Đề cương môn: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Chia sẻ: phuthuyquyennang

Tài liệu tham khảo đề cương môn: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề cương môn: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Đề cương môn: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin.

I. Hàng hóa.
1. Hai thuộc tính của hàng hóa.
Câu 2: Có ý kiến cho rằng: “hàng hóa có giá trị vì nó có giá trị sử dụng, giá trị sử
dụng càng lớn thì giá trị càng cao”. Đó là ý kiến hoàn toàn sai. Để cm cho nhận
định rằng ý kiến trên sai ta đi phân tích 2 pham trù giá trị sử dụng và giá trị của
hàng hóa
Hàng hóa là sp của lao động, thỏa mãn được nhu cầu nào đó của con người thông
qua trao đổi hoặc mua bán
* Giá trị sử dụng của hàng hóa:
Giá trị của hàng hóa là công dụng của hàng hóa thỏa mãn nhu cầu nào đó của con
người. vd gạo dung để ăn vải dung để mặc..
Đặc trưng giá trị sử dụng của hàng hóa
- giá trị sử dụng – thuộc tính TN của vật quy định giá
- giá trị sử dụng thuộc phạm trù vĩnh viễn
- giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi tiêu dùng( tiêu dùng cho sx và tiêu dùng cho cá
nhân)
-Hàng hóa có thể có 1 hay nhiều công dụng
- hàng hóa ngày càng đa dạng phong phú, hiện đại và thuận tiện, là do nhu cầu đò
hỏi và KH công nghệ cho phép
- giá trị sử dụng của hàng hóa tạo thành nội dung của của cải vật chất và là cơ sở
để cân đối về mặt hiện vật
- giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sd xã hội vì giá trị sử dụng của hàng hóa ko
phải là giá trị sử dụng cho người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xh, thông
qua trao đổi mua bán. Điều đó đòi hỏi người sản xuất phải luôn luôn quan tâm đến nhu
cầu của xh, làm cho sp của mình đáp ứng được nhu cầu của xh
* giá trị của hàng hóa
Giá trị sử dụng của hàng hóa là vật mang giá trị trao đổi
Giá trị trao đổi là quan hệ tỉ lệ về lượng mà những GTSD khác nhau trao đổi với
nhau
VD: 1 cái rìu = 20kg thóc
Trong phương trình trao đổi trên có 2 câu hỏi đặt ra
+ 1 là tại sao rìu và thóc là 2 hàng hóa có giá trị sử dụng khac nhau lại trao đổi
được với nhau?
+ 2 là tại sao chúng lại trao đổi với nhau theo 1 tỉ lệ nhất định
Trả lời cho câu hỏi thứ nhất: 2 hàng hóa rìu và búa có thể trao đổi được với nhau
vì giữa chúng có cơ sở chung. Cơ sở chung đó ko thể là giá trị sử dụng của hàng hóa vì
công dụng của chúng khác nhau. Cơ sở chung đó là các hàng hóa đều là sp của lao động.
sp của lao đọng do lđ xh hoa phí để sx ra những hàng hóa đó
Trả lời cho câu hỏi thứ 2: thực chất các chủ thể trao đổi hàng hóa với nhau là trao
đổi lđ chứa đựng trong những hàng hóa đó
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 1
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Trong vd trên người thợ rèn làm ra cái rìu mất 5 h lao động, người nông đân làm ra
20kg thóc cũng mất 5h lao động. trao đổi 1 cái rìu lấy 20kg thóc thực chất là trao đổi 5h
sx ra 1 cái rìu lấy 5h sản xuất ra 20kg thóc. Lao động hao phí để sx ra hàng hóa là cơ sở
chung của trao đổi gọi là giá trị hàng hóa. Từ phân tích trên ta thấy:
Giá trị hàng hóa là lao động xh của người sx hàng hóa kết tinh trong hàng hóa
Đặc trưng của giá trị hàng hóa là:
- Giá trị hàng hóa là 1 phạm trù lịch sử, nghĩa là nó chỉ tồn tại ở những phương
thức sx có sx và trao đổi hàng hóa
- Giá trị hàng hóa là biểu hiện quan hệ sx, tức là những quan hệ kinh tế giữa
những người sản xuất hàng hóa. Trong nền kt h² dựa trên những chế độ tư hữu về tư
liệu sx, quan hệ kinh tế giữa người với người biểu hiện thành quan hệ giưa vật với
vật. hiện tượng vật thống trị người được gọi là sự sung bái hàng hóa, khi tiền tệ xuất
hiện thì đỉnh cao của sự sung bái này là sung bái tiền tệ
Về mặt phương pháp luận, ta đi từ gí trị trao đổi, nghĩa là đi từ hiện tượng bên
ngoài, từ cái giản đơn, dễ thấy để lần mò ra vết tích của giá trị, nghĩa là cái bản chất
bên trong của s, hiện tượng. giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị; giá trị
là nội dung, là cơ sở của trao đổi. giá trị thay đổi thì giá trị trao đổi cuang thay đổi theo.
Nghiên cứu 2 thuộc tính hàng hóa, chúng at rút ra được những phương pháp luận
sau:
- hàng hóa (thông thường hay dặc biệt) đều có 2 thuộc tính là giá trị và giá trị sử
dụng. thiếu 1 trong 2 thuộc tính thì không phải là hàng
- 2 thuộc tính của hàng hóa là sự thống nhất trong mâu thuẫn.
Thống nhất vì nó cùng 1 lao động sản xuất ra hàng hóa, nhưng lao động sx ra
hàng hóa lại có tính chất 2 met. lđ cụ thể tạo ra giá trị sử dụng; lđ trừu tượng tạo ra giá
trị của hàng hóa.
Hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị đối lập với nhau, biểu hiện của sự đối lập
giữa chúng là:
- Thứ nhất, người sx ra hàng hóa có gtsd nhất định. Nhưng trong kinh tế hàng hóa,
người sx tạo ra gtsd ko phải cho mình mà cho người khác, cho xh. Mục đích sx của họ
ko phải gtsd mà là gt, lf tiền tệ là lợi nhuận. cho dù người sx sx ra đồ chơi trẻ em hay
thuốc chữa bệnh thì đối với họ điều đó không quan trọng, mà điiều quan trọng là những
hàng hóa đó đem lại cho họ bao nhiêu tiền tệ, bao nhiêu lợi nhuận
Đối với người tiêu dùng, người mua, mục đích của họ là GTSD, nhưng để có đc
GTSD nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của họ thì họ phải trả giá trị, trả tiền tệ cho
chủ của nó. Như vậy ng sx, ng bán cần tiền còn ng mua, ng tiêu dùng cần hàng. Qúa
trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa là 2 quá trình khác nhau ko diễn ra
đồng thời. Muốn thực hiện giá trị của hàng hóa phải trả tiền cho người sd… Như vậy,
>< giữa 2 thuộc tính của hàng hóa và giải quyết >< đó làm cho các chủ thể kt và nền kt
năng động và linh hoạt, suy đến cùng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kt , nâng cao đ/s
nd ở trình độ văn minh hơn.
- Thứ hai, hàng hóa sx đến tiêu dùng ko đồng nhất với nhau về thời gian và ko
gian. Đvới ng sx đó là thời gian vốn nằm trong hàng hóa, chưa bán đc để thu tiền về đẻ
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 2
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
tái sx tiếp tục. Lãi ngân hàng chưa trả đc; nguy cơ hàng hóa bị hao mòn vô hình, chưa kể
đến phải bảo quản, kiểm kê, chứa đựng khả năng khủng hoảng kt … Đv người tiêu
dùng chưa mua đc hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu, hơn nữa thời gian cần có hàng hóa ko
dc đáp ứng…Nghĩa là qtr thực hiện giá trị và GTSD khác nhau về t/g và ko gian. Muốn
xích lạ thời gian và ko gain giữa ng sx và ng tiêu dùng, các chủ thể kt tìm mọi cách, mọi
biện pháp, như hợp đồng kt, lien doanh, lk mở rộng mạng lưới sx và tiêu thụ và các
phương pháp bán hàng phù hợp.
- Thứ ba, trong kt h² được sx ra có thể bán được hay ko bán được. Nếu hàng hóa
bán được, >< giữa 2 thuộc tính đc giải quyết và ngược lại.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
Chúng ta đang trong thời kì phát triển KTTT, kt h². Hàng hóa sx ra để bán chứ ko
phải để tự tiêu dùng. Do đó:
Đối với người sx khi luôn mong muốn thu đc nhiều lợi nhuận phải quan tâm đến
2 thuộc tính của hàng hóa. Tức là phải làm ra nhiều hàng hóa, phong phú vè chủng loại,
công dụng ngày càng nhiều, từ đó để giảm giá giá trị hàng hóa để thu hút ng mua, tăng
sức cạnh tranh. Bằng cách cải tiến quy trình KT càng hiện đạii, nâng cao trình độ cho
ng lđ, đổi mới tổ chức quản lí sx.
Đối với ng tiêu dùng, khi chỉ quan tâm đến giá trị sd thì phải trả trị cho người sở
hữu. Từ đó phải có biện pháp để tăng thu nhập, tăng khả năng thanh toán.
2. Tính 2 mặt của lđsx hàng hóa.
Hàng hóa có 2 thuộc tính không phải do có 2 thứ lđ khác nhau kết tinh trong nó,
mà là do l đ của người sx h2 có t/c 2 mặt: vừa mang t/c cụ thể ( l đ cụ thể), lại vừa
mang t/c trừu tượng(l đ trừu tượng). C. Mac là người đầu tiên phát hiện ra t/c 2 mặt đó.
* L đ cụ thể:
Lđ cụ thể là l đ có ích dưới dạng 1 hình thức cụ thể của những nghề nghiệp
chuyên môn nhất định.
Mỗi l đ cụ thể có thể có m đ, ph2 công cụ l đ , đối tượng l đ và kq l đ riêng. Chính
những cái riêng đó phân biệt các loại l đ cụ thể khác nhau. Chẳng hạn, l đ của người
thợ may và l đ của người thợ mộc là 2 loại l đ cụ thể khác nhau, l đ của người thợ may
có m đ là làm ra quần áo chứ o phải là bàn ghế; còn ph2 là may chứ ko phải bào của; có
công cụ l đ là kim, chỉ, máy may chứ ko phải là cái cưa, cái bào…; và l đ của người thợ
may thì tạo ra quần áo để mặc còn l đ của người thợ mộc thì tạo ra ghế để ngồi…
Điều đó có nghĩa là : l đ cụ thể tạo ra g trị sd của h2.
Trong xh có nhiều loại h2 với những GTSD khác nhau là do có nhiều loại l đ cụ
thể khác nhau. Các l đ cụ thể hợp thành hệ thống phân công l đ xh. Cùng với sự phát
triển của KH-KT, các hình thức l đ phân công l đ xh. Cùng vói sự phát triển của KH-KT,
các hình thức l đ cụ thể ngày càng đa dạng, phong phú nó phản ánh trình độ phát triển
của phân công l đ xh. GTSD là phạm trù vĩnh viễn vì vậy l đ cụ thể cũng là phạm trù
vĩnh viễn tồn tại gắn liền với vật phẩm, nó làm một đ k ko thể thiếu (.) bất kì hình thái
kt-xh nào.
L đ cụ thể không phải là nguồn gốc duy nhất của GTSD do nó sx ra. GTSD của
các vật thể h2 bao giờ cũng do 2 nhân tố hợp thành: vật chất và l đ. L đ cụ thể của con
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 3
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
người chỉ thay đổi hình thức tồn tại của v/c, làm cho nó thích hợp với nhu cầu của con
người mà thôi.
* Lđ trừu tượng.
L đ trừu tượng là l đ của người sx h2 khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của
nó, hay nói cách khác, đó chính là sự tiêu hao sức l đ( tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh)
của người sx h2 nói chung.
L đ của người thợ mộc và l đ của người thợ may, nếu xét về mặt l đ cụ thể thì
hoàn toàn khác nhau, nhưng nếu gạt bỏ tất cả những sự khác nhau ấy sang 2 bên thì
chúng chỉ còn có 2 cái chung, đểu phải tiêu hao sức óc, sức bắp thịt và sức thần kinh của
con người. L đ trừu tượng chính là l đ hp đông chất của con người.
Chính lđ trừu tượng của người sx h2 mới tạo ra g trijcuar h2. Như vậy, có thể nói,
g trị của h2 là lđ trừu tượng của người sx h2 kết tinh (.) h2 . Đó cũng chính là mặt chất
của GT h2. Vì vậy, Lđ trừu tượng là 1 phạm trù l sử riêng có của sx h2.
Tính chất 2 mặt cảu lđ sx h2 p/á t/c tư nhân và t/c xh của l đ của người sx h2.
Như trên đã chỉ ra, mỗi người sx h2 sx cái j, sx ntn là viêc riêng của họ. Vì vậy, l đ
đó mang t/c tư nhân và l đ cụ thể của họ là biểu hiện của l đ tư nhân.
Đòng thời, l đ của sx h2 là l đ xhvì nó là 1 bộ phận của toàn bộ l đ xh trong hệ
thống phân công l đ xh. Phân công l đ xh tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa người và
người sxh2. Họ làm việc cho nhau, thông qua trao đổi h2. Việc trao đổi h2 o thể căn cứ
vào l đ cụ thể mà phải quy l đ cụ thể về l đ chung đồng nhất – l đ trừu tượng. Do đó, l đ
trừu tượng là biểu hiện của l đ xh.
Giữa l đ tư nhân và l đ xh có >< vói nhau >< đó dược biểu hiện cụ thể trong 2 TH
sau:
- Sp do những người sx h2 riêng biệt tạo ra có thể ko ăn khớp với nhu cầu của xh(
hoặc o đủ để cung cấp cho xh hoặc vượt quá nhu cầu của xh…) khi sx vượt quá nhu
cầu của xh, sẽ có 1 số h2 o bán được tức o thực hiện được giá trị.
- Mức tiêu hao l đ cá biệt của người sx h2 cao hơn so với mức tiêu hao mà xh có
thể chấp nhận khi đó h2 cũng không bán được hoặc bán được nhưng ko thu hồi đủ chi
phí l đ bỏ ra.
>< giữa l đ tư nhân là l đ xh là mầm mống của mọi >< trong nền sx h2. Chính vì
những >< đó mà sx h2 vừa vận động phát triển, vừa tiềm ẩn khả năng khủng hoảng.
3. Lượng giá trị hàng hoá
Câu 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới lượng GT h2. Ý nghĩa ph2 luận
* Gtrị h2 là lđ của người sx h2 kết tinh (.) h2. Lg GT h2 do lg lđ hp để sx ra h2
quyết định lg lđ hp đc tính theo t/g lđ (phút; giờ; ngày; tháng)
Có nhiều người cùng sx 1 h2. do đk sx khác nhau, tay nghề, chuyên môn, năng
suất lđ … ko giống nhau, vì thế, hp lđ cá biệt tạo thành gtrị xh. Gt xh o được tính bằng t/
g lđ cá biệt mà được tính = t/g lđ xh cần thiết.
T/g lđ xh cần thiết là t/g cần để sx 1 h2 (.) đk sx TB, với trình độ thành thạo TB
và 1 cường độ lđ TB. Trong thực tế, t/g lđ xh cần thiết là t/g lđ cá biệt của người sx
cung cấp đại bộ phận h2 trên TT qđ:
Cơ cấu lg gtrị h2 gồm 3 bộ phận
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 4
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
w=C+v+m
trong đó: w:gtrị
c: gtrịTLSX đa hp, bao gồm
c1: khấu hao gtrị máy móc thiết bị
c2: gtrị ng, nhiên vliệuđã hp
v: gtrị sức lđ hay tiền lương
m: gtrị của sp thặng dư
Hay cơ cấu gtrị bgồm 2 bộ phận :
Gtrị cũ (c)+gtrị mớí(v+m)
* Những nhân tố ảnh hưởng đến gtrị h2…
T/g lđ xh cần thiết là 1 đại lượng ko cố định. Thước đo diễn biến thì lg gtrị h2
diễn biến. Lg gtrị h2 phụ thuộc vào các nhân tố cơ bản sau:
1, Năng suất lđ
Năng suất lđ là năng lực sx của người lđ nó được tính bằng số lượng sp sx ra
trong 1 đv t/g hay t/g hp để sx ra 1 đv sp
Các chỉ tiêu tính năng suất l đ, năng suất lđ cá nhân, năng suất lđ tập thể( nhóm),
và quan trọng nhất là năng suất lđ xh. Năng suất lđ kế hoạch và năng suất lđ thực tê;
năng suất lđ tính bằng hiện vật và = tiền tệ.
Đến lượt mình năng suất lđ phụ thuộc vào 5 cụm nhân tố cơ bản sau:
- Trình độ người lđ( sức khoẻ, năng lực, trình độ, kinh nghiệm…)
- Phạm vi t/d của TLSX.
- Sự phát triển của KH công nghệ và ứng dụng chúng vào sx.
- Đk tự nhiên.
Tuỳ đk và h/c cụ thể, muốn nâng cao năng súât lđ, cần tận dụng tất các nhân tố
trên
Lg gtrị h2 TLT với t/g lđ sx ra h2, nghĩa là t/g lđ càng dài thì gtrị h2 càng lớn; ngựoc lạu,
lượng giá trị h2 TLN với năng suất lđ. Nghĩa là năng suất lđ càng cao thì tổng gtrị( tổng
chi phí sx h2) ko dổi, nhưng lượng gtrị 1 hàng hoá càng giảm, nghĩa là gtrị h2: c+v+m
giảm xuống, trong đo c( gtrị TLSX đã hp) có thể tăng, giảm hoạc giữ nguyên của c.
2, Cường độ lđ.
Cường độ lđ là đại lg chỉ mức độ hp sức lđ (.) 1 đv t/g. Nó cho thấy mức độ khẩn
trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lđ.
Tăng cường độ lđ về thực chất cũng giống như kéo dài ngày lđ. Vì vậy, tăng
cường độ lđ thì tổng gtrị của h2 tăng lên, nhưng gtrị 1 h2 ko đổi.
So sánh năng suất lđ và tăng cường độ lđ :
- Giống: chúng đều dẫn đến lg sp sx ra (.) 1 đv t/g tăng lên.
- Khác:
+ Tăng năng suất lđ làm cho lg sp (h2) sx ra (.) 1 đv t/g tăng lên, nhưng làm cho gtrị
của 1 đv h2 giảm xuống. Hơn nữa, tăng năng suất lđ có thể phụ thuộc nhiều vào máy
móc, kĩ thụât, do đó, nó gần như là 1 yếu tố có “ sức sx” vô hạn.


Email: wizard_try@yahoo.com.vn 5
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
+ Tăng cường độ lđ, làm cho lg sp tăng lên (.) 1 đv t/g nhưng gtrị của 1 đv h2 o
đổi. Hơn nữa tăng cường độ lđ phụ thuộc nhiều vào thể chất và tinh thần ngừoi lđ, do
đó, nó là yếu tố của sức sx có gh nhất định.
 Tăng năng suất lđ có ý nghĩa tích cực hơn đv sự phát triển kt.
3. Mức độ phức tạp của lđ.
Một h2 nào đó có rất nhiều người sx. Nhưng đk, trình độ, tay nghề o giống nhau.
Lđ giản đơn và lđ phức tạp là thứoc đo để phân bịêt sự khác nhau đó.
Lđ giản đơn là lđ của người sx chỉ cần có sức lđ, o được đào tạo ( lđ phổ thông). Trong
1 dsdv t/g lđ giản đơn tạo ra 1 lg gtrị h2 rất nhỏ.
Lđ phức tạp là lđ của người sx được học tập, đào tạo có trình độ chuyên nghiệp
vụ nhất định, trong 1 đv t/g nó tạo ra 1 lg GT h2> lđ giản đơn. Trong trao đổi, người ta
lấy lđ giản đơn TB làm đv tính toán và quy tất cả lđ phức tạp thành lđ giản đơn trung
bình cần thiết.
• Ý nghĩa phương pháp luận.




II. QUY LUẬT GIÁ TRỊ.
Câu 5: Phân tích nội dung và tác động của quy luật giá trị. Ý nghĩa.
1. Nội dung và tác động.
Quy luật gtrị là qluật kt cơ bản của sx và lưu thông hàng hoá. Ở đâu có sx và trao
đỏi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác động của quy luật gtrị.
Những yêu cầu của qluật gtrị:
Thứ nhất, theo qluật này sx hàng hoá được thực hiện theo hao phí lđ cần thiết,
nghĩa là tiết kiệm lđ (cả lđ QK và lđ sống) nhằm : đvới 1 hàng hoá, gtrị của của ó phải
nhỏ hơ oặc bằng thời gian lđ xh cần thiết để sx ra hàng hoá đó, tức là giá cả thị trường
của hàng hoá. Cụ thể là hao phí lđ tạo thành gtrị cá biệt của hàng hoá phải nhỏ hơn giá
cả của nó thì ngwoif sx có lãi, nếu = thì hoà vốn, nếu hp lđ cá biệt > giá cả thị trường
thì bị lỗ. ĐV nhiều hàng hoá, thì tổg số hplđ sx ra tổng số hàng hoá phải phù hợp với
quy mô nhu cầu có khả năng thanh toán của xh, hay sức mua của đồng tiền.
Thứ hai, trong trao đổi phải theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa là phải đảm bảo bù
đắp được chi phí cho người sx (tát nhiên chi phí đó phải dựa trên cơ sở thơid gian lđ xh
cần thiết, chứ ko phải bất kì chi phí cá biệt nào) và đảm bảo có lãi để táo sx mở rộng.
Sự vận động của qluật gtrị thông qua sự vận động của giá cả của hàng hoá.
Gía cả tách rời gtrị, lên xuống xoay quanh gtrị lấy gtrị làm cơ sở. Thông qua sự
hoạt động của giá cả thị trường sẽ thấy được sự hoạt động của quy luật gtrị. Gía cả là
sự biểu hiện bằng tiền của gtrị hàng hoá. G/cả là phạm trù trung tâm của kt hàng hoá, là
phong vũ biểu trong nền kt, nó có chức năng thông tin, tính toán gtrị hàng hoá, là mênh
lệnh đối với người sx và tiêu dùng. Cơ chế tác động của quy luật gtrị phát sinh tác động

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 6
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
trên TT thông qua cạnh tranh, cung cầu, mua bán, giá cả, sức mua của đồng tiền... làm
cho các chủ thể kt và nền kt vận động, phát triển.
* Tác động của quy luật giá trị:
Thứ nhất, tự phát điều tiết sx và lưu thông hàng hoá.
Tự phát điều tiết sx thông qua qhệ cung cầu và g/cả trên TT.
- Cung < cầu => giá cả > gtrị, nghĩa là hàng hoá sx có lãi, g/cả cao hơ gtrị kích
thích mở rộng và đẩy mạnh sx để tăng cung; ngược lại, cầu giảm vì gía tăng.
- Cung > cầu, sp sx ra quá nhiều so với nhu cầu, g/cả < gtrị, sx ko có lãi. Thực tế
đó buộc người sx phải quyết định gừng hoặc giảm sx; ngược lại, giá giảm kích thích
tăng cầu, tự nó là nhân tố làm cung tăng.
- Cung cầu tạm thời cân bằng, g/cả = gtrị. Trên bề mặt kt, người ta thường gọi đó
là bão hoà. Khi nhân tố cung cầu, g/cả biến động, thì qhệ cung cầu và g/cả cũng biến
động theo. Sự tác động trên của qluật gtrị tự phát dẫn đến sự di chuyển sức lđvà TLSX
vào hàng hoá có lãi cao.
- Điều tiết lưu thông: thông qua cơ chế cung cầu và giá cả mà nguồn hàng, luồng
hàng, mặt hàng, chủng loại hàng... được khơi thông, khơi sâu hay tắc nghẽn. Dòng chảy
của hàng hoá từ nơi giá thấp đến nơi giá cao, từ nơi có nhiều hàng đến nơi có ít hàng,
nghĩa là quy luật gtrị điều tiết lưu thông hàng hoá trên thị trường.
Thứ hai, tự phát kích thích LLSX phát triển.
Phần trên chúng ta dã n/c các nhân tố ảnh hưởng đến lượng GT hàng hoá, đã luận
giải là: khi NS lđ tăngthì khối lượng sp tăng, gtrị 1 đv h² sẽ giảm, con khi giá cả giảm
thì kích thích cầu tăng, hàng hoá bán được nhiều hơn, tổng lợi nhuận thu được nhiều
hơn. Việc nâng cao NS lđ phụ thuộc vào 5cum nhân tố trên, trong đó 3 nhân tố đầu
thuộc về những nhân tố phát rtiển LLSX. Nói cách khác, người sx phải tìm mọi cách để
nâng cao năng suất lđ cá biệt, giảm gtrị cá biệt so với gtrị xh của hàng hoá, để thu lợi
nhuận siêu ngạch. Muốn vậy, người lđ luô luôn nâng cao trình độ, tay nghề, chuyên
môn, nghiệp vụ. DN AD KH, CNghệ mới vào sx.. tức là làm cho các nhân tố của LLX
phát triển.
Thứ ba, tự phát bình tuyển, phân hoá và phát sinh QHSX TBCN.
Kt hàng hoá với cơ chế thị trường tự nó bình chuyển, sàng lọc yếu tố người của
nền kt. ĐV ng lđ, cạnh trnh và yêu cầu cua sx kinh doanh đòi hỏi tự hoàn thiện mình
toàn diện, nếu không sẽ bị đào thải. Đv giám đốc, với bạn hàng, với đối tác, quy luật
gtrị chon lọc khắt khe tuân theo nguyên lí của kt TT là “ ai là ai là ai cũng như ai”. Sự tác
động của quy luật tất yếu lựa chọn những người đứng vững và chiến thắng trong cạnh
tranh sẽ trở thành các ông chủ giàu có; ngược lại, những người những ng những DN bị
cạnh tranh loại bỏ ko tránh khỏi phá sản nghèo đi.
2. Ý nghĩa phương pháp luận.
Quy luật giá trị có giá trị tích cực đối với nền kt, thể hiện ở chỗ nó buộc các chủ
thể kinh tế phải năng động, sáng tạo trogn sx, kinh doanh; phảìm cách nâng cao năng
suất lđ các biệt, giảm chi phí sx đẻ hạ giá thành sp; tìm đến ngành, lĩnh vực có lợi thế
cho mình đến mặt hàng có nhiều ng cần. Dưới tác động của qluật gtrị buộc các chủ thể
phải cạnh tranh với nhau, điều này làm cho LLSX ngày càng phát triển, kích thích toàn
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 7
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
bộ kĩ thuât và công nghệ. Qluật còn có tđbình tuyển ng sx, nhờ đó chọn ra ng sx có năng
lực, tài kd, biết làm giàu, đồng thời loại bỏ những ng kém cỏi, buộc ng kém cỏi phải
tích cực hơn nếu ko muốn trở thành nghèo khó. Từ đó chúng ta cần tôn trọng và phát
huy vai trò tự điều tiết của qluật gtrị để phân bổ các nguồn lực của xh cho các ngành,
lĩnh vực 1 cách hợp lí, linh hoạt và có hiệu quả, xd các vùng kt chuyên môn hoá, lựa
chọn việc đổi mới công nghệ, định hướng đào tạo nguông lực, đẩy CNH-HĐH và thúc
đẩy phát triển nền kt thị trường.
Tuy nhiên, QL gtrị cũng có nhiều tđ tiêu cực. Đó là, tình trạng cạn kiệt tài nguyên,
ô nhiễm môi trường, làm mất cân bằng sinh thái, khủng hoảng kt, các bệnh kt khác có
cơ hội phát triển, sự bất bình về thu nhập trong xh, tác đọng tiêu cực làm ảnh hưởng
đến tiến bộ xh. Đồng thời, còn có khủng hoảng thừa nếu ng sx tự do điều tiết sx 1 cách
bừa bãi; sd thủ đoạnn trong kd; hàng nhái, kém chất lượng xh trên TT. Bởi vậy, để phát
triển kt, thúc đẩy xh, nhà nước phải ngăn ngừa, khắc phục những mặt tiêu cực của no.
Đối với VN, chúng ta đang phát triển cơ chế thị trường định hướng XHCN thì
việc tồn tạicủa qluật gtrị là tất yếu KQ, vì vậy mà ta phải thừa nhận sự tồn tại và hoạt
động của ql gtrị, phải nc kĩ lưỡng, sâu sắc ql gtrị và chủ đọng vận dụng 1 cách sáng tạo,
có ý thức để đạt hiệu quả KT-XH cao.
- Với mỗi DN cần phải phấn đấu phát triển NSLĐ để giảm hao phí lđ cá biệt.
Bằng cách nâng cao trình độ tổ chức, quản lí, đầu tư các trang thiết bị hiện đại vào sx
nhằm nâng cao NSLĐ, nâng cao tay nghề ng công nhân, thực hành tiết kiệm...
-Với nhà nước, phải tăng cường cường vai trò của nhà nước đối với nền kt hàng
hoá để khuyến khích những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của ql gtrị.

III. Sự chuyển hóa của tiền thành tư bản.
1. Công thức chung của TB.
Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông h2, đồng thời cũng là hình thức biểu hiện
đầu tiên của TB. Mọi TM lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái 1 số tiền nhất định.
Nhưng bản than tiền o phải TB. Tiền chỉ biến thành TB (.) những đk nhất định, khi
chúng được sd để bóc lột l đ của người khác.
Sự vận động của đồng tiền thông thường và đồng tiền là TB có sự khác nhau hết
sức căn bản.
Trong lưu thông h2 giản đơn thì tiền được coi là tiền thông thường, vận động
theo CT: H – T –H, nghĩa là sự chuyển hóa của h2 thành tiền, rồi lại thành h2. Ở đây
tiền không phải là TB mà nó chỉ là tiền tệ thông thường đúng nghĩa của nó. Người sản
xuất h2 bán h2 của mình để lấy tiền tệ, ròi lại dung tiền tệ đó để mua 1 h2 khác phục
veuj cho những nhu cầu TD nhất định của mình. ở đây tiền tệ chỉ là phương tiện để đạt
tới m đ bên ngoài lưu thông.
Còn tiền được coi là TB, thì vận động theo CT: T – T – T tức là sự chuyển háo
của tiền thành h2, rồi h2 lại chuyển ngược lại thành tiền
So sánh 2 công thức:


Email: wizard_try@yahoo.com.vn 8
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Điểm giống nhau của 2 CT lưu thông nói trên là đều cấu thành bởi 2 yếu tố H và
T: đều chứa đựng 2 hành vi đối lập nhau là mua và bán; đều biểu hiện q hệ kt giữa
người mua và người bán.
Điểm khác nhau giữa 2 CT đó là: L T h2 giản đơn bắt đầu bằng hvi bán ( H – T)
và kết thúc bằng hvi mua (H – T); điểm xuất phát và điểm kết thức đều là h2, tiền chỉ
đóng vai trò trung gian, mđ là GTSD. Ngược lại, LT cảu TB bắt đầu = hvi mua ( T- H)
và kết thúc bằng hvi bán ( H- T); tiền vừa là điểm xuất phát vừa là diểm kết thúc, còn
h2 đóng vai trò trung gian… M đ của lưu thông TB là g trị và g trị lớn hơn. TB vận động
theo CT: T- H –T’, trong đó T’=T+ ΔT; ΔT là số tiền trội hơn hẳn được gọi là GTTD và
kí hiệu bằng m. Còn số tiền ứng ra ban đầu với m đ thu được GTTD trở thành TB. Như
vậy, tiền chỉ biến thành TB khi được dung để mang lại GTTD cho nhà TB. CT: T- H –T’
với Tơ= T+m
Được gọi là CT chung của TB. Mọi TB đều vận động như vậy nhằm mang lại GTTD.
Như vậy, TB là tiền tự lớn lên hay g trị sinh ra trong lưu thông. Vậy có phải do
bản chất cảu sự LT đã làm cho tiền tăng them và do đó hình thành GTTD hay không
Nếu mua – bán ngang giá thì chỉ có sự thay đổi về hình thái của gtrị: từ tiền thành
H hoặc từ H thành T. Còn tổng số g trị trong tay mỗi người tham gia trao đổi trước sau
vẫn không thay đổi. Trong TH trao đổi không ngang giá, hàng hóa có thể bán cao hơn
hoặc thấp hơn g trị. Nhưng trong nền kt hàng hóa, mỗi người sx đều vừa là người bán
vừa là ngươi mua . Cái lợi mà họ thu được là khi bán sẽ bù lại cái thiệt khi mua hoặc
ngược lại. Trong trường hợp có kẻ chuyên mua rẻ bán đắt thì tổng g trị toàn xh o hề
tăng lên, bởi vì số g trị mà những người này thu được chẳng qua chỉ là sự ăn chặn, đánh
cắp số g trị của ngưới khác mà thôi.
Như vậy, lưu thông và bản than tiền tệ trong lưu thông không hề tạo ra g trị.
Nhưng nếu người có tiền không tx gì với LT, tức là đứng ngoài LT thì cũng không
thể làm cho tiền tệ của mình lớn lên được.
“ Vậy là TB o thể xh từ LT và cũng không thể xh ở bên ngoài LT. Nó phải xh
trong LT và đồng thời o phải trong LT. Đó là >< của CT chung TB”. C. Mác là người
đầu tiên phân tích và giải quyết >< đó bằng lí luận về h2 sức lđ.
2. Hàng hoá sức lđ.
Câu6: Hãy CM sức lđ là 1 hàng hoá đặc biệt? Ý nghĩa của việc nc vấn đề
này.
“ Tư bản ko thể xuất hiện từ lưu thông và cũng ko thể xuất hiện ở bên ngoài lưu
thông. Nó phỉa xh trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông. Đó là mâu
thuẫn của công thức chung của TB. Để giải quyết mâu thuân đó, cần tìm trên thị trường
1 loại hàng hoá mà việc sd nó có thể tạo ra được giá trị lớn hơn giá trị củabản than nó.
Hàng hoá đó là h2 sức lđ.
Sức lđ là toàn bộ những thế lực và trí lựcở trong than thể 1 con người, trong nhân
cách sinh động của con người , thể lực và trílực mà con người phải làm cho hđ để sx ra
những vật có ích.
Sức lđ là cái có trước, còn lđ chính là qtrình sd sức lao động. Sức llđ khác với lđ
mới chỉ là khả năng của lđ còn lđ là sự tiêu dùng lđ trong hiện thực.
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 9
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Qtrình sx là qtrình kết hợp của 3 yếu tô sức lđ, đói tq lđ, tư liệu lđ. Trong đo, sức
lđ giữ vai trò là yếu tố cơ bản và qtrọng nhất.
Sức lđ là yếu tố quan trọng nhất nhưng không phải lúc nào sức lđ cũng trở thành
h2. Sức lđ chỉ trở thành h2 khi có 2 điều kiện sau.
- Thứ nhất, người lđ phải được tự do về than thể, có quyền sở hữu sức lđ của
mình và chỉ bán sức lđ ấy trong 1 t/g nhất định.
- Thứ 2, người lđ có TLSX cần thiết để tự mình đứng ra tổ chức sx nên muốn
sống chỉ còn cách bán sức lđ cho người khác sd
Việc sức lđ trở thành h2 đánh dấu 1 bước ngoặt CM(.) ph thức kết hợp người lđ
với TLSX là 1 bước tiến lsử so với chế độ nô lệ và pk. Sự bình đẳng về hình thức giữa
ngừoi sở hữu sức lđ với người sở hữu TB che đậy b/c của CNTB chế độ được xd trên
sự đối kháng lợi ích kt giữa TB và lđ( b/c phát triển mới của lịch sử từ PTSX pk chuyển
sang PTSXTBCN, là đk quyết định để tiền chuyển hoá thành TB, là người gốc tạo ra
GTTD)
Giống như mọi h2 khác, h2 sức lđ cũng có 2 thuộc tính: gtrị và gtrị sd.
* Gtrị h2 sức lđ cũng do số lượng lđ xh cần thiết để sx và tái sx ra nó quyết định
Nhưng sức lđ chỉ tồn tại như năng lực sống của con người. Muốn tái sx ra năng
lượng người CN phải tiêu dùng 1 lượng TL sh nhất định về ăn, ở,mặc, học nghề …
Ngoài ra người lđ cần ophả TM những nhu cầu của gđ và con cái anh ta nữa. Chỉ có như
vậy, thì sức lđ moíư được sx và tái sx ra 1 cách liên tục. Tức là, gtrị sức lđ đc quy về gtrị
của toàn bộ các TLsh cần thiết để sx và tái sx sức lđ để duy trì đ/s của người CN làm
thuê và gia đình họ.
Là h2 đặc biệt, gtrị h2 sức lao động khác với h2 thông thường ở chỗ nó bao hàm
cả ýêu tố tinh thần và yếu tố lsử, phụ thuộc vào h/c lsử của từng nước. từng thời kì,
phụ thuộc vào tình độ văn minh đã đạt được, vào đk lsử hình thành g/c CN và cà đk địa
lí, KH.
Lưong gtrị h2 sức lđ do những bộ phận sau hopự thành.
- Một là, grtị những TL sh về v/c và tịnh thần cần thiết đẻ tái sx sức lđ, duy trì đ/s
của bản thần người CN;
- Hai là, phí tổn đào tạo người CN.
- Ba là, gtrị những TL sh v/c và tinh thần cần thiết cho con cái người CN.
Gtrị sức lđ biến đổi trong từng thời kì nhất định do: sự tăng nhu cầu TB của xh
về h2 dvu, về học tập, nâng cao trình độ lành nghề đã làm tăng gtrị sức lđ và sự phát
triển NSlđ xh làm giảm gtrị sức lđ.
* Gtrị sd của h2 sức lđ: thể hiện ở qtrình tiêu dùng(sd) sức lđ, tức là qtrình lđ để
sx ra 1 h2, dvụ nào đó.
Tuy nhiên, qtrình sd hay tiêu dùng h2 sức lđ khác với qtrình tiêu dùng hay sd h2
thông thường ở chỗ: h2 thông thường sau qtrình tiêu dùng hay sd thì cả grtị lẫn gtrị sd
đều tiêu biến theo t/g. Trái lại, qtrình tiêu dùng h2 sức lđ, đó lại là qtrình sx ra 1 loạt
hàng h2 nào đó, đồng thời là qtrình tạo ra gtrị mới lớn hơn gtrị của bản than h2 sức lđ.
Phần lớn hơn, dôi ra đó là GTTD mà nhà TB sẽ chiếm đoạt. Như vậy, GT sd của h2 sức

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 10
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
lđ có t/c đặc biệt, nó là nguồn gốc sỉnha gtrị, tức là nó có thể tạo ra gtrị mới> gtrịcủa
bản thân nó.
Đó chính là đ2 riêng có của gtrị sd của h2 sức lđ. Đ2 này là chìa khoá để giải
quyết mâu thuẫn (.) CT chung của TB. Chính đ2 này đã làm cho sự xh của h2 sức lđ trở
thành đk để tiền tệ chuyển thành tư bản.
* Ý nghĩa của việc n/c vđề này
N/c vđề này ta xđ đc rằng nguồn gốc đích thực tạo ra GTTD là lđ của người CN
ko đc trả công hay h2 sức lđ. Bởi vì h2 sức lđ có thể tạo ra 1 lg gtrị mới > gtrị bản thân

Bản chất bóc lột của CNTB đc bộc lộ bởi nhà TB đã chiếm đoạt o công phần GT
dôi ra mà người CN tạo ra.
H2 sức lđ là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn(.) CT chung cuả TB.
Lí luận h2 sức lđ là lí l uận hết sức cơ bản trong học thuýêt GTTD, nhờ đó mà
Mác đã xd học thuyết GTTD 1 cách KH. Lí l uận này vạch rõ bác bỏ những quan niệm
sai lầm nhằm bvệ và che dấu sự bóc lột của TB đv người lđ.
Khi sức lđ trở thành h2, nó boá hiệu 1 gđ mới của sự phát triển xh. Đó là gđ sx h2
đã phát triển cao và chiếm địa vị thống trị (.) nền kt.
Lí luận h2 sức lđ còn vạch rõ b/c của tiền công dưới CNTB.
Sức lđ là h2 đặc biệt vì vậy ta phải có cơ ché chính sách đặc biệt để sd nó có
hiệu quả. VD: DN...phải

IV.Quá trình sản xuất GTTD.
Mục đích của sx TBCN không phải là GTSD, mà là gtrị, hơn nữa, cũng không
phải là gtrị đơn thuần mà là GTTD. Nhưng để sx GTTD trứoc hết nhà TB phải sx ra 1
GTTD. Nhưng để sx GTTD trước hết nhà TB phải sx ra 1 GTSD nào đó, vì FTSD là vật
mang gtrị trao đổi và GTTD.
Vậy, qtrình sx TBCN là sự thống nhất giữa qtrình ra GTSD và qtrình sx ra GTTD.
C.Mác viết: “Với tư cách là sự thống nhất giữa qtrình lđ và qtrình tạo ra gtrị thì qtrình lđ
và qtrình làm tăng gtrị thì qtrình sx là 1 .qtrình sx TBCN, là hình thái TBCN của nền sx
h2”
Qtrình sx (.) xí nghiệp TB đồng thời là qtrình nhà TB tiêu dùng sức lđ và TL sx mà
nhà TB đã mua, nên nó có các đ2: một là, công nhân làm việc dưới dự kiểm soát của nhà
TB; hai là sp làm ra thuộc sở hữu của nhà TB.
Vậy làm thế nào nhà TB có được GTTD?
Giả sử đê chế ra 1kg sợi, nhà TB phải ứng ra số tiền 20 ngàn đv tiền tệ mua 1 kg
bong, 3 nàgn đv cho hao phí máy móc và 5 ngàn đv mua sức lđ của CN điều khiển máy
móc trong 1 ngày (10h). Giả định vịêc này mua đúng giá trị, mỗi giờ lđ ssống của CN tạo
ra gtrị mới kết tinh vào sp là 1000đv.
Trong quá trình sx, bằng lđ cụ thể, CN sd máy móc để chuyển 1kg bong thành 1kg
sợi, theo đó gtrị của bông và hao mòn máy móc cũng chuyển vào sợi. Gỉa định trong 5h
CN đã kéo xong 1kg bong thành 1 kg sợi, thì gtrị 1kg sợi được hình tính theo các khoản
sau:
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 11
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
+ Gtrị 1 kg bong chỉ vào =20.000đ
+ hao mòn máy móc =3.000đ
+ Gtrị mới tạo ra ((.) 5 h lđ phần này vừa de bù đắp gtrị sức lđ)
=5.000đ
Tổng: 28.000đv
Nếu quá trình lđ dừng ở đây thì nhà TB chưa có đựoc GTTD
Thời gian lđ(5h) mà ngừoi CN tạo ra 1lượng gtrị ngang với gtrị sức lđ của mình
gọi là t/g lđ tất yếu và lđ (.) khoảng thời gian ấy gọi là lđ tất yếu.
Nhưng nhà TB đã mua sức lđ (.) 10h(1ngày) chức o phải 5h( hợp đồng lđ giữa CN
và nàh TB theo ngày công 10h nên nhà TB có quyền sd sức lđ của CN (.)10h). Trong 5h
lđ tiếp, nhà TB chi them 20.000 đv để mua 1 kgh bong và 3000 đv hao mòn máy móc và
với 5h lđ sau, người CN vẫn tạo ra 5000 đv gtrị mới và có thêm 1kg sợi với gtrị 28.000
đv. Tổng số tiền nàh TB chi ra để có đựoc 2kg sợi là:
+ Tiền mua bông: 20.000*2 =40.000đv
+ Hao mòn máy : 3.000*2 =6.000đv
+ Tiền lương CN :5.000 =5.000đv
51.000đv
Tổng giá trị của 2kg sợi là 2kg*28.000=56.000đv và như vậy, lượng GTTD thu
đựoc là 56.000-51.000=5.000
Thời gian lđ(5h) để tạo ra GTTD gọi là t/g lđ TD và lđ (.) t/g ấy gọi là lđ TD.
Từ Vd trên ta rút ra KL:
GTTD là 1 bộ phận của gtrị mơi dôi ra ngoài gtrị sức lđ do CN làm thuê tạo ra và
bị nhà TB chiếm ko, C.Mác viết:” Bí quyết của sự tăng thêm giá trị của TB quy lại là ở
chỗ người khác”. Sở dĩ nhà TB chi phối đựoc số lượng lđ o công ấy về nhà TB là người
sở hữu TLSX.
Việc nhà TB chiếm đoạt GTTđo quá trình sx TBCN tạo ra gọi là bóc lột GTTD.
Sau khi n/c qtrình sx GTTD, chúng ta nhận thấy >< trong CT chung của TB đã
được giải quyết: Việc chuyển hoá của tiền thành TB diễn ra trong lưu thông, mà đồng
thời ko diễn ra trong lĩnh vực đó. Chỉ có trong lưu thông nhà TB mới mua được 1 thứ h2
đặc biệt, đó là h2 sực lđ. Sau đó nhà TB sd h2 đặc biệt đó trong sx, tức là ngoài lĩnh vực
lưu thông để sx ra GTTD cho nhà TB. Do đo tiền của nhà TB mới chuyển thành TB.
Việc n/c GTTD được sx ra ntn đã vạch ra rõ b/c bóc lột của CNTB.

V. TB bất biến, TB khả biến, TB cố định, TB lưu động.
TB là gtrị mang lại GTTD bằng cách bóc lột lđ ko công của VN làm thuê. Như
vậy b/c của TB là thể hiện qhệ sx xh mà trong đó g/c TS chiếm đoạt GTTD do g/c CN
sang tạo ra.
* TB bất biến và TB khả biến.
Muốn tiến hành sx, nhà TB phải ứng ra để mua TLSX và sức lđ, tức là biến TB
tiền tệ thành các yếu tố của qtrình sx, thành các hình thức tồn tại khác nhau của TB sx.
Vậy các bộ phận khác nhau đó của TB có vai trò ntn (.) quá trình sx GTTD?

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 12
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Trước hết, xét bộ phận TB tồn tại dứoi hình thức TLSX. Trong quá trình sx, gtrị
của TLSX được lđ cụ thể của người CN chuyển vào sp mới và lượng giá trị của chúng
không đổi so với trứoc khi đưa vào sx. Bộ phận TB này được gọi là TB bất biến, kí
hiệu là c.
Bộ phận TB dùng để mua sức lđ thì lại khác nhau. Một mặt, gtrị của nso biến
thành các TL sh của người CN và biến dị trong tiêu dùng của người CN. Mặt khác,
trong quá trình sx, bằng lđ trừu tượng, người CN tạo ra gtrị mới ko những đủ bù đắp
sức lđ của mình mà còn có GTTD cho nhà TB. Do vậy, bộ phận TB đùng để mua sức lđ
đã có sự biến đổi về lượng (.) qtrình sx. Bộ phận TB này được gọi là TB khả biến, kí
hiệulà v.
Như vậy, bộ phận TB biến thành TLSX mà gtrị được bảo toàn và chuyển vào sp,
tức là ko biến đổi về số lượng gtrị của nó là TB bất biến ©. Bộ phận TB biến thành
sức lđ ko tại hiện ra nhưng thông qua lđ trừu tượng của CN làm thuê mà tăng lên tức là
biến đổi về lượng là TB khả biến (v). TB bất biến là đk cần thiết ko thể thiếu được để
sx ra GTTD, còn TB khả biến có vai trò quyết định trong qtrình đó, vì nó chính là bộ
phận TB đã lớn lên
Việc phát hiện ra tính 2 mặt của lđ sx h2 giúp C.Mác tìm ra chìa khoá để xđ sự
khác nhau giữa TB bất biến và TB khả biến. Mác là người đầu tiên chia TB thành
TBBB và TBKB. Căn cứ cho sự phân chia đó là dựa vào vai trò khác nhau. Của các bộ
phận của TB trong quá trình sx ra GTTD, do đó nó vạch rõ bản chất bóc lột của CNTB,
chỉ có lđ của CN làm thuê mới tạo ra GTTD cho nhà TB.
Câu 7: Khi CMKHCN phát triển, máy móc đảm nhiệm các khâu chủ yếu (.)
sx, vai trò của lđ sống chuyển từ vai trò trực tiếp sang vai trò gián tiếp thì sưc lđ
có còn là nhân tố duy nhất sang tạo ra GTTD ko? Vì sao?
Khi CMKHCN phát triển, mát móc đã đảm nhiêm những khâu chủ yếu (.) sx, vai
trò của lđ sống chuyển từ vai trog trực tiếp sang vai trò gián tiếp. Nhưng sức lđ vẫn là
nhân tố duy nhất sang tạo ra GTTD.
Để sx GTTD, nhà TB phải ứng trứoc TB ra để mua TLSX và sức lđ. Và các bộ
phân khác nhau có những vai trò khác nhau (.) qtrình sx GTTD.
Trứoc hđ, xét bộ phận TB tồn tại dứoi hình thức TLSX. Trong quá trình sx, gtrị
của TLSX đc lđ cụ thể của người CN chuyển vào sp mới và lg gtrị của chúng o đổi so
voíư trước khi đưa vào sx. Đó là bộ phận TB bất biến (c). CHo dù KHCNcó phát triển
thì để có thể sx được thì vẫn phải cần đến sự điều khiển, vận hành của người CN thì
nó moíư co thể hđ đc, mới có hể bảo tồn và chuyển hoá hết gtrị vào sp. Đồng thời, máy
móc, KHCN đc chế tạo ra vẫn không thể thay thế hoàn toàn con người, cụ thể là người
lđ, ngừời lđ vẫn phải điều khiển, điều hành và bảo dưỡng máy móc voíư mđ dùng máy
móc (.) sx để giảm phần nặng nhọc và kh2 (.) sx.
Bộ phận TB dùng để mua sức lđ thì khác Một mặt, gtrị của nó biến thành các
TLSH của người CN và biến đi (.) tiêu dùng của CN. Mặt khác trong quá trình sx, bằng
lđ trừu tượng, người CN tạo ra gtrị mới o những bù đắp sức lđ của mình mà còn có
GTTD cho nhà TB. Đó là sự hao phí về sức óc, trí tuệ của người CN khi sx h2 tạo ra

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 13
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
phần gtrị mới đó cho sp cũng như tạo thêm GTTD cho nhà TB. Đây là điều mà o có 1
loại máy móc hay thiết bị KHCN hiện đại nào có thể làm được.
Không chỉ có vậy, (.) nền sx h2, sự phân công lđ diễn ra mạnh mẹ nhưng có tính
quy luật đó là lđ giản đơn cơ bắp, thể lực năng nhọc giảm, tăng lđ trí tuệ ngày càng kđ
vai trò quyết định của mình trong việc sx GTTD. Việc sd lđ trí tuệ đã tạo ra lg GTTD
ngày càng nhiều cho nhà TB.
Do vậy, bộ phận TB dùng để mua sức lđ đã có sự biến đổi về lg (.) qtrình s. Đó là
bộ phận TB khả biến(v).
Tóm lại (.) qtrình sx GTTD, TBBB chỉ là đk để sx GTTD la nguồn gốc duy nhất
của GTTD là do sức lđ của CN làm thuê tạo ra và o được trả công. Nó CMR o phải máy
móc, TLSX mà chỉ có lđ sống mới taọ GTTD, vạch rõ b.c bóc lột của CNTB.
Vậy ta có thể KĐ rằng dù KHCN, máy móc có hiện đại đến đâu thì sức lđ vẫn là
nhân tố duy nhất sang tạo ra GTTD.
* TB cố định và TB lưu động
Các bộ phận khác nhau của TB sx không chu chuyển 1 cách giống nhau. Sở dĩ
như vậy là vì mỗi bộ phận TB dịch chuyển gtrị của nó vào sp theo những cách thức
khác nhau. Căn cứ vào t/c chu chuyển khác nhau, người ta chia TB sx thành 2 bộ phận:
TB cố định và TB lưu động.
TB cố định là 1 bộ phận của TB sx đồng thời là bộ phận chủ yếu của TB bất
biến( máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) TG toàn bộ vào qtrình sx, nhưng giá trị của nó ko
chuyển hết 1 lần vào sp mà chuyển dần vào từng bước theo mức độ hao mòn của nó
trong qtrình sx.
TB cố định dược sd lâu dài trong nhiều chu kì sx và nó bị hao mòn dần(.) qtrình.
Có 2 loại hao mòn là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình:
Hao mòn hữu hình là sự hao mòn về v/c, hao mòn GTSD. Hao mòn h2 do qtrình sd
và sự t/đ của TN làm cho các bộ phận của TB cố định dần dần hao mòn đi tới chỗ hỏng
và phải được thay thế.
Hao mòn vô hình là sự hm thuần tuý về mặt gtrị. Hm vô hình xảy ran gay cả khi
máy móc còn tố nhưng bị mất giá vì xuất hiệncác máy móc hiện đại hơn, rẻ hơn hoặc
có gtrị tương đương nhưng công suất cao hơn. Để tránh hm vô hình, các nhà TB tìm
cách kéo dài ngày lđ, tăng cường độ lđ, tăng ca kíp làm việc… nhằm tận dụng máy móc
trong t/g càng ngắn càng tốt.
Tăng tốc độ chu chuyển của TB cố định là 1 biện pháp qtrọng để tăng cường quỹ
khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng TB sd tăng lên tránh đc thiệt hại hm hữu hình
do TN phá huỷ và hm vô hình gây ra. Nhờ đó mà có đk đổi mới thiết bị nhanh.
TB lưu động là 1 bộ phân của TB sx, gồm 1 phần TBBB( nguyên liệu, vật liệu
phụ) và TBKB( sức lđ) đc tiêu dùng hoàn toàn(.) 1 chu kì sx và gtrị của nó đc chuyển
toàn bộ vào sp (.) qtrình sx.
TB lưu động chu chuyển nhanh hơn TB cố định. Việc tăng tốc độ chu chuyển của
TB lưu động có ý nghĩa quan trọng. Một mặt tốc độ chu chuyển của TB lưu động tăng
lên sẽ làm tăng lương TB lưu động được sd trong năm, do đó tiết kiệm đc TBƯT; mặt

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 14
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
khác do phát triển tốc độ chu chuyển của TB lưu động KB làm cho tỉ suất GTTD trong
năm tanưg lên.
Việc phân chia TBƯT thành TBBB và TBKB là dựa vào vai trò của từng bộ phận
TB(.) qtrình sx ra GTTD. Ở đây việc phân chia TB thành TB cố định và TB lưu động là
đ2 riêng của cTB sx và căn cứ của sự phân chia là phương thức chuyển dịch gtrị của
chúng vào sp trong qtrình sx, hay dựa vào phthức chu chuyển của TB.
Phân chia TB theo hình thức của sự chu chuyển
TBCĐ TBLĐ
C1 C2 v
TBBB TBKB
Trong đó: C1: gtrị máy móc, thiết bị, nhà xưởng.
C2: gtrị nguyên nhiên vliệu.
v: gtrị sức lđ.
Việc phân chia TB thành TBCĐ và TBLĐ o phản ánh được nguồn gốc sinh ra
GTTD, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong qlí kt. Nó là cơ sở để quản lí, sd vốn cố
định, vốn lưu động 1 cách có hiệu quả cao. Đặc biệt, với sự pt của CMKHCN, sự đổi
mới tiến bộ của thiết bị, công nghệ diễn ra hết sức nhanh chóng, thì việc giảm tối đa
hm tài sản cố định nhất là đòi hỏi bức xúc đvới KH và NT quản lí kt.

VI) Hai phương pháp sx GTTD
Câu 8: Phân tích 2 ph2 sx GTTD? Vì sao mọi GTTD là qluật ktế cơ bản của
CNTB. Ý nghĩa của học thuyết GTTD.
1, Gtrị thặng dư là 1 bộ phận của gtrị mới dôi ra ngoài gtrị sức lđ công nhân
làm thuê tạo ra và bị nhà TB chiếm không.
Nhận thấy rằng, mđ của các nhà TB là sx ra GTTD tối đa, vì vậy, các nhà TB
dùng nhiều ph2 để tăng tỉ suất và klg GTTD khái quát có 2 ph2 luận đề đạt đc mđ đó là
sx GTTD tg đối.
* GTTD tuyệt đối.
Trong gđ phát triển đầu tiên của sx TBCN, khi kt còn thấp, tiến bộ chậm chạp thì
ph2 chủ yếu để phát triển GTTD là kéo dài thời ngày lđ cuae CN.
GTTD tuyệt đối là GTTD đc tạo ra do kéo dài thời gian lđ vượt quá t/g lđ tất yếu,
trong khi năng suất lđ xh, gtrị sức lđ và t/g lđ tất yếu không diễn biến.
Giả sử, ngày lđ là 8h, t/g lđ tất yếu là 4h, t/g lđ thặng dư là 4h, mỗi hCN tạo ra 1
gtrị mới là 10đv thì GTTD tuyệt đối là 40 và tỷ suất GTTD là
m’=40/40.100% =100%
Nếu kéo dài ngay lđ thêm 2h nữa mọi đk khác vẫn như cũ, thì GTTD tuyệt đối
tăng lên 60 và m’ cũng tăng lên thành
M’=60/40.100% =150%
Các nhà TB tìm mọi cách kéo dài lđ thêm 2h nữa mọi đk khác vẫn như cũ, thì
GTTD tuỵet đối tăng lên 60 và m; cũng tăng lên thành:
M’=60/40.100% =150%.

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 15
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Các nhà TB tìm mọi cách kéo dài ngày lđ, nhưng việc kéo dài ngày lđ có những
ghạn nhất định. Nó o thể vượt quá ghạn sinh lí của CN( vì họ còn phải có t/g ăn,ngủ,
nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khoẻ) nên gặp phải sự phản kháng của giai cấp CN
đòi giảm gìơ làm.
Vì lợi nhuận, khi độ dài ngày lđ ko thể kéo dài thêm, nhà TB tìm cách tăng cường
độ lđ của CN. Tăng cường độ lđ cảu CN về thực chất cũng tg tự như kéo dài ngày lđ. Vì
vậy, kéo dài ngày lđ và tăng cường độ lđ là để sx GTTD tuyệt đối.
* GTTD tương đối.
Việc kéo dài ngày làm bị ghạn về thể chất và tinh thần của người lđ và vấp phải
cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của g/c CN. Mặt khác, khi sx TBCN pát triển đến
gđ tăng lên nhanh chóng, thì các nhà TB chuyển sang ph thức bóc lột GTTD tg đối.
GTTD tg đối là GTTD đc tạo ra do rút ngắn t/g lđ tất yếu= cách nâng cao năng
suất lđ xh, nhờ đó tăng t/g lđ TD lên ngay trong đk độ dài ngày lđ vẫn như cũ.
( nâng cao năng suất lđ xh là nâng cao năng suất lđ trong ngành sx TL sinh hoạt để hạ
thấp gtrị sức lđ).
VD, ngày lđ là 10h, (.) đó là 5h lđ tất yếu, 5h lđ thặng dư. Nếu gtrị sức lđ giảm đi
1h thì t/g lđ tất yếu giảm xuống còn 4h, t/g lđ TD tăng lên 6h. Tức là m’ đã tăng từ 100%
lên 150%.
Để hạ thấp giá trị sức lđ phải giảm gtrị nhữngTLsh thuộc phạm vi TD của người
CN. Điều đó chỉ có thể thực hiện đc = cách tăng năng suất lđ trong các ngành sx ra
những TLsh thuộc phạm vi tiêu dùng của ngừoi CN hay tăng năng suất lđ (.) các ngành
sx ra TLSX để sx ra những TL sh đó.
Nếu (.) gđ đầu cảu CNTB, sx GTTD tuyệt đối thì đến gđ tiếp sau, khi kt phát
triển, sx GTTD tg đối là ph2 chủ yếu. Lsử phát triển của LLSX và của năng suất lđxh
dưới CNTB đã trải qua 3 gđ: hợp tác giản đơn, công trường thủ công, đại CN cơ khí,
đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột GTTD tg đối.
Hai ph2 sx GTTD nói trên đc các nhà TB sd kết hợp với nhau để nâng cao trình độ
bóc lột CN làm thuê (.) qtrình phát triển cảu CNTB. Dứoi CNTB, việc áp dụng máy móc
o phải là để giảm nhẹ cường độ lđ của CN, mà trái lại tạo đk để tăng cường độ lđ.
Ngày nay việc tự động hoá sx làm cho cường độ lđ tăng lên, nhưng dưới hình thức mơi,
sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lđ cơ bắp.
* GTTD siêu ngạch là phần GTTD thu đc do áp dụng côn gnhệ mới sớm hơn các
xí nghiệp kháclàm cho gtrị cá biệt của h2 thấp hơn gtrị thị trường.
Như thế, nhà TB chỉ phải bỏ ra ít chi phí hơn các nhà TB khác mà vẫn bán đc với
giá như các nhà TB khác, từ đó thu được GTTD caohơn. Khi số đông các xí nghiệp đều
biến đổi mới kt và CN 1 cách phổ biến thì GTTD siêu ngạch của DNghiệp đó sẽ ko còn
nữa.
Trong từng xí nghiệp, GTTD siêu ngạch là 1 hiện tg tạm thời, nhưng (.) phạm vi
xh thì nó lại thường xuyên tồn tại. GTTD siêu ngạch là động lực mạnh nhất để thúc
đẩy các nhà TB đổi mới CN để tăng năng suất lđ cá biệt, đánh bại đối thủ của mình
trong cạnh tranh.
C.Mác gọi GTTD siêu nghạch là hình thức biến tướng của GTTD tg đối.
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 16
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
2, sản xuất GTTD là qluật ktế cơ bản của chủ nghĩa tư bản.
Nếu ql kt cơ bản của sxh2 là ql gtrị thì ql kt cơ bản của nền sx TBCN là qluật
GTTD.
Qlụât GTTD là qluật kt cơ bản của CNTB bởi vì nó gđ bản chất của nền sx
TBCN, chi phối moi mặt đ/s kt của xh TB. Ko có sx GTTD thì ko có CNTB. Theo
C.Mác, chế tạo ra GTTD , đó là qluật tuyệt đối của phthức sx TBCN.
Ở đâu có sx GTTD thì ở đó có CNTB, ngược lại, ở đâu có CNTB thì ở đó có sx
GTTD. Chính vì vậy, Lênin gọi qluật GTTD là ql kt tuyệt đối của CNTB.
Nội dung của ql này là sx nhiều và ngày càng nhiều hơn GTTD bằng cách tăng
cường bóc lột CN làm thuê.
Sx nhiều và ngày càng nhiều GTTD là mđ, động lực thường xuyên của nền sx
TBCN, là nhân tố đảm bảo sự tồn tại, thúc đẩy sự vận động, phát trine của CNTB,
đồng thời nó làm mọi >< của CNTB càng thêm sâu sắc, đưa đến sự thay thế tất yếu
CNTB = 1 xh cao hơn.
Qluật GTTD là nguồn gốc của >< cơ bản của xh TB:>< giữa TB và lđ>< giữa g/c
TS và g/c CN.
Ql GTTD đứng đằng sau cạnh tranh TB với mđ là thu được ngày cang nhiều hơn
GTTD, các nhà TB cạnh tranh với nhau, tiêu diệt lẫn nhau để có đc quy mô GTTD lớn
hơn, tỉ suất GTTD cao hơn.
Để sx ngày càng nhiều GTTD, các nhà TB ra sức AD tiến bộ KHKT, cải tiến sx.
Từ đó thúc đẩy LLSX phát triển mạnh mẽ, nền sx có t/c xh hoá càng cao, >< giữa t/c xh
của sx với hình thức chiếm hữu tư nhân TBCN ngày càng gay gắt.
NvËy, sx GTTD lµ q.luËt k.tÕ c¬ b¶n cña cntb, lµ c¬ së cña sù tån taÞ vµ p.triÓn
cña cntb. Nd cña nã lµ sx GTTD tèi ®a = c¸ch t¨ng cêng bãc lét cn lµm thuª. Q.luËt nµy ra
®êi vµ tån t¹i cïng víi sù ra ®êi vµ tån t¹i cña nÒn k.tÕ TT tbcn. Nã q.®Þnh c¸c mÆt chñ
yÕu, c¸c q.tr×nh k.tÕ chñ yÕu cña cntb. Nã lµ ®éng lùc vËn ®éng, p.triÓn cña cntb, ®ång
thêi nã còng lµm cho mäi m©u thuÉn cña cntb, ®Æc biÖt lµ m©u thuÉn c¬ b¶n cña cntb
ngµy cµng s©u s¾c, ®a ®Õn sù thay ®æi tÊt yÕu cntb = 1 xh cao h¬n.
3. Ý nghĩa n/c:
- Vạch ra qluật vận động kt cơ bản của CNTB, từ đó lật tẩy b/c bóc lột cảu
CNTB
- Làm rõ địa vị lsử của CNTB (.) lsử nhân loại. Làm rõ vai trò, sứ mệnh lsử của g/
c CN trong việc lật đổ CNTB, xd cCNXH
- Khi gạt bỏ t/c CNTB, xd CNXH dư tạo ra sp TD là nguồn gốc giàu có của xh.
Vì vậy phải có những bp tạo GTTD cho xh.
(Vận dụng các ph2 sx GTTD, nhất là ph2 sx GTTD tg đối và GTTD siêu ngạch (.) các
DN sẽ kích thích sx, tăng năng suất lđ xh, sd kt- CN mới, cái tiến bộ tổ chức qlí, tiết
kiệm chi phí sx.
- N/c học thuyết GTTD cho ta thấy sự khác nhau giữa CNXH và CNTB o phải ở
chế độ tồn tại GTTD hay ko mà còn ở chế độ phân phối GTTD ntn?
+ từ đó, vận dụng ph2 sx GTTD tuyệt đối và tg đối để thực hiện mục tiêu “ dân
giàu, nứơc mạnh”, nhưng ko học tập cách phân phối GTTD như của CNTB
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 17
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
+ để phát huy mọi tiềm năng nhằm giải phóng LLSX, tất yếu phải thực hiện
nhất quán chính sách kt nhiều TP, trong đó có TP kt TB tư nhân. Mục tiêu và động lực kt
TB tư nhân là thu GTTD, vì vậy muốn huy động đc vốn, CN và năng lực quản lí của các
nhà TB, nhất là nhà TB nước ngoài, khuyến khích họ đâu tư vào sx,yên tâm làm âưn lâu
dài thì phải bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của họ thu đc lợi nhuận thoả
đáng. Nói cách khác, phải thừa nhận sự bóc lột GTTD của họ dưới sự kiểm soát của n2
theo PL. Tăng nhận thức học thuyết GT giúp chúng ta có thái độ đối xử đúng mực vói
mọi TPkt (.) nền sx h2 vận động theo cơ chế TT, có sự qlí của n2 theo định hướng
XHCN ở nước ta hiện nay
- ViÖc n/c c¸c p.ph¸p sx GTTD gîi më p.thøc lµm t¨ng cña 
c¶i thóc ®Èy t¨ng trëng k.tÕ. Trong ®k ®iÓm xuÊt ph¸t cña nc 
ta cßn thÊp, ®Ó thóc ®Èy t¨ng trëng k.tÕ cÇn tËn dông triÖt 
®Ó c¸c nguån lùc, nhÊt lµ l®, vµo sx kinh doanh. Tuy nhiªn, 
vÒ c¬ b¶n vµ l©u dµi cÇn ph¶i coi viÖc t¨ng n¨ng suÊt l® xh 
= con ®g ®Èy m¹nh CNH, H§H nÒn k.tÕ quèc d©n, t¹o ®éng lùc 
k.tÕ cho doanh nghiÖp vµ ng` l®.

VII) Tích luỹ tư bản.
1. Thực chất và động cơ của tích luỹ TB; các nhân tố quyết định quy mô tích
luỹ TB.
Để hiểu rõ thực chất tích luỹ TB phải phân tích quá trình tái sx TBCN.
* GTTD- nguồn gốc của tích luỹ TB.
Tái sx là tất yếu KQ của xh loài người. Tái sx có 2 hình thức chủ yếu là tái sx
giản đơn và tái sx mở rộng.
Dưới CNTB, muốn tái sx mở rộng, nhà TB phải sd 1 phần GTTD để tăng thêm
TBƯT.
Sự chuyển hoá 1 phần GTTD trở lại thành TB gọi là tích luỹ TB. Như vậy, thực
chất của tích luỹ TB là sự chuyển hoá 1 phần GTTD thành TB, hay là quá trình TB hoá
GTTD.
KL: - Nguồn gốc duy nhất của TB tích luỹ là GTTD và TB tích luỹ chiếm tỉ lệ
ngày càng lớn trong toàn bộ TB. C.Mác nói rằng, TBƯT chỉ là 1 giọt nước trong dòng
sông tích luỹ.
- Nền sx TBCN dẫn đến kq là nhà TB chẵng những chiếm đoạt 1 phần lđ
của CN mà còn là ng sở hữu hợp pháp lđ ko công đó. Nhưng điều đod ko vi phạm quy
luật gtrị.
Vậy nguồn gốc của tích luỹ TB là GTTD – là lđ của CN bị nhà TB chiếm không.
Nói cách khác, toàn bộ của cải của g/c TS đều do lđ của g/c CN tạo ra.
Động cơ thúc đẩy tích luỹ và tái sx mở rộng là quy luật kinh tế tuyệt đối của
CNTB – qluật GTTD. Để thực hiện mđ đó, các nhà TB không ngừng tích luỹ để mở
rộng sx, xem đó là ph tiện căn bản để tăng cường bóc lột CN làm thuê. Mặt khác cạnh
tranh buộc các nhà TB phải không ngừng làm cho TB của mình tăng lên bằng cách tăng
nhanh TB tích luỹ.
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 18
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
* Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ TB.
Với khối lượng GTTD nhất định thì quy mô tích luỹ TB phụ thuộc vào tỉ lệ phân
chia giữa tích luỹ và tiêu dùng.
Nếu tỉ lệ giữa tích luỹ và TD đã đựơc xđ, thì quy mô tích luỹ TB phụ thuộc khối
lượng GTTD. Có 4 nhân tố ảnh hưởng tới GTTD:
- Trình độ bóc lột giá trị TD(m’): Thông thường, muốn tăng Klg KTTD, nhà TB
phải tăng thêm máy móc, thiết bị và công nhân. Nhưng nhà TB có thể ko tăng thêm CN
mà bắt số CN hiện có cung cấp thêm 1 lg lđ bằng cách tăng t/glđ và cường độ lđ; đồng
thời tận dụng 1 cách triệt để công suất của máy móc hiện có., chỉ tăng thêm nguyên liệu
tương ứng.
- Năng suất lđ: NSLĐ xh tăng lên thì g/cả TLSX và TLTD giảm. Sự giảm này đem
lại 2 hệ quả cho tích luỹ: 1 là, với khối lg GTTD nhất định, phần dành cho tích luỹ có
thể lấn sang phần tiên dùng, trong khi sự tiên dùng của nhà TB ko giảm mà vẫn có thể
bằng hoặc cao hơn trước; 2 là, 1 lg GTTD nhất đinh dành cho tích luỹ cũng có thể
chuyển hoá thành 1 khói lg TLSX và sức lđ phụ thêm nhiều hơn trước.
Sự tiến bộ của KH và CN đã tạo ra nhieuè yếu tố phụ thêmcho tích luỹ nhờ việc
sd vật liệu mới và tạo ra công dụng mới cảu vật lieuẹ hiện có như những phế thải
trong tiênu dùng sx và tiêu dùng cá nhân của xh, những vật vốn ko có gtrị. Cuối cùng,
NSLĐ tăng sẽ làm cho gtrị của TB cũ tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh.
- Chênh lệch giữa TBSD và TBTD: TBSD là khối lượng gtrị những TL lđ mà toàn
bộ quy mô hiện vật của chúng đều hđ trong qtrình sx sp; còn TBTD là fần gtrị nh TL lđ
ấy đc chuyển vào sp theo từng chu kì sx dưới dạng khấu hao. Do đó, có sự chênh lệch
giữa TBSD và TBTD. Sự chênh lệch này là thước đo sự tiến bộ của LLSX. Sau khi trừ
đi nh tổn phí hàng ngày trong việc sd máy móc và cong cụ lđ – nghĩa là sau khi trừ đi gtrị
ha mòn của chúng đã chuyển vào sp – nhà TB sd nh máy móc và công cụ lđ đó mà ko đòi
hỏi 1 chi phí khác.
KT ngày càng HĐ, sự chênh lệch giữa TBSD và TBTD càng lớn, thì sự phục vụ
ko công của TLlđ càng lớn.
- Đại lượng TBƯT: Trong CT M=m’.V , nếu m’ ko đổi thì khói lg GTTD chỉ có
thể tăng khi tổng TBKB tăng. Và, tất nhiên TBKB cũng phỉa tăng lên theo qhệ tỉ lệ nhất
định. Do đó, muốn tăng khối lượng GTTD phải tăng quy mô TBƯT.
Đại lg TBƯT càng lớn thì quy mô sx càng đc mở rộng theo chiều rộng và theo
chiều sâu.
Tóm lại, để nâng cao quy mô tích luỹ, cần khai thác tốt nhất LLlđxh, tăng NSLĐ,
sd triệt để nanưg lực sx của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu.
2. Tích tụ và tập trung TB.
Tích tụ TB là việc tăng quy mô TB cá biệt bằng tích luỹ của từng nhà TB riêng
rẽ. Tích tụ TB, 1 mặt , là yêu cầu của việc mở rông sx, ứng dụng tiến bộ KT; mặt khác,
khối lg GTTD tăng thêm lại tạo khả năng hiên thực cho tích tụ TB mạnh hơn.
Tâpk trung TB là sự hợp nhất 1 số Tb nhỏ thành 1 số TB lớn cá biệt. Đây là sự
tập trung nh TB đã hình thành, là sự thủ tiêu tính độc lập riêng biệt của chúng, là việc
biến nhiều TB nhỏ thành 1 số ít TB lớn hơn.
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 19
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Tích tụ và tập trung TB có đ # nhau là chúng đều làm tăng quy mô của TB cá biệt.
Nhưng giữa chúng lại có nh đ khác nhau:
- Một là, nguồn để tích tụ TB là GTTD, do đó tích tụ TB làm tăng quy mô của TB
cá biẹt, đồng thời làm tanưg quy mô của TB xh. Còn nguồn để tập trung TB là nh TB cá
biệt có sẵn trong xh, do đó tập trung TB chỉ làm tăng quy mô của TB cá biẹt mà ko làm
tăng quy mo của TB xh.
- Hai là, nguồn để tích tụ TB là GTTD, xét về mặt đó, nó phản ánh trực tiếp mqh
giữa TB và lđ: nhà TB tăng cường bóc lột lđ làm thuê để tăng quy mô cảu tích tụ TB.
Còn ng của tập trung TB là nh TB có sãn trong xh do canh trnah mà dẫn đến sự liên kết
hay sát nhập, xét về mặt đó, nó phản ánh trực tiếp qhệ cạnh tranh trogn nội bộ giai cấp
các nhà TB; đòng thời nó cũng có tđ đến mqh giưac TB và lđ.
Tích tụ và tập trung có mqh mật thiết với nhau. Tích tụ làm tăng thêm quy mô và
sức manh của TB cá biệt, do đó cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, dẫn đến tập trung nhanh
hơn. Ngược lại, tập trung TB tạo đk thuận lợi đẻ tăng cường bc lột GTTD, nên đẩy
nhanh tích tụ TB. Ảnh hưởng qua lại nói trên cảu tích tụ và tập trung TB làm cho tích
luỹ TB ngày càng mạnh. Tập trung Tb có vai trò lớn đvới sự pt của SX TBCN. Nhờ tập
trung TB mà xd đc nh xí nghiệp lớn, sd đc KT và công nghệ hiên đại.
Như vậy, qtrình tích luỹ TB gắn liền với qtrình tích luỹ và tập trung TB ngày càng
tăng, do đó nền sx xh hoá cao độ, làm cho >< kt cơ bản cảu CNTB càng thêm sâu sắc.

VIII. CHI PHÍ SX GTTD, LỢI NHUẬN, LỢI NHUẬN BÌNH QUÂN VÀ GIÁ CẢ
SX, ĐỊA TÔ TBCN.
Câu 10: Phân tích quá trình hình thành tỉ suất lợi nhuận bình quân, giá cả sx.
Ý nghĩa.
Cạnh tranh xh và gắn liền với sự phát triển của nền kt hàng hoá. Cạnh tranh là sự
ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những ng sx, KD hàng hoá nhằm giành giật những
đk có lợi về sx và tiêu thụ hàng hoá, thu lợi nhuận cao nhất.
Trong sx TBCN, tồn tại 2 loại cạnh tranh là cạnh tranh trong nội bộ ngành và
cạnh tranh giữa các ngành. Cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến hình thành tỉ suất lợi
nhuận bình quân và gtrị hàng hoá chuyển thành giá cả sx.
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các ngành sx với nhau nhằm mđ tìm
nơi đầu tư có lợi hơn, tức là nơi nào có tỉ suất lợi nhuận cao hơn.
Biện pháp cạnh tranh: di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, tức là phân
phối tư bản (c và v) vào các ngành khác nhau.
Trong xh có nhiều ngành sx khác nhau, với những đk sx ko giống nhau, do đó lợi
nhuận htu đựoc và tỉ suất lợi nhuận ko giống nhau, nên các nhà TB phải chọn ngành nào
có tỉ suất lợi nhuận cao hơn để đầu tư.
Giả sử trong xh có 3 ngành sx CN khác nhau: cơ khí, dệt, da; TB đầu tư đều là
100; tỉ suất gtrị thặng dư đều là 100%; TBƯT đều chu chuyển hết gtrị vào sp. Nhưng do
t/c kt, KT của mỗi ngành khác nhau nên cấu tạo hữu cơ của các xi nghiệp cũng rất khác
nhau. Nếu số lượng GTTD của xí nghiệp nào tạo ra cũng bằng lợi nhuận nó thu được
thì tỉ suất lợi nhuận sẽ rất khác nhau.
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 20
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Ngành sx Chi phí sx M Gtrị h2 p’ ngành p’− (%) Giá cả sx
TBCN (m’=
100%)
Cơ khí 80c + 20v 20 120 20 30 130
dệt 70c + 30v 30 130 30 30 130
Da 60c + 40v 40 140 40 30 130
Từ trên ta thấy ngành da là ngành có tỉ suất lợi nhuận cao nhất, TB ở các ngành
khác sẽ chuyển sang làm cho quy mô sx của ngành da mở rộng, sp của ngành da nhiều
lên, cung sp của ngành da > cầu, giá cả hạ xuống, tỉ suất lợi nhuận giảm.
Ngược lại, quy mô sx ở những ngành mà TB di chuyển đi sẽ bị thu hẹp, cung
chi phối công ty con
->chi phối công ty cháu… Như vậy chỉ bằng một số TB nhất định một đầu sỏ tài chính
có thể chi phối được những lĩnh vực sản xuất
c. Xuất khẩu tư bản:
Xuất khẩu hàng hóa là mang hàng hóa ra nước ngoài để thực hiện giá trị và giá trị
thặng dư.Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước
ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư ở các nước nhập khẩu tư bản đó.
Xuất khẩu tư bản là tất yếu:
+ Vì trong các nước tư bản có hiện tượng "thừa tư bản".
+ Giá trị nguyên liệu và nhân công ở các nước chậm phát triển rẻ, nhưng lại thiếu
vốn và kỹ thuật
+ Thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng lớn.
Hình thức xuất khẩu TB:
+ Xuất khẩu tư bản trực tiếp: Xây dựng các xí nghiệp, trực tiếp kinh doanh thu
lợi nhuận,....
+ Xuất khẩu tư bản gián tiếp: Cho vay tư bản để thu lợi tức….
Xuất khẩu TB vừa có tác dụng tích cực vừa có tác dụng tiêu cực, đặc biệt là đối
với các nước nhận đầu tư, có thể dẫn tới tình trạng lệ thuộc về kinh tế, dẫn tới lệ
thuộc về chính trị.
d. Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh độc quyền quốc tế.
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 26
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Việc xuất khẩu TB tăng lên về quy mô và mở rộng phạm vi tất yếu dẫn đến việc
phân chia thế giới về mặt kinh tế, nghĩa là phân chia lĩnh vực đầu tư TB, phân chia thị
trường thế giới giữa các tổ chức độc quyền quốc tế với nhau... Từ đó hình thành các
liên minh độc quyền quốc tế: Cacten, Xanhđica, Trớt quốc tế. Nhưng giữa cac tổ chức
này luôn luôn diễn ra sự cạnh tranh lẫn nhau… tất yếu dẫn đến xu hướng thoả hiệp từ
đó hình thành các liên minh độc quyền quốc tế.
e. Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa các cường quốc đế quốc
Lợi ích của việc xuất khẩu TB đã thúc đẩy các cường quốc TB đi xâm chiếm
thuộc địa, vì trên thị trường thuộc địa dễ dàng loại trừ được các đối thủ cạnh tranh, dễ
dàng nắm được độc quyền nguyên liệu và thị trường tiêu thụ. Do tcác động đó, đặc biệt
là do tác động của quy luật phát triển không đều của CNTB đó là những nguyên nhân
dẫn đến các cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai, cũng như các cuộc
xung đột nóng ở nhiều khu vực trên thế giới hiện nay...
Như vậy: chủ nghĩa đế quốc là sự kết hợp giữa yêu cầu vươn ra và thống trị ở
nước ngoài của tư bản độc quyền với đường lối xâm lăng của nhà nước.
Chủ nghĩa đế quốc là một đặc trưng của chủ nghĩa tư bản độc quyền biểu hiện
trong đường lối xâm lược nước ngoài, biến những nước này thành hệ thống thuộc địa
của các cường quốc nhằm đáp ứng yêu cầu thu siêu lợi nhuận độc quyền của tư bản
độc quyền.

X. CHỦ NGHĨA ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC.
CNTBĐQNN là CNTBĐQ có sự điều tiết, can thiệp của nhà nước về kt, là
phương thức kết hợp giữa sức mạnh của TBĐQ với sức manh của kt nhà nứoc.
CNTBĐQNN là 1 nấc thang phát triển của CNTBĐQ.
1. Nguyên nhân hình thành.
a. Nguyên nhân:
Một là: Sự phát triển của LLSX dẫn đến quy mô của nèen kinh tế ngày càng lớn,
tính chất xã hội hoá của nền kinh tế ngày càng cao đòi hỏi phải có sự điều tiết của xã
hội đối với sản xuất và phân phối, một kế hoạch hoá tập trung từ một trung tâm. Nhà
nước phải dùng các công cụ khác nhau để can thiệp, điều tiết nền kinh tế.
Hai là: Sự phát triển của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện một só
ngành mà các tổ chức độc quyền tư bản tư nhân không thể hoặc không muốn kinh
doanh vì đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm và ít lợi nhuận (như năng lượng, giao thông vận
tải, giáo dục, nghiên cứu khoa học cơ bản...). Nhà nước tư sản trong khi đảm nhiệm
kinh doanh những ngành đó, tạo điều kiện cho các tổ chức độc quyền tư nhân kinh
doanh các ngành khác có lợi hơn.
Ba là: sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giai cấp giữa
giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, nhân dân lao động. Nhà nước phải có chính sách để
giải quyết những mâu thuẫn đó: Trợ cấp thất nghiệp, điều tiết thu nhập quốc dân, phat
triển phúc lợi xã hội.


Email: wizard_try@yahoo.com.vn 27
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Bốn là: Sự tích tụ và tập trung tư bản cao dẫn đến mâu thuẫn giữa các tổ chức
độc quyền với nhau, mâu thuẫn giữa tư bản độc quyền với các tổ chức kinh doanh vừa
và nhỏ….trở nên gay gắt cần có sự điều tiết, can thiệp của nhà nước….
Năm là: Cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự bành trướng của các tổ
chức liên minh độc quyền quốc tế vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và xung
đột lợi ích giữa các đối thủ trên thì trường thế giới. Đòi hỏi có sự điều tiết các quan hệ
chính trị, kinh tế quốc tế của nhà nước tư sản. Nhà nước tư sản có vai trò quan trọng
để giải quyết các quan hệ đó.
Ngoài ra, việc thi hành chủ nghĩa thực dân mới, cuộc đấu tranh với CNXH hiện
thực và tác động của cách mạng khoa học- công nghệ, đòi hỏi có sự can thiệp trực tiếp
của nhà nước vào đời sống kinh tế.
b. Bản chất.
Xét về bản chất CNTB độc quyền nhà nước vẫn là chủ nghĩa tư bản, chịu sự chi
phối của quy luật giá trị thặng dư, mặc dù đã có nhiều thay đổi so với chủ nghĩa tư bản
thời kỳ canh tranh tự do.
CNTB độc quyền nhà nước là nấc thang phát triển mới của chủ nghĩa tư bản độc
quyền, nhưng nóc vẫn chưa thoát khỏi chủ nghĩa tư bản độc quyền.
CNTB độc quyền nhà nước chỉ là một nấc thang mới so với chủ nghĩa tư bản độc
quyền thời kỳ đầu.
Đặc điểm nổi bật của CNTB độc quyền nhà nước là sự can thiệp, sự điều tiết
của nhà nước về kinh tế. vd: ở giai đoạn đầu nhà nước đã điều tiét gián tiếp vào qh kt
bằng thuế má, bằng việc đi xâm lược nước ngoài để mở rộng thị trường cho các tổ
chức độc quyền.
Như vậy CNTB độc quyền nhà nước không phải là một chế độ kinh tế mới so
với CNTB, lại càng không phải chế độ tư bản mới so với CNTB độc quyền. CNTB độc
quyền nhà nước chỉ là CNTB độc quyền có sự can thiệp, điều tiết của nhà nước về
kinh tế, là sự kết hợp sức mạnh của tư bản độc quyền với sức mạnh của nhà nước về
kinh tế.
2. Những biểu hiện chủ yếu của CNTBĐQN.
a) Sự tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền:
Sự xuất hiện ngày càng nhiều những công ty độc quyền xuyên quốc gia bên cạnh
sự phát triển của các xí nghiệp vừa và nhỏ.
Hiện tượng liên kết đa dạng tiếp tục phát triển, sức mạnh của các consơn và
cônglômêrát ngày càng được tăng cường. Cách mạng khoa học và công nghệ dường như
biểu lộ thành hai xu hướng đối lập nhau nhưng thực ra là thống nhất với nhau: xu
hướng tập trung và xu hướng phi tập trung hóa.
Sự xuất hiện nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ là do:
Thứ nhất: việc ứng dụng các thành tựu cách mạng khoa học và công nghệ cho
phép tiêu chuẩn hóa và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu rộng, dẫn tới hình thành
hệ thống gia công, nhất là trong những ngành sản xuất ô tô, máy bay, đồ điện, cơ khí,
dệt, may mặc, đồ trang sức, xây dựng nhà ở.

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 28
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Nhìn bề ngoài, dường như đó là hiện tượng "phi tập trung hóa", nhưng thực chất
đó chỉ là một biểu hiện mới của sự tập trung sản xuất, trong đó các hãng vừa và nhỏ lệ
thuộc và chịu sự chi phối của các chủ hãng lớn về công nghệ, vốn, thị trường, v.v.
Thứ hai: những ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cơ chế thị trường.
Những doanh nghiệp vừa và nhỏ nhạy cảm với thay đổi trong sản xuất, linh hoạt ứng
phó với tình hình biến động của thị trường, mạnh dạn trong việc đầu tư vào những
ngành mới đòi hỏi sự mạo hiểm, kể cả những ngành lúc đầu ít lợi nhuận và những
ngành sản phẩm đáp ứng nhu cầu cá biệt. Các doanh nghiệp nhỏ dễ dàng đổi mới trang
bị kỹ thuật mà không cần nhiều chi phí bổ sung.
b) Sự thay đổi trong các hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài
chính
Thích ứng với sự biến đổi mới, hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản
tài chính đã thay đổi. Sự thay đổi diễn ra ngay trong quá trình liên kết và thâm nhập vào
nhau giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp. Ngày nay, phạm vi liên kết được
mở rộng ra nhiều ngành, do đó các tập đoàn tài chính thường tồn tại dưới hình thức
những tổ hợp đa dạng kiểu công - nông - thương - tín - dịch vụ hay công nghiệp - quân
sự - dịch vụ quốc phòng. Nội dung của sự liên kết cũng đa dạng hơn, tinh vi hơn, phức
tạp hơn. Vai trò kinh tế và chính trị của tư bản tài chính ngày càng lớn, không chỉ trong
khuôn khổ quốc gia mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nước khác trên thế giới. Trùm
tài chính không chỉ tăng cường địa vị thống trị về kinh tế mà còn tăng cường sự khống
chế và lợi dụng chính quyền nhà nước. Trong chính phủ, họ có nhiều người đại diện
hơn, hơn nữa, việc tự mình đảm nhiệm các chức vụ quan trọng trong chính phủ ngày
càng phổ biến.
Để bành trướng ra thế giới và thích ứng với quá trình quốc tế hoá đời sống kinh
tế, các tập đoàn tư bản tài chính đã thành lập các ngân hàng đa quốc gia và xuyên quốc
gia, tạo điều kiện cho các công ty xuyên quốc gia thâm nhập vào các nước khác, đặc
biệt là Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Hoạt động của các tập
đoàn tài chính quốc tế đã dẫn đến sự ra đời các trung tâm tài chính của thế giới như:
Nhật Bản, Mỹ, Cộng hoà Liên bang Đức, Hồng Kông, Singapo...
c) Xuất khẩu tư bản vẫn là cơ sở của tư bản độc quyền nhưng quy mô, chiều
hướng và kết cấu của việc xuất khẩu tư bản đã có bước phát triển mới
Có sự tăng trưởng rất nhanh của việc xuất khẩu tư bản của các nước tư bản phát
triển. Nguyên nhân của quy mô xuất khẩu tư bản ngày càng lớn, một mặt, là do cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ mới đã thúc đẩy sự phát triển của việc phân công
quốc tế, việc quốc tế hoá sản xuất và việc tăng nhanh tư bản "dư thừa" trong các nước;
mặt khác là do sự tan rã của hệ thống thuộc địa cũ sau chiến tranh.
Chiều hướng xuất khẩu tư bản cũng có những thay đổi rõ rệt. Trước kia, luồng
tư bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước tư bản chủ nghĩa phát triển sang các nước kém
phát triển (khoảng 70%). Nhưng từ sau những năm 70 của thế kỷ XX, 3/4 tư bản xuất
khẩu được đầu tư vào các nước phát triển, mở đầu bằng việc tư bản quay trở lại Tây
Âu.

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 29
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Từ những năm 70, của thế kỷ XX đại bộ phận dòng tư bản lại chảy qua chảy lại
giữa các nước tư bản chủ nghĩa phát triển với nhau. Nguyên nhân chủ yếu của sự
chuyển hướng đầu tư nói trên là:
- Về phía các nước đang phát triển, phần lớn những nước này ở trong tình hình
chính trị thiếu ổn định; thiếu môi trường đầu tư an toàn và thuận lợi; thiếu đội ngũ
chuyên gia, cán bộ khoa học - kỹ thuật, công nhân lành nghề; trình độ dân trí thấp và
tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân ít, không đủ mức cần thiết để tiếp nhận đầu tư
nước ngoài.
- Về phía các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ làm xuất hiện nhiều ngành sản xuất và dịch vụ mới, nhất là những ngành có
hàm lượng khoa học cao, đòi hỏi lượng vốn lớn để đầu tư vào nghiên cứu khoa học -
kỹ thuật và sản xuất. Có một sự di chuyển vốn trong nội bộ các công ty độc quyền
xuyên quốc gia. Các công ty này cắm chi nhánh ở nhiều nước, nhưng phần lớn chi
nhánh của chúng đặt ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển. Để vượt qua những hàng
rào bảo hộ mậu dịch và khắc phục những trở ngại do việc hình thành các khối liên kết
như EU, NAFTA... các công ty xuyên quốc gia đã đưa tư bản vào trong các khối đó để
phát triển sản xuất.
Tuy nhiên, một loạt công ty ở các nước Anh, Pháp, Hà Lan... đã vượt qua cả lệnh
cấm vận của Mỹ để đầu tư vào các nước đang phát triển. Chẳng hạn họ đầu tư thăm
dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam - đó là bằng chứng rõ rệt chứng minh cho xu hướng
trên. Sở dĩ như vậy là vì tình trạng thiếu dầu khí và những kim loại quý hiếm vẫn đang
là "gót chân Asin" của nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, trong khi đó
các nước đang phát triển giàu tài nguyên lại thiếu vốn và kỹ thuật để khai thác, và
nguồn lợi cao từ lĩnh vực này đối với cả hai phía.
d) Sự phân chia thế giới giữa các liên minh của chủ nghĩa tư bản:
Xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá ngày càng tăng bên cạnh xu hướng khu vực
hóa nền kinh tế.
Sức mạnh và phạm vi bành trướng của các công ty độc quyền xuyên quốc gia
tăng lên càng thúc đẩy xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế và sự phân chia phạm vi
ảnh hưởng giữa chúng với nhau, đồng thời thúc đẩy việc hình thành chủ nghĩa tư bản
độc quyền nhà nước quốc tế.
Cùng với xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá đời sống kinh tế lại diễn ra hiện
tượng khu vực hóa, hình thành ngày càng nhiều liên minh kinh tế khu vực như: Liên hợp
châu Âu (EU), Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu
á - Thái Bình Dương (APEC)... Ngày càng có nhiều nước tham gia vào các Liên minh
Mậu dịch tự do (FTA) hoặc các Liên minh Thuế quan (CU).
( FTA là khu vực trong đó các nước thành viên cam kết xoá bỏ hàng rào thuế quan
đối với hàng hóa của nhau.
CU là liên minh trong đó các nước thành viên có mức thuế chung đối với hàng
hóa nhập khẩu từ các nước ngoài khối)
Các liên minh kinh tế khu vực hấp dẫn nhiều chính phủ vì chúng có nhiều ưu thế
hơn so với tiến trình tự do hoá thương mại toàn cầu.
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 30
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
e) Sự phân chia thế giới giữa các cường quốc vẫn tiếp tục dưới những hình thức
cạnh tranh và thống trị mới.
Tuy chủ nghĩa thực dân cũ đã hoàn toàn sụp đổ và chủ nghĩa thực dân mới đã suy
yếu, nhưng các cường quốc tư bản chủ nghĩa, khi ngấm ngầm, lúc công khai, vẫn tranh
giành nhau phạm vi ảnh hưởng bằng cách thực hiện "Chiến lược biên giới mềm", ra
sức bành trướng "biên giới kinh tế" rộng hơn biên giới địa lý, ràng buộc, chi phối các
nước kém phát triển từ sự lệ thuộc về vốn, công nghệ đi đến sự lệ thuộc về chính trị
vào các cường quốc.
Chiến tranh lạnh kết thúc, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, nhưng lại
được thay thế bằng những cuộc chiến tranh khu vực, chiến tranh thương mại, những
cuộc chiến tranh sắc tộc, tôn giáo mà đứng trong hoặc núp sau các cuộc đụng độ đó là
các cường quốc đế quốc.
Những cuộc tấn công của Mỹ và đồng minh vào afganixtan, Irắc... chứng tỏ chủ
nghĩa đế quốc vẫn là một đặc điểm trong giai đoạn phát triển hiện nay của chủ nghĩa
tư bản.
Tóm lại, dù có những biểu hiện mới, chủ nghĩa tư bản đôc quyền nhà nước
trong giai đoạn hiện nay vẫn là chủ nghĩa tư bản độc quyền. Những biểu hiện
mới đó chỉ là sự phát triển của năm đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc
quyền mà thôi.

XI. NHỮNG NÉT MỚI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CNTB HIỆN ĐẠI, XU
HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA CNTB.
Câu 12: Trình bày những giới hạn của CNTB ngày nay. CNTB có thể vượt
qua được những giới hạn lịch sử của nó hay ko? Tại sao? Xu hướng vận động
của CNTB ntn?
CNTB ngày nay là giai đoạn phát triển cao của CNTB độc quyền nằm trong
phương thức sx TBCN, được phân tích kể từ sau CT TG thứ 2 đến nay, chủ yếu từ
những năm 90 của TK XX. Dưới sự tđ của cuộc CM KH và CN, trong gđ này, LLSX đã
có bước phát triêể mạnh mẽ cả về t/c và trình độ, đã làm cho QHSX TBCN có sự biến
đổi thích ứng, làm nảy sinh những đặc điểm mới của CNTB độc quyền và CNTB độc
quyền nhà nước.
Trong quá trình phát triển, nếu chưa xét đến hậu quả nghiêm trọng đã gây ra đv
loài người, thì CNTB vẫn có những mặt tích cực đv sx. Đó là: thực hiện xh hoá sx; phát
triển LLSX, tăng năng suất lđ; chuyển sx nhỏ thành sx lớn hiện đại. Tuy nhiên, những
thành tựu CNTB đạt được trong sự vận động đầy >< biểu hiện ở 2 xu hướng trái
ngược nhau là phát triển và trí tuệ.
Ngay từ trong lsử ra đời, tồn tại và phát triển, CNTB đã biểu hiện ra rất nhiều
hạn chế.
Trước hết, về lsử ra đời của CNTB. Thực chất TBCN ra đời gắn liền với quá
trình tích luỹ nguyên thuỷ cảu TB. Đó là qtrình tích luỹ tiền tệ nhờ vào những biện pháp
ăn cướp, tước đoạt đv những ng sx h2 nhỏ và nông dân tự do; nhờ vào hoạt động trao
đổi, buôn bán ko ngang giá qua đó mà thực hiện sự bóc lột, nô dịch đối với những nước
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 31
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
lạc hậu. Về qtrình tích luỹ nguyên thuỷ của TB, C.Mác cho rằng, đó là lsử đầy máu và
bùn nhơ, “Qúa trình hình thành và phát triển của CNTB thấm đầy máu và nước mắt
trogn tứng lỗ chân lông của nó”.
Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của CNTB là qhệ bóc lột cảu các nhà TB đv
CN làm thuê.
Các cuộc CT TG với mục đích tranh giành thuộc địa và khu vựcn ảnh hưởng đã
để lại cho loài người những hậu quả nặng nề: hàng trăm người vô tội bị giết hại, sức
sx của xã hội bị fá huỷ, tốc độ ptr ktế của TG bị kéo lùi lại hàng chục năm.
CNTB đã tạo ra hố sâu ngăn cách giữa các nước giàu và các nước nghèo trên TG.
CNTB ngày nay, mặc dù đã có sự điều chỉnh thích nghi nhất định nhưng vẫn ko
thể vượt qua những giới hạn lsử của nó.
Giới hạn lsử của CNTB bắt nguồn từ >< giữa t/c và trình độ chiếm hữu nô lệ tư
nhân TBCN về TLSX. Mặc dù CNTB ngày nay đã có sự điều chỉnh nhất định trong
những hình thức qhệ sở hữu, qlí và phân phối nhưng vẫn có thể khắc phục >< KQ này.
>< cơ bản nói trên biểu hiện ra thành những >< cụ thể sau đây:
- Một là, >< giữa TB và lđ. Sự phân cực giàu nghèo và tình trạng bất cong xh phát
triển (TK 18 chênh lệch về mức sống giữa nước giàu nhất và nghèo nhất là 2,5 lần;
hiện nay số chênh lệch tăng lên 250 lần) chứng tỏ bản chất boc lột GTTD vẫn tồn tại,
dù được biểu hiện dưới hình thức tinh vi hơn. Cả sự bần cùng hoá tuyệt đối lẫn tương
đối của g/c CN vẫn dang tồn tại. Tuy đại bộ phận tầng lớp trí thức và lđ có kĩ năng có
việc làm đang đc cải thiện mức sống và giai nhập vào tầng lớp trung lưu, nhưng vẫn ko
xoá đc sự phân hoá giàu nghèo sâu sắc.
- Hai là, >< giữa các dtộc thuộc địa và phụ thuộc đối với chủ nghĩa đế quốc. Ngày
nay, >< này đang chuyển thành >< giữa các nước chậm phát triển bị lệ thuộc với các
nước đế quốc. Nhiều nước chậm phát triển ko những bị vơ vét can kiệt TNTN mà còn
mắc nợ ko thể trả đc. Ở tính ra riêng số lãi mà Brazin phải trả trong năm 1988 bằng
288tr xuất lương tối thiểu hay bằng xây nhà cho 30 tr ng, trong khi đó ước tính kh 2/3
dân B thiếu ăn.
- Ba là, >< giữa các nươcs TBCN với nhau, chủ yếu là 3 TT kt, chtrị hàng đầu của
TG TB, giữa các tập đoàn TB xuyên quốc gia. >< này có phần dịu đi trong thời kì còn
tồn tại sự đối đầu giữa 2 hệ thống TG TBCN và XHCN, nay có chiều hướng diễn biến
phức tạp. Một mặt, sự phát triển của xu hướng quốc tế hoá đs kt và đòi hỏi cảu CM
KH và CN khiến các nước phải lk với nhau. Mặt khác do tđ của ql phát triển ko đều và
lợi ích cục bộ của g/c thống trị ở mỗi nước, các nước đó đã trở thành đối thủ cạnh tranh
với nhau, tranh giành quyền lực và phạm vi ảnh hưởng trên TG, nhất là giữa 3 TT Mỹ,
Nhật Bản, Tây Âu. Biểu hiện của >< giữa các nước ấy là các cuộc cạnh tranh th mại,
CT giữa các công ty xuyên quốc gia dưới hình thức; trên TT chứng khoán nơi đầu tư có
lợi.
- Bốn là, >< giữa CNTB và CNXH: >< này là >< xuyên suốt thời đại quá độ lên
CNXH trên phạm vi toàn TG. Chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ khiến xh
tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng b/c thời đại ko hề thay đổi. Do đó, >< giữa CNTB và
CNXH vẫn tồn tại 1 cách KQ.
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 32
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
* Xu hướng vận động của CNTB.
CNTB trong quá trình phát triển của nó, một mặt, đã thúc đẩy LLSX phát triển rất
mạnh mẽ, tạo ra CSVCKT của nền sx lớn hiện đại; mặt khác, làm cho >< cơ bản của
nó - >< giữa t/c xh hoá ngày càng cao của LLSX với t/c chiếm hữu tư nhân TBCN về
TLSX thêm gay gắt.
Ngày nay, CNTB hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, KH, CN, TT đang có khả
năng thích nghi và phát triển trong chừng mực nhất định; CNTB cũng đã buộc phải thực
hiện 1số điều chỉnh giới hạn về QHSX, trong khuôn khổ của CNTB, song ko thể khắc
phục nổi những >< vốn có của nó, ko thể vượt quá giới hạn lịch sử của nó.
Mặt khác, các QG độc lập ngày càng tăng cường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn
và quyết địnhcon đường phát triển tiến bộ của mình. CNXH trên TG, từ những bài học
thành công và thất bại cũng như khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có đk và khả
năng tạo ra bước phát triển mới. Vì vậy, sớm hay muộn CNTB cũng sẽ bị thay thế = 1
chế độ mới, cao hơn, đó là XHCSCN mà gđ thấp nhất là CNXH.

XII. SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN.
Kn: G/c cn là 1 tập đoàn xh ổn định, h.thành và p.triển cùng với q.trình p.triển của
nền CN hiện đại, với nhịp độ p.triển của LLSX có tính xh hóa ngày càng cao, là LLSX
cơ bản, tiên tiến, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào q.trình sx,tái sx ra của cải vật
chất và cải tạo các q.hệ xh; là lực lg chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ cntb lên
cnxh. Ở các nc tbcn, g/c cn là những ng` ko có hoặc về cơ bản ko có TLSX phải làm
thuê cho g/c tư sản bóc lột GTTD; ở các nc xhcn, họ là ng` đã cùng nhân dân lđ làm chủ
những TLSX chủ yếu và cùng nhau hợp tác lđ vì lợi ích chung của toàn xh trong đó có
lợi ích chính đáng của bản thân họ.
Sứ mệnh lsử của giai cấp CN là phạm trù cơ bản nhất của CN XH KH, là vđ chủ
yếu cảu học thuyến Mác. Bởi vì cnó đã chi ra sứ mệnh lsử của g/cấp CN là ng lãnh đạo
CM trong qtrình chuyển biến của xh loài ng lên CNXH và CSCN. Và sứ mệnh lsử của g/
cấp CN thể hiện mđ thực tiễn của CNM, của phog tràoCN là xoá bỏ CNTB, xd CNXH.
Đồng thời, cđ sứ mệnh lsử của g/cấp CN vừa là cơ sở ra đời của ht Mác vừa cho thấy
g/c CN cũng là g thực hiện ht ấy, hay nói 1 cách khác là biến htMác thành hienẹ thực.
1,Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
G/c cn là sp của nền CN hiện đại, lực lg đại biểu cho sự p.triển LLSX tiến bộ,
cho xu hg p.triển của PTSX tg lai; do vậy, về mặt khách quan nó là g/c có SMLS lãnh
đạo nhân dân lđ đấu tranh xóa bỏ chế độ tbcn, xóa bỏ mọi chế độ áp bức bóc lột và
x.dựng xh mới – xh xhcn và cộng sản chủ nghĩa.
Nói một cách khái quát, nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xoá
bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp
công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo
nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.
Ph. Ăngghen viết: "Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, - đó là sứ mệnh
lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại" . V.I. Lênin cũng chỉ rõ: "Điểm chủ yếu trong học

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 33
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng rõ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là
người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa" .
Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, việc t.hiện SMLS của g/c cn cần
phải trải qua 2 bước. Bước thứ nhất: “G/c vô sản chiếm lấy chính quyền nhà nc và
biến TLSX trước hết thành sở hữu nhà nc”. Bước thứ 2: “…g/c vô sản cũng tự thủ tiêu
với tư cách là g/c vô sản, chính vì thế mà nó cũng xóa bỏ mọi sự phân biệt g/c và mọi
đối kháng g/c”; nó lãnh đạo nhân dân lđ thông qua chính đảng của nó, tiến hành tổ chức
x.dựng xh mới – xhcn. 2 bước này q.hệ chặt chẽ với nhau: g/c cn ko t.hiện đc bước thứ
nhất thì cũng ko t.hiện đc bước thứ 2 nhg bước thứ 2 là q.trọng nhất để g/c cn hoàn
thành SMLS của m`.
Để hoàn thành đc SMLS của m`, g/c cn nhất định phải tập hợp đc các tầng lớp
nhân dân lđ xung quanh nó, tiến hành cuộc đấu tranh cm xóa bỏ xh cũ và x.dựng xh mới
về mọi mặt k.tế, chính trị và văn hóa, tư tg. Đó là 1 q.trình lịch sử hết sức lâu dài và khó
khăn.
Ở nước ta, giai cấp công nhân trước hết phải làm cuộc cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phải lãnh đạo cuộc cách mạng
đó thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam, đấu tranh giành
chính quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ nhân dân. Trong giai đoạn cách mạng
xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân từng bước lãnh đạo nhân dân lao động xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội, không có người bóc lột người, giải phóng nhân dân lao
động khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, bất công.
2. Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Luận thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã được C. Mác và Ph.
Ăng ghen trình bày sâu sắc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Trong tác phẩm này
các ông đã chỉ rõ các điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân.
- Do địa vị kinh tế - xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực
lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản. Và, với tính cách như vậy, nó là
lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau khi giành chính
quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là người duy nhất có
khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương
thức sx TBCN.
- Giai cấp công nhân, con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, được rèn
luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ, đoàn kết và tổ chức lại thành một lực
lượng xã hội hùng mạnh. Bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột nặng nề, họ là giai cấp trực
tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, và xét về bản chất họ là giai cấp cách mạng triệt để
nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa. Điều kiện sinh hoạt khách
quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể tự giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã
hội khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài
xiềng xích và được cả thế giới về mình. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Trong tất cả các g/c hiện đang đối lập với g/c tư sản thì chỉ
có g/c vô sản là g/c thật sự cm… Các tầng lớp trung đẳng là những nhà tiểu CN, tiểu
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 34
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
thg, thợ thủ công và nông dân, tất cả đều đấu tranh chống g/c tư sản để cứu lấy sự
sống còn của họ với tích cách là những tầng lớp trung đẳng. Cho nên họ ko cm mà bảo
thủ”.
- Địa vị kinh tế - xã hội khách quan không chỉ khiến cho giai cấp công nhân trở
thành giai cấp cách mạng triệt để nhất mà còn tạo cho họ khả năng làm việc đó. Đó là
khả năng đoàn kết thống nhất giai cấp, khả năng đạt tới sự giác ngộ về địa vị lịch sử
của khả năng hành động chính trị để từng bước đạt mục tiêu cách mạng. Đó là khả
năng đoàn kết các giai cấp khác trong cuộc đấu tranh chống tư bản. Đó là khả năng đi
đầu trong cuộc đấu tranh của toàn thể dân lao động và của dân tộc vì sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là khả năng đoàn kết toàn thể giai cấp vô sản và các dân
tộc bị áp bức trên quy mô quốc tế theo chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, g/c tư sản là 1 lực lg quốc tế. G/c tư sản ko chỉ
bóc lột g/c cn ở chính nc họ mà còn bóc lột g/c cn ở các nc thuộc địa. Ngày nay, với sự
p.triển mạnh mẽ của LLSX, sx mang tính toàn cầu hóa. Tư bản của nc này có thể đầu
tư sang nc # là 1 xu hg khách quan. N` sp ko phải do 1 nc sx ra mà là kết quả lđ của n`
quốc gia. Vì thế, phong trào đấu tranh của g/c cn ko chỉ diễn ra đơn lẻ ở từng doanh
nghiệp, ở mỗi quốc gia mà ngày càng phải có sự gắn bó giữa phong trao nhân dân các
nc. Có như vậy, phong trào cn mới có thể giành thắng lợi. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ
ra rằng: “Cuộc đấu tranh cuẩ g/c vô sản chống lại g/c tư sản, dù về mặt nd, ko phải là
1 cuộc đấu tranh dân tộc”. Sau này V.I.Lênin chỉ rõ: “…ko có sự ủng hộ của cm quốc tế
của thế giới thì thắng lợi của cm vô sản là ko thể có đc”, “Tư bản là 1 lực lg quốc tế.
Muốn thắng nó, cần phải có sự liên minh quốc tế”.
Lịch sử thế giới đã chứng minh những kết luận C. Mác, Ph. ăngghen và V.I. Lênin
về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là đúng đắn. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh của
giai cấp công nhân nhằm hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình không phải diễn ra một
cách bằng phẳng, thuận buồm xuôi gió.
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân tuy đang đứng trước những thử thách
hết sức nặng nề, nhưng xem xét toàn cảnh của sự phát triển xã hội, giai cấp công nhân,
lực lượng sản xuất tiến bộ vẫn đang chuẩn bị những tiền đề khách quan cho thực hiện
sứ mệnh lịch sử của mình dù có trải qua những bước thăng trầm, quanh co, nhưng nó
vẫn tiếp tục diễn ra theo quy luật khách quan của lịch sử.
Đúng là ở những nước tư bản phát triển, đời sống của một bộ phận không nhỏ
trong giai cấp công nhân đã được cải thiện, có thu nhập cao; một bộ phận công nhân ở
các nước trên đã có mức sống "trung lưu hóa", song điều đó không có nghĩa là công nhân
ở các nước ấy không còn bị bóc lột hoặc bị bóc lột không đáng kể.
Một thực tế đã, đang và còn tồn tại ngày càng sâu sắc ở các nước tư bản phát
triển, đó là sự bất công, bất bình đẳng và thu nhập càng cách xa giữa giai cấp tư sản với
giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Dù có cố gắng tìm cách "thích nghi" và mọi
biện pháp xoa dịu nhưng giai cấp tưsản không thể khắc phục được mâu thuẫn cơ bản
của chủ nghĩa tư bản. Thực tế, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân vẫn diễn ra ở các
nước tư bản chủ nghĩa dưới nhiều hình thức phong phú, với những nội dung khác nhau.

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 35
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
3. Những nhân tố chủ quan trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân xuất hiện một cách khách quan, song, để
biến khả năng khách quan đó thành hiện thực thì phải thông qua những nhân tố chủ
quan. Trong những nhân tố chủ quan ấy, việc thành lập ra đảng cộng sản trung thành
với sự nghiệp, lợi ích của giai cấp công nhân là yếu tố quyết định nhất đảm bảo cho
giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
a, Bản thân giai cấp công nhân
Ngay từ khi mới hình thành trong xã hội tư bản chủ nghĩa, bản thân giai cấp công
nhân đã không ngừng hoạt động và trưởng thành từng bước về số lượng và chất lượng.
Về số lượng chẳng những ngày càng tăng lên rất rõ rệt ở tất cả các nước, kể cả
trong "kinh tế tri thức" hiện nay, mà còn đa dạng hơn về cơ cấu các loại công nhân với
nhiều ngành nghề ngày càng phong phú, phát triển, tinh vi hơn. Theo Tổ chức lao động
Quốc tế (ILO) thì: từ năm 1900, toàn thế giới có 80 triệu công nhân; đến năm 1990, thế
giới đã có hơn 600 triệu công nhân và đến 1998 đã có 800 triệu công nhân...
Về chất lượng, bản thân giai cấp công nhân luôn có sự nâng cao về học vấn, về
khoa học công nghệ và tay nghề; từ hoạt động kinh tế, đấu tranh kinh tế trước mắt, đã
từng bước hoạt động chính trị, đấu tranh chính trị, thông qua các tổ chức nghiệp đoàn,
công đoàn, từng bước có ý thức giai cấp, giác ngộ giai cấp và cao nhất là dẫn đến hình
thành đảng tiên phong là đảng cộng sản. Khi đó, theo chủ nghĩa Mác-Lênin, giai cấp
công nhân đã từ chỗ là "giai cấp tự nó" (tức là chưa có ý thức giác ngộ giai cấp) đến
chỗ là
"giai cấp vì nó" (tức giai cấp tự giác).
Vì thế, giai cấp công nhân trở thành cơ sở chính trị căn bản nhất của đảng cộng
sản.
Đảng chính trị là tổ chức cao nhất, đại biểu tập trung cho trí tuệ và lợi ích của
toàn thể giai cấp. Đối với giai cấp công nhân đó là đảng cộng sản, chẳng những đại
biểu cho trí tuệ và lợi ích của giai cấp công nhân mà còn đại biểu cho toàn thể nhân dân
lao động và dân tộc.
Cho nên phải có một đảng chính trị vững vàng, kiên định và sáng suốt, có đường
lối chiến lược và sách lược đúng đắn thể hiện lợi ích của toàn giai cấp và toàn bộ
phong trào để giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội - giai cấp của đảng, là nguồn bổ sung lực
lượng của đảng, đảng là đội tiên phong chiến đấu, là bộ tham mưu của giai cấp, là biểu
hiện tập trung lợi ích, nguyện vọng, phẩm chất, trí tuệ của giai cấp công nhân và của
dân tộc. Giữa đảng với giai cấp công nhân có mối liên hệ hữu cơ, không thể tách rời.
Những đảng viên của đảng cộng sản có thể không phải là công nhân nhưng phải là
người giác ngộ về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và đứng trên lập trường của
giai cấp này.
Với một đảng cộng sản chân chính thì sự lãnh đạo của đảng chính là sự lãnh đạo
của giai cấp. Đảng với giai cấp là thống nhất, nhưng đảng có trình độ lý luận và tổ
chức cao nhất để lãnh đạo cả giai cấp và dân tộc; vì thế không thể lẫn lộn Đảng với
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 36
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
giai cấp. Đảng đem lại giác ngộ cho toàn bộ giai cấp, sức mạnh đoàn kết, nghị lực cách
mạng, trí tuệ và hành động cách mạng của toàn bộ giai cấp, trên cơ sở đó lôi cuốn tất
cả các tầng lớp nhân dân lao động khác và cả dân tộc đứng lên hành động theo đường
lối của đảng nhằm hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Để giai cấp công nhân hoàn
thành sứ mệnh của mình, giai cấp công nhân cũng như mỗi người công nhân cần
thường xuyên phấn đấu vươn lên, trưởng thành về các mặt: tư tưởng, chính trị, lập
trường giai cấp, văn hoá, khoa học kỹ thuật, tay nghề... Các tổ chức nghiệp đoàn, công
đoàn, thường xuyên phát triển vững mạnh... cùng với quá trình phát triển không ngừng
của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, v.v..
4. Vai trò của Đảng Cộng sản trong q.trình t.hiện SMLS của g/c cn :

SMLS của g/c cn do địa vị k.tế - xh của g/c này quy định, nh để biến khả năng
khách quan đó thành hiện thực thì phải thông qua nhân tố chủ quan của g/c cn. Trong
những nhân tố chủ quan đó thì việc thành lập ĐCS, 1 Đảng trung thành với lợi ích của
g/c cn, của dân tộc, vững mạnh về chính trị, tư tg và tổ chức là nhân tố giữ vai trò q.định
nhất bảo đảm cho g/c cn hoàn thành đc SMLS của m`.
a. Tính tất yếu và q.luật hình thành, p.triển chính đảng của g/c cn :

Trong thực tế về lịch sử, phong trào của g/c cn chống lại g/c tư sản đã nổ ra ngay
từ khi cntb hình thành và p.triển, theo q.luật có áp bức có đấu tranh. Mặc dù phong trào
cn có thể p.triển về số lg, quy mô cuộc đấu tranh có thể đc mở rộng nhg cuối cùng đều
bị thất bại vì thiếu 1 lí luận khoa học và cm soi đg. Chỉ khi nào g/c cn đạt đến trình độ
tự giác = cách tiếp thu lí luận khoa học và cm thì lúc đó phong trào đấu tranh của g/c này
mới thực sự là phong trào mang t/c chính trị.
Khi ĐCS ra đời, thông qua sự lãnh đạo của Đảng làm cho g/c cn nhận thức đc vai
trò, vị trí của m` trong xh, hiểu đc con dg, niện pháp đấu tranh cm, từ đó tập hợp đc
đông đảo quần chúng nhân dân lđ, t.hiện việc lật đổ cntb, giải phóng g/c m`, giải phóng
toàn xh và tổ chức x.dựng xh mới về mọi mặt.
ĐCS muốn h.thành vai trò lãnh đạo cm thì trước hết phải luôn luôn chăm lo
x.dựng về tư tg và tổ chức, phải luôn luôn làm cho Đảng vững mạnh về chính trị, ko
ngừng nâng cao về trí tuệ, gắn bó với quần chúng nhân dân, có năng lực lãnh đạo và
h.động thực tiễn.
b. Mối q.hệ giữa ĐCS và g/c cn :

ĐCS là tổ chức chính trị cao nhất của g/c cn, đại biểu cho lợi ích và trí tuệ của g/c
cn và toàn thể nhân dân lđ. Trong tác phẩm Tuyên Ngôn của ĐCS, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã chỉ rõ: “Những ng` cộng sản ko phải là 1 đảng riêng biệt, đối lập với các đảng cn #.
Họ tuyệt nhiên ko có 1 lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể g/c vô sản”.
G/c cn là cơ sở g/c của ĐCS, là nguồn bổ sung lực lg phong phú cho ĐCS. Những
đảng viên của Đảng là những ng` cn có giác ngộ lí tg cm, đc trang bị lí luận cm, tự giác
gia nhập Đảng và đc các tổ chức chính trị - xh của g/c cn giới thiệu cho Đảng. Trong
hàng ngũ của Đảng có những đảng viên ko phải là g/c cn, nhg phải là ng` giác ngộ về lí
SMLS của g/c cn và luôn luôn phải đứng trên lập trg`, trên lợi ích của g/c cn.
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 37
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Với 1 ĐCS chân chính thì sự lãnh đạo của Đảng cũng chính là sự lãnh đạo của g/c
cn. G/c cn t.hiện vai trò lãnh đạo của m` thông qua ĐCS. Tuy nhiên, ko thể đồng nhất
ĐCS với g/c cn. Đảng là 1 tổ chức chính trị chỉ tập trung những cn tiên tiến, có giác ngộ
lí tg cm, đc trang bị lí luận cm, do vậy Đảng trở thành đội tiên phong chiến đấu, lãnh tụ
chính trị và bộ tham mưu chiến đấu của g/c cn.
Là đội tiên phong chiến đấu, Đảng có sự tiên phong trong lí luận và hành động
cm. Đảng viên là những ng` đc trang bị lí luận, nắm đc quan điểm đg lối của đảng, do
vậy “họ hơn bộ phận còn lại của g/c vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ đc đk, tiến trình và kết
quả chung của phong trào vô sản”. Cán bộ, đảng viên phải = hành động gương mẫu của
m` để tập hợp, lôi cuốn quần chúng nhân dân vào các phong trào cm.
ĐCS có những lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của g/c cn và quần chúng
nhân dân lđ, vì thế Đảng có thể t.hiện giác ngộ quần chúng nhân dân, đưa họ tham gia
các phong trào cm. Có tập hợp đc quần chúng nhân dân, huy động đc quần chúng tham
gia các phong trào cm thì những chủ trương, đg lối của Đảng mới đc t.hiện và khi đó
Đảng mới có sức mạnh, SMLS của g/c cn mới t.hiện đc.
ĐCS là bộ tham mưu chiến đấu của g/c cn và cả dân tộc. Khi nói tới vai trò tham
mưu chiến đấu của Đảng là muốn nói tới vai trò đưa ra những q.định của Đảng, nhất là
trong những thời điểm lịch sử q.trọng. Những q.định đúng đắn sẽ tạo đk đưa phong trào
cm tiến lên, ngược lại có thể gây ra những tổn thất cho cm. Sở dĩ ĐCS trở thành tham
mưu chiến đấu của g/c cn vì Đảng bao gồm những ng` tiên tiến trong g/c cn, đc trang bị
lí luận khoa học, cm và là những ng` đc tôi luyện từ trong thực tiễn phong trào cm.
5. liên hệ VN:
Lịch sử Việt Nam cũng CMR, g/c CN VN ra đời chưa được bao lâu ngay cả khi nó
chưa có Đảng mà đã tổ chức một cách tự phát nhiều cuộc đấu tranh chống bọn TB thực
dân và được ND ủng hộ.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-
Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta vào đầu năm 1930 của
thế kỷ XX. Đảng đã đem yếu tố tự giác vào phong trào công nhân, làm cho phong trào
cách mạng nước ta có một bước phát triển nhảy vọt về chất.
Giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của
nó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi nói giai cấp công nhân lãnh đạo là nói đến toàn bộ
g/c như một chỉnh thể chứ không phải từng nhóm, từng người. Để có thể lãnh đạo, g/c
CN phải có lực lượng, có tổ chức tiêu biểu cho sự tự giác và bản chất g/c của mình.
Lực lượng đó là ĐCS. Xét về TP xuất thân thì nước ta có nhiều đảng viên không phải là
CN. Nh, bất cứ đảng viên nào cũng phải đứng trên lập trường g/c CN thể hiện ở lý
tưởng, ở lý luận MLN và đường lối cách mạng, ở tinh thần kiên quyết cách mạng trong
cuộc đấu tranh để thực hiện sứ mệnh của g/c CN vì lợi ích của giai cấp CN, của nd lđ
và của cả dân tộc. Điều này được Đảng ta khẳng định rất rõ: "ĐCS VN là đội tiên
phong của g/c CN, đồng thời là đội tiên phong của nd ld và của dân tộc Việt Nam; đại
biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc" .
Đảng của giai cấp công nhân nước ta đã lãnh đạo toàn dân hoàn thành thắng lợi trọn
vẹn cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và đang tiến hành công cuộc xây dựng chủ
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 38
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây là nhiệm vụ lịch sử khó khăn,
phức tạp nhất.
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, đội
ngũ công nhân Việt Nam bao gồm những người lao động chân tay và lao động trí óc
hoạt động sản xuất trong ngành công nghiệp và dịch vụ thuộc các doanh nghiệp nhà
nước, hợp tác xã, hay thuộc khu vực tư nhân, hợp tác liên doanh với nước ngoài, tạo
thành một lực lượng giai cấp công nhân thống nhất đại diện cho phương thức sản xuất
tiên tiến dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được vũ trang bằng chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đang lãnh đạo công cuộc đổi mới và phát triển
đất nước. Họ là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là cơ
sở xã hội chủ yếu nhất của Đảng và Nhà nước ta, là hạt nhân vững chắc trong liên
minh công nhân - nông dân - trí thức, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh hình thành, điều kiện kinh tế - xã hội quy định, giai cấp
công nhân Việt Nam còn có những nhược điểm (như số lượng còn ít, chưa được rèn
luyện nhiều trong công nghiệp hiện đại, trình độ văn hoá và tay nghề còn thấp...).
Nhưng điều đó không thể là lý do để phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Việt Nam. Để khắc phục những nhược điểm ấy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban
Chấp hành Trung ương khoá VII của Đảng ta, một Nghị quyết gắn trực tiếp vấn đề
công nghiệp hoá, hiện đại hoá với vấn đề xây dựng phát triển giai cấp công nhân đã chỉ
rõ phương hướng xây dựng giai cấp công nhân nước ta trong giai đoạn hiện nay là:
"Cùng với quá trình phát triển công nghiệp và công nghệ theo xu hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, cần xây dựng giai cấp công nhân phát triển về số lượng,
giác ngộ về giai cấp, vững vàng về chính trị, tư tưởng, có trình độ học vấn và tay nghề
cao, có năng lực tiếp thu và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất
lượng, hiệu quả cao, vươn lên làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình" .
Công cuộc đổi mới đất nước, định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi
xướng và lãnh đạo đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Giai
cấp công nhân đang đi đầu trong xây dựng xã hội mới, nhất là trong việc xây dựng cơ
sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là bằng chứng chỉ rõ năng lực lãnh đạo của giai
cấp công nhân nước ta, vai trò không có lực lượng xã hội nào có thể thay thế được trong
sự nghiệp... "lãnh đạo thành công công cuộc xây dựng một xã hội mới, trong đó nhân
dân lao động làm chủ, đất nước độc lập và phồn vinh, xoá bỏ áp bức bất công, mọi
người đều có điều kiện phấn đấu cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc" .
Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt chú trọng phương hướng xây dựng giai cấp
công nhân Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ
rõ: "Đối với giai cấp công nhân, phát triển về số lượng, chất lượng và tổ chức; nâng
cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là một
lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước".


Email: wizard_try@yahoo.com.vn 39
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
XIII. LIÊN MINH GIỮA GCCN VỚI G/C ND VÀ CÁC TẦNG LỚP LĐ KHÁC (.)
CMXHKH.
CMXHCN muốn giành đc thắng lợi, g/c cn phải t.hiện đc sự liên minh chặt chẽ
với g/c nông dân và các tầng lớp lđ # nhằm tạo nên khối đại đoàn kết của lực lg cm,
trong đó nòng cốt là liên minh công – nông.
1. Tính tất yếu và cơ sở khách quan của liên minh giữa g/c cn với g/c nông
dân và các tầng lớp lđ # trong CMXHCN :
a, Tính tất yếu :
Khi tổng kết kinh nghiệm thực tiễn lịch sử, trong tác phẩm “Đấu tranh g/c” ở
Pháp, C.Mác đã chỉ ra rằng: “cn Pháp ko thể tiến lên đc 1 bước nào và cũng ko thể đụng
đến 1 sợi tóc của chế độ tư sản, trc’ khi đông đảo g/c nông dân nằm giữa g/c vô sản và
g/c tư sản, tức là nông dân và g/c tiểu tư sản, nổi dậy chống chế độ tư sản”.
Trong g.đoạn cao của cntb – chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin đã vận dụng và
p.triển lí luận liên minh công – nông của C.Mác và Ph.Ăngghen vào thực tiễn cm tháng
10 Nga. Trong q.trình lãnh đạo cm, V.I.Lênin thg` xuyên chủ trương và t.hiện củng cố
khối liên minh giữa g/c cn với g/c nông dân, đó là 1 trong những ng.nhân đưa tới thắng
lợi của cm tháng 10.
Sau cm tháng 10, V.I.Lênin đặc biệt quan tâm tới xây dựng khối liên minh giữa g/
c cn với g/c nông dân và các tầng lớp lđ #. Ng` chỉ rõ: “Chuyên chính vô sãn là 1 hình
thức đăc biệt của liên minh g/c giữa g/c vô sản, đội tiên phong của ng` lđ, với đông đảo
những tầng lớp lđ ko phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức)”.
V.I.Lênin cho rằng, nếu ko t.hiện liên minh chặt chẽ với g/c nông dân và các
tầng lớp lđ # thì g/c cn ko thể giữ vững đc chính quyền nhà nc. “Ng.tắc cao nhất của
chuyên chính là duy trì khối liên minh giữa g/c vô sản và nông dân để g/c vô sản có thể
giữ đc vai trò lãnh đạo và chính quyền nhà nc”.
Mục tiêu của cuộc CMXHCN ko phải là duy trì g/c, duy trì nhà nc mà tiến lên
x.dựng 1 xh ko còn g/c, ko còn nhà nc. Điều đó chỉ có thể t.hiên đc trên cơ sở x.dựng
khối liên minh vững chắc giữa g/c cn với g/c nông dân và các tầng lớp lđ #.
b, Cơ sở khách quan :

Thứ nhất, trong xh tbcn, g/c cn, g/c nông dân cũng như n` tầng lớp lđ # đều là ng`
lđ, đều bị áp bức bóc lột.

Thứ 2, trong q.trình x.dựng cnxh, nền k.tế quốc dân là 1 thể thống nhất của n`
ngành, nghề… nhg trong đó CN và NN là 2 ngành sx chính trong xh. Nếu ko có sự liên
minh chặt chẽ giữa g/c cn và nông dân thì 2 ngành k.tế này cũng như các ngành, nghề #
ko thể p.triển đc. CN tạo ra những sp phục vụ cho NN và các ngành, nghề #. NN tạo ra
lg thực, thực phẩm phục vụ cho toàn xh, tạo ra nông sản phục vụ cho CN. V.I.Lênin kđ:
“Công xưởng xh hóa sẽ cung cấp sp của m` cho nông dân và nông dân sẽ cung cấp lại
lúa mì. Đó là h.thức tồn tại duy nhất có thể đc của xh xhcn, là h.thức duy nhất để
x.dựng cnxh”.
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 40
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Thứ 3, xét về mặt chính trị - xh, g/c cn, g/c nông dân và các tầng lớp lđ # là lực lg
chính trị to lớn trong x.dựng bảo vệ chính quyền nhà nc, trong x.dựng khối đoàn kết dân
tộc. Do vậy, có thể nói, g/c nông dân và các tầng lớp lđ # trở thành những ng` bạn “tự
nhiên”, tất yếu của g/c cn.

2. Nd và ng.tắc cơ bản của lm giữa g/c cn với g/c ND và các tầng lớp lđ khác (.)
CMXHCN :

a, Nội dung :

Liên minh về chính trị giữa g/c cn với g/c nông dân và các tầng lớp lđ # trong thời
kì đấu tranh giành chính quyền là nhằm giành lấy chính quyền về tay g/c cn cùng với
nhân dân lđ. Trong q.trình x.dựng cnxh, liê minh về chính trị giữa g/c cn với g/c nông dân
và các tầng lớp ld # là cùng nhau tham gia vào chính quyền nhà nc từ cơ sở đến TW,
cùng nhau bảo vệ chế độ xhcn và mọi thành quả cm, làm cho nhà nc xhcn ngày càng
vững mạnh. Tuy nhiên liên minh về chính trị giữa gc cn với g/c nông dân và các tầng lớp
lđ # ko phải là sự dung hòa lập trg` tư tg giữa g/c cn với nông dân và các tầng lớp lđ #
mà phải trên lập trg` chính trị của g/c cn.

Liên minh giữa g/c cn với g/c nông dân và các tầng lớp lđ # trở thành cơ sở vững
chắc cho nhà nc xhcn, tạo thành nòng cốt trong mặt trận dân tộc thống nhất, t.hiện khối
liên munh rộng rãi với các tầng lớp lđ #.

Liên minh về k.tế giữa g/c cn với g/c nông dân và các tầng lớp lđ # là 1 nd đặc biệt
q.trọng. Theo V.I.Lênin, nd chủ yếu của sự liên minh giữa g/c cn với g/c nông dân trong
thời kì đấu tranh giành chính quyền là liên minh về quân sự, nhg khi tiến hành x.dựng
cnxh thì trọng tâm là liên minh về k.tế.

T.hiện liên minh giữa g/c cn với g/c nông dân trong q.trình x.dựng cnxh là phải
kết hợp đúng đắn lợi ích giữa 2 g/c. H.động k.tế phải vừa đảm bảo lợi ích của nhà nc,
của xh, đồng thời phải thg` xuyên quan tâm tới lợi ích của g/c nông dân. Nếu kết hợp
đúng đắn các lợi ích k.tế của các g/c trong xh, thì liên minh trở thành 1 động lực to lớn
thúc đẩy xh p.triển, ngược lại nó trở thành lực cản đv sự p.triển của xh

Muốn t.hiện đc sự liên minh về k.tế giữa g/c cn với g/c nông dân, đảng của g/c cn
và nhà nc xhcn phải thg` xuyên quan tâm tới x.dựng 1 hệ thống c.sách phù hợp đv nông
dân, NN và nông thôn.




Email: wizard_try@yahoo.com.vn 41
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
V.I.Lênin cũng cho rằng, thông qua sự liên minh giữa g/c cn với g/c nông dân về
k.tế, từng bước đưa nông dân đi theo con đg xhcn = cách từng bước đưa họ vào con đg
hợp tác xã với những bước đi phù hợp.

Tiến hành x.dựng cnxh ở nc Nga Xôviết, V.I.Lênin ko chỉ quan tâm tới x.dựng
khối liên minh giữa g/c cn với g/c nông dân, mà ông còn quan tâm tới x.dựng khối liên
minh giữa g/c cn với tầng lớp trí thức. V.I.Lênin cho rằng, nếu ko quan tâm tới điều đó
thì ko thể x.dựng đc 1 nền sx CN hiện đại và ko thể đứng vững đc trong cuộc đấu tranh
chống cntb. Ng` cũng nhấn mạnh: “Trước sự liên minh của các đại biểu khoa học, g/c
vô sản và giới kĩ thuật, ko 1 thế lực đen tối nào có thể đứng vững đc”.

Nd văn hóa, xh của liên minh giữa g/c cn với g/c nông dân và các tầng lớp lđ # là 1
nd q.trọng trong CMXHCN. Điều đó đc lí giải bởi các lí do sau :

Một là, cnxh đc x.dựng trên 1 nền sx CM hiện đại. Những ng` mù chữ, những ng`
có trình độ văn hóa thấp ko thể tạo ra đc 1 xh như vậy. Vì vậy cn, nông dân và những
ng` lđ # phải thg` xuyên học tập nâng cao trình độ văn hóa.

Hai là, cnxh với mong muốn x.dựng 1 xh nhân văn, nhân đạo, q.hệ giữa con ng`
với con ng`, giữa dân tộc này với dân tộc # là q.hệ hữu nghị, tg trợ, giúp đỡ lẫn nhau.
Điều đó chỉ có thể có đc trên cơ sở 1 nền văn hóa p.triển của nhân dân.

Ba là, cnxh tạo đk cho quần chúng nhân dân lđ tham gia quản lí k.tế, quản lí xh,
quản lí nhà nc. Nhân dân muốn t.hiện đc công việc của m` cần phải có trình độ văn hóa,
phải hiểu biết c.sách, pháp luật.

Theo V.I.Lênin, cuộc đấu tranh khắc phục những tư tg lạc hậu, bảo thủ, trì trệ,
thói quan liêu cửa quyền là 1 công việc khó khăn, vì “kẻ thù ở ngay trong chúng ta là
cntb vô chính phủ và việc trao đổi h2 1 cách vô chính phủ – đây là kẻ thù giấu mặt,
chúng ta khó nhận ra và phải trải qua 1 thời kì lâu dài,… ko thể t.hiện nhanh đc như
nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ quân sự”.

b, Những ng.tắc cơ bản :

Muốn x.dựng đc khối liên minh vững chắc giữa g/c cn với g/c nông dân và các
tầng lớp lđ # trong tiến trình CMXHCN, cần phải đảm bảo các ng.tắc sau:

Phải đảm bảo vai trò lãnh đạo của g/c cn: V.I.Lênin cho rằng, x.dựng khối liên
minh giữa g/c cn với g/c nông dân ko có nghĩa là chia quyền lãnh đạo của 2 g/c này mà
phải đi theo đg lối của g/c cn. G/c nông dân là g/c gắn với PTSX nhỏ, cục bộ, phân tán,
ko có hệ tư tg độc lập. Do đó, chỉ đi theo hệ tư tg của g/c cn mới có thể tiến lên nền sx
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 42
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
lớn xhcn. V.I.Lênin kđ: “…chỉ có sự lãnh đạo của g/c vô sản mới có thể giải phóng
quần chúng tiểu nông thoát khỏi chế độ nô lệ tư bản và dẫn họ tới cnxh.

Phải đảm bảo ng.tắc tự nguyện: V.I.Lênin đã n` lần nhắc nhở những ng` tư sản
ở Nga là phải = những việc làm cụ thể để cho g/c nông dân thấy rằng đi với g/c vô sản
có lợi hơn đi với g/c tư sản, từ đó họ tự nguyện đi với g/c cn. Có t.hiện trên tinh thần tự
nguyện thì khối liên minh giữa g/c cn với g/c nông dân mới có thể bền vững lâu dài.

Kết hợp đúng đắn các lợi ích:g/c cn và g/c nông dân có những lợi ích cơ bản là
thống nhất, bởi vì họ đều là những ng` lđ, đều bị bóc lột dưới cntb. Sự thống nhất lợi
ích này tạo đk t.hiện sự liên minh giữa họ. Song, giữa g/c cn và g/c nông dân là những
chủ thể k.tế # nhau. G/c cn đại diện cho PTSX mới cộng sản chủ nghĩa. G/c nông dân
gắn với chế độ tư hữu nhỏ. Mà chế độ tư hữu nhỏ thì mâu thuẫn với PTSX cộng sản
chủ nghĩa là xóa bỏ chế độ tư hữu về TLSX. Do vậy cần quan tâm giải quyết mâu
thuẫn này, phải thg` xuyên phát hiện những mâu thuẫn nảy sinh và giải quyết kịp thời,
phải chú ý tới những lợi ích thiết thực của nông dân.

• Ý nghĩa p.pháp luận :

Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 60 nǎm qua chứng minh rằng - vấn đề nông
dân và trí thức chẳng những là nội dung cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ, mà còn
là lực lượng có ý nghĩa quyết định đối với việc xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng ta và
phương pháp cách mạng trong việc giành và giữ chính quyền.

Đảng vạch ra cương lĩnh đúng đắn là vấn đề có ý nghĩa quyết định hàng đầu đối
với thắng lợi của cách mạng. Song muốn đưa cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn, Đảng
còn phải xây dựng lực lượng cách mạng hùng hậu, mà trong đó quan trọng hơn cả là
xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và trí thức cách mạng. Dựa
vào khối liên minh này, Đảng mới đoàn kết được các lực lượng tiến bộ, làm cho cuộc
cách mạng mang tính chất nhân dân.

Công cuộc đổi mới vì chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa củng cố liên minh công, nông
và trí thức.

- Từng bước đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

- Điều chỉnh phương hướng và bước đi của công nghiệp hoá, tập trung sức phát
triển nông nghiệp, coi nông nghiệp thật sự là mặt trận hàng đầu.

- Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ hoá đời sống xã hội.

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 43
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Đại hội lần thứ VI của Đảng vạch rõ, trước mắt tập trung sức giải quyết những
vấn đề có thể giải quyết được phù hợp với từng đối tượng.

Đối với giai cấp công nhân, Đảng đề ra những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao
giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ hiểu biết về mọi mặt để xứng đáng với vị trí giai
cấp tiên phong của cách mạng; đồng thời chǎm lo đời sống vật chất và vǎn hoá, tạo ra
những điều kiện cần thiết để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Đảng quyết định cần "có chế độ tiền lương và phúc lợi xã hội hợp lý, bảo đảm đời
sống vật chất và vǎn hoá của công nhân, viên chức và gia đình".

Đối với trí thức, Đại hội lần thứ VI của Đảng chủ trương: "điều quan trọng nhất
là bảo đảm quyền tự do sáng tạo. Đánh giá đúng nǎng lực và tạo điều kiện cho nǎng
lực được sử dụng đúng và phát triển". Cùng với chủ trương đúng đắn nói trên, Đại hội
còn phê phán những quan điểm hẹp hòi, không thấy hết vị trí của trí thức đối với công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Sau Đại hội lần thứ VI, Trung ương Đảng và Chính phủ đã có nhiều chủ trương,
chính sách nhằm bảo đảm ổn định đời sống của công nhân, viên chức và trí thức. Hiệu
quả của chủ trương nói trên được biểu hiện ở những tiếng nói chân thành, xây dựng
trong những dịp Đảng trưng cầu ý kiến.

Đại hội lần thứ VII của Đảng khẳng định: "Thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa
là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị. Đây vừa là mục tiêu vừa
là động lực của công cuộc đổi mới".

Điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống
pháp luật, tǎng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao trình độ dân trí, trình độ
hiểu biết pháp luật, sao cho giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức xã
hội chủ nghĩa có điều kiện phát huy hết khả nǎng, sức mạnh của mình, góp phần tạo
nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng, của dân tộc để đưa đất nước thoát khỏi tình
trạng khó khǎn trước mắt.

Việc củng cố liên minh công, nông và trí thức trong những nǎm tới là một trong
những nhiệm vụ chính trị trọng yếu của Trung ương Đảng và Chính phủ cũng như toàn
Đảng, toàn dân ta.



XIV. TKQĐ từ CNTB lên CNXH.

1. Tính tất yếu của TKQĐ từ cntb lên cnxh :
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 44
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Để chuyển từ xh tbcn lên xh xhcn – xh mà cnxh p.triển trên chính cơ sở vật chất –
kĩ thuật của nó, cần phải trải qua 1 thời kì quá độ nhất định.

Tính tất yếu của TKQĐ lên cnxh đc lí giải từ các căn cứ sau:

1 là, cntb và cnxh # nhau về bản chất. Cntb đc x.dựng trên cơ sở chế độ tư hữu
tbcn về TLSX, dựa trên chế độ áp bức và bóc lột. Cnxh đc x.dựng trên cơ sở chế độ
công hữu về TLSX chủ yếu, tồn tại dưới 2 h.thức là nhà nc và tập thể; ko còn các g/c
đối kháng, ko còn các tình trạng áp bức, bóc lột. muốn có xh như vậy cần phải có 1 thời
kì lịch sử nhất định.

2 là, cnxh đc x.dựng trên nền sx đại CN có trình độ cao. Q.trình p.triển của cntb đã
tạo ra cơ sở vật chất – kĩ thuật nhất định cho cnxh, nhg muốn cho cơ sở vật chất – kĩ
thuật đó phục vụ cho cnxh cần có time tổ chức, sắp xếp lại.Đối với những nc chưa
từng trải qua q.trình CNH tiến kên cnxh, thời kì quá độ cho việc x.dựng cơ sở vật chất –
kĩ thuật cho cnxh có thể kéo dài với nhiệm vụ trọng tâm của nó là tiến hành CNH xhcn.

3 là, các q.hệ xh của cnxh ko tự phát nảy sinh trong lòng cntb, chúng là kết quả
của q.trình x.dựng và cải tạo xhcn. Sự p.triển của cntb, dù đã ở trình độ cao nhg cũng
chỉ có thể tạo ra những đk, tiền đề cho sự h.thành các q.hệ xh mới xhcn, do vậy cũng
cần phải có time nhất định để x.dựng và p.triển những q.hệ đó.

4 là, công cuộc x.dựng cnxh là 1 công việc mới mẻ, khó khăn và phức tạp, phải
cần có time để g/c cn từng bước làm quen với những công việc đó.

Thời kì quá độ lên cnxh ở các nc có trình độ p.triển k.tế - xh # nhau có thể diễn ra
với khoảng time dài, ngắn khác nhau. Đối với những nc đã trải qua CNTB p.triển ở trình
độ cao thì khi tiến lên CNXH, thời kì quá độ có thể tg đối ngắn. Những nc đã trải qua
g.đoạn p.triển cntb ở trình độ trung bình, đặc biệt là những nc còn ở trình độ p.triển tiền
tư bản, có nền k.tế lạc hậu thì thời kì quá độ thg` kéo dài với rất n` khó khăn, phức tạp.

2. Đặc điểm và thực chất của TKQĐ từ cntb lên cnxh :

Đặc điểm nổi bật của thời kì quá độ từ cntb lên cnxh là sự tồn tại những yếu tố
của xh cũ bên cạnh những nhân tố mới của cnxh trong mối q.hệ vừa thống nhất vừa
đấu tranh với nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống k.tế - xh.

Trên lĩnh vực k.tế: TKQĐ là thời kì tất yếu còn tồn tại 1 nền k.tế n` thành phần
trong 1 hệ thống k.tế quốc dân thống nhất. Đây là bước quá độ trung gian tất yếu trong
q.trình x.dựng cnxh, ko thể dùng ý chí để xóa bỏ ngay kết cấu n` thành phần của nền
k.tế, nhất là đv những nc còn ở trình độ chưa trải qua sự p.triển của PTSX tbcn. Nền
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 45
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
k.tế n` thành phần trong TKQĐ lên cnxh đc xác lập trên cơ sở khách quan của sự tồn tại
n` loại hình sở hữu về TLSX với những h.thức tổ chức k.tế đa dạng, đan xen hỗn hợp
và tg ứng với nó là những h.thức phân phối # nhau, trong đó h.thức phân phối theo lđ tất
yếu ngày càng giữ vai trò là h.thức phân phối chủ đạo.

Trên lĩnh vực chính trị: Do kết cấu k.tế của TKQĐ lên cnxh đa dạng, phức tạp
nên kết cấu g/c xh trong thời kì này cũng đa dạng, phức tạp. Thời kì này bao gồm: g/c
cn, g/c nông dân, tầng lớp trí thức, những ng` sx nhỏ, tầng lớp tư sản. Các g/c, tầng lớp
này vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau. Trong 1 g/c, tầng lớp cũng có n` bộ phận có
trình độ, có ý thức # nhau.

Trên lĩnh vực tư tg – văn hóa: trong TKQĐ lên cnxh còn tồn tại n` yếu tố tư tg và
văn hóa # nhau. Bên cạnh tư tg xhcn còn tồn tại tư tg tư sản, tiểu tư sản, tâm lí tiểu
nông … V.I.Lênin cho rằng, tính tự phát tiểu tư sản là “kẻ thù giấu mặt hết sức nguy
hiểm, nguy hiểm hơn so với n` bọn phản cm công khai”. Trên lĩnh vực văn hóa cũng tồn
tại các yếu tố văn hóa cũ và mới, chúng thg` xuyên đấu tranh với nhau.

Thực chất của TKQĐ từ cntb lên cnxh là thời kì diễn ra cuộc đấu tranh g/c giữa g/
c tư sản đã bị đánh bại ko còn là g/c thống trị và những thế lực chống phá cnxh với g/c
cn và quần chúng nhân dân lđ. Cuộc đấu tranh g/c diễn ra trong đk mới là g/c cn đã nắm
đc chính quyền nhà nc, quản lí tất cả các lĩnh vực đời sống xh. Cuộc đấu tranh g/c diễn
ra với những nd, h.thức mới, diễn ra trong lĩnh vực chính trị, k.tế, tư tg – văn hóa, =
tuyên truyền vận động là chủ yếu, = hành chính và luật pháp.

3. Nd của TKQĐ lên cnxh :

Trong lĩnh vực k.tế: Nd cơ bản là t.hiện việc sắp xếp, bố trí lại các LLSX hiện có
của xh; cải tạo QHSX cũ, x.dựng QHSX mới theo hg tạo ra sự p.triển cân đốicủa nền
k.tế, bảo đảm phục vụ ngày càng tốt đời sống nhân dân lđ. Việc sắp xếp, bố trí lại các
LLSX của xh nhất định ko thể theo ý muốn nóng vội chủ quan mà phải tuân theo tính
tất yếu khách quan của các quy luật k.tế, đặc biệt là q.luật QHSX phù hợp với trình độ
p.triển của LLSX. Đối với những nc chưa trải qua q.trình CNH tbcn, tất yếu phải tiến
hành CNH xhcn nhằm tạo ra đc cơ sở vật chất – kĩ thuật của cnxh. Đv những nc này,
nhiệm vụ trọng tâm của TKQĐ phải là tiến hành CNH,HĐH nền k.tế theo định hg xhcn.
Q.trình CNH,HĐH xhcn diễn ra ở các nc # nhau trong những đk lịch sử # nhau có thể đc
tiến hành với những nd cụ thể và h.thức, bước đi # nhau. Đó cũng là quán triệt quan
điểm lịch sử, cụ thể trong việc x.định những nd, h.thức và bước đi trong tiến trình CNH
xhcn ở TKQĐ lên xhcn.

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 46
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Trong lĩnh vực chính trị: Nd cơ bản là tiến hành cuộc đấu tranh chống lại những
thế lực thù địch, chống phá sự nghiệp x.dựng cnxh; tiến hành x.dựng, củng cố nhà nc và
nền dân chủ xhcn ngày càng vững mạnh, bảo đảm quyền làm chủ trong h.động k.tế,
chính trị, văn hóa, xh của nhân dân lđ; x.dựng các tổ chức chính trị - xh thực sự là nơi
t.hiện quyền làm chủ của nhân dân lđ; x.dựng đảng cộng sản ngày càng trong sạch,
vững mạnh ngang tầm với các nhiệm vụ của mỗi thời kì lịch sử.

Trong lĩnh vực tư tg – văn hóa: Nd cơ bản là t.hiện tuyên truyền, phổ biến những
tư tg khoa học và cm của g/c cn trong toàn xh; khắc phục những tư tg và tâm lí có ảnh
hg tiêu cực đv tiến trình x.dựng cnxh; x.dựng nền văn hóa mới xhcn, tiếp thu g.trị tinh
hoa của các nền văn hóa trên thế giới.

Trong lĩnh vực xh: Nd cơ bản là phải t.hiện việc khắc phục những tệ nạn xh do
xh cũ để lại; từng bước khắc phục sự chênh lệch p.triển giữa các vùng miền, các tầng
lớp dân cư trong xh nhằm t.hiện mục tiêu bình đẳng xh; x.dựng mối q.hệ tốt đẹp giữa
ng` với ng` theo mục tiêu lí tg là tự do của ng` này là đk, tiền đề cho sự tự do của ng` #.

Tóm lại, TKQĐ lên cnxh là 1 thời kì lịch sử tất yếu trên con đg p.triển của
h.thái k.tế - xh cộng sản chủ nghĩa. Đó là thời kì lịch sử có đặc điểm riêng với
những nd k.tế, chính trị, văn hóa và xh đặc thù mà g.đoạn xh xhcn trên con đg
p.triển của h.thái k.tế - xh cộng sản chủ nghĩa chỉ có thể đc trên cơ sở hoàn thành
các nd đó.

4. Liên hệ :

Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kì cải biến cách mạng sâu sắc, triệt
để, toàn diện xã hội cũ thành xã hội mới. Về kinh tế, những nhiệm vụ cơ bản là :

Phát triển lực lượng sản xuất, coi công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là
nhiệm vụ trung tâm của cả thời kì quá độ nhằm xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của
chủ nghĩa xã hội:

Cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội theo V.I.Lênin, là nền sản xuất đại
cơ khí ở trình độ hiện đại được áp dụng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, kể cả
trong nông nghiệp.

Ngày nay, cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội phải thể hiện được
những thành tựu tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông
tin và công nghệ sinh học. Chỉ khi lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ cao mới
tạo ra được năng suất lao động cao trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhờ đó những

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 47
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
mục tiêu và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mới được thực hiện ngày càng tốt hơn
trên thực tế.

Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, khi đất nước ta
chưa có tiền đề về cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội do chủ nghĩa tư bản
tạo ra; do đó phát triển lực lượng sản xuất nói chung, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói
riêng trở thành nhiệm vụ trung tâm của suốt thời kì quá độ. Nó có tính chất quyết định
đối với thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Nhiệm vụ không kém phần quan trọng khác của phát triển lực lượng sản xuất,
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là phát triển nguồn lực con người -
lực lượng sản xuất cơ bản của đất nước, yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế, tạo
đội ngũ lao động có khả năng sáng tạo, tiếp thu, sử dụng, quản lí có hiệu quả các thành
tựu khoa học, công nghệ hiện đại. Vì vậy, phải phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh
tinh thần của con người Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công
nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là “ quốc sách hàng
đầu” trong chiến lược phát triển đất nước.

Xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa:

Xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng một chế độ xã hội mới có nền kinh tế
phát triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về những tư liệu
sản xuất chủ yếu. Chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu là đặc trưng của quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghiã; nó là sản phẩm của nền kinh tế phát triển với trình độ xã
hội hoá cao, các lực lượng sản xuất hiện đại, nó sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ
nghĩa xã hội được xây dựng xong về cơ bản. Vì vậy, không thể nôn nóng, vội vàng, duy
ý chí trong việc xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa. Nó chỉ được hình
thành trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội lâu dài, qua nhiều bước, nhiều hình thức
từ thấp đến cao.

Như vậy, xây dựng quan hệ sản xuất mới định hướng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
phải đảm bảo các yêu cầu sau đây :

Một là, quan hệ sản xuất mới được xây dựng phải dựa trên kết quả của sự phát
triển lực lượng sản xuất, “ bất cứ một sự cải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cũng
đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những lực lượng sản xuất mới”.

Hai là, quan hệ sản xuất biểu hiện trên ba mặt: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức
quản lí và phân phối sản phẩm, do đó, quan hệ sản xuất mới phải được xây dựng một
cách đồng bộ cả ba mặt đó.
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 48
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Ba là, tiêu chuẩn căn bản để đánh giá tính đúng đắn của quan hệ sản xuất mới
theo định hướng xã hội chủ nghĩa là ở hiệu quả của nó: thúc đẩy phát triển lực lượng
sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội.

Trong thời kì quá độ ở nước ta, tất yếu còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, hình
thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa
dạng, đan xen, hỗn hợp. Do đó, xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ
nghĩa đồng thời phải tôn trọng và sử dụng lâu dài và hợp lí cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần.

Mở rộng và nâng cao hiệu quả của quan hệ kinh tế quốc tế :

Trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế và sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại, xu hướng mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế trở
thành tất yếu đối với các quốc gia. Nền kinh tế nước ta không thể khép kín mà phải tích
cực mở rộng và ngày càng nâng cao hiệu quả của quan hệ kinh tế quốc tế.

Toàn cầu hoá kinh tế và cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại tạo ra những
thách thức và nguy cơ cần phải đề phòng, khắc phục; mặt khác, tạo ra cho nước ta
những cơ hội, thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo con
đường “ rút ngắn”. Đó là thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài, nhập được các loại công
nghệ hiện đại và những kinh nghiệm quản lí tiên tiến ... nhờ đó, khai thác có hiệu quả
các nguồn lực trong nước, đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách lạc
hậu so với các nước khác. Đó là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Để mở rộng và nâng cao hiệu quả quan hệ kinh tế quốc tế, phải nâng cao sức
cạnh tranh quốc tế, khai thác thị trường thế giới, tối ưu hoá cơ cấu xuất - nhập khẩu,
đa dạng hoá quan hệ kinh tế với các tổ chức và các quốc gia trong khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên, phải xử lí đúng mối quan hệ giữa mở rộng kinh tế quốc tế với độc lập tự
chủ, bảo vệ an ninh kinh tế quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc với kế thừa, tiếp
thu tinh hoa văn hoá nhân loại ...

XV. XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XHCN.
V.I.Lênin cho rằng: Chế độ dân chủ là 1 h.thức nhà nc, 1 trong những h.thái
của nhà nc. Cho nên cũng như mọi nhà nc, chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức,
có hệ thống sự cưỡng bức đv ng` ta. Do đó, nền dân chủ luôn gắn với nhà nc như là cơ
chế để thực thi dân chủ và mang bản chất g/c của g/c thống trị.
1. Những đặc trưng cơ bản của nền dân chủ XHCN :

P/tích thực tiễn q.trình xuất hiện, tồn tại và p.triển của các nền dân chủ trong
lịch sử, đặc biệt là những q.luật của nền dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, các nhà kinh
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 49
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã kđ: “Đấu tranh cho dân chủ là 1 q.trình lâu dài và ko
thể dừng laiij ở dân chủ tư sản. Sự tất yếu diễn ra và thắng lợi của CMXHCN cũng là
sự tất yếu ra đời của nền dân chủ mới – dân chủ XHCN. Q.trình đó gắn liền với q.trình
ra đời của cnxh.
Sự h.thành dân chủ XHCN đánh dấu bước p.triển mới về chất của dân chủ.
Lần đầu tiên trong lịch sử, đã h.thành chế độ dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân.
Tuy nhiên, sự h.thành và p.triển của nền dân chủ XHCN là 1 q.trình lâu dài.
CMXHCN tạo ra những đk cần thiết để giải phóng quần chúng nhân dân lđ, để mở
rộng dân chủ và trên cơ sở đó CMXHCN cũng lôi cuốn nhân dân lđ vào công cuộc cải
tạo xh, x.dựng nền dân chủ mới.
Chính vì vậy, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tiến trình CMXHCN
và dân chủ XHCN sẽ đc hình thành, p.triển dần dần, từng bước phù hợp với q.trình
p.triển của k.tế, chính trị và văn hóa, xh.
Trong q.trình h.thành và p.triển, dân chủ XHCN có những đặc trưng cơ bản sau
đây:
1 là, với tư cách là chế độ nhà nc đc sánh tạo bởi quần chúng nhân dân lđ dưới sự
lãnh đạo của ĐCS, dân chủ XHCN bảo đảm mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân.
Nhà nc XHCN là thiết chế chủ yếu thực thi dân chủ do g/c cn lãnh đạo thong qua chính
đảng của nó. Nhà nc bảo đảm thỏa mãn ngày càng cao các nhu cầu về lợi ích của nhân
dân, trong đó có lợi ích của g/c cn. Đây chính là đặc trưng bản chất chính trị của dân chủ
XHCN. Điều đó cho thấy, dân chủ XHCN vừa coa bản chất của g/c cn, vừa có tính nhân
dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc.
2 là, nền dân chủ XHCN có cơ sở k.tế là chế độ công hữu về những TLSX chủ
yếu của toàn xh. Chế độ sở hữu đó phù hơp với q.trình xh hóa ngày càng cao của sx
nhằm thỏa mãn nhu cầu ko ngừng tăng lên về vật chất và tinh thần của tất cả quân
chúng nhân dân lđ. Đây là đặc trưng k.tế của nền dân chủ XHCN. Đặc trưng này đc
h.thành và bộc lộ ngày càng đầy đủ cùng với q.trình h.thành và hoàn thiện của nền k.tế
XHCN. Đó là q.trình cải tạo và x.dựng lâu dài kể từ khi bước vào TKQĐ lên CNXH cho
đến khi CNXH thực sự trưởng thành.
3 là, trên cơ sở của sự kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích
của toàn xh (do nhà nc của g/c cn đại diện), nền dân chủ XHCN có sức động viên, thu
hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực xh của nhân dân trong sự nghiệp x.dựng xh
mới. Trong nền dân chủ XHCN, tất cả các tổ chức chính trị - xh, các đoàn thể và mọi
công dân đều đc tham gia vào công việc nhà nc (= thảo luận, góp ý kiến x.dựng c.sách,
hiến pháp, pháp luật…). Mọi công dân đều đc bầu cử, ứng cử và đề cử vào các cơ quan
nhà nc các cấp.
4 là, nền dân chủ XHCN cần có và phải có những đk tồn tại với tư cách và 1 nền
dân rộng rãi nhất trong lịch sử nhg vẫn là nền dân chủ mang tích g/c. T.hiện dân chủ
rộng rãi với đông đảo quần chúng nhân dân, đồng thời hạn chế dân chủ và t.hiện trấn
áp với thiểu số g/c áp bức, bóc lột và phản động. Trong nền dân chủ đó, chuyên chính
và dân chủ là 2 mặt, 2 yếu tố quy định lẫn nhau, t.động, bổ sung cho nhau. Đây chính là
chuyên chính kiểu mới và dân chủ theo hg mới trong lịch sử.
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 50
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
2. Tính tất yếu của việc x.dựng nền dân chủ xhcn :

X.dựng nền dân chủ xhcn là q.trình tất yếu của sự nghiệp CHXN, chủ nghĩa
công sản. C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã có những luận điểm khái quất về CNXH,
về dân chủ XHCN và tính tất yếu của việc x.dựng nền dân chủ xhcn.
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin thì động lức của q.trình
p.triển xh, của q.trình x.dựng cnxh và dân chủ.Dân chủ phải đc mở rộng để phát huy cao
độ tính tích cực, sáng tạo của nhân dân, để nhân tham gia vào công việc quẩn lí nhà nc,
quản lí và p.triển xh. “Với việc p.triển chế độ dân chủ 1 cách đầy đủ, nghĩa là với việc
làm cho toàn thể quần chúng nhân dân tham gia thực sự bình đẳng và thực sự rộng rãi
vào mọi công việc quẩn lí nhà nc”.
Như vậy, t.hiện dân chủ đầy đủ, rộng rãi trở thành 1 yc` khách quan, 1 động lực
của sự nghiệp x.dựng cnxh. CNXH chỉ có thể có đc = p.pháp thực hành dân chủ 1 cách
rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xh. “CNXH ko phải là kết quả của những sắc
lệnh từ trên ban xuống… cnxh sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần
chúng nhân dân”. Thực hành dân chủ rộng rãi trên mọi lĩnh vực của đời sống xh cũng
chính là q.trình x.dựng nền dân chủ xhcn, 1 nền dân chủ mới đảm bảo cho sự thành
công của cnxh. Bởi vì, nền dân chủ xhcn bắt nguồn từ bản chất của chế độ xhcn.
X.dựng nền dân chủ xhcn là q.luật của sự h.thành và tự hoàn thiện của hệ thống chuyên
chính vô sản, hệ thống chính trị xhcn. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
công cuộc x.dựng cnxh.
X.dựng nền dân chủ xhcn cũng là q.trình vận động và thực hành dân chủ; là
q.trình vận động biến dân chủ từ khả năng thành hiện thực trong mọi lĩnh vực của đời
sống xh; là q.trình đưa các g.trị, chuẩn mực, ng.tắc của dân chủ vào thực tiễn x.dựng
cuộc sống mới. X.dựng nền dân chủ xhcn thực sự trở thành 1 cuộc cm của đông đảo
quần chúng nhân dân lđ dưới sự lãnh đạo của ĐCS. X.dựng nền dân chủ xhcn là cuộc
cm t.hiện chuyển giao quyền lực thực sự về cho nhân dân với mục đích lôi cuốn nhân
dân vào q.trình sáng tạo xh mới.
X.dựng nền dân chủ xhcn là q.trình tất yếu diễn ra nhằm x.dựng, p.triển và hoàn
thiện dân chủ, đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Trước hết, nó trở thành đk, tiền đề t.hiện
quyền lực, quyền làm chủ của nhân dân; là đk cần thiết, tất yếu để mỗi công dân đc
sống trong bầu ko khí thực sự dân chủ.
X.dựng nền dân chủ xhcn cũng chính là q.trình t.hiện dân chủ hóa đời sống xh
dưới sự lãnh đạo của g/c cn thông qua ĐCS. Đây cũng là nhân tố q.trọng chống lại
những biểu hiện của dân chủ cực đoan, vô chính phủ, ngăn ngừa mọi hành vi coi thg` kỉ
cương, pháp luật.
Tóm lại, x.dựng nền dân chủ xhcn là 1 q.trình tất yếu của công cuộc x.dựng cnxh,
của q.trình vận động biến dân chủ từ khả năng trở thành hiện thực, để nền dân chủ
“ngày càng hg tới cơ sở hiện thực của nó, tới con ng` hiện thực, nhân dân hiện thực, và
đc xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân”.
3. Ý nghĩa p.pháp luận :


Email: wizard_try@yahoo.com.vn 51
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ xuất hiện khi giai cấp công nhân và, nhân dân lao
động đấu tranh giành được chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Với tính
cách là một chế độ chính trị, dân chủ xã hội chủ nghĩa là hình thức chính trị của nhà
nước, do nhân dân lao động lập ra dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - Nhà
nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; mọi quyền lực thực tế thuộc về nhân
dân, nhân dân quản lý xã hội của mình. Đó là một nền dân chủ thực sự, đầy đủ và triệt
để nhất. Vì đây là dân chủ của đa số, của nhân dân lao động, mọi quyền lực đều thuộc
về nhân dân; trong đó gắn liền với công bằng và bình đẳng xã hội, gắn liền với chống
áp bức, chống bóc lột và bất công, được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh
tế văn hoá, xã hội, được thể chế bằng Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, sản phẩm
thắng lợi của cuộc cách mạng “Tư sản dân quyền cách mạng là thổ địa cách mạng để
đi tới xã hội cộng sản”, của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ
quốc, thống nhất nước nhà, của công cuộc đổi mới đất nước vì hạnh phúc nhân dân do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đã được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam
dốc lòng và đồng tâm xây dựng nhiều chục năm qua, đạt nhiều thành tựu, thì tất yếu
phải là một nền dân chủ nhất nguyên chính trị. Bởi vì, xét về tính chất giai cấp thì nền
dân chủ nào cũng có tính giai cấp, Ở một số nước phương Tây, người ta thực hiện hình
thức dân chủ đa nguyên, nhưng về thực chất, bao giờ cũng là nhất nguyên, do đảng của
giai cấp cầm quyền chi phối việc xây dựng và thực hiện dân chủ. Cái gọi là “đa nguyên
chính trị” chẳng qua chỉ là luận điệu lừa mị của giới tư sản đối với những người non
kém chính trị” rồi trở lại tước quyền dân chủ của nhân dân lao động do gian khổ đấu
tranh mới giành được mà thôi.

XVI. XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC XHCN.
1. Kn nhà nc xhcn :

Nhà nc xhcn là tổ chức mà thông qua đó, Đảng của g/c cn t.hiện vai trò lãnh đạo
của m` đv toàn xh; là 1 tổ chức chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở
k.tế của cnxh; đó là 1 nhà nc kiểu mới, thay thế nhà nc tư sản nhờ kết quả của cuộc
CMXHCN; là h.thức chuyên chính vô sản đc t.hiện trong TKQĐ lên cnxh.

Với tư cách là 1 trong những tổ chức cơ bản nhất của hệ thống cính trị xhcn, nhà
nc xhcn là tổ chức thể hiện và t.hiện ý chí quyền lực của nhân dân. Đó là công cụ quản
lí do chính đảnh của g/c cn lãnh đạo nhân dân tổ chức ra nhằm t.hiện quyền lực và lợi
ích nhân dân, và cũng thông qua đó, g/c cn và chính đảng của m` t.hiện sự lãnh đạo đv
toàn xh trong q.trình bảo vệ và x.dựng cnxh. Chính vì vậy, nhà nc xhcn vừa là cơ quan
quyền lực, vừa là bộ máy hành chính, vừa là tổ chức quản lí k.tế, văn hóa, xh của nhân


Email: wizard_try@yahoo.com.vn 52
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
dân, đc thể hiện tập trung qua 2 chức năng chủ yếu của nó, đó là chức năng thống triij g/
c và chức năng xh.

2. Đặc trưng, chức năng và nhiệm vụ của nhà nc xhcn :

Khác với các h.thức nhà nc đã từng có trong lịch sử, nhà nc xhcn là 1 kiểu nhà
nc đặc biệt. Đó là kiểu nhà nc có những đặc trưng cơ bản sau:
1 là, nhà nc xhcn là công cụ cơ bản để t.hiện quyền lực của nhân dân lđ, đặt dưới
sự lãnh đạo của ĐCS.
2 là, nhà nc xhcn có đặc trưng về ng.tắc # hẳn với nhà nc tư sản. Cũng là công cụ
của chuyên chính g/c, nhg vì lợi ích của tất cả những ng` lđ tức là tuyệt đại đa số nhân
dân, nhà nc chuyên chính vô sản t.hiện sự trấn áp những kẻ chống đối phá hoại sự
nghiệp CMXHCN.
3 là, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết của bạo lực và trấn áp các nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn xem mặt tổ chức, x.dựng là đặc trưng cơ bản của nhà
nc xhcn, của chuyên chính vô sản. V.I.Lênin cho rằng, chuyên chính vô sản ko phải chỉ
là bạo lực đv bọn bóc lột, và cũng ko phải chủ yếu là bạo lực mà mặt cơ bản của nó là
tổ chức, x.dựng toàn diện xh mới – xh xhcn và cộng sản chủ nghĩa.
4 là, nhà nc xhcn nằm trong nền dân chủ xhcn và theo V.I.Lênin, con đg vận động,
p.triển của nó là: ngày càng hoàn thiện các h.thức đại diện nhân dân, mở rộng dân chủ
nhằm lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tham gia quản lí nhà nc, quản lí xh.
5 là, nhà nc xhcn là 1 kiểu nhà nc đặc biệt, “nhà nc ko còn nguyên nghĩa”, là “nửa
nhà nc”. Sau khi những cơ sở k.tế - xh cho sự tồn tại của nhà nc mất đi thì nhà nc cũng
ko còn, nhà nc “tự tiêu vong”. Đây cũng là 1 đặc trưng nổi bật của nhà nc vô sản.
Từ những đặc trưng cơ bản đó cho thấy chức năng, nhiệm vụ của nhà nc xhcn
biểu hiên tập trung ở việc quản lí xh trên tất cả cá lĩnh vực = pháp luật.
Chức năng của nhà nc xhcn đc t.hiện cả = tổ chức có hiệu quả công việc x.dựng
toàn diện xh mới cả = việc sd những công cụ bạo lực để đập tan sự phản kháng của kẻ
thù chống lại sự nghiệp x.dựng cnxh, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nc, giữ vững
an ninh xh.
Bạo lực, trấn áp là cái vốn có của mọi nhà nc, do đó bạo lực, trấn áp cũng là cái
vốn có của nhà xhcn. Tuy nhiên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đều cho
rằng, với bản chất nahf nc vô sản, thì việc tổ chức, x.dựng mang tính sáng tạo nhằm
cải biến xh cũ, x.dựng xh mới xhcn và cộng sản chủ nghĩa là chức năng căn bản, chủ
yếu của nhà nc xhcn.
Khi x/định những nấc thang, những g.đoạn p.triển của cuộc cm xh do g/c cn lãnh
đạo đi tới giải phóng g/c cn, nhân dân lđ và p.triển toàn diện về con ng`, C.Mác và
Ph.Ăngghen đều cho rằng việc g/c cn giành lấy quyền lực nhà nc mới chỉ là g.đoạn đầu
tiên. G.đoạn tiếp theo là, phải sd quyền lực của nhà nc để “ tăng thật nhanh số lg những
LLSX”. Như vậy, rõ ràng chức năng tổ chức và x.dựng phải là chức năng chủ yếu của
nhà nc xhcn.


Email: wizard_try@yahoo.com.vn 53
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
P.triển trên quan điểm của C.Mác và Ăngghen về vấn đề này, V.I.Lênin kđ, việc
tiếp tục x.dựng chủ nghĩa cộng sản, sáng tạo ra 1 xh mới, đó mới là chức năng q.trọng
của nhà nc xhcn, q.trọng hơn cả việc đập tan sự phản kháng của g/c tư sản.
Từ 2 chức năng trên, nhà nc xhcn có những nhiệm vụ chính là: quản lí k.tế,
x.dựng và p.triển k.tế; cải thiện ko ngừng đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân;
quản lí văn hóa – xh, x.dựng nền văn hóa xhcn, t.hiện giáo dục – đào tạo con ng` p.triển
toàn diện, chăm sóc sức khỏe nhân dân… ngoài ra, nhà nc xhcn còn có chức năng, nhiệm
vụ đối ngoại nhằm mở rộng q.hệ hợp tác hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vì sự
p.triển và tiến bộ xh đv nhân dân các nc trên thế giới.
Từ thực tế x.dựng xh mới ở nc Nga Xôviết, Lênin đã làm rõ nhiệm vụ của nhà nc
xhcn trên 2 lĩnh vực k.tế và xh.
Đv lĩnh vực k.tế, nhiệm vụ q.trọng hàng đầu của nhà nc vô sản là phải nhanh
chóng p.triển mạnh số lg sp, củng cố kỉ luật lđ mới và nâng cao năng suất lđ.
Đv lĩnh vực xh, nhà nc xhcn phải x.dựng đc q.hệ xh mới, h.thành những tổ chức lđ
mới, tập hợp đc đông đảo những lđ có khả năng vận dụng những thành tựu của khoa
học – kĩ thuật vào sx, t.hiện từng bước cải tạo những ng` tiểu sx h2 thông qua những tổ
chức thích hợp.
3. Tính tất yếu của việc xd nhà nc xhcn :

C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, g/c cn khi t.hiện sứ mệnh lịch sử của m`, xóa
bỏ tình trạng ng` bóc lột ng` và mọi sự tha hóa của con ng` do chế độ tư hữu sản sinh
ra, thì trước hết họ phải cùng với nhân dân lđ “phá hủy nhà nc tư sản” chiếm lấy chính
quyền, thiết lập chuyên chính vô sản. Bởi vì, “giữa xh tbcn và xh cộng sản chủ nghĩa là
1 thời kì cải biến cm từ xh nọ sang xh kia. Thích ứng với thời kì ấy là 1 TKQĐ chính trị,
và nhà nc của thời kì ấy ko thể là cái gì # hơn là nền chuyên chính cm của g/c vô sản”.
Sau khi trở thành g/c cầm quyền, g/c cn phải nắm vững công cụ chuyên chính,
phải x.dựng nhà nc xhcn vững mạnh, trở thành 1 công cụ trấn áp các thế lực đi ngược
lại lợi ích của nhân dân để bảo vệ thành quả cm nhằm x.dựng thành công cnxh.
Sự cần thiết tất yếu phải xác lập chuyên chính vô sản, x.dựng nhà nc xhcn
vững mạnh còn xuất phát từ thực tiễn của TKQĐ lên cnxh là thời kì còn tồn tại các g/c
bóc lột, chúng h.động chống lại sự nghiệp x.dựng cnxh. Điều đó khiến cho g/c cn và
nhân dân lđ thông qua nhà nc phải trấn áp = bạo lực khi cần thiết. V.I.Lênin xem dấu
hiệu tất yếu, đk bắt buộc của chuyên chính và trấn áp = bạo lực những kẻ bóc lột,
phản động với tính cách là 1 g/c. Đồng thời, trong TKQĐ cũng còn có các g/c, tầng lớp
trung gian # và do địa vị k.tế - xh vốn có, các g/c này thg` đao động, ko thể tự m` đi lên
cnxh. Trước thực tế đó, g/c cn phải tuyên truyền, thuyết phục, lôi cuốn họ đi theo m`
trong công cuộc x.dựng xh mới. Do đó, nhà nc xhcn đóng vai trò là thiết chế cần thiết
bảo đẩm sự lãnh đạo của g/c cn đv toàn xh.
Để mở rộng dân chủ tới mức tối đa đv mọi tầng lớp nhân dân, kiên quyết đấu
tranh chống lại mọi hành vi đi ngược lại những chuẩn mực dân chủ, vi phạm những
g.trị dân chủ chân chính của nhân dân, đòi hỏi phải có 1 thiết chế nhà nc phù hợp. Chính
vì vậy trong nền dân chủ xhcn, nhà nc phải đc củng cố, x.dựng để trở thành công cụ
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 54
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
bảo vệ và p.triển thành quả của dân chủ. Dân chủ cần phải có chuyên chính để giữ lấy
dân chủ, để những hành vi gây tác hại tới quyền dân chủ của nhân dân đc xử lí kịp
thời… Các quyền đó phải đc thể chế hóa trong hiến pháp, pháp luật và đc t.hiện =
những thiết chế tg ứng của nhà nc xhcn. Do đó, q.trình x.dựng nhà nc xhcn là q.trình tất
yếu gắn liền với q.trình x.dựng nền dân chủ xhcn. Q.trình này cho thấy, dân chủ và
pháp luât, dân chủ và kỉ cương ko bài trừ và phủ định nhau, trái lại, đó là sự thống nhất
biện chứng, là đk,tiền đề tồn tại và p.triển của nhau.
X.dựng cnxh là q.trình cải tạo xh cũ, x.dựng xh mới trên tất cả các lĩnh vực k.tế,
chính trị, văn hóa, tư tg. Với ý nghĩa đó, nhà nc xhcn là p.thức, p.tiện, là 1 công cụ chủ
yếu của nhân dân trong sự nghiệp x.dựng và bảo vệ tổ quốc. Bởi vậy, để đảm bảo cho
sự nghiệp x.dựng cnxh thành công thì việc x.dựng và ko ngừng hoàn thiên nhà nc xhcn –
1 trong những công cụ chủ yếu của q.trình cải tạo xh cũ, x.dựng xh mới, là 1 yc` tất
yếu khách quan trong tiến trình CMXHCN.
4. Liên hệ
1 - Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà
nước phải luôn luôn chú trọng kết hợp thực hiện tốt chức năng xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và chính
sách đó; phải luôn luôn gắn bó chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế với bảo đảm quốc
phòng, an ninh.
2 - Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải dựa vào lực
lượng nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; phải xuất phát từ nguyện vọng và
lợi ích của nhân dân và dựa trên nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân.

3 - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và phân công
quyền lực nhà nước thực sự khoa học, phát huy mạnh mẽ hiệu lực, hiệu quả quản lý
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước thực hiện ba quyền
thống nhất có sự phân công rành mạch, trong đó, đề cao trách nhiệm, tính chủ động và
sự phối hợp hoạt động của các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp; thực hiện sự phân cấp hợp lý quyền lực nhà nước giữa chính quyền
trung ương và chính quyền địa phương; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững
mạnh, bảo đảm thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Để xây dựng Nhà nước vững mạnh, cần tiếp tục
đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư
pháp; xác định rõ tính chất, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức của Hội
đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp; tiếp tục nghiên cứu làm rõ mô hình tổ chức
các cơ quan tư pháp (tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra) cho phù hợp với yêu cầu
mới; tăng cường vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Các cơ quan nhà nước thực
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 55
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
hiện quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh tế, bảo đảm sự bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế. Theo đó:

- Quốc hội phải thật sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất; thực hiện chức năng lập hiến, lập pháp, quyết định
những vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn
bộ hoạt động của Nhà nước.

- Chính phủ phải nâng cao hiệu lực hoạt động của mình, thực sự là cơ quan chấp
hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam; tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước; phát huy quyền làm chủ của
nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện mọi chính sách, biện
pháp hữu hiệu nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và đời sống văn hóa, tinh
thần của nhân dân; xác định rõ hơn trách nhiệm của Chính phủ và từng Bộ trưởng, Thủ
trưởng cơ quan ngang bộ trong việc quản lý ngành, lĩnh vực phụ trách; cải tiến việc
phân định, phân cấp trách nhiệm, thẩm quyền giữa các cấp chính quyền theo hướng
phân cấp mạnh hơn nữa cho địa phương kết hợp với quản lý theo ngành và theo lãnh
thổ. Chính phủ khẩn trương hoàn thiện hợp lý cơ cấu tổ chức bộ máy của mình theo
hướng quản lý vĩ mô và mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; từng bước sắp xếp, tổ
chức lại các bộ, ngành ở trung ương, bảo đảm tinh gọn, hợp lý và được hiện đại hóa.

Tiếp tục quán triệt chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước một cách
sâu rộng, toàn diện, đồng bộ từ trung ương đến địa phương, cơ sở. Tập trung cải cách
thể chế hành chính; cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa các thủ tục
trong các lĩnh vực có tác động trực tiếp tới đời sống và sản xuất kinh doanh của nhân
dân; loại bỏ những khâu xin phép, xét duyệt không cần thiết; công khai các quy định,
thủ tục hành chính; triển khai trong các cấp hành chính của cả nước thực hiện cơ chế
"một cửa"; chấn chỉnh việc ban hành các thủ tục hành chính và quy định lệ phí, bảo
đảm chặt chẽ; nâng cao chất lượng giải quyết các khiếu kiện của nhân dân; chấn chỉnh
bộ máy và quy chế hoạt động của hệ thống hành chính; cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công
chức và đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu chuyên nghiệp hóa, nâng cao chất lượng cả về
phẩm chất và năng lực, kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, tham nhũng,
thoái hóa, biến chất và các tiêu cực khác trong hệ thống hành chính; loại bỏ cán bộ,
công chức kém phẩm chất và năng lực ra khỏi bộ máy hành chính nhà nước. Thực hiện
cơ chế bãi miễn những người không xứng đáng. Có những giải pháp đồng bộ để khắc
phục cho được thái độ vô trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức
trong bộ máy nhà nước. Đó là thái độ làm việc thụ động, né tránh khó khăn, sợ va chạm,
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 56
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
cốt sao giữ yên được vị trí trong cơ quan nhà nước. Kiên quyết xóa bỏ mọi rào cản đối
với công cuộc cải cách hành chính.

- Xác định Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trong một thể thống nhất của
chính quyền địa phương. Hội đồng nhân dân là cơ quan đại biểu đại diện cho nhân dân
địa phương, hoạt động mang tính tự quản, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy
định của pháp luật. Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan
thường trực của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.

- Đổi mới tổ chức và hoạt động tư pháp để xây dựng một nền tư pháp Việt Nam
vững mạnh, minh bạch, bảo đảm công lý, công bằng, dân chủ, tận tụy phục vụ nhân
dân. Phải xuất phát từ mục tiêu lấy tổ chức và hoạt động của tòa án làm trung tâm của
cải cách tư pháp.

4 - Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bằng việc định hướng về tổ chức bộ
máy nhà nước, lựa chọn, giới thiệu cán bộ để giữ các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà
nước, lãnh đạo cơ quan nhà nước thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng thành
pháp luật; tăng cường quản lý và kiểm tra tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên hoạt động
trong bộ máy nhà nước, vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy được tính
chủ động, năng động và tự chịu trách nhiệm của những người đứng đầu của các cơ
quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Như vậy, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta theo hướng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa là một quá trình tương đối lâu dài với những bước đi vững chắc gắn
liền với quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa và tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị. Chúng ta tin tưởng
rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự nỗ lực phấn đấu bền bỉ của Nhà nước và
nhân dân ta, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân sẽ được tiếp tục xây dựng và trở thành hiện thực ở Việt Nam.

XVII. VẤN ĐỀ DÂN TỘC.
* Khái niệm dân tộc:
Theo nghĩa hẹp, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người cụ thể nào
đó có những mối liên hệ chặt chẽ bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, ngôn ngữ
chung và trong sinh hoạt văn hoá có những nét đặc thù so với các cộng đồng người khác.
Theo nghĩa rộng, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định
bền vững hợp thành nhân dân của một quốc gia có lãnh thổ chung, có nền kinh tế thống
nhất, có quốc ngữ chung và có truyền thống văn hoá, truyền thống đấu tranh chung
trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 57
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
* Hai xu hướng phát triển của dân tộc:
Nghiên cứu về dâ n tộc và phong trào dân tộc trong CNTB, Lênin đã chỉ ra 2 xu
hướng phát triể có tính khách quan của nó:
Xu hướng thứ nhất: Do sự chín muồi của ý thức dân tộc, sự thức tỉnh về quyền
sống của mìnhthì các cộng đồng dân cư muốn tách ra để hình thành các quốc gia dân tộc
độc lập.
Xư hướng thứ hai: Các dân tộc ở từng quốc gia kể cả các dtộc ở nhiều quốc gia
muốn xích lại gần nhau, liên hiệp với nhau.
Trong điều kiện CN đế quốc, sự vận động của 2 xu hướng trên gặp nhiều khó
khăn, trở ngại. Xu hướg cac dtộc xích lại gần nhau trên cơ sở tự do bìh đẳng bị chủ
nghĩa đé quốc phủ nhận, thay vào đó là những khối liên hiệp với sự áp đặt, thống trị của
chủ nghĩa đé quóc nhằm áp bức, boc lột các dtộc còn nghèo nàn, lạc hậu.
Theo quan điểm của CNMLN thì chỉ có trong đk cảu CNXH khi chế độ người bóc
lột người bị xoá bỏ thì tình trạng dân tộ này áp bức bóc lột dtộc khác mới bị xoá bỏ. Và
khi đó 2 xu hướng trên mới có điều kiện để phát triển đầy đủ.
Ngày nay, mỗi xu hướg trên cũng như mqh giữa chúng có sự biểu hiện rất đa
dạng và phức tạp:
- Xét trên phạm vi toàn TG thì thời đại ngày nay là thời đại của các dtộc bị áp
bức, bóc lột vùng dậy xoá bỏ ách đô hj của CN đế quốc giành lấy quyền tự quyết vận
mệnh của dtộc mình.
- Xét trong từng quốc gia XHCN đa dtộc thì 2 xu hướg trê có hình thức vận động
riêng: từng quốc gia tiến tới sự phồn vinh và các dtộc xích lại gần nhau.
* Giải quyết vấn đề dân tộc:
Vấn đề dân tộc là những nội dung nảy sinh trong mối quan hệ giữa tộc người với
tộc người trong cùng một quốc gia và giữa các quốc gia dân tộc với nhau về các vấn đề
chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, lãnh thổ, an ninh, tác động xấu đến khối đại đoàn
kết dân tộc cần phải được nghiên cứu và giải quyết.
Thực chất của việc giải quyết vấn đề dân tộc là xác lập quan hệ công bằng, bình
đẳng giữa các dân tộc trong cùng một quốc gia, giữa các quốc gia dân tộc với nhau trên
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội. Giải quyết vấn đề dân tộc là một vấn
đề có ý nghĩa quyết định đến sự ổn địh, phát triển hay khủng hoảng tan rã của một
quốc gia, dân tộc.
Nghiên cứu vấn đề dân tộc và các quan hệ dân tộc, Lênin đã đưa ra “Cương lĩnh
dân tộc” với ba nội dung cơ bản: các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được
quyền tự quyết; liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc. Đây được coi là cương lĩnh dân
tộc của chủ nghĩa Mác – lênin. Và nó đã trở thành cơ sở lý luận cho chính sách, đường
lối dân tôc của các Đảng Cộng sản và những nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ, ở
trình độ phát triển cao hay thấp. Các dân tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 58
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không có một dân tộc nào
có quyền đi áp bức, bóc lột dân tộc khác. Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền
bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trên cơ sở pháp lí, nhưng quan trọng hơn nó phải
được thực hiện trên thực tế.
Để thực hiện được bình đẳng dân tộc, trước hết phải thủ tiêu tình trạng áp bức
giai cấp, trên cơ sở đó xoá bỏ tình trạng áp bức dân tộc; phải đấu tranh chống chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa sôvanh.
Từng bước khắc phục tình trạng phát triển chênh lệch từng dân tộc, tạo điều
kiện cho các dân tộc lạc hậu bằng sự nỗ lực của chính mình cùng với sự giúp đỡ của
các dân tộc anh em để cùng phát triển trên con đường tiến bộ.
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết
và xây dựng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc.
Các dân tộc có quyền tự quyết
Đó là quyền của các dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình,
quyền lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình.
Quyền tự quyết dân tộc bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc gia dân tộc
độc lập đồng thời có quyền tự nguyện liên hiệp với dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng.
Tuy nhiên, việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải đứng vững trên lập
trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích
của giai cấp công nhân. Nghiêm cấm lợi dụng quyền tự quyết vào mục đích li khai hay
phá vỡ quốc gia dân tộc.
Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc
Liên hiệp công nhân các dân tộc phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc
và giải phóng giai cấp; phản ánh sự gắn bó chặt chẽ giữa tinh thần của chủ nghĩa yêu
nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính.
Đoàn kết liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng
lớp nhân dân lao động thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc
vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Vì vậy, nội dung này vừa là nội dung chủ yếu vừa
là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung của Cương lĩnh dân tộc thành một chỉnh
thể.
* Vấn đề dtộc ở Việt Nam.
Việt nam là một quốc gia có 54 dân tộc. Các dân tộc Việt Nam có truyền thống
đoàn kết, giúp dỡ nhau trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, chế ngự thiên nhiên và
xây dựng đất nước. Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin đặc biệt là
cương lĩnh dân tộc của Lênin, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn đặt vấn đề dân tộc ở vị
trí chiến lược và công tác dân tộc là bộ phận quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã xây dựng chính sách dân tộc trên nguyên tắc
đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, để cùng giành độc lập, xây
dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc ; đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của
mỗi dân tộc
Những nội dung cụ thể của chính sách dân tộc được xác định gồm :

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 59
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Một là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp
với đặc điểm, điều kiện của từng vùng, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác
thế mạnh của địa phương làm giàu cho mình và cho đất nước, tham gia tích cực vào sự
nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Hai là, có chính sách ưu tiên đặc biệt phát triển giáo dục và đào tạo, coi trọng
đào tạo cán bộ và đội ngũ trí thức cho các dân tộc thiểu số.
Ba là, kế thừa và phát triển giá trị văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
và của từng dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Bốn là, quan tâm đặc biệt đến vùng cao, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng và
kháng chiến trước đây ; tăng cường cơ sở khám chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã,
thôn, ấp, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân
tộc thiểu số ; khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian ; từng bước ngăn
chặn tình trạng suy giảm dân số, suy giảm đời sống của một số dân tộc thiểu số.
Năm là, xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào các dân tộc
thiểu số và miền núi phải gắn chặt với chính sách an ninh - quốc phòng nhất là ở các
địa bàn xung yếu, vùng sâu, biên giới ; ngăn chặn việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo
để phá hoại khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, làm mất ổn định xã hội.

XVIII. TRIỂN VỌNG CỦA CNXH.
1. Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của xã hội loài người
a. Bản chất của chủ nghĩa tư bản không thay đổi.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng đánh giá rất cao vai trò lịch sử của giai cấp tư sản
và chủ nghĩa tư bản. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của đảng cộng sản, các ông viết “giai
cấp tư sản đã đóng vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử”; song các ông cũng dự báo
và chứng minh những dự báo của mình “sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi
của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.
Vận dụng quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin trong tác phẩm “Chủ
nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” chỉ ra những mâu thuẫn, xu
hướng vận động của chủ nghĩa tư bản đến chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn “tột cùng”,
ăn bám và giãy chết và là phòng chờ của chủ nghĩa xã hội. Nhưng tình hình thực tế trong
mấy thập niên vừa qua, chủ nghĩa tư bản ngày nay phát triển rất mạnh do biết tự điều
chỉnh và thích ứng, biết tìm bí quyết để sống lại từ con đường cùng. Chủ nghĩa tư bản
còn khả năng để phát triển nhưng bản chất của chủ nghĩa tư bản thì không thay đổi,
những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, bản thân nó không thể khắc phục nổi, đó là
tình trạng khủng hoảng kinh tế, ngoài khủng hoảng mang tính chu kỳ ra còn có khủng
hoảng cơ cấu, khủng hoảng thể chế, khủng hoảng tài chính tiền tệ v.v. Các loại khủng
hoảng và những khó khăn của chủ nghĩa tư bản đã dẫn tới hàng loạt vấn đề xã hội nảy
sinh như tình trạng thất nghiệp, nghèo khó và chênh lệch giàu nghèo xã hội, mâu thuẫn
dân tộc tăng lên, trật tự xã hội hỗn loạn, hoạt động tội phạm gia tăng v.v. Chủ nghĩa tư

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 60
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
bản ngày nay dù đã có những điều chỉnh nhưng vẫn là “một thế giới không thể chấp
nhận” như Renê Duynông khẳng định trong cuốn sách của mình.
Trong khuôn khổ của CNTB dù là CNTB hiện đại, trên thế giói ngày nay vẫn có
đến 1,2 tỉ người vẫn tiễp tục phải chịu ghèo đói, tật bệnh mù chữ, chiến trnah, hưởng
mức thu nhập dưới 1USD/ngày; 2,5 tỉ ng nghèo có tổng thu nhập chỉ bằng thu nhập của
250 tỉ phú, triẹu phú lớn nhất thế giới gộp lại; 1/3 LL lđ toà TG, tức khoảng 1 tỉ ng bị
thất nghiệp ở các mức khác nhau; tại hơn 100 nước đang hoặc kém phát triển, mức thu
nhập bình quân đầu ng giảm đi so với thập niên trước, hàng ngày có đến30000 trẻ em
chết bệnh mà lẽ ra có thể được cứu sống, và só ng mù chữ lên tới 800 triệu người.
Sự kiện giới cầm quyền Mỹ và giới cầm quyền Anh tấn công Irắc năm 2003
càng khẳng định bản chất hiếu chiến của chúng.
b. Các yếu tố xã hội chủ nghĩa đang nảy sinh trong lòng chủ nghĩa tư bản.
Theo quan điểm của C.Mác “sự thay thế của các hình thái kinh tế-xã hội là một
quá trình lịch sử-tự nhiên”. Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội với tư cách là hai hình
thái kinh tế xã hội khác nhau, kế tiếp nhau, xã hội trước tất yếu bị xã hội sau thay thế,
xã hội sau vừa phủ nhận xã hội trước vừa kế thừa và phát triển những thành tựu mà xã
hội trước tạo ra. Chủ nghĩa tư bản ngày nay đã phát triển đến giai đoạn cao nhất của
nó- chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước- đã gần với chủ nghĩa xã hội hơn. Theo V.I.
Lênin chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự chuẩn bị đầy đủ nhất cho chủ nghĩa
xã hội, là giai đoạn trước của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản ngày nay đã tạo ra
nền sản xuất lớn với khoa học công nghệ ngày càng hiện đại, sự phát triển xã hội hoá
sản xuất đang “nẩy mầm” những nhân tố của chủ nghĩa xã hội. Sự xuất hiện những
công ty cổ phần trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự tăng lên của nó và
những nhân tố xã hội chủ nghĩa khác có nghĩa là sự phát triển của quá trình lịch sử tự
nhiên trong đó chủ nghĩa tư bản bắt đầu quá độ sang phương thức sản xuất mới. Trong
xã hội tư bản hiện đại, về mặt sở hữu, sự xuất hiện quốc hữu hoá, chế độ hợp tác,
công ty cổ phần, nhà nước đóng vai trò điều tiết quản lý về vốn, nguồn lao động tham
gia quản lý xí nghiệp ở mức độ khác nhau, sự rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và
nông thôn, lao động trí óc với lao động chân tay, tính dân chủ và xã hội của nhà nước
tăng lên v.v tất cả những cái đó nếu không nói đó là những nhân tố của chủ nghĩa xã hội
ở mức độ nhất định, thì đó cũng là sự chuẩn bị điều kiện vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên điều đó vẫn chưa vượt ra khỏi cái khung tư bản chủ nghĩa, sự biến đổi về
lượng chưa chuyển thành sự biến đổi về chất, vẫn là chủ nghĩa tư bản.
c.Tính đa dạng các xu hướng phát triển của thế giới đương đại.
Sau cách mạng Tháng Mười nhất là từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, với sự tồn
tại hai hệ thống kinh tế xã hội đối lập nhau đã tác động đến sự lựa chọn con đường
phát triển của các dân tộc.
Ở các nước vốn trước đây là thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc sau khi giành độc
lập đã, đang lựa chọn con đường phát triển của dân tộc mình. Con đường tư bản tư
nghĩa trong những điều kiện nhất định đã đem lại những thành công cho một số nước
còn phần lớn cách nước khác không thoát khỏi đói nghèo, nợ nần chồng chất.
Ngay ở các nước tư bản phát triển cũng nảy sinh xu hướng phát triển “phi tư bản”,
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 61
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
“hậu tư bản”, xu hướng xã hội dân chủ v.v điều này chứng tỏ chủ nghĩa tư bản không
phải là “xã hội tốt đẹp cuối cùng”, không phải là tương lai của loài người mà nó sẽ
phải bị thay thế.
2. CNXH – tương lai của xã hội loài người.
a. Sự sụp đổ của Liênxô và các nước Đông Âu không có nghĩa là sự cáo chung của
CNXH.
Cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, sự kiện Liênxô, Đông Âu
sụp đổ, phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới bị tổn thất nghiêm trọng. Kẻ thù thì vội vã
vui mừng cho đó là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội, sự cáo chung của chủ nghĩa Mác,
còn người dân cũng không khỏi hoang mang bối rối. Sự thật, sự tan rã của Liên xô,
Đông Âu không phải là sự thất bại của chế độ và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã
hội mà chỉ là sự thất bại của một mô hình thực tiễn nhất định. Mô hình chủ nghĩa xã
hội kiểu Liênxô, mô hình chủ nghĩa xã hội cứng nhắc, nó không đồng nghĩa với sự sụp
đổ của chủ nghĩa xã hội với tính cách là một hình thái kinh tế-xã hội mà loài người đang
vươn tới. Sự sụp đổ của Liênxô và Đông Âu cũng không vì thế mà thay đổi nội dung,
tính chất của thời đại. Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội, sự tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Liênxô và Đông Âu chỉ chứng tỏ tính
quanh co, phức tạp của sự phát triển xã hội mà thôi.
b. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải cách mở cửa, đổi mới và ngày
càng thu được những thành tựu to lớn.
Trong bối cảnh Liênxô và các nước xẫ hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, thì ở một
số nước xã hội chủ nghĩa khác điển hình là Trung Quốc và Việt Nam đã tiến hành đổi
mới, cải cách mở cửa thành công, đã đưa đất nước vượt qua khó khăn khủng hoảng và
đạt được những thành tựu to lớn. Trên cơ sở kiên trì, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác
- Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình, trong qua trình đổi mới, cải cách, mở cửa
đã giữ vững nguyên tắc, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước và
xã hội. Để giữ vững vai trò lãnh đạo, Đảng phải tự đổi mới theo hướng dân chủ, khoa
học phù hợp với điều kiện cụ thể của nước mình.
Đã từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch tập trung chuyển sang kinh tế thị trường, thừa
nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, lấy hình
thức phân phối theo lao động là nguyên tắc chủ yếu. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tế. Nhà nước quản lí vĩ mô, giảm
dần sự can thiệp vi mô, thực hiện chế độ dân chủ, công khai minh bạch. Xác định con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường khó khăn lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn.
Sau hơn 30 năm (1978) cải cách, mở cửa của Trung Quốc, hơn 20 năm (1986) đổi mới ở
Việt Nam, Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, được cộng
đồng quốc tế thừa nhận và đánh giá cao, vị thế của Trung Quốc và Việt Nam ngày càng
được thế giới tôn trọng. Thành công của cải cách, mở cửa của Trung Quốc, đổi mới ở
Việt Nam cũng là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin, của chủ nghĩa xã hội.
c. Sự xuất hiện xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở các nước Mỹ Latinh.
Cùng với những thành công của công cuộc cải cách, đổi mới của Trung Quốc và
Việt Nam, sự hồi phục của các Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây,
Email: wizard_try@yahoo.com.vn 62
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
ở Mỹ Latinh đã xuất hiện xu hướng thiên tả từ những năm 90 của thế kỷ XX và hiện
nay không ngừng lớn mạnh. Thông qua bầu cử các lực lượng dân chủ, tiến bộ đã thành
lập được chính phủ lên cầm quyền ở các nước Mỹ Latinh như Vênêzuala, Nicaragoa,
Bôlivia, Braxin, Acgentina v.v nhiều nước đã tuyên bố lựa chọn con đường xã hội chủ
nghĩa. Mô hình chủ nghĩa xã hội nhiều nước Mỹ Latinh lựa chọn tạo thành mô hình
“chủ nghĩa xã hội Mỹ Latinh thế kỷ XXI”, mô hình này về đại thể có những nội dung
cơ bản là Về tư tưởng, lấy chủ nghĩa Mác, tư tưởng tiến bộ của Ximôn Bôlivia, tư
tưởng nhân đạo thiên chúa giáo làm nền tảng. Về chính trị, nhấn mạnh tư tưởng “dân
chủ cách mạng” và chính quyền nhân dân, xây dựng mô hình xã hội theo đó nhân dân
tham gia vào công việc của nhà nước, thực hiện công bằng xã hội. Về kinh tế, chủ
trương thực hiện kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước và hợp tác giữ vai
trò chủ đạo, giành lại chủ quyền dân tộc đối với tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là dầu
mỏ, nước sạch v.v thực hiện công bằng, giải quyết vấn đề bất bình đẳng và phân hoá
xã hội. Về đối ngoại, thúc đẩy khối đại đoàn kết Mỹ Latinh và quan hệ hữu nghị với
tất cả các nước, lấy hợp tác thay thế cạnh tranh, đấu tranh cho một thế giới đa cực dân
chủ, chú trọng kinh nghiệm quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa như Cu Ba, Việt
Nam, Trung Quốc. Mô hình chủ nghĩa xã hội Mỹ Latinh tuy còn điểm này điểm khác,
còn tiếp tục được nghiên cứu, theo dõi, nhưng với sự xuất hiện mô hình đó chứng tỏ
sức sống và khả năng phát triển của chủ nghĩa xã hội và lòng tin vào lý tưởng cộng sản
chủ nghĩa của nhân dân lao động.
Tóm lại, tình hình thế giới đang vận động rất phức tạp, những diễn biến từ sau
cách mạng Tháng Mười Nga đến nay cũng chứng tỏ dù phải trải qua những bước quanh
co phức tạp nhưng loài người nhất định tiến tới chủ nghĩa xã hội, đó cũng chính là quy
luật vận động khách quan của lịch sử.
3. Triển vọng của CNXH ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, thực tiễn đã cho thấy: Dân giàu nước mạnh không chỉ là niềm mong
ước của nhân dân mà cũng là mục tiêu duy nhất của cách mạng mà Đảng Cộng sản
Việt Nam vươn tới. Đó cũng là mơ ước trọn đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chế độ XHCN ở Việt Nam đã phản ánh đúng quy luật phát triển của dân tộc, đáp
ứng nguyện vọng tha thiết của toàn dân và chứng minh sức sống mãnh liệt của nó trong
hoàn cảnh một dân tộc nhỏ, yếu, muốn tồn tại và phát triển phải luôn vượt qua thử
thách gay go, ác liệt. Một người có thể lầm, một thế hệ có thể lầm nhưng cả dân tộc
với gần trọn một thế kỷ đổ máu xương cho nền độc lập tự do thì không thể lầm. Con
đường XHCN của Việt Nam mang hơi thở thời đại. Sự lựa chọn con đường đi của dân
tộc ta là hoàn toàn đúng.
Trên con đường phát triển, những bước quanh co khúc khuỷu là bình thường.
CNXH đang ở bước quanh của lịch sử, cũng như nhiều nước tư bản đã từng gặp không
ít cơn sóng gió, khủng hoảng. Lịch sử ghi nhận những năm 60-70 của thế kỷ trước, khi
nhiều nước XHCN đang phát triển, giá trị nhân văn của cuộc sống xã hội trở thành niềm
mong ước của nhân dân nhiều nước thì cũng là thời điểm chủ nghĩa tư bản hốt hoảng
biết tự điều chỉnh để thích ứng.

Email: wizard_try@yahoo.com.vn 63
Bùi Thị Ngọc, TN4A, Đại học Công đoàn Tel: 01656241050
Vào những năm đầu thập kỷ 80, thì CNXH rơi vào tiền khủng hoảng do chế độ
quản lý kinh tế tập trung đã bộc lộ sự yếu kém và lỗi thời của nó, mở đầu cho sự ngộ
nhận, trì trệ kéo dài trên dưới 20 năm. Sự khủng hoảng của các nước XHCN dẫn tới sự
sụp đổ của nhiều nước chính là do sai lầm của sự lựa chọn mô hình, của giải pháp,
bước đi kém hiệu quả. Không thể vì sự yếu kém do mô hình dẫn đến thử thách lớn vừa
qua mà vội phủ nhận tư tưởng XHCN. Chính vào lúc phong trào XHCN ở thời kỳ thoái
trào thì sự đổi mới lý luận tư tưởng XHCN đặc biệt phát triển không chỉ ở các nước
XHCN mà cả ở phương Tây đương đại.
Các Đại hội quốc tế về chủ nghĩa Mác liên tục diễn ra ở Paris (1995), New York
(1996), London (1996)... thu hút đông đảo người tham dự càng cho thấy sức sống mạnh
mẽ của chủ nghĩa Mác. Những người đảng viên cộng sản chúng ta đang phát triển, bổ
sung và hoàn thiện lý luận chủ nghĩa Mác. Thực tế từ thập kỷ 80 của thế kỷ 20 đã đánh
dấu bước thử thách của tất cả các Đảng Cộng sản cầm quyền. Nhân dân các nước đều
đồng tình với chủ trương đổi mới, cải cách để tìm bước đi và giải pháp thích hợp năng
động hiệu quả hơn chứ nhân dân không đồng tình với việc lật đổ chế độ để phát triển
theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Thực tiễn của Trung Quốc, Việt Nam, Cuba và những gì đã diễn ra trong đời sống
chính trị của Nga và các nước Đông Âu đã chứng minh điều đó. Cũng như nhiều nước
XHCN, mô hình CNXH ở Việt Nam một thời gian còn nhiều mặt yếu kém, thậm chí có
cả khuyết điểm, sai lầm. Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành đổi mới để tìm những
giải pháp tốt hơn, hữu hiệu hơn.
Tôi nhớ lời nhận xét của người phụ trách Văn phòng hợp tác kỹ thuật của CHLB
Đức ở VN: “Trong một đất nước mà ở đó tới giữa những năm 80 nạn đói vẫn hoành
hành thì trước hết tôi sẽ nói về cuộc đấu tranh chống nghèo đói. Trên lĩnh vực này, VN
dẫn đầu thế giới từ những năm 90. Ở đây, CNXH có diện mạo mang tính xã hội hơn so
với chủ nghĩa tư bản ở nhiều nước phát triển”.
Bằng thành tựu đổi mới, Việt Nam đang cho thế giới thấy rõ sự tồn tại của chế
độ XHCN, đồng thời qua tổng kết lý luận từ thực tiễn, chúng ta cũng đang làm giàu
thêm kho báu tư tưởng của CNXH thế giới.




Email: wizard_try@yahoo.com.vn 64
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản