.
-Sở hữu tập thể: là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn
định khác do các cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn góp sức hợp tác sản xuất
kinh doanh.
Hợp tác xã được tổ chức sản xuất theo nguyên tắc quản lý dân chủ đảm bảo
quyển làm chủ cho xã viên. Đại hội toàn xã viên là cơ quan cao nhất bầu ra ban
quản trị, xác định các tổ, đội và quy định vấn đề sản xuất kinh doanh, phân phối
thành quả lao động cho các xã viên. Ban quản trị hợp tác xã thay mặt hợp tác xã
thực hiện quyền quyết định tài sản như phân phối lợi nhuận, tham gia vào các
hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế.
-Sở hữu tư nhân: là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Sở
hữu tư nhân bao gồm: sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân.
Theo quy định tại điều 220 và 221 bộ luật dân sự thì tài sản thuộc sở hữu tư
nhân bao gồm: thu nhập hợp pháp, của để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu
sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức của các tài sản hợp pháp khác của cá nhân. Tài
sản hợp pháp thuộc sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng và giá trị.
-Sở hữu của các tổ chức xã hội tổ chức nghề nghiệp là sở hữu của cả tổ chức
đó nhằm thực hiện mục đích chung của các thành viên được quy định trong điều
lệ:
Tài sản thuộc sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp được
quy định tại điều 224 bộ luật dân sự bao gồm các tài sản từ nguồn đóng góp của
các thành viên, tài sản được tặng, cho hoặc các nguồn khác hợp với quy định
của pháp luật.
-sở hữu hỗn hợp: là sở hữu đối với những tài sản do các chủ sở hữu thuộc các
thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận.
Theo điều 227 bộ luật dân sự : tài sản được hình thành từ những nguồn vốn
đóng góp của các chủ sở hữu, lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh
doanh hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài sản
thuộc sở hữu hỗn hợp.
-Sở hữu chung: là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản. sở hữu chung bao
gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất, tài sản thuộc sở hữu
chung là tài sản chung.
B.QUYỀN THỪA KẾ
1. Khái niệm thừa kế:
Thừa kế là chuyển quyền sở hữu đối với di sản của người chết cho người thừa
kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.
*Người để lại di sản thừa kế: việc thừa kế chỉ được thực hiện khi người có tài
sản đã chết. Người để lại di sản có thể là người đã thành niên có tài sản riêng,
những người bị mắc bệnh tâm thần, người đang bị giam giữ hoặc đang phải thi
hành án tử hình, người đang bị quản chế hoặc bị tước bỏ một số quyền công
dân. Người để lại thừa kế chỉ có thể là công dân mà không bao giờ là tổ chức
hay nhà nước.
*Người thừa kế: là người được người chết để lại cho di sản theo di chúc hoặc
theo quy định của pháp luật.
Trong thừa kế theo pháp luật thì người thừa kế chỉ có thể là cá nhân nhưng theo
thừa kế theo di chúc thì người thừa kế là cá nhân. tổchức xã hội , các tổ chức
kinh tế cơ quan nhà nước.
Người thừa kế theo pháp luật là người còn sống tại thời điểm mở thừa kế ( là
thời điểm người có tài sản chết hoặc từ khi có bản án quyết định của toà án xác
định là đã chết. Tuy nhiên con của người để lại di sản sinh ra sau khi người để
lại di sản chết cũng là người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc của
người đó. ( quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi cho đứa trẻ). Người được
thừa kế theo di chúc nếu là cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội thì những tổ chức
được thừa kế phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế và thời điểm chia thừa
kế.
Điều 647 quy định: trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc hoặc
theo pháp luật những người thừa kế không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối
hưởng di sản thì tài sản thuộc về nhà nước.
-Di sản thừa kế quy định tại điều 637 bộ luật dân sự:
+Tài sản riêng của người chết: là tài sản do người đó tạo ra bằng thu nhập hợp
pháp, tài sản được tặng cho, được thừa kế, tư liệu sinh hoạt riêng, tư liệu sản
xuất các loại,..
+Phần tài sản của người chết trong khối tư sản chung với người khác.
Trên thực tế có nhiều trường hợp do góp vốn làm ăn, cùng sản xuất, nếu khối
tài sản thuộc quyền sở hữu chung của nhiều người. Trường hợp này di sản thừa
kế của người chết là phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết đã đóng
góp trong khối tài sản chung.
+Quyền về tài sản do người chết để lại: đó là các quyền dân sự phát sinh từ các
quan hệ hợp đồng dân sự hoặc do bồi thường thiệt hại mà trước thời điểm
người để lại thừa kế chết, họ đã tham gia vào các quan hệ này như đòi nợ, đòi
tài sản cho thuê, vay mượn, chuộc lại tài sản đã cầm cố, yêu cầu bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng.
2. Thừa kế tài sản theo di chúc:
a. Khái niệm:thừa kế theo di chúc là việc di chuyển tài sản thừa kế ( tài sản và
quyền tài sản ) của người đã chết cho những người còn sống theo sự định đoạt
của người đó khi còn sống.
b. Người lập di chúc: là người mà thông qua việc lập di chúc để định đoạt khối
tài sản của mình cho những người khác sau khi mình chết với ý nghĩa hoàn toàn
tự nguyện. Người lập di chúc chỉ có thể là công dân cụ thể và phải có tài sản
thuộc quyền sở hữu của mình.
-Quyền của người lập di chúc:
Pháp luật nước ta bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của công dân( chiếm hữu, sử
dụng và định đoạt ) khi lập di chúc để lại di sản cho người khác chính là công
dân đó đang thực hiện quyền định đoạt của mình đối với tài sản.
Điều 651 bộ luật hình sự, người lập di chúc có các quyền sau:
+Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản thừa kế của người thừa kế.
+Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
+Dành một phần tài sản trong khối tài sản để đi tặng, thờ cúng.
+Giao nghĩa vụ thừa kế trong phạm vi di sản.
+chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
+Có quyền sửa đổi di chúc, bổ xung di chúc đã lập, thay thế di chúc đã lập bằng
di chúc khác.
c. Người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc:
Người được nhận di sản thừa kế là người được chỉ định trong di chúc với điều
kiện:
+Nếu người được chỉ định làm người thừa kế là công dân thì công dân đó phải
còn sống vào thời điểm mở thừa kế ( chết trước hoặc cùng thời điểm mở thừa
kế không được hưởng ). Tuy nhiên với người sắp sinh ra thì pháp luật quy định
họ có thể là người thừa kế nếu vào thời điểm mở thừa kế họ đã thành thai.
+Nếu là cơ quan nhà nước tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế thì luật quy
định tổ chức đó phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
d. Những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc:
-Tại điều 672 bộ luật dân sự quy định: những người sau đây vẫn được hưởng di
sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu như di sản được
chia theo pháp luật. Trong trường hợp người lập di chúc không lập cho họ hoặc
ít hơn 2/3 suất đó trừ khi họ là những người từ chối hưởng di sản hoặc họ kà
người có quyền hưởng di sản theo quy định tại điều 646 khoản 1, điều 645 của
bộ luật này:
+con chưa thành niên, cha mẹ hoặc vợ chồng.
+con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.
Đây chính là những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc hay
còn gọi là thừa kế đương nhiên nếu họ không vi phạm điều 646 của bộ luật dân
sự.
II. Các điều kiện có hiệu lực của di chúc:
-Người lập di chúc phải có năng lực hành vi (đ650)
Mọi người đều có quyền lập di chúc nếu đủ 18 tuổi trở lên. Người đủ 15
nhưng chưa đủ 18 tuổi có thể lập di chúc nếu được cha mẹ hoặc người giám hộ
đồng ý. Sự đồng ý ở đây là đồng ý cho lập nhưng về nội dung thì họ được toàn
quyền quyết định.
-Di chúc phải thể hiện ý chí tự nguyện của người để lại di sản.
Chú ý: trong trường hợp chỉ một số điều trong nội dung di chúc không phù hợp
với pháp luật thì chỉ riêng những điều đó bị coi là không có giá trị pháp lý còn
những điểm khác vẫn có giá trị pháp lý.
-Hình thức của di chúc phải tuân theo những quy định của pháp luật ( di chúc
viết và miệng ).
-Di chúc viết phải được cơ quan công chứng hoặc uỷ ban nhân dân chứng nhận.
-Di chúc miệng chỉ được công nhận khi người lập di chúc ở trong tình trạng tính
mạng bị đe doạ và phải được thể hiện ý chí của mình trước mặt hai người làm
chứng, ngay sau đó những người làm chứng phải chép lại cùng kí tên và điểm
chỉ. Sau 3 tháng người lập di chúc còn minh mẫn sáng suốt thì di chúc bị miệng
bị huỷ bỏ.
Chú ý: do người lập di chúc khi còn sống có quyền thay đổi quyền định đoạt nên
họ có thể để lại nhiều bản di chúc có nội dung khác nhau thì di chúc sau cùng có
giá trị pháp lý. Nếu di chúc sau không nói sẽ huỷ bỏ những di chúc trước thì di
chúc trước sẽ bị huỷ bỏ những điều không phù hợp với nội dung bổ xung hoặc
cụ thể hoá của di chúc lập trước thì cả hai di chúc điều có giá trị pháp lý.
3. Thừa kế theo pháp luật
a. Khái niệm:
Thừa kế theo pháp luật là việc di chuyển tài sản của người chết cho những
người sống không theo di chúc mà theo quy định của pháp luật.
b. Các điều kiện phát sinh thừa kế theo pháp luật:
-Người chết không để lại di chúc hoặc có lập di chúc nhưng không hợp pháp.
-Người thừa kế theo di chúc chết trước người lập di chúc, cơ quan tổ chức
được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm
mở thừa kế
- Người chết có để lại di chúc nhưng có phần di sản không định đoạt trong di
chúc hoặc có liên quan đế phần của di chúc không hợp pháp
- Những người thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng di sản hoặc
khước từ hướng di sản.
C: Hàng thừa kế
Căn cứ vào mức độ gần gũi, trách nhiệm nuôi dưỡng trong mối quan hệ với
người để lại di sản, pháp luật thừa kế ở nước ta đã chia những người thuộc
diện thừa kế thành 3 hàng
- Hàng thừa kế thứ 1: Vợ chồng, cha mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi của
người chết
- Hàng thừa kế thứ 2: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị
ruột, em ruột của người chết
- Hàng thừa kế thứ 3: Cụ nội, cụ ngoại của người chết, bác ruột, chú ruột,
cậu ruột, gì ruột của người chết, cháu ruột của người chết là bác ruột, chú
ruột, cậu ruột, cô ruột và chị ruột.
D. Thừa
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản