Đề cương môn công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường

Chia sẻ: babydragonqa

Môi trường là nơi chúng ta đang sinh sống, bảo vệ môi trường chúng ta đang sinh sống là điều cần thiết, tuy nhiên việc bảo vệ môi trường cần phải được thực hiện có trách nhiệm và hiểu biết. Hiện nay ô nhiểm môi trường đang là vấn đề cấp bách và quan trọng không chỉ của riêng 1 quốc gia mà còn của toàn nhân loại. Cuộc sống ngày càng hiện đại thì nhu cầu về vật chất của con người càng tăng, kèm theo đó là hàng loạt các vấn đề về ô nhiễm môi trường nảy sinh đã và đang ảnh hưởng nghiêm...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề cương môn công nghệ sinh học trong bảo vệ môi trường

Câu 1: Vì sao phải bảo vệ môi trường?

Câu này theo tớ trước hết phải nêu ra định nghĩa môi trường là gì?
Một số đặc điểm, tính chất của môi trường? vai trò của môi trường?
thực trạng môi trường hiện nay và từ đó đưa ra lý do vì sao?

Môi trường là nơi chúng ta đang sinh sống, bảo vệ môi trường
chúng ta đang sinh sống là điều cần thiết, tuy nhiên việc bảo vệ môi
trường cần phải được thực hiện có trách nhiệm và hiểu biết.

Hiện nay ô nhiểm môi trường đang là vấn đề cấp bách và quan
trọng không chỉ của riêng 1 quốc gia mà còn của toàn nhân loại. Cuộc
sống ngày càng hiện đại thì nhu cầu về vật chất của con người càng tăng,
kèm theo đó là hàng loạt các vấn đề về ô nhiễm môi trường nảy sinh đã
và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của con người trên khắp
hành tinh cũng như môi trường mà chúng ta đang sinh sống.

Vấn đề trước mắt là con người cần phải ý thức được hiểm họa
của vấn đề tàn phá hay ô nhiễm môi trường sống của chính chúng ta.

+ Nạn phá rừng, đốt rừng bừa bãi gây nên những hậu quả nghiêm
trọng: núi bị sạt lở kéo theo đất đá , lũ quét ,lũ bùn, lũ lụt,...tàn phá nhà cửa
, hoa màu , cướp đi mạng sống của nhiều người ... và phá vỡ cân bằng
sinh thái, làm mất nơi cư trú của các loài động vật, một số loài còn có
nguy cơ tuyệt chủng…

+ Chất thải sinh hoạt và chất thải nông nghiệp làm ô nhiễm môi
trường đất, nước và không khí, gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
tới sức khỏe con người.

+ Việc sản xuất, sử dụng, thải bỏ tất cả các hợp chất của công
nghiệp hóa dầu (chất dẻo, dung môi, chất màu, thuốc trừ sâu, thuốc trừ
cỏ, keo dính, vecni…) đều gây ô nhiễm hoặc cho đất, hoặc cho môi
trường nước và không khí cũng như cho động vật, thực vật.
+ Hoạt động khai thác mỏ và sản xuất vật liệu xây dựng gây ô
nhiễm nghiêm trọng đến không khí do trong quá trình hoạt động thải ra
các loại bụi, các loại khí thải từ quá trình đốt cháy là SO2, NO2, CO, CO2
và các chất thải hữu cơ.

Các nhà máy điện, các nhà máy hóa chất, nhà máy điện nguyên tử
phát ra các chất phóng xạ mà nguồn chủ yếu là do sự đốt than

+ Ô nhiễm từ các hoạt động giao thông: các khí thải từ hoạt động
của động cơ ô tô, ngoài oxit cac bon và hợp chất chì ra còn có các khí
hydrocacbon, oxit nitơ. Các chất khí này dưới tác dụng của năng lượng
mặt trời, tạo nên những chất gây thành sương mù, kích thích mắt, làm tổn
hại cây cối.

Động cơ ô tô còn sinh ra những chất có thể gây ung thư thực
nghiệm trên động vật.

+ Sự nhiễm bẩn không khí từ các lò đốt trong nhà là hình thức sớm
nhất gây nhiễm bẩn mặc dù tác hại của nó không nhiều

- Các chất khí gây ô nhiễm: Những sự phát thải khí khác nhau góp phần
vào việc làm ô nhiễm khí quyển ở quy mô địa phương (sương mù oxy
hóa, mưa axit…) cũng như toàn cầu (hiệu ứng nhà kính, lỗ thủng tầng
ozon…)

+ Khí CO: được sinh ra một cách tự nhiên do các nguồn khác nhau: núi
lửa, quá trình oxy hóa của tảo biển… sản sinh CO do hoạt động của con
người chủ yếu là cháy rừng và sử dụng nhiên liệu mỏ. CO có tác dụng
độc hại đối với những động vật máu nóng và người, oxit cacbon kết hợp
với những hồng tuyết cầu tạo thành cacboxyhemoglobin, chất này không
cố định oxy và ở người 6400ppm CO gây ra cái chết trong ¼ giờ.

+ Khí CO2: sinh ra từ sự khai thác bừa bãi những nguyên liệu mỏ, phá
rừng và đốt cháy sinh khối, CO2 không độc hại nhưng chúng tham gia một
cách tích cực vào việc gây ra hiệu ứng nhà kính.
+ Khí Mêtan: được sinh ra do sự phát triển của cây trồng nông nghiệp và
chăn nuôi, trong các mỏ cacbua hydro, rác thải sinh hoạt, tuy nhiên mêtan
cũng giống CO2, không độc hại nhưng chúng tham gia một cách tích cực
gây hiệu ứng nhà kính.

- Các chất gây ô nhiễm nguồn nước

+ Các chất thải hữu cơ là nguồn gây ô nhiễm chủ yếu trong nguồn nước
mặt, chúng chứa rất nhiều kim loại nặng, sunfua, axit, chì, chất rắn lơ
lửng … với hàm lượng lớn gây nên ô nhiễm nghiêm trọng.

+ Các chất thải chứa vi sinh vật: gồm vi khuẩn, virus gây bệnh cho người,
động vật, thực vật cũng như hệ vi sinh vật trong nước.

+ Chất phóng xạ ảnh hưởng tới quá trình tự làm sạch của nguồn nước,
tích lũy lâu có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người.

- Các chất gây ô nhiễm môi trường đất

+ Chất hóa học: gồm phân bón, thuốc trừ cỏ… có ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người, các chất này sau khi được hấp
thụ qua con đường thực vật và đến người gây nên ung thư hoặc các bệnh
nghiêm trọng khác.

+Các chất thải công nghiệp mang tính nguy hại: phế thải công nghiệp rắn
gây ô nhiễm nghiêm trọng cho đất do các sản phẩm hóa học độc hại gây
ra.

+ Các chất phóng xạ từ các vụ nổ bom hạt nhân, chất thải phóng xạ lỏng
có thể tích tụ trong đất.

….
Như vậy hiểu được nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, tác hại nghiêm
trọng mà chúng gây ra cho con người cũng như môi sinh thì việc bảo vệ
môi trường là rất cần thiết không chỉ với mỗi cá nhân mà còn với toàn xã
hội
Câu 2: Nguyên nhân gây ô nhiếm đất, so sánh các biện pháp xử lý đất
ô nhiếm
• Nguyên nhân gây ô nhiễm đất:
• Do nguồn sản xuất và các hoạt động sống của con người
như: khai thác khoáng sản, do chất thải của các phân xưởng
hóa học, các nhà máy luyện kim, nhà máy dệt da.
• Do lượng thuốc trừ sâu, thuốc hóa học bón vào đất trong quá
trình sản xuất nông nghiệp. Một số loại phân trong thành
phần của chúng có chứa một lượng axit dư tự do, khi bón vào
đất sẽ gây chua cho đất. Hay việc bón phân hóa học liên tiếp
trong nhiều năm sẽ làm mặn hóa đât do các loại phân hóa học
thực chất chính là các muối, mặt khác khi bón nhiều phân hóa
học thì cần phải tưới nhiều nước và muối trong nước tưới sẽ
làm mặn hóa đất nhanh hơn. Đồng thời việc lạm dụng phân
hóa học còn có thể làm thay đổi tính chất vật lý của đất do
làm giảm hàm lượng mùn và phá vỡ kết cấu viên của đất.
Bên cạnh đó bón nhiều thuốc trừ sâu, trừ cỏ sẽ dẫn tới hủy
diệt hệ thống sinh học sống trong đất dẫn tới làm thay đổi
tính chất sinh học của đất.
• So sánh các biện pháp xử lý đất ô nhiễm:
• Biện pháp sinh học: dùng các tác nhân sinh học để xử lý, phân
giải các chất gây ô nhiễm từ đó có thể tạo thành nguồn dinh
dưỡng cho các loài sinh vật khác hay để tích tụ các chất độc
hại, không để chúng di chuyển tự do trong đất, sau đó thu
sinh khối tích tụ rồi phân hủy.
• Hạn chế của biện pháp này là mất nhiều thời gian, còn
tồn tại nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện do
không phải chất nào cũng bị phân hủy dưới tác dụng
của tác nhân sinh học.
• Biện pháp hóa học: dùng các chất hóa học để biến đổi, làm
giảm tính độc của các chất gây ô nhiễm đất.
• Hạn chế của biện pháp này là có thể làm tồn dư nhiều
chất hóa học hơn trong đất thậm trí tạo thành chất độc
hại đối với đất.
• Biện pháp vật lý: tích tụ các chất độc hại gây ô nhiễm đất lại
rồi đào hố chôn hay xây bể xử lý.
• Hạn chế của biện pháp này là tốn kém tiền của
để đầu tư cho trang thiết bị và chiếm nhiều diện tích.
• Biện pháp xử lý bằng nhiệt độ: tích tụ các chất độc hại lại
rồi đốt tất cả ở nhiệt độ cao.
• Hạn chế của biện pháp này là tốn kém và có thể tạo
thành các chất khí độc đối với môi trường sống.
• Trong các biện pháp trên thì
biện pháp sinh học được ưu tiên sử dụng nhất, có thể sử dụng
các loại vi sinh vật, thực vật hoặc nấm.
• Cơ chế trong sử dụng thực vật để xử lý là tích tụ sinh
học: chủ yếu là các loài thực vật sẽ có thể tích tụ các
chất độc hại rồi sau đó người ta tiến hành thu sinh khối.
• Cơ chế trong sử dụng vi sinh vật là trao đổi chất: vi sinh
vật phát triển nhanh nên diện tích tiếp xúc bề mặt lớn do
đó chúng có khả năng phân hủy nhiều hơn, nhanh hơn,
chúng có thể biến đổi từ các chất độc thành các chất ít
độc hay các chất dinh dưỡng mà vi sinh vật có thể sử
dụng được hoặc cung cấp cho các sinh vật khác.

Câu 3: Công nghệ sử dụng thực vật trong xử lý ô nhiễm môi trường
(Phytotechnology)
Thuật ngữ Phytotechnology được dùng để giải thích các ứng dụng
khoa học và kỹ thuật trong nghiên cứu các vấn đề và cung cấp giải pháp
bao gồm việc sử dụng thực vật. Đây là việc làm rất quan trọng vì cho
phép ứng dụng vai trò của thực vật trong cả 2 hệ thống: xã hội và tự
nhiên. Ý nghĩa của việc này là sử dụng thực vật như là một công nghệ
sống để giải quyết các vấn đề môi trường.
Vì Phytotechnology dựa trên nền khoa học môi trường và được xem
xét hệ sinh thái như là thành phần trung gian giữa các hoạt động của con
người và xã hội bao gồm môi trường tự nhiên.
Có nhiều ứng dụng khác nhau của Phytotechnology. Một vài ứng dụng
trong các lĩnh vực như y tế, nông nghiệp và lâm nghiệp và các ứng dụng
trong giải quyết các vấn đề môi trường. Các ứng dụng của
Phytotechnology trong môi trường thường được chia thành năm nhóm:
- Tăng cường khả năg thích nghi của các hệ thống tự nhiên đối với
các hoạt động của con người.
- Ngăn chặn sự giải phóng các chất gây ô nhiễm và làm thoái hoá môi
trường.
- Kiểm tra theo dõi sự giải phóng các chất gây ô nhiễm và các quá
trình môi trường dể giảm thiêu tối đa sự suy thoái môi trường.
- Phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái.
- Các chỉ thị của hệ sinh thái để kiểm tra và đánh giá các loại công
nghệ.
Sử dụng Phytotechnology để tăng cường khả năng của hệ thống tự
nhiên thu hút được nhiều sự quan tâm nhất. Sự ngăn chặn các thành phần
gây ô nhiễm bao gồm việc sử dụng Phytotechnology để tránh việc sản
xuất và thải vào môi trường các chất độc hại hoặc thay đổi các hoạt động
của con người để giảm thiểu tới mức tối đa mức độ tác động độc hại tới
môi trường. Việc này có thể gồm việc sản xuất các chất thay thế hay
thiêt kế lại quá trình sản xuất. Kiểm tra các thành phần gây ô nhiễm
thường xuyên được giải phóng và áp dụng Phytotechnology để kiểm tra
các chất này trước khi chúng được thải vào môi trường.
Phục hồi sinh học bao gồm các biện pháp dùng Phytotechnology để
khôi phục và cải thiện hệ sinh thái đã bị suy thoái do các hoạt động tự
nhiên hay của con người. Dùng Phytotechnology để kiểm tra và đánh giá
các điều kiện của môi trường bao gồm cả việc đưa các chất gây ô nhiễm
và các chất tự nhiên hay là các chất do con người tạo ra có thể gây hại.
Một vài ví dụ về áp dụng Phytotechnology:
Dùng thực vật để giảm hay giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi
trường. Như là sử dụng các vùng đất đầm lầy hay hồ nông cạn để sử lý
chất thải. Vì ở vùng đầm lầy hay hồ cạn thì thực vật chiếm ưu thế hơn
các loại tảo.
Sự tái tạo các hệ sinh thái hay thảm thực vật để giảm hay giải
quyết các vấn đề ô nhiễm. Ví dụ cấu trúc lại các vùng hồ nước và các
vùng đất trũng ẩm để sử lý chất thải hay khuếch tán các nguồn ô nhiễm
giảm nhẹ ảnh hưởng của CO2 đến thay đổi khí hậu.

Các ví dụ về ứng dụng trong môi trường của Phytotechnology:
Các giá trị ứng dụng trong môi trường của Phytotechnology bao
gồm sử dụng thực vật để tăng cường khả năng của hệ sinh thái đã được
chú ý. Những ứng dụng này có thể tăng cường chức năng của hệ sinh thái
do đó tăng giá trị của chúng. Thực vật có thể phân huỷ các chất gây ô
nhiễm hay thay thế chúng bằng các chất khác ít hoặc không gây ô nhiễm.
Thực vật còn tham gia vào quá trình tuần hoàn và làm sạch nước dẫn đến
khôi phục lại trạng thái ban đầu của hệ sinh thái.

Câu 7: Các phương pháp xử lý rác thải? các loại vi sinh vật trong rác
thải, các quá trình phân huỷ trong rác thải?
Rác thải là những sản phẩm loại bỏ được thải ra trong quá trình hoạt
động, sản xuất chế biễn của con người.
Rác thải có nhiều nguồn khác nhau: rác thải sinh hoạt, rác thải đô thị, rác
thải công nghiệp, rác thải nông nghiệp…Vì vậy hệ vi sinh vật trong rác
thải vô cùng phong phú. Trong rác thải có đầy đủ các thành phần hợp chất
hữu cơ, vô cơ rắn, lỏng…tương ứng sẽ có các thành phần vi sinh vật
phân giải phổ biến là các vi sinh vật sau:
Vi khuẩn: là nhóm lớn nhất, được nghiên cứu nhiều nhất có cả vi khẩn
hiếu khí và kỵ khí. Có nhiều trong nguồn rác thải sinh hoạt phế thải nông
nghiệp: Cytophaga, sporocytophaga, sporangium…Ngoài ra còn thấy các
giống: Cellvibrio trong rác thải phân huỷ cellulose. Trong điều kiện kỵ
khí, có nhiều giống vi sinh vật ưa ẩm, ưa nhiệt thuộc giống clostridium và
bacillus. Trong đống ủ phế thải người ta còn tìm thấy clostridium,
pseudomonas…mặt khác trong rác thải của các ngành công nghiệp, nhất là
công nghiệp chế biến người ta thấy có một số vi khuẩn: sporocytophaga,
methanogenes, rudbeckia hists L…
Nấm: bao gồm rất nhiều loại, có khả năng phân giải các hợp chất hữu cơ
mạnh hơn vi khuẩn, đặc biệt là phân giải cellulose do chúng tiết vào môi
trường lượng enzyme ngoại bào lớn hơn vi khuẩn.
một số loại nấm điển hình trong rác thải: tricoderma, phanerochate,
fusarium, penicillin, sporotrichum, solerotium, aspergillus…tuy nghiên
không phong phú bằng vi khuẩn.
Xạ khuẩn: có tác dụng phân giải phế thải khá mạnh. người ta chia thành
2 nhóm: xa khuẩn ưa nhiệt (600c – 700c) bao gồm: Actinomyces,
streptomyces, frankia, actinopolyspora, actinosyroema, pseudonocardia,
cellulomonas…Ngoài ra trong rác thải còn có một số nhóm động vật
nguyên sinh.
Từ việc phân loại theo nguồn hay bản chất hoá học của mỗi chất thải mà
ta có những biện pháp xử lý rác thải khác nhau.:
Một số biện pháp chính sử dụng hiện nay:
Gồm 4 biện pháp:
+ Biện pháp chôn lấp.
+ Biện pháp đốt.
+ Biên pháp thải ra sông ngòi và ra biển.
+ Biện pháp sinh học.

+ Biện pháp chôn lấp: là phương pháp xử lý lâu đời cổ và đơn giản nhất.
Rác thải được thu gom và đem chôn lấp trong đất. Qúa trình đầu tiên là thối
rữa các chất đơn giản sau đó phân giải. Có 2 cách chôn lấp áp dụng phổ
biến
Cách 1: Ủ trên mặt đất (đánh đống phủ đất), điều kiện hiếu khí, sản phẩm
cuối cùng là CO2 và H2O yêu cầu thường xuyên thổi khí, đảo đống ủ.
Cách 2: Ủ chon dưới đất có thể kỵ khí hoặc hiếu khí, sản phẩm là hỗn hợp
H2O, CH4, H2S, CO2, NH3…
Là biện pháp đơn giản dễ làm Tuy nhiên đòi hỏi diện tích lớn, thời gian xử
lý lâu, sinh ra khí độc có mùi hôi thối: CH4, H2S, NH3, có hiện tượng rò rỉ
gây ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước ngầm… Ngày càng bộc lộ nhiều
nhược điểm.
Khi áp dụng biện pháp chôn lấp xây bể cần chú ý: bể phải xa khu dân cư,
xa nguồn nước, có địa hình ổn định, không ẩm ướt, có biện pháp theo dõi
kiểm tra nguồn nước nơi chôn lấp thường xuyên.
+ Phương pháp đốt: chỉ là phương pháp tạm thời khi khối lượng phế thải
quá nhiều. Phương pháp này gây ô nhiễm không khí, hiệu ứng nhà kính, tốn
nhiên liệu…
+ Phương pháp thải ra sông, ngòi, biển: Đây là biện pháp rất nguy hiểm gây
ô nhiễm nặng nguồn nước, đất, tiêu diệt vi sinh vật sống dưới nước, gây ô
nhiễm toàn cầu.
+ Biện pháp xử lý sinh học: là biện pháp tối ưu nhất đang được áp dụng
rộng rãi trên toàn thế giới.
Biện pháp sinh học là dung công nghệ vi sinh vật để phân huỷ rác thải. Tuy
nhiên muốn thực hiện được biện pháp này thì khâu quan trong nhất là phân
loại được rác thải thành các nhóm: dễ phân giải ( các loại rác có bản chất
là chất hữu cơ; các loại phế liệu khó phân giải…)
Trong các biện pháp xử lý sinh học có một số biện pháp phổ biến.
Tự bổ sung ủ compots và biogas vào nhé phần này tớ ghi trong vở lung tung
quá còn các quá trình phân hủy của vi sinh vật trong rác thải câu dưới có
rồi. câu này mà vào tự chết lun he.

Câu 8: Các loại vi sinh vật, quá trình phân hủy của vi sinh vật trong
rác thải?
 Vi sinh vật trong rác thải
Trong thành phần rác thải có nhiều chất dinh dưỡng cho vsv, đặc
biệt là những hợp chất cao phân tử tự nhiên như xenluloza, hemixenluloza,
pectin, tinh bột, axit nucleic, vitamin, chất béo.... Do vậy, ở rác thải có đủ
mặt các nhóm vsv ( vk, xk, nấm, nấm mốc, nấm men). Riêng nấm men có
thể là ít vì trong rác hàm lượng các loại đường thấp, điều kiện cho nấm
men phát triển khó khăn.
Đối với các nhóm vsv có khả năng tiết ra ngoại bào các enzym thủy
phân cơ chất là hydratcacbon, protein, chất béo là có khả năng phát triển
mạnh hơn cả. Các enzym thủy phân có tác dụng ở đây là hệ
cacbonhydraza, proteinaza, lipaza, peticnaza.... Trong đó các vsv sinh
xenlulaza là thích nghi nhất. Các vsv ở đây là các thể dị dưỡng hoại sinh:
cần sự có mặt của các chất hữu cơ có ở môi trường làm cơ chất dinh
dưỡng và trong quá trình sống của các vsv này sẽ tiết ra enzym thủy phân
để phân cắt các hợp chất hữu cơ vốn là các chất cao phân tử thành các
hợp chất đơn giản hoặc là đơn vị cấu thành phân tử ( nonamer) thấm vào
tế bào tham gia các quá trình đồng hóa trao đổi chất để xây dựng tế bào
mới.
Ngoài các nhóm vsv thuộc các thể dị dưỡng hoại sinh người ta còn
thấy ở trong rác các nhóm vsv dị dưỡng cố định amon, nitrat hóa, và phản
nitat hóa, nhóm vi khuẩn khử sunphat và chuyển hóa lưu huỳnh. Quá trình
dinh dưỡng và trao đổi chất của các nhóm này có nhiều khác biệt so với
các nhóm dị dưỡng.
Vi sinh vật ở đây là các thể hiếu khí, các thể kị khí hoặc các thể tùy
tiện và các thể thiếu khí. Nói chung vsv trong rác thải có nhiều các thể ưa
ấm, ưa nhiệt và có cả các thể chịu nhiệt.
Từ thành phần vsv của rác thải là có mặt của các thể hiếu khí và kị
khí, người ta đã chọn các loại hình công nghệ thích hợp cho xử lí, phương
pháp xử lí hiếu khí và phương pháp xử lí kị khí.
 Quá trình phân hủy của vi sinh vật trong rác thải
 Phương pháp xử lý hiếu khí gồm các quá trình công nghệ như
sau:
- Trải rác thành các lớp mỏng (vài chục cm) hoặc chất thành đống có đảo
trộn để tạo hiếu khí cho vsv phát triển.
- Ủ trong các bể ủ không thổi không khí nhưng phải đảo trộn hoặc thổi
khí bằng quạt cao áp hoặc khí nén có thể kiểm tra các thông số công
nghệ.
- Phân hủy rác hiếu khí trong các thiết bị có thể thổi khí đầy đủ và kiểm
soát được các thông số bằng nhiệt độ, độ ẩm và có thể bổ xung các chất
khoáng và các chất dinh dưỡng khác.
Các quá trình công nghệ trên đây hiệu quả nhất là ủ hiếu khí rác
trong các thiết bị, nhưng áp dụng mở rộng bị hạn chế, vì vậy quá trình ủ
rác trong các bể ủ rác lớn có thổi khí và kiểm soát được các thông số công
nghệ là thích hợp nhất.
 Phương pháp xử lí kị khí gồm các quá trình công nghệ như
sau:
- Ủ kín để tạo điều kiện kị khí. Thường đổ và chất phân rác thành đống
rồi trát kín bằng bùn. Ban đầu các loại vsv hiếu khí phát triển sau đó ít oxi
dần rồi bị chết, tiếp theo là các thể kị khí tùy tiện phát triển và cuối cùng
là các thể kị khí. Trong quá trình ủ có các thể ưa ấm phát triển sớm nhất
và tỏa nhiệt làm cho nhiệt độ đống ủ tăng cao, các thể ưa ấm chết và thay
vào đó là các thể ưa nhiệt, sau cùng là các thể kị khí chịu nhiệt thấy có
mặt ở đống ủ khi nhiệt độ tới 70 - 850C.
- Chôn lấp: rác thải sinh hoạt và một số rác thải công nghiệp được cho
xuống các hố sâu và rộng đã được gia công chống thấm ở đáy và thành,
rồi nén chặt, phủ kín. Mỗi hố chôn rác có thể chôn tới hàng vài chục ngàn
tấn. Chôn lấp cũng giống như trong ủ kín kị khí.
- Ủ kị khí là quá trình phân giải hợp chất hữu cơ không có sự tham gia của
oxi, sản phẩm cuối cùng là khí CH4 (60 - 65%), CO2 (khoảng 30 - 35%),
lượng nhỏ các khí khác và sinh khối vsv lẫn trong mùn.
- Xử lý rác thải, các phụ phẩm nông nghiệp, bùn thải, nước thải ...bằng
lên men metan trng các thiết bị sinh metan (methantank) để thu khí đốt
(CH4).
Đối với rác thải bệnh viện, rác thải công nghiệp có lẫn các chất độc
hại cân phải có các biện pháp xử lý riêng như thiêu đốt, chôn lấp trong các
đồ chứa đựng đặc biệt để tránh truyền rộng các chất độc ra môi trường.
Rác thải bệnh viện có chứa nhiều vsv gây bệnh được xử lý bằng các lò
đốt riêng biệt.

Câu 9 : Các phương pháp xử lý nước thải
Đây chỉ là phương pháp sinh học còn có phương pháp cơ học và hóa
học nữa?
a. Bùn hoạt tính
Hệ thông bun hoat tinh là môt trong những hệ thông xử lý thứ câp để lam
́ ̀ ̣ ́ ̣ ́ ́ ̀
sach nước thai trước khi thải vao môi trường
̣ ̉ ̀



Nước thải Bể
đầu ra khử
bùn trùng
Nước
thải
vào
Song Chắn Bể Lắng Bể lắng Bể bùn Bể lắng
rác cát sơ cấp hoạt tính thứ cấp



Rác sỏi+ cát
Hoàn lưu bùn
Ở bể bùn hoạt tính cac VK được cung câp dây đủ oxy và cac điêu
́ ́ ̀ ́ ̀
kiên môi trường thich hợp. VK phân huy cac chât HC thanh CO2, H2O và
̣ ́ ̉ ́ ́ ̀
cac chât khoang khac, môt phân cac chât HC sẽ được đông hoa trong té bao
́ ́ ́ ́ ̣ ̀ ́ ́ ̀ ́ ̀
vi khuân. Nước thai có chứa cac tế bao vi khuân sẽ được chuyên sang bể
̉ ̉ ́ ̀ ̉ ̉
́
lăng
Tai bể lăng, VK sẽ được cung câp cac điêu kiên tôi ưu (thời gian tôn
̣ ́ ́ ́ ̀ ̣ ́ ̀
tai, lưu lượng nap) để cac tế bao cua chung có thể lăng xuông đay bể lăng.
̣ ̣ ́ ̀ ̉ ́ ́ ́ ́ ́
Môt phân bun dưới đay bể sẽ được hoan lưu lai bể bun hoat tinh để duy trì
̣ ̀ ̀ ́ ̀ ̣ ̀ ̣ ́
mât độ sinh khôi cao (vai mg/l) cho bể nay. Phân con lai sẽ được thai ra khoi
̣ ́ ̀ ̀ ̀ ̀ ̣ ̉ ̉
bể lăng. ́
Vi khuẩn trong bể hoạt tính: đóng vai trò quan trọng hàng đầu do nó
chịu trách nhiệm phân hủy các hợp chất hữu cơ thành CO2 , H20 và khoáng
Chu kỳ phát triển của vk

b. Màng sinh học
- Trong nước thai có cac vât răn lam giá mang, đỡ để VSV bam dinh vao
̉ ́ ̣ ́ ̀ ́ ́ ̀
bề măt. Cac VSV sinh ra cac chât nhây/deo tao mang (biomembrane –
̣ ́ ́ ́ ̀ ̉ ̣ ̀
mang sinh hoc). Mang nay cứ dây thêm. Đây chin là sinh khôi VSV.
̀ ̣ ̀ ̀ ̀ ́ ́
- Mang có thể oxy hoa cac chât hữu cơ có trong nước khi nước chay qua
̀ ́ ́ ́ ̉
hoăc tiêp xuc, mang có thể hâp phụ cac chât bân lơ lửng
̣ ́ ́ ̀ ́ ́ ́ ̉
́ ́ ̀
+Câu truc mang sinh hoc ̣
-Màng vi sinh vật có cấu trúc rất phức tạp, cả về cấu trúc vật lý và vi
sinh. Cấu trúc cơ bản của màng vi sinh vật gồm:
- Vật liệu đệm (đá, sỏi, chất dẻo, than… với nhiều kích cỡ khác nhau) có
bề mặt rắn làm môi trường dính bám cho vi sinh vật.
- Lớp màng vi sinh vật phát triển dính bám trên bề mặt vật liệu đệm.
Lớp màng vi sinh (microbial films) được chia thành hai lớp: lớp màng nền
(base film) và lớp màng bề mặt (surface film).
- Phân tích theo chuẩn loại vi sinh vật, lớp màng vi sinh vật còn có thể
chia thành hai lớp: lớp màng kị khí bên trong và lớp màng hiếu khí ở bên
ngoài.

Các giai đoạn sinh trưởng của vsv
-Giai đoạn 1 : có dạng logarit, khi màng vi sinh vật còn mỏng và chưa bao
phủ hết bề mặt rắn. Trong điều kiện này, tất cả các vi sinh phát triển như
nhau, cùng điều kiện, sự phát triển giống như quá trình vi sinh vật lơ
lửng.
- Giai đoan 2: mang sinh hoc sẽ dây thêm. Cac tế bao phia trong it tiêp xuc
̣ ̀ ̣ ̀ ́ ̀ ́ ́ ́ ́
với cơ chât và nhân được it oxy phai chuyên sang phân huy kỵ khi. San
́ ̣ ́ ̉ ̉ ̉ ́ ̉
phâm cua quá trinh nay chưa kip khuêch tan ra ngoai đã bị cac VSV khac sử
̉ ̉ ̀ ̀ ̣ ́ ́ ̀ ́ ́
dung nên nước chay qua phin không bị anh hưởng
̣ ̉ ̉
- Trong giai đoạn thứ ba: bề dày lớp màng trở nên ổn định, khi đó tốc độ
phát triển màng cân bằng với tốc độ suy giảm bởi sự phân hủy nội bào,
phân hủy theo dây chuyền thực phẩm, hoặc bị rửa trôi bởi lực cắt của
dòng chảy.
c. lọc nhỏ giọi
nhằm loại bỏ các chất hay các hạt lơ lửng trong nước bằng cách cho
nước đi qua chất lọc( cát, sỏi..) khi đi qua lớp lọc này các hạt bong keo sẽ
giữ lại và chỉ có nước đi qua
d. Ao hồ xử lý nước thải
- là phương pháp sử lý tiết kiêm nhất, giúp tạo nguồn nước thải có đọ an
toàn cao
- hồ này giúp ởn định và lứng cặn trước khi chuyển vào bể lọc
- trong hồ có các Vk như areeobix, anaerobic, jacultative bacteria
e. lắng và tuyển nổi
- lắng là quá trình xlys mà tại đó vận tốc nước thấp hơn vận tốc các hạt
huyền phù và các hạt lơ lửng. nó sẽ kết tủa xuống đáy
- các chất lắng bị loại bỏ và các chất nổi váng là vsv hay chất nhẹ hơn
nước nổi nên cũng bị loại bỏ. nước đưa ra khỏi bể lắng thông qua đường
ống để dẫn đến các gđ tiếp theo

Câu 10: Mô tả chức năng, vai trò của phương pháp cơ học trong xử lí
nước thải
Trong nước thải thường có các loại tạp chất rắn cỡ khác nhau như rơm
cỏ, gỗ mẩu, bao bì chất dẻo, giấy, giẻ, cát sỏi… Ngoài ra còn có các loại
hạt lơ lửng ở dạn huyền phù có thể lắng được.Các loại tạp chất trên
dùng các phương pháp xử lí cơ học là thích hợp. Đây là bước đầu tiên
trong dây chuyên công nghệ xử lí nước thải.
Phương pháp xử lí cơ học gồm
Cần vẽ một sơ đồ ra:
• Song chắn rác: nhằm giữ lại các vật thô như giẻ, giấy rác, vở hộp,
đất đá ở trước song chắn. Vận tốc dòng chảy thường lấy 0.8-1m/s
để tránh lắng cát
• Lưới lọc : sau chắn rác , để có thể loại bỏ các tạp chất rắn có kích
cỡ nhỏ hơn, mịnh hơn ta có thể đặt thêm lưới lọc.Các vật thải
được giữ lại trên mặt lọc, phải cào lấy ra khỏi làm tắc dòng chảy.
Trước chắn rác có khi lắp thêm máy nghiền để nghiền nhỏ các tạp
chất.
• Lắng cát: dòng nước thải được cho chảy qua các “bẫy cát”- các loại
bể, hố, giếng… cho nước thải chảy vào theo nhiều cách khác
nhau.Nước qua bể lắng dưới tác dụng của trọng lực, cát nặng sẽ
lắng xuống đáy và kéo theo một phần chất đông tụ. Cát lắng ở bẫy
cát thường ít chất hữu có.Sau khi lấy ra khỏi bể cát lắng, sỏi được
loại bỏ.
• Các loại bể lắng: nhằm lắng các loại hạt lơ lửng, các loại bùn , kể
cả bùn hoạt tính, nhằm làm cho nước trong.Nguyên lí làm việc của
các loại bể này đều dựa trên cơ sở trọng lực.
• Tách dầu mỡ: nước thải của một số xí nghiệp ăn uống, chế biến
bơ, sữa, các lò mổ… thường có lẫn dầu mỡ. Nước thải sau khi xử
lí không có lẫn dầu mỡ mới được phép cho chảy vào các thủy
vực.Ngoài cách làm các gạt đơn giản bằng các tấm sợi quét trên
mặt nước, người ta chế tạo ra các thiết bị tách dầu , mỡ đặt trước
dây chuyền công nghệ xử lí nước thải.
• Lọc cơ học: để tách các tạp chất phân tán nhỏ khỏi nước mà bể
lắng không lắng được.Các phin lọc làm việc sẽ tách các phần tử
tạp chất phân tán hoặc lơ lửng khó lắng khỏi nước.Khi nước qua
lớp lọc, dù ít dù nhiều cũng tạo ra lớp màng sinh học trên bề mặt
các hạt vật liệu lọc.Do vậy,các chất hòa tan trong nước thải biến
đổi nhờ quần thể vi sinh vật có trong màng sinh học. Trong xử lí
nước thải thường dùng loại thiết bị lọc chậm, lọc nhanh, lọc kín ,
lọc hở…

Câu 11. Phương pháp xử lý nước thải bằng phương pháp hiếu khí
Ao hồ hiếu khí là loại ao nông 0.3-0.5mcos quá trình ôxihóa các chấtbẩn
hữu cơ chủ yếunhowf các vi sinh vật hiếu khí gồm hồ làm thoáng tự
nhiên hồ làm thoáng nhân tạo
- hồ hiếu khí tự nhiên: o2 không khí dễ dàng khuyếch tán vào lớp
nước phía trên và ánh sáng môi trường chiếu dọi làm cho tảo tiến
hành quang hợp thải ra o2 . để đảm bảo cho ánh sáng qua nước
chiều sâu của hồ phải nhỏ, thường là 30-40cm. do chiều sâu như
vậy diện tích cả hồ càng lớn càng tốt . tải của hồ (BOD) khoảng
250-300 kg/ha. Thời gian lưu của nước 3-12 ngày , nước lưu trong
ao tương đối dài , hiệu quả làm sạch 80-90% BOD màu nước có
thể chuyển dần sang màu xanh của tảo
- Hồ có sục khuấy : dùng các thiết bị khuấy cơ học hoặc nén cung
cấp o2 mức độ hiếu khí trong hồ mạnh hơn đều hơn và độ sâu của
hồ lớn >2-4.5m. Tải BOD của hồ khoảng 400kg/ha/ngày. Thời gian
luuw nước trong hồ khoảng 1- 3 ngày trở lên
Bể aeroten là công trình xử lý nước thải có dạng bể được thực hiện
nhờ bùn hoạt tính và cấp oxi bằng khí nén hoặc làm thoáng, khuấy đảo
liên tục với điều kiện như vậy bùn được phát triển ở trạng thái lơ
lửng và hiệu suất phân hủy (oxh)các hợp chất hữu cơ khá cao.aeroten
thường gọi là bể phản ứng hiếu khí

Câu 12 : Cơ sở và vai trò của bể aeroten
 Vai trò:
Như ta đã biết, cung cấp oxi là yêu cầu rất quan trọng trong quá
trình xử lý nước thải bằng phương pháp hiếu khí. Để đáp ứng được yêu
cầu này người ta thường phải khuấy đảo khối nước để oxi từ không khí
được khuếch tán và hòa tan vào nước. Song biện pháp này chưa thể đáp
ứng được đầy đủ nhu cầu về oxi. Vì vậy ngày nay người ta sử dụng biện
pháp hiếu khí tích cực hơn: thổi khí kết hợp với khuấy đảo. Bể aeroten
chính là một trong những công trình xử lý nước thải hiếu khí sử dụng các
biện pháp trên. Nó giúp cho việc cung cấp oxi cho hoạt động sống của vi
sinh vạt trở nên dễ dàng và đầy đủ hơn, vì thế quá trình xử lý nước cũng
diễn ra tốt và hiệu quả hơn.
 Cơ sở:
Bể aeroten là một bể phản ứng sinh học hiếu khí sử dụng biện
pháp thổi khí kết hợp với khuấy đảo. Nước thải sau khi đã được xử lý sơ
bộ còn chứa phần lớn các chất hữu cơ ở dạng hòa tan cùng với các chất
lơ lửng đi vào bể aeroten. Nước thải chảy qua suốt chiều dài của bể và
được sục khí, khuấy đảo nhằm tăng cường lượng oxi hòa tan và tăng
cường quá trình oxi hóa chất bẩn hữu cơ có trong nước.Trong nước thải
chứa các chất hữu cơ hòa tan dễ bị vi sinh vật phân hủy và các chất hữu
cơ khó bị phân hủy, hợp chất chưa hòa tan, khó hòa tan ở dạng keo – các
dạng hợp chất này có cấu trúc phức tạp cần được vi khuẩn tiết enzyme
ngoại bào để phân hủy. Bể aeroten làm việc dựa trên quá trình oxi hóa của
vi sinh vật co sẵn trong nước thải. Quá trình này trải qua 3 gđ:
 Giai đoạn1: tốc độ oxi hóa bằng tốc độ tiêu thụ oxi. Bùn hoạt
tính hình thành và phát triển. Hàm lượng oxi cần cho vi sinh vật trong giai
đoạn đầu ít và tăng dần vế sau do vi sinh vật thích nghi dần với môi
trường.
 Giai đoạn 2: vi sinh vật phát triển ổn định, tốc độ tiêu thụ oxi
gần như ít thay đổi. Chất hữu cơ bị phân hủy nhiều nhất. Hoạt lực
enzyme đạt tới mức cức đại và kéo dài trong một thời gian. Điểm cực đại
này thường đạt ở thời điểm sau khi lượng bùn hoạt tính tới mức ổn định.
Tốc độ tiêu thụ oxi ở gđ 1 gấp 3 lần gđ này.
 Giai đoạn 3: tốc độ oxi hóa có chiều hướng giảm, tốc độ tiêu
thụ oxi tăng. Đây là gđ nitrat hóa các muối amon. Sau cùng nhu cầu oxi lại
giảm và cần kết thúc quá trình làm việc của bể.

Câu 14: Cánh đồng lọc sinh học
− Định nghĩa: Là cánh đồng tưới làm chức năng xử lý nước thải gọi là
bãi lọc hay cánh đồng lọc.
− Cơ sở: dựa vào khả năng giữ các cặn nước ở trên mặt đất, nước
thấm qua như đi qua lọc nhờ có oxy trong các lỗ hổng và qua mao
quản của lớp đất mặt, các vi sinh vật hiếu khí hoạt động phân hủy
các chất hữu cơ nhiêm bẩn. Càng sâu xuống, lượng oxy càng ít và
quá trình oxy hóa các chất hữu cơ nhiễm bẩn giảm dần tới 1.5m
(tới độ sâu đó chỉ xảy ra quá trình khử nitrat). Do đó chỉ xây dựng
cánh đồng lọc ở những nơi có mực nước ngầm thấp hơn 1.5m so
với mặt đất.
− Phương pháp này tận dụng được:
+ Đặc tính lý hóa của đất, lọc, hấp phụ, trao đổi ion, khả năng thấm,
giữ nước, cặn vẩn.
+ Đặc tính sinh học: vi sinh vật và cây cỏ.
 Quy trình: nước thải trước khi đưa vào cánh đồng lọc sinh học cần
xử lý sơ bộ
+ Qua chắn rác để loại bỏ những vật thô cứng, rác.
+ Qua lắng cát: để loại bỏ cát, sỏi, các tạp chất nặng, loại bỏ dầu
mỡ (để tránh cho mao quản và các lỗ hổng bị bịt kín làm giảm khả năng
oxy hóa các chất bẩn cuarvi sinh vật.
Nếu lượng nước lớn thì phải qua bể điều hòa sau khi xử lý sơ bộ
(thời gian lưu nước từ 6 -8 h).
Xử lý sơ bộ giúp loại bỏ rơm rác, vật thô cứng, vật nặng cát, sỏi,
một phần chất lơ lửng, 1 phần các vi sinh vật gây bệnh, trứng giun sán.
− Nên xây dựng cánh đồng lọc ở những nơi đất cát hoặc pha cát,
không nên xây dựng ở các vùng đất sét.
− Xây dựng cách xa khu dân cư về cuối hướng gió tùy theo công suất
của công trình. Trung bình từ 300 – 1000m.
− Cánh đồng tưới cần san phẳng hoặc dốc không đáng kể.
− Cánh đồng được chia thành các ô, mỗi ô có diện tích >= 3 ha (< 5 –
8 ha).
Mỗi ô có chiều dài 300 – 400m, chiều rộng 100 – 200m.
Các ô được ngăn bằng các bờ đất
Diện tích bãi lọc = diện tích các ô + 20%.
− Nước sau khi thấm qua đất được thu về hệ thống tiêu nước là các
ống ngầm đặt dưới độ sâu 1.2 – 2m và các mương máng hở bao
quanh công trình.
 Yêu cầu: BOD còn 10 – 15mg/l
NO3- còn 25mg/l
vi khuẩn giảm 99.9%
 Nước thu không cần khử khuẩn có thể đổ vào các thủy vực.

Câu 15 : Ý nghĩa của BOD & COD.
NHU CẦU OXY SINH HÓA (BOD) CỦA NƯỚC THẢI
 ĐN: Nhu cầu oxy sinh hóa hay nhu cầu oxy sinh học (Biochemical
Oxigen Demand, BOD) là lượng oxy cần thiết để oxy hóa các chất hữu cơ
có trong nước bằng vi sinh vật (chủ yếu là vi khuẩn) hoại sinh, hiếu khí.
BOD thể hiện các chất hữu cơ có thể bị oxy hóa bằng VSV có ở trong
nước. Quá trình này gọi là quá trình oxy hóa sinh học, được tóm tắt như sau:

Chât hữu cơ + O2 -------à CO2 + H2O
́




vi sinh vât ̣ tế bao mới (tăng sinh khôi)
̀ ́
 Đơn vị tính: mg/l.
 Chỉ tiêu BOD phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ của nước thải: BOD
càng lớn thì nước thải (hoặc nước nguồn) bị ô nhiễm càng cao và ngược
lại.
 Thời gian cần thiết để các vi sinh vật oxy hóa hoàn toàn các chất hữu
cơ có thể kéo dài đến vài chục ngày tùy thuộc vào bản chất của chất hữu
cơ có trong nước thải, các chủng loại vsv, nhiệt độ nguồn nước cũng như
vào một số chất có độc tính trong nước.
 ́ ̣
Xac đinh BOD đê: ̉
 Tinh gân đung lượng oxy cân thiêt để oxy hoa hêt cac chât hữu
́ ̀ ́ ̀ ́ ́ ́ ́ ́
cơ dễ phân huy có trong nước thai.
̉ ̉
 Lam cơ sở tinh toan kich thước cac công trinh xử ly.
̀ ́ ́ ́ ́ ̀ ́
 Xac đinh hiêu suât xử lý cua mottj số công trinh.
́ ̣ ̣ ́ ̉ ̀
 Đanh giá chât lượng nước sau khi xử lý được phép thai vao cac
́ ́ ̉ ̀ ́
nguôn nước.
̀
 Trong thực tế, người ta không thể xác định lượng oxy cần thiết để
phân hủy hoàn toàn chất hữu cơ bằng phương pháp sinh học mà chỉ xác
đinh lượng oxy cần thiết trong 5 ngày đầu ở nhiệt độ 20°C trong bóng tối
(tránh hiện tượng quang hợp trong nước), chỉ số này được gọi là BOD5.
 Hạn chế của phương pháp phân tích BOD:
 Yêu cầu VSV trong mẫu phân tích cần phải có nồng độ các tế
bào sống đủ lớn và các VSV bổ sung cần phải được thích nghi với môi
trường.
 Nếu nước thải có các chất độc hại phải xử lý sơ bộ loại bỏ
bớt các chất đó, sau đó mới có thể tiến hành phân tích, đồng thời cần
chú ý giảm ảnh hưởng của các vi khuẩn nitrat hóa.
 Thời gian phân tích quá dài (5 hoặc 3 ngày).

NHU CẦU OXY HOÁ HỌC (COD) CỦA NƯỚC THẢI
 Chỉ tiêu BOD không phản ánh đầy đủ về lượng tổng các chất hữu cơ
trong nước thải, vì chưa tính đến các chất hữu cơ không bị oxy hóa bằng
phương pháp sinh hóa và cũng chưa tính đến một phần chất hữu cơ tiêu hao
để tạo nên tế bào vi khuẩn mới. Do đó để đánh giá một cách đầy đủ lượng
oxy cần thiết để oxy hóa tất cả các chất hữu cơ trong nước thải người ta
sử dụng chỉ tiêu nhu cầu oxy hóa học.
 ĐN: nhu cầu oxy hóa học (Chemical Oxigen Demand, COD) là lượng
oxy cần thiết cho quá trình oxy hóa toàn bộ các chất hữu cơ có trong mẫu
nước thành CO2 và nước.
COD cho thấy toàn bộ chất hữu cơ (và cả các nhóm vô cơ có tính khử) có
trong nước bị oxy hóa bằng tác nhân hóa học.
 Để xác định COD người ta thường dùng kali bichromate (K2Cr2O7) để
oxy hóa hoàn toàn các chất hữu cơ, sau đó dùng phương pháp phân tích định
lượng và công thức để xác định hàm lượng COD.

Ag2SO4
Chất hữu cơ + K2Cr2O7 + H +
CO 2 + H2O + 2Cr+3 +
2K+


 Chỉ số COD luôn luôn lớn hơn BOD và tỷ số COD : BOD bao giờ
cũng lớn hơn 1. Khi thiết kế các công trình xử lý nước thải công nghiệp
hoặc hỗn hợp nước thải sinh hoạt và công nghiệp cần thiết phải xác định
BOD và COD.

Câu 16: Quan hệ của vsv nước thải với hệ thực vật trong nước
- Quá trình hoạt động sống của giới thủy sinh dựa trên quan hệ
cộng sinh của toàn bộ quần thể sinh vật có trong nước.Phần chất không
tan của hợp chất hữu cơ khi vào nước sẽ lắng xuống đáy, phần hòa tan sẽ
được hòa loãng trong nước.
- Các vi khuẩn phân giải chất hữu cơ thành các chất vô cơ cung cấp
cho các thực vật thủy sinh, trước hết là tảo.VD các loài Vi khuẩn
pseudomonas, denitrificans, bacilus licheniformic… khử nitrat thành nitơ
phân tử. Tảo và các thực vật thủy sinh khác lại cung cấp oxi cho vi khuẩn.
Các loài thực vật thủy sinh như tảo , rong đuôi chó, rong xương cá, lau lác,
các loại bèo …có rễ, thaantaoj điều kiện cho vsv bám vào mà không chìm
xuống đáy.Chúng cung cấp oxi cho vi khuẩn hiếu khí, ngoài ra còn cung
cấp cho vsv những hoạt chất sinh học cần thiết.
- Ngược lại VK cung cấp ngay tại chỗ cho TV những sản phẩm
TĐC của mình, đồng thời thực vật cũng che chở cho VK khỏi bị chết
dưới ánh nắng mặt trời. Tảo khi chết sẽ là chất dinh dưỡng cho vsv.
⇒ Như vậy:
- Vi khuẩn có khả năng phân hủy chất hữu cơ bất kì nào trong tự
nhiên.Trong quá trình sống của vi khuẩn CO2 được sinh ra làm
nguồn cacbon dinh dưỡng cho tảo và các loài thực vật nổi khác.
- Tảo và thực vật nổi khác sử dụng các chất khoáng trong đó có
CO2 cùng NH4+ do vk tạo thành để phát triển tăng sinh khối và
thải ra oxi.O2 phân tử này làm giàu oxi hòa tan trong nước tạo
thuận lợi cho vk hiếu khí phát triển.
- Các thực vật cao hơn như rong rêu , cỏ lác,các loại bèo…khử các
sản phẩm phân hủy từ các chất hữu cơ do vk, sử dụng CO2 cùng
nguồn amon, phosphat để tăng sinh khối và thải ra oxi.
Câu17 : Bùn hoạt tính.
1. Khái niệm
 Trong nước thải có những hạt chất rắn lơ lửng khó lắng, có một số
loài VSV sinh ra bao nhầy dính vào các hạt đó, đồng thời kéo theo các vi
sinh vật khác bám vào xung quanh tạo thành các hạt bông vẩn. Các bông
này tiếp xúc với các chất bẩn trong nước - các chất dinh dưỡng của vi sinh
vật, sẽ oxy hóa hoặc phân hủy hay hấp thu thành các chất vật liệu xây
dựng tế bào phục vụ cho sinh trưởng của chúng. Kết quả là nước được làm
sạch. Khi hết chất dinh dưỡng hoặc không sục khí các hạt lắng xuống
thành bùn. Bùn này được gọi là bùn hoạt tính.
 Như vậy, bùn hoạt tính là tập hợp các vsv khác nhau, chủ yếu là vi
khuẩn, kết lại thành dạng hạt bông với trung tâm là các hạt chất rắn lơ
lửng ở trong nước có hoạt tính là oxy hóa các chất hữu cơ đồng thời hấp
thu NH4, PO4 và một số ion kim loại. Các bông này có màu vàng nâu dễ
lắng, có kích thước từ 3 đến 150 μm.
2. Cac điêm cân chú ý khi sử dung bun hoat tinh
́ ̉ ̀ ̣ ̀ ̣ ́
 Cân băng dinh dưỡng cho môi trường lỏng theo tỷ lệ BOD5 : N : P
̀
= 100 : 5 : 1, nêu xử lý keo dai thì tỷ lệ nay là 200 : 5 : 1.
́ ́ ̀ ̀
 Nêu thiêu N (bổ sung urê): can trở tao tế bao mới và bun, can
́ ́ ̉ ̣ ̀ ̀ ̉
trở quá trinh trao đôi chât, lam bun khó lăng. Nếu thiêu P (thêm
̀ ̉ ́ ̀ ̀ ́ ́
supephosphat): Vk dang sợi phat triên, lam cho bun phông lên, khó lăng.
̣ ́ ̉ ̀ ̀ ̀ ́
 Nếu thừa N ở dạng NH4 thì phải tìm cách khử N. Nếu thừa +

P thì có hiện tượng nước “nở hoa” vì vậy phải tìm cách khử P.
 Chỉ số SVI (sludge volume index): chỉ số thể tich bun, là số ml ́ ̀
nước thai đang xử lý lăng được 1g bun (theo chất khô không tro) trong 30
̉ ́ ̀
phút và được tính:
V.1000
SVI=
M hoặc MLSS
(tính gần đúng: MLSS trừ 30 – 35 % chất tro)
 Chỉ số MLSS (mix liquoz suspendids solids): Chât răn trong hôn ́ ́ ̃
hợp chât long - răn huyên phu, gôm bun hoat tinh và chât răn lơ lửng con lai
́ ̉ ́ ̀ ̀ ̀ ̀ ̣ ́ ́ ́ ̀ ̣
chưa được VSV kêt bông. Thực chất đay là hàm lượng bùn cặn.
́
V- thể tich mâu nước thử (nước thai đang xử lý đem lăng).
́ ̃ ̉ ́
M - Số gam bun khô (không tro). ̀
Bun lăng đem sây khô ở 105°C đên khôi lượng không đôi ta được MLSS,
̀ ́ ́ ́ ́ ̉
tiêp tuc nung ở 600 ± 50°C được lượng tro MLSS. Bun hoat tinh không tro:
́ ̣ ̀ ̣ ́
MLSS = độ tro.
̉ ̀
3. Tuôi bun hoat tinh ̣ ́
 Giup đanh giá hoat lực và thời gian cân thiêt phai hoat hoa bun.
́ ́ ̣ ̀ ́ ̉ ̣ ́ ̀

CÂU 18 : Xử lý nước thải kị khí bằng dòng hướng lên?

Xử lý nước thải ở lớp bùn kị khí với dòng hướng lên( UASB hay
còn gọi là lên men ở lớp bùn – ANAPULSE)
- Bể phản ứng có thể làm bằng bê tông thép không gỉ được cách
nhiệt với bên ngoài. Trong bể phản ứng với dòng nước dâng lên
qua nền bùn rồi tiếp tục vào bể lắng đặt cùng với bể phản ứng.
Khi metan tạo ra ở giữa lớp bùn. Hỗn hợp khí lỏng và bùn làm
cho bùn tạo thành dạng hạt lơ lửng. Với quy trình này, bùn tiếp
xúc được nhiều với chất hữu cơ có trong nước thải và quá trình
phân hủy xảy ra tích cực. Các loại khí tạo ra trong điều kiện kị
khí( chủ yếu là CH4 và CO2 ) sẽ tạo ra dòng tuần hoàn cục bộ,
giúp cho việc hình thành những hạt bùn hoạt tính và giữ cho
chúng ổn định. Một số bọt khí và hạt bùn có khí bám vào sẽ nổi
lên trên mặt hỗn hợp phía trên bể. Khi va phải lớp lưới chắn
phía trên, các bọt khí bị vỡ và hạt bùn được tách ra lại lắng
xuống dưới. Đẻ giữ cho lớp bùn ở trạng thái lơ lửng vận tốc
dòng hướng lên phải giữ ở khoảng 0,6- 0,9 m/h.
- Bùn trong bể metan là sinh khối vi sinh vật kị khí và đóng vai trò
phân hủy và chuyển hóa các chất hữu cơ. Bùn hoạt tính này hình
thành hai vùng rõ rệt: khoảng 1/4 chiều cao từ đáy bể lên là lớp
bùn do các hạt keo tụ, nồng độ khoảng 5-7%, trên lớp này là lớp
bùn lơ lửng với nồng độ 1000- 3000 mg/l gồm các bông cặn
chuyển động giữa lớp bùn đáy và bùn tuần hoàn từ ngăn lắng rơi
xuống.
- Bùn hoạt tính trong bể phản ứng có nống độ cao cho phép bể làn
việc với tải trọng cao. Để đảm bảo bể làm việc với nồng độ
bùn cao người ta phải cấy giống vsv của pha axit và pha sinh
metan. Lấy các giống vsv sống trên phân trâu bò tươi để cấy với
nồng độ thích hợp . Bể phải vận hành với chế độ thủy lực =1m.

Câu 16:
Quan hệ giữa vi sinh vật với thực vật thủy sinh trong hồ. Giải thích
hiện tượng tự làm sạch nước.
Trả lời:
Quan hệ giữa vi sinh vật với thực vật thủy sinh trong hồ (tảo – vi
khuẩn)
Ánh sáng Sinh ra O2 Chất thải
hữu cơ




Tảo sinh trưởng Quá trình sinh
( quang hợp) trưởng của vi
khuẩn




Sinh khối tăng Sinh ra vi
Sinh ra CO2 khuẩn mới




Giải thích hiện tượng tự làm sạch nước:
Qua trình làm sạch nước thải nhờ các quá trình vật lý hóa học là sự xa
lắng và oxy hóa giữ vai trò quan trọng, song đóng vai trò quyết định vẫn là
quá trình sinh học. Tham gia vào quá trình tự làm sạch nước có rất nhiều
chủng, giống sinh vật: từ các loại cá, chim, đến các nguyên sinh động vật
và vi sinh vật.
Tại nơi nước thải đổ ra sông, hồ, biển thường tụ tập nhiều loài chim, cá
chúng sử dụng chất thải hữu cơ, các động vật bậc thấp như ấu trùng của
côn trùng, giun và nguyên sinh động vật làm thức ăn. Các động vật bậc
thấp, động vật nguyên sinh lại sử dụng các hạt thức ăn cực nhỏ, các loại
muối khoáng, xác vi sinh vật làm thức ăn. Các vi sinh vật đặc biệt là vi
khuẩn và nấm men có vai trò quyết định quá trình tự làm sạch nước này:
chúng đã phân hủy chuyển hóa các chất hữu cơ phức tạp thành các chất
đơn giản hơn ( chất hữu cơ trong nước ao hồ, xác của các loại sinh vật
trên, thậm chí cả chất thải của chúng) và cuối cùng là muối vô cơ và CO2.
nói cách khác là trong điều kiện tự nhiên các vi sinh vật có khả năng
khoáng hóa một cách hoàn toàn nhiều chất bẩn hữu cơ để làm sạch nước.
Bên cạnh mối quan hệ tự làm sạch nước trên mối quan hệ hữu cơ giữa
tảo và vi khuẩn cũng là một quá trình quan trọng quyết định quá trình tự
làm sạch nước thải trong tự nhiên: trong nước thải tảo thông qua hoạt
động sống của mình nhờ có khả năng thu nhận ánh sang mặt trời và sử
dụng co2 hòa tan trong nước để quang hợp tăng sinh khối tảo đã là nguồn
thức ăn cung cấp cho hệ động vật thủy sinh, đồng thời tảo tạo ra một
lượng lớn O2 hòa tan trong nước cung cấp cho vi sinh vật đặc biệt là vi
khuẩn sử dụng.
Ngoài ra tảo còn tiết vào môi trường các chất kháng sinh có khả năng diệt
khuẩn đặc biệt là vi khuẩn đường ruột, cạnh tranh dinh dưỡng với chúng,
tảo còn tiết ra một số chất kích thích cho sự phát triển của hệ vi sinh vật
hữu ích trong môi trường nước thải.
Như vậy quá trình trên luôn luôn diễn ra trong tự nhiên thành vòng tuần
hoàn lượng chất thải và vi sinh vật có hại thường xuyên được biến đổi và
loại ra khỏi môi trường nước. Đây chính là quá trình tự làm sạch nước
trong tự nhiên.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản