Đề cương ôn môn Kinh tế chính trị

Chia sẻ: Nguyễn Văn Tín | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:12

0
354
lượt xem
186
download

Đề cương ôn môn Kinh tế chính trị

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phân tích các thuộc tính của hàng hoá. Các xác định lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng tới nó: Hàng hoá là sản phẩm của lao động thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán. Vì vậy, không phải bất kì vật phẩm nào cũng trở thành hàng hoá.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề cương ôn môn Kinh tế chính trị

  1. Phần II: Môn kinh tế chính trị Câu 1: Phân tích các thuộc tính của hàng hoá. Các xác định lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng tới nó. Hàng hoá là sản phẩm của lao động thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán. Vì vậy, không phải bất kì vật phẩm nào cũng trở thành hàng hoá. * Hai thuộc tính của hàng hoá: giá trị và giá trị sủ dụng - Giá trị sủ dụng là công dụng của vật phẩm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người. Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định, là nội dung vật chất của của cải, vì vậy nó là một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm là: giá trị sử dụng không phải cho người trực tiếp sản xuất ra nó mà là cho người khác, cho xã hội. Giá trị sử dụng đến tay người khác - người tiêu dùng phải thông qua trao đổi mua bán. Trong nền kinh tế hàng hoá giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi. - Giá trị của hàng hoá: muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi. giá trị trao đổi là biểu hiện quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau. Thí dụ: 1 m vải = 5 kg thóc Hai hàng hoá vải và thóc có giá trị sử dụng khác nhau lại có thể trao đổi đựoc với nhau theo 1 quan hệ tỷ lệ nhất định, vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là sự hao phí sức lao động của con người. sự hao phí lao động đó chính là giá trị của hàng hoá. Vậy, giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá đó. Do đó, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị. Giá trị phản ánh mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. từ đó giá trị là một phạm trù lịch sử nó chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá.. * Cách xác định lượng giá trị hàng hoá Nếu giá trị hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá, thì lượng giá trị của hàng hoá là lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó ( bao gồm lao động vật hoá và lao động sống). Trong sản xuất hàng hoá, hao phí lao động cá biệt tạo thành giá trị cá biệt của hàng hoá. Trên thị trường, không thể dựa vào giá trị cá biệt để trao đổi mà phải dựa vào giá trị xã hội của hàng hoá. Giá trị xã hội của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuật 1 loại hàng hoá nào đó. Đó là thời gian cần thiết để sản xuất một hàng hoá trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội nghĩa là với trình độ kĩ thuật trung bình, trình độ tay nghề trung bình và cường độ lao động trung bình.Thông thường là thời gian lao động xã hội cần thiết của 1 loại hàng hoá nào đớ gần sát với thòi gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận loại hàng hoá đó trên thị trường.
  2. * Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá: Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá: Năng suất lao động có ảnh hưởng trực tiếp tới lượng giá trị hàng hoá. Năng suất lao động được đo bằng số lượng thời gian hao phí để chế tạo ra một sản phẩm. Giá trị hàng hoá thay đổi tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. còn năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ kỹ thuật của người lao động, máy móc thiết bị, phương pháp tổ chức quản lý… Cần phân biệt tăng năng suất lao động với tăng cường độ lao động để sản xuất 1 hàng hoá có lao động khác nhau tạo ra các loại hàng hoá có giá trị khác nhau đó là lao động giản đơn và lao động phức tạp. Câu 2:Phân tích quy luật giá trị. Biểu hiện của quy luật này qua 2 giai đoạn phát triển của CNTB? * Quy luật giá trị Nội dung của quy luật giá trị: Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất hàng hoá. Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thỉ ở đó có quy luật giá trị hoạt động. Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết. Sự hoạt động của quy luật giá trị được biểu hiện thông qua giá cả hàng hoá trên thị trường. giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Trong sản xuất quy luật yêu cầu thời gian lao động hao phí cá biệt để sản xuất hàng hoá phải phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết.Trong lưu thông(trao đổi) đối với mỗi hàng hoá giá cả có thể bán cao hoặc thấp hơn giá trị nhưng bao giờ cũng xoay quanh giá trị. Đối với tổng hàng hoá quy luật nàu yêu cầu tổng giá cả sau khi bán phải bằng tổng giá trị hàng hoá trong sản xuất. Như vậy, nhìn bề ngoài sản xuất và trao đổi hàng hoá là công việc riêng của từng người, họ độc lập và hình như không chịu sự chi phối nào, nhưng trên thực tế mọi người sản xuất và trao đổi hàng hoá đều chịu sự chi phối của quy luật gía trị. Tác dụng của quy luật giá trị: Trong nền sản xuất hàng hóa quy luật giá trị có 3 tác dụng sau : + Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá: người sản xuất hàng hoá sản xuất cái gì, bán cho ai và bằng công nghệ nào là do họ tự quyết định. Mục đích của họ là thu được nhiều lãi. Dựa vào sự biến động của giá cả thị trường người ta biết được hàng hoá nào đang khan hiếm, có giá cao, hàng hóa nào đang ế thừa, có giá thấp. Từ đó, họ sẽ mở rộng những mặt hàng đang khan hiếm, có giá cao để thu được nhiều lãi và ngược lại sẽ thu hẹp sản xuất thậm chí đóng cửa không sản xuất những mặt ế thừa, không tiêu thụ được. kết quả là các yếu tố sản xuất (TLSX, SLĐ) chuyển dịch từ nghành này sang nghành khác, làm cho quy mô nghành này mở rộng, nghành kia thu hẹp. Đó là sự điều tiết sản xuất của quy luật giá trị Tác dụng điều tiết lưu thông của quy luật giá trị được biểu hiện ở chỗ
  3. hàng hoá bao giờ cũng được đưa từ nơi có giá bán thấp đến nơi có giá bán cao. Quy luật giá trị có tác dụng điều tiết sự vận động đó, phân phối các nguồn hàng hoá hợp lý hơn giữa các vùng của đất nước, giữa cung và cầu đối với các loại hàng hoá trong xã hội. + Thúc đẩy lực lượng sản xuất(LLSX) phát triển: trong nền kinh tế hàng hoá người sản xuất hàng hoá nào cũng muốn có nhiều lãi. Người có nhiều lãi hơn là người sản xuất ra hàng hoá có giá trị cá biệt thấp hơn so với giá trị xã hội của hàng hoá, nếu các điều kiện khác giống nhau. Muốn vậy, những người sản xuất phải tìm tòi cải tiến kỹ thuật sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề, ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học, kỹ thuật vào sản xuất,cải tiến tổ chức quản lý sản xuất, thực hành tiết kiệm. Sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn. Kết quả là năng suất lao động tăng lên nhanh chóng. Ngoài ra, để thu đựơc nhiều lãi, người sản xuất hàng hoá còn phải thường xuyên cải tiến chất lượng, mẫu mã hàng hoá cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng; cải tiến các biện pháp lưu thông, bán hàng tiết kiệm chi phí lưư thông và tiêu thụ sản phẩm nhanh hơn. Vì vậy, quy luật giá trị có tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. + Phân hoá những người sản xuất hàng hoá: Sự tác động của quy luật giá trị bên cạnh mặt tích cực còn dẫn đến phân hoá những người sản xuất hàng hoá thành kể giàu người nghèo. Trong sản xuất hàng hoá dưới tác động của quy luật giá trị và các quy luật khác, tất yếu dẫn đến kết quả là: những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ cao, có kiến thức, trang bị kĩ thuật tốt, có vốn… sẽ phát tài và trở thành giàu có. Ngược lại, những người không có các điều kiện trên hoặc gặp rủi ro, tai nạn sẽ dẫn đến mất vốn phá sản. Tác dụng này của quy luật giá trị một mặt đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển, mặt khác phân hoá xã hội thành kẻ giàu người nghèo, tạo ra những điều kiện cho sự ra đời phát triển nền sản xuất hàng hoá lớn hiện đại đại đó là nền sản xuất hàng hoá TBCN. * Biểu hiện của quy luật này qua hai giai đoạn phát triển của CNTB Trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh quy luật được biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất. Trong giai đoạn CNTB độc quyền quy luật giá trị được biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền Câu 3: Mâu thuẫn của công thức chung của TB. Vì sao phân tích hàng hoá sức lao động là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn đó ? Mọi TB đều xuất hiện với một khối lượng tiền tệ nhất định và vận động theo công thức T – H - T’ trong đó T’= T+t. Số tiền trội lên so với số tiền ứng ra ban đầu đựoc Mác gọi là GTTD, ký hiệu là m. Đây là công thúc chung của TB. * Mâu thuẫn của công thức chung của TB Lý luận giá trị khẳng định rằng giá trị hàng hoá là do lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá, nghĩa là nó chỉ được tạo ra trong sản xuất. nhưng mới thoạt nhìn vào công thức chung ta lại có cảm giác GTTD được tạo ra trong lưu thông. Có
  4. phải lưu thông tạo ra GTTD không? Sự thật lưu thông thuần tuý dù trao đổi ngang giá hay trao đổi không ngang giá cũng không làm tăng thêm giá trị. + Trường hợp trao đổi ngang giá, những người tham gia trao đổi chỉ có lợi về mặt giá trị sử dụng chứ không có lợi về mặt giá trị, nên không tạo ra m. Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, người này được lợi trong mua và bán, thì người khác sẽ mất đi khi bán và mua, còn xét trên phạm vi toàn xã hội thì đó chỉ là sự phân phối lại giá trị mà thôi. Sự phân tích trên cho thấy trong lưu thông không làm cho T lớn lên, nhưng nếu nằm ngoài lưu thông(tức là tiền tệ để trong két) thì tiền tệ cũng không làm tăng thêm giá trị. Như vậy, mâu thuẫn của công thức chung của TB biểu hiện ở chỗ: tiền tệ vừa lớn lên trong lưu thông vừa không được tạo ra trong lưư thông. Để giải quyết được mâu thuẫn này phải tìm trên thị trường một hàng hoá có khả năng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. Đó là hàng hoá sức lao động. * Hàng hoá sức lao động: sức lao động là toàn bộ thể lực, trí lực của con người, là khả năng lao động của con người. + Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá: người có sức lao động được tự do về thân thể, được quyền làm chủ sức lao động của mình để có thể đi làm thuê(bán sức lao động). Họ không có TLSX và của cải khác trong điều kiện đó họ buộc phải đi làm thuê tức là bán sức lao động của mình. + Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động Hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính như mọi hàng hoá thông thường: Giá trị sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định. Sức lao động tồn tại trong cơ thể sống con người, muốn sản xuất và tái sản xuất ra nó con người cần phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định. Vì vậy, giá trị hàng hoá sức lao động được tính bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết về mặt vật chất và tinh thần để duy trì đời sống bình thường của người công nhân và gia đình anh ta kể cả những phí tổn học tập để người công nhân có một trình nhất định.Vệc xác lập giá trị hàng hoá sức lao động như trên là tất yếu đối với quá trình tái sản xuất xã hội. Giá trị hàng hoá sức lao động có đặc điểm phụ thuộc vào yếu tố tinh thần lích sử nghĩa là nó phụ thuộc vào các điều kiện cụ thể của từng nước như: khí hậu, tập quán, trình độ văn minh, nguồn gốc hoàn cảnh ra đời và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động là công dụng của hàng hoá sức lao động nó cũng nhằm thoả mãn nhu cầu của người mua để sử dụng vào quá trình lao động sản xuất. Khác với hàng hoá thông thường khi được sử dụng nó có khả năng tạo ra một lượng giá trị ban đầu của bản thân nó. Đó chính là nguồn gốc của gía trị thặng dư.Đây là đặc điểm riêng có của hàng hoá sức lao động. Đặc điểm này là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của TB.
  5. Câu 4: Thế nào là GTTD ? GTTD tuyệt đối , GTTD tương đối, GTTD siêu ngạch? So sánh sự giống nhau và khác nhau của GTTD tuyệt đối và GTTD tương đối. 1. GTTD, GTTD tuyệt đối, GTTD tương đối và GTTD siêu ngạch. GTTD: là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do người công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà TB chiếm đoạt. GTTD phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất TB chủ nghĩa – quan hệ bóc lột của nhà TB đối với lao động làm thuê. Mục đích của các nhà TB là sản xuất ra GTTD tối đa, vì vậy, các nhà TB dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng GTTD.Khái quát lại có hai phương pháp chủ yếu để đạt được mục đích đó là sản xuất GTTD tuyệt đối và sản xuất GTTD tương đối. GTTD tuyệt đối là GTTD thu được do kéo dài ngày lao động vượt khỏi giới hạn thời gian lao động cần thiết. Ngày lao động kéo dài trong khi thời gian lao động cần thiết không thay đổi,do đó thời gian lao động thặng dư tăng lên. Sản xuất GTTD tuyệt đối là cở sở chung của chế độ TBCN. Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa TB, khi lao động còn ở trình độ thủ công và năng suất lao động còn thấp. Với lòng tham vô hạn, nhà TB tìm mọi thủ đoạn đẻ kéo dài ngày lao động, nâng cao trình độ bóc lột lao động làm thuê. Nhưng một mặt, do giới hạn tự nhiên của sức lao động con người; mặt khác, do đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân đòi rút ngắn ngày lao động, cho nên ngày lao động không thể kéo dài vô hạn. Tuy nhiên, ngày lao động cũng không thể rút ngắn đến mức chỉ bằng thời gian lao động tất yếu. Một hình thức khác của sản xuất GTTD tuyệt đối là tăng cường độ lao động. Vì tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày, trong khi thời gian lao động tất yếu không thay đổi. GTTD tương đối là GTTD thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu và tăng tương ứng thời gian lao động thặng dư với độ dài ngày lao động không thay đổi, dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội. Việc tăng năng suất lao động xã hội, trước hết ở các nghành sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng, sẽ làm cho giá trị lao động giảm xuống do đó, làm giảm thời gian lao động cần thiết. Khi độ dài ngày lao động không thay đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ làm tăng thời gian lao động thặng dư - thời gian để sản xuất GTTD tương đối cho nhà TB để giành ưu thế trong cạnh tranh,để thu được nhiều GTTD, các nhà TB áp dụng những tiến bộ kĩ thuật mới vào sản xuất, cải tiến tổ chức sản xuất, hoàn thiện phương pháp quản lý kinh tế, nâng cao năng suất lao động. Kết quả là, giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội. Nhà TB nào thực hiện điều đó thì khi bán hàng hoá của mình sẽ thu được một số GTTD trội hơn so với các nhà TB khác. Phần GTTD thu được trội hơn GTTD bình thường của xã hội được gọi là GTTD siêu ngạch.
  6. Xét từng đơn vị sản xuất TB chủ nghĩa, GTTD siêu nghạch là hiện tượng tạm thời, cục bộ. Nhưng xét trên phạm vi toàn bộ xã hội TB, GTTD siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên. Vì vậy, GTTD siêu nghạch là một động lực mạnh thúc đẩy các nhà TB ra sức cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động. GTTD siêu nghạch và GTTD tương đối đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, cái khác nhau là ở chỗ GTTD tương đối thì dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội; còn GTTD siêu nghạch thì dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động cá biệt. 2. So sánh sự giống nhau và khác nhau của GTTD tuyệt đối và GTTD tương đối. Hai phương pháp sản xuất GTTD tuyệt đối và sản xuất GTTD tương đối đều có cái chung giống nhau về mục đích là làm cho thời gian lao động thặng dư được kéo dài dài ra. Nhưng giữa chúng vẫn có sự khác nhau về giả thiết, biện pháp và kết quả. Câu 5: Thế nào là tuần hoàn và chu chuyển của TB? những biện pháp làm tăng tốc độ chu chuyển của TB? 1. Tuần hoàn của TB Mọi TB sản xuất trong quá trình vận động đều trải qua ba giai đoạn, tồn tại dưới ba hình thức thực hiện ba chức năng: Giai đoạn I: TB mang hình thức tiền tệ, thực hiện các chức năng mua các yếu tố sản xuất tư liệu sản xuất và sức lao động. Giai đoạn II: TB mang hình thức TB sản xuất, thực hiện chức năng sản xuất ra hàng hoá tạo ra GTTD. Giai đoạn III: TB mang hình thức TB hàng hoá với chức năng thực hiện giá trị và GTTD. T–H TLsx … H’- T’ Slđ Giai đoạn I Giai đoạn II Giai đoạn III - Sự vận động của TB qua ba giai đoạn, tồn tại dưới ba hình thức, thực hiện ba chức năng rồi quay về hình thức sản xuất của nó, gọi là tuần hoàn của TB. 2. Chu chuyển của TB Nghiên cứu tuần hoàn của TB là nghiên cứu mặt chất của sự vận động TB, còn nghiên cứu chu chuyển TB là nghiên cứu mặt lượng hay nghiên cứu tốc độ vận động của TB. Mặc dù có sự khác nhau nhưng cả hai cùng nghiêng sự vận động của TB. Bởi vậy, tuần hoàn và chu chuyển của TB quan hệ mật thiêt với nhau. - chu chuyển của TB là sự tuần hoàn của TB nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới diễn ra liên tục lặp đi, lặp lại không ngừng. Chu chuyển TB phản ánh tốc độ vận động nhanh hay chậm của TB.
  7. Thời gian chu chuyển của TB là khoảng thời gian từ khi TB ứng ra dưói một hình thức nhất định đến khi nó trở về cũng dưới hình thức đó nhưng có kèm theo GTTD. Thời gian chu chuyển TB cũng là thời gian TB thực hiện được một vòng tuần hoàn. Tuần hoàn TB bao gồm quá trình sản xuất và quá trình lưu thông. Như vậy, để chu chuyển một vòng, TB phải trải qua hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản xuất. thời gian chu chuyển TB cũng bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông. Thời gian sản xuất = thời kỳ lao động + thời kỳ gián đoạn lao động + thời kỳ dự trữ sản xuất. Cả thởi kỳ gián đoạn lao động và thời ký dự trữ sản xuất đều không tạo ra giá trị sản phẩm. Sự tồn tại hai thời kỳ này là không tránh khỏi. Nhưng nói chung thời gian của chúng càng dài thì hiệu quả hoạt động của TB càng thấp. Rút ngắn thời gian này có tác dụng quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng TB. Thời gian lưu thông là thời kỳ TB nằm trong lĩnh vực lưu thông. Thời kỳ này bao gồm thời gian mua, thời gian bán, kể cả thời gian vận chuyển. Tốc độ chu chuyển TB là khái niệm dùng để chỉ vận động nhanh hay chậm của TB ứng trước. Công thức tính tốc độ chu chuyển TB là: CH N= Ch Trong đó: N : là tốc độ chu chuyển; CH là thời gian TB vận động trong một năm; Ch là thời gian của một vòng chu chuyển TB * Những nhân tố và biện pháp nâng cao tốc độ chu chuyển TB Theo công thức trên tốc độ chu chuyển TB phụ thuộc vào thời gian chu chuyển TB. Nói cách khác, phụ thuộc vào những nhân tố ảnh hưởng đến thời gian sản xuất và thời gian lưu thông. Thời gian sản xuất dài, ngắn phụ thuộc vào các nhân tố sau: + Đặc điểm của từng nghành sản xuất. + Tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ. + Trình độ tổ chức phân công lao động. + Trình độ dịch vụ các yếu tố gắn với đầu vào của sản xuất. Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế thị trường hiện đại cho phép sử dụng những thành tựu kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới, việc tổ chức sản xuất và dịch vụ sản xuất một cách khoa học… đã rút ngắn đáng kể thời kỳ gián đoạn lao động, thời kỳ dữ trữ sản xuất, để tăng thời kỳ lao động và do đó, làm tăng hiệu quả hoạt động TB. Thời gian lưu thông dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: + tình hình thị trường(cung - cầu, giá cả…) + khoảng cách từ sản xuất đến thị trường + trình độ phát triển của giao thông vận tải… Sự tồn tại thời gian lưu thông là tất yếu có vai trò quan trọng đối với thời gian sản xuất. Song rút ngắn thời gian lưu thông sẽ làm cho TB nằm trong lĩnh vực lưu thông giảm
  8. xuống tăng lượng TB đầu tư cho sản xuất, tạo ra nhiều giá trị, GTTD hơn, nên làm tăng hiệu quả hoạt động TB. Tóm lại, do chịu ảnh hưởng của nhiều nhân, nên thời gian chu chuyển của các TB khác nhau trong cùng một nghành và ở các nghành khác là rất khác nhau. Để nâng cao hiệu quả sủ dụng TB, các nhà TB thường tìm mọi cách khai thác mặt thuận lợi và hạn chế mặt không thuận lợi của những nhân tố trên đẻ nâng cao tốc độ chu chuyển TB. Câu 7. Trình bày tính tất yếu và phân tích các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 10. Tại sao kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo? *Tính tất yếu khách quan và ý nghĩa của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần. -Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế được đặc trưng bởi hình thức sở hữu nhất định về TLSX. Do đó, thàng phần kinh tế tồn tại ở những hình thức tổ chức kinh tế nhất định trong đó căn cứ vào QHSX(trước hết là quan hệ sở hữu) nào thống trị để xác định từng thành phần kinh tế cụ thể. -Sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng trong TKQĐ lên CNXH và là tất yếu khach quan bởi vì có một thành phần kinh tế do PTSX cũ để lại, một thành phần kinh tế mới được hình thành trong quá trình xây dựng QHSX mới. Các thành phần kinh tế nền tảng của kinh tế XHCN ngày càng phát triển và sẽ lôi cuốn định hướng các thành phần kinh tế hội nhập vào PTSX mới. -Nguyên nhân cơ bản của sự hình thành kinh tế nhiều thành phần trong TKQĐ suy đến cùng là do quy luật QHSX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX. Ở nước ta do trình độ LLSX còn thấp lại phân bổ không đồng đều giữa các ngành, các vùng nên tất yếu còn tồn tại nhiều loại hình kinh tế, nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. -Sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần không những là khách quan mà còn là động lực thúc đẩy kích thích sự phát triển LLSX bởi vì: + Sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần, từc là tồn tại nhiều hình thức tổ chức kinh tế, nhiều phương thức quản lí phù hợp với trình độ khác nhau của LLSX. Chính sự phù hợp này có tác dụng thúc đẩy năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế trong các thành phần kinh tế và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. + Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế là cơ sở để phát triển kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN ở nước ta. + Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế đáp ứng được lợi ích kinh tees của các giai cấp, tầng lớp xã hội, có tác dụng khai thác sử dụng các nguồn lực, các tiềm năng của đất nước như sức lao động, vốn, tài nguyên, kinh nghiệm quản lý để tăng trưởng kinh tế nhanh và có hiệu quả. -Trên cơ sở nguyên lý và thành phần kinh tế chủ yếu mà Lênin chỉ ra trong thời kì quá độ (KTXHCN, kinh tế của những người sản xuất hàng hoá nhỏ, KTTB tư nhân, KT TB chủ nghĩa) tuỳ hoàn cảnh cụ thể mà xác định cơ cấu của từng giai đoạn cho phù hợp.
  9. -Qua thực tế 20 năm đổi mới Đại hội X của Đảng đã xác định nền KT nước ta gồm 5 thành phần cơ bản: + Kinh tế nhà nước (KTNN) + Kinh tế tập thể (KTTT) + Kinh tế tư nhân (KTTN bao gồm KT TB tư nhân, KT cá thể, tiểu chủ...) + Kinh tế TB nhà nước (KTTBNN) + Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (KTCVĐTNN) - Nội dung và vai trò của các thành phần kinh tế 1.KTNN: KTNN dựa trên hình thức sở hữu công hữu về TLSX chủ yếu, KTNN bao gồm các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tài nguyên quốc gia và tài sản thuộc sở hữu nhà nước như đất đai, hầm mỏ,...DNNN giữ vai trò then chốt ở các ngành, linh vực kinh tế và địa bàn quan trọng của đất nước. KTNN giữ vai trò chủ đạo trong nền KTQD vai trò đó được thể hiện: -Một là doanh nghiệp nhà nước đi đầu trong các ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghê nâng cao năng xuất lao động, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật. -Hai là KTNN là chỗ dựa để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết quản lí vi mô nền kinh tế theo định hướng XHCN hỗ trợ và lôi cuốn các thành phầnkinh tế khác cùng phát triển theo định hướng XHCN. -Ba là KTNN cùng với kinh tế tập thể dần trở thành nền tảng vững chắc của nền KTQD. Hiện nay Đảng và nhà nước đang tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, chỉ giữ lại những doanh nghiệp quan trọng, ích lợi của nền kinh tế, kinh doanh có lãi, số còn lại cho phép cổ phần hoá, bán, cho thuê... để nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. 2.KT tập thể: dựa trên hình thức sở hữu tập thể và sở hữu các thành viên KT tập thể bao gồm các hình thức hợp tác đa dạng trong đó HTX là nòng cốt, liên kết rộng dãi người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp vừa và nhỏ không giới hạn quy mô địa bàn lĩnh vực. -HTX được hình thành trên cơ sở đóng góp cổ phần và tham gia lao động trực tiếp của các xã viên, phân phối theo kết quả kinh doanh, vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ của các xã viên. HTX được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc cơ bản là: tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ. Nhà nước giúp đỡ tạo điều kiện cho HTX phát triển như đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng quĩ hỗ trợ phát triển HTX. 3.Kinh tế tư nhân *KT cá thể tiểu chủ: -Thành phần kinh tế này dựa trên hình thức tư hữu nhỏ về TLSX, sự khác nhau giữa KT cá thể và tiểu chủ là ở chỗ: trong KT cá thể nguồn ngốc thu nhập hoàn toàn dựa vào lao động và vốn của bản thân và gia đình, còn trong cá thể tuy nguồn thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào LĐ, và vốn của bản thân, gia đình nhưng có thuê lao động.
  10. -Ở nước ta trình độ LLSX còn thấp TP KT này có vai trò to lớn trong nhiều ngành nghề và ở khắp các địa bàn cả nước. Nó có khả năng sử dụng và phát huy hiệu quả các tiềm năng về vốn, sức lao động, các kinh nghiệp sản xuất ngành nghề truyền thống. Hạn chế của thành phần kinh tế này là ở tính tự phát, manh mún, và chậm ưng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Vì vậy, cần tạo điều kiện đẻ thành phần kinh tế này phát triển và hướng dẫn vào KT tập thể một cách tự nguyện hoặc làm vệ tinh cho các DNNN và HTX. *KTTBTN: Là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân TBCN về TLSX và bốc lột lao động làm thuê. Trong TKQD ở nước ta thành phần kinh tế này có vai trò đáng kể trong qua trình phát triển LLSX, xã hội hoá sản xuất, giải quyết việc làm, khai thác các nguồn vốn và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội khác. Nhà nước khuyến khích KTTBTN phát triển rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật khong cấm, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và xét về lâu dài có thể thành hướng thành phần KT này đi vào KTTBTN dưới hình thức khác nhau. 4.KTTBNN: Là thành phần KT dựa trên hình thức sỡ hữu hỗn hợp về vốn giữa TBNN và KTTBTN trong và ngoài nước dưới những hình thức hợp tác liên doanh. KTTBNN có khả năng to lớn về vốn, công nghệ, tổ chức quản lý tiên tiến, TPKT này có vai trò đáng kể trong giải quyết việc làm và tăng trưởng kinh tế. Sự tồn tại của TPKT này rất cần thiết, cần phát triển mạnh mẽ trong TKQD ở nước ta. 5.Kinh tế có vốn đầu tư ở nước ngoài: thành phần này dựa trên hình thức sở hữu hầu như tuyệt đối của nhà nước ngoài nhưng chủ sở hữu không nhất thiết là các nhà TB. Những năm gần đây tỷ trọng kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng đáng kể (Chiếm gần 25% vốn đầu tư nước ngoài) và vai trò của nó đối với tăng trưởng kinh tế cũng lớn lên(>16%GDP) Đối với thành phần kinh tế này cần tạo điều kiện thuận lợi phát triển, cải thiện môi trường pháp lý và kinh tế để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài hướng vào xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm việc làm. Câu 8. Trình bày những giải pháp hình thành và phát triển kinh tế thị trường (KTTT) ở nước ta? Những giải pháp để phát triển KTTT định hướng XHCN ở nước ta. Muốn phát triển KTTT định hướng XHCN, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp: a. Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần. - Thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nhiều TPKT trong TKQD là một trong những điều kiện để thúc đẩy kinh tế hàng hoá (KTHH) phát triển, nhờ đó mà sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của mọi TPKT. - Cùng với việc đổi mới, củng cố KTNN và kinh tế hợp tác. Việc thừa nhận cà khuyến khích các TPKT cá thể, tư nhân phát triển là nhận thức quan trọng về việc xây dựng
  11. CNXH. Tất cả các TPKT đề bình đẳng trước pháp luật và đều là nội lực của nền KTTT định hướng XHCN. b. Mở rộng phân công lao động, phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, tạo lập các yếu tố đồng bộ, các yếu tố thị trường. -Phân công lao động là cơ sở của việc trao đổi sản phẩm. Để đẩy mạnh phát triển KTHH, cần phải mở rộng phân công lao động xã hội, phân bố lại lao động và dân cư theo hướng chuyên môn hoá, hợp thức hoá nhằm khai thác mọi nguồn lực, phát triển ngành nghề, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện có và tạo việc làm cho người lao động, mở rộng quan hệ KT với nước ngoài gắn phân công lao động trong nước với lao động quốc tế, gắn thị trường trong nước với thị trường ngoài nước. -Cần phải phát triển mạnh mẽ thị trường hàng hoá và dịch vụ, hình thành thị trường sức lao động, quản lý chặt chẽ đất đai, nhà cửa, xây dựng thị trương vôn, thị trường chứng khoán. Để khai thác có hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, công nghệ, tài nguyên hiện mở rộng phân công lao động cần phải hoàn thiện đồng bộ các loại thị trường tiền tệ, vốn, sức lao động, chất xám, thông tin, tư liệu lao động, tư liệu tiêu dùng... điều này sẽ đảm bảo cho việc phân bổ và sử dụng yếu tố đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất phù hợp với nhu cầu của sự phát triển KTTT theo định hướng XHCN. c. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng KHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH Trong KTTT, các doanh nghiệp chỉ có đứng vững được trong cạnh tranh nếu thường xuyên thay đổi công nghệ để hạ chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm. Muốn vậy, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu và úng dụng KHCN vào SX và lưu thông hàng hoá. Muốn vây phải đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở và dịch vụ hiện đại đồng bộ. Trước hết là hệ thống đường xá cầu cống, bến cảng, sân bay, điện nước... d.Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới các chính sách tài chính tiền tệ giá cả. -Sự ổn định chính trị là nhân tố quan trọng để phát triển, là điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước yên tâm đầu tư. Giữ vững ổn định chính trị ở nước ta hiện nay là giữ vững vai trò lãnh đạo của ĐCSVN, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà Nước, phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân. -Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ quan trọng để quản lý nền kinh tế nhiều thành phần. Nó tạo nên hành lang pháp lý cho tất cả mọi hoạt động SX KD của doanh nghiệp. -Đổi mới chính sách tiền tệ, giá cả nhằm mục đích thúc đẩy sản xuất phát triển, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, bảo đảm quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, giảm bội chi ngân sách, góp phần khống chế và kiểm soát lạm phát, sử lý đúng đằn mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng. e.Xây dựng và hoàn thiện hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi. -Hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô phải được kiện toàn phù hợp với nhu cầu KTTT, bao gồm điều tiết chiến lược, kế hoạch, pháp luật, chính sách và các đòn bẩy kinh tế, bằng
  12. biện pháp giáo dục, khuyến khich, hỗ trợ và bằng cả răn đe, trừng phạt ngăn ngừa, điều tiết thông qua bộ máy nhà nước và các đoàn thể... -Đẩy mạnh sự nghiệp đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế trong thời kì mới. Đông thời phải có phương hướng sử dụng, bồi dưỡng, đãi ngộ đúng đắn với đội ngũ đó, nhằm kích thích họ không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ, bản lĩnh quản lý... h. Thực hiện chích sách có đối ngoại có lợi cho phát triển KTTT theo định hướng XHCN. Thực hiện có hiệu quả kinh tế đối ngoại, chúng ta phải đa dạng hoá hình thức, đa dạng hoá đối tác, quán triệt nguyên tắc hai bên cùng có lợi, không can thiệp vào nội bộ của nhau, không phân biệt chế độ chính trị xã hội, cải cách cơ chế quản lý xuât- nhập khẩu thu hút vốn đầu tư nước ngoài, kỹ thuật, nhân tài và kinh nghiệp quản lý. ->Những biện pháp trên tác động qua lại với nhau sẽ tạo nên sức mạnh thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá nước ta theo định hướng XHCN.
Đồng bộ tài khoản