Đề cương ôn tập môn: Kinh tế vĩ mô

Chia sẻ: Ngovan Ninh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:15

0
392
lượt xem
166
download

Đề cương ôn tập môn: Kinh tế vĩ mô

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

húng ta có thể chia các đơn vị kinh tế thành hai nhóm lớn theo chức năng người mua và người bán: + Người mua gồm có người tiêu dùng- tức người mua hàng hóa và dịch vụ và các doanh nghiệp tức người mua vốn vật chất, nguyên vật liệu và thuê công nhân để sản xuất hàng hoá và dịch vụ. + Người bán gồm các doanh nghiệp bán hàng hoá và dịch vụ của họ: công nhân là những người cung ứng dịch vụ lao động, những người cho thuê đất....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề cương ôn tập môn: Kinh tế vĩ mô

  1. Môn Kinh tế Vi mô Tr−êng ®¹i häc kinh tÕ vμ Qu¶n trÞ kinh doanh Khoa sau ®¹i häc Bμi tËp M«n: Kinh tÕ Vi M« Gi¶ng viªn Ts: Ph¹m ThÞ Lý B i kiÓm tra gi÷a kú Häc viªn thùc hiÖn: Líp: Cao häc Qu¶n lý kinh tÕ 1
  2. Môn Kinh tế Vi mô Câu 1: Anh chi ( chị ) trình bày những đặc trưng cơ bản của thị trường và cho biết ở Việt Nam đang tồn tại những kiểu thị thường nào ? Cho ví dụ ? Trả lời: a) Đặc trưng cơ bản của thị trường Chúng ta có thể chia các đơn vị kinh tế thành hai nhóm lớn theo chức năng người mua và người bán: + Người mua gồm có người tiêu dùng- tức người mua hàng hóa và dịch vụ và các doanh nghiệp tức người mua vốn vật chất, nguyên vật liệu và thuê công nhân để sản xuất hàng hoá và dịch vụ. + Người bán gồm các doanh nghiệp bán hàng hoá và dịch vụ của họ: công nhân là những người cung ứng dịch vụ lao động, những người cho thuê đất. Hầu hết mỗi người mua và hầu hết các doanh nghiệp vừa là người mua vừa là người bán tác động qua lại để tạo thành thị trường. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về thị trường, chúng ta có thể gặp một số quan niệm phổ biến sau: - Thị trường là sự biểu thị ngắn gọn của quá trình mà nhờ đó các quyết định của các hộ gia đình về việc tiêu dùng các hàng hoá khác nhau, các quyết định của doanh nghiệp về sản xuất cái gì như thế nào, các quyết định của công nhân về làm việc bao lâu, cho ai được điều hoà bởi sự điều chỉnh giá cả. - Thị trường là tập hợp các dàn xếp mà thông qua đó người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ . - Thị trường là một khuân khổ vô hình trong đó người này tiếp xúc với người kia để trao đổi một thứ gì đó khan hiếm và trong đó họ cùng xác định giá và số lượng trao đổi. Qua những khái niệm trên chúng ta có thể thấy rằng; trong một vài trường hợp người mua và người bán có thể gặp gỡ nhau trực tiếp tại các địa điểm cố định như các thị trường hàng hoá tiêu dùng: quần áo, rau quả... Hoặc trong một 2
  3. Môn Kinh tế Vi mô số trường hợp khác nhau như trong các thị trường chứng khoán mọi công việc giao dịch có thể diễn ra qua điện thoại, qua vô tuyến bằng cách điều khiển từ xa... Nhưng một điều chung nhất đối với các thành viên tham gia vào thị trường là tìm cách tối đa hoá lợi ích kinh tế của mình. Người bán (thường là các hãng sản xuất) muốn bán được sản phẩm của mình để thu lợi nhuận lớn nhất, người mua (thường là người tiêu dùng) với lượng tiền có hạn của mình muốn thu được sự thoả mãn lớn nhất về sản phẩm mà họ mua. Như vậy, chính sự tác động qua lại giữa người mua và người bán sẽ xác định được gía cả của từng loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể đồng thời cũng xác định được số lượng, chất lượng và chủng loại sản phẩm cần sản xuất ra và qua đó sẽ xác định được việc sử dụng các nguồn lực tài nguyên có hạn của xã hội nói chung. Đây chính là nguyên tắc hoạt động của cơ chế thị trường. Tuy nhiên, hoạt động thực tế của thị trường rất phức tạp, khác nhau chủ yếu phụ thuộc vào một số yếu tố cơ bản như: số lượng, quy mô sức mạnh thị trường của các nhà sản xuất và người mua. Cơ chế thị trường là xu hướng cân bằng cung cầu (có nghĩa là giá sẽ chuyển dịch tới mức thị trường ổn định (giá cân bằng), do đó sẽ không xảy ra cung vượt quá hoặc cầu vượt quá. Tóm lại: Thị trường là tập hợp người mua và người bán có tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến khả năng trao đổi. - Đặc điểm chung của người mua và người bán khi tham gia vào thị trường là luôn tìm cách tối đa hóa lợi ích của mình (người sản xuất: lợi nhuận, người tiêu dùng: lợi ích hay độ thỏa dụng) khi tiêu dùng hàng hóa - dịch vụ. b) Việt Nam đang tồn tại những kiểu thị trường nào? Có 5 loại thị trường cơ bản được xác định: 3
  4. Môn Kinh tế Vi mô - Thị trường hàng hóa và dịch vụ - Thị trường sức lao động - Thị trường khoa học và công nghệ - Thị trường bất động sản - Thị trường tài chính Sự phát triển đồng bộ cả 5 loại thị trường cơ bản này là nền tảng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. 1.Thị trường hàng hóa và dịch vụ Sau gần 20 năm đổi mới, thị trường hàng hoá, dịch vụ trong nước đã có sự biến đổi về chất và phát triển vượt bậc về lượng. Bên cạnh những kết quả mang lại tính tích cực, thị trường hàng hoá, dịch vụ trong nước cũng bộc lộ dần hạn chế, mâu thuẫn gay gắt. Trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu BCH TW Đảng Khoá X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, ngành Công Thương đề ra nhiệm vụ đa dạng hoá các loại thị trường hàng hoá, dịch vụ theo hướng văn minh, hiện đại. Theo hướng này, Bộ Công Thương nghiên cứu đề xuất hoặc ban hành cơ chế, chính sách nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này, trong đó chú trọng hình thành và phát triển các phương thức giao dịch thị trường hiện đại, nhất là đối với nông sản và vật tư nông nghiệp. Bên cạnh đó, Bộ sẽ xây dựng và đề xuất với Chính phủ ban hành các chính sách hữu hiệu nhằm phát triển các ngành và phân ngành dịch vụ quan trọng phục vụ sản xuất công nghiệp và thương mại cũng như khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài vào các hoạt động dịch vụ công nghiệp và thương mại, chuyển giao công nghệ những dịch vụ này cho các doanh nghiệp nội địa. Để thực hiện hiệu quả Chương trình hành động này, Bộ Công Thương sẽ phối hợp với các Bộ, ngành tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, giám sát việc thực thi pháp luật về tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá, vệ sinh an 4
  5. Môn Kinh tế Vi mô toàn thực phẩm, sở hữu trí tuệ, chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại, chống tin đồn thất thiệt nhằm góp phần tạo ra môi trường thương mại văn minh, hiện đại, bảo vệ quyền lợi nhà sản xuất và người tiêu dùng. Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa. Thừa nhận sản xuất hàng hóa không thể phủ định sự tồn tại khách quan của thị trường. Sản xuất hàng hóa, lưu thông hàng hóa và thị trường đã được khẳng định về lý luận và tồn tại ở Việt Nam, song vấn đề đặt ra là phát triển thị trường như thế nào ? Sự đồng bộ các loại thị trường có phải là tất yếu không ? Bản chất và nội dung phát triển đồng bộ các loại thị trường là gì ? Trên thị trường có hai nhóm người hoạt động. Nhóm thứ nhất là những người mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ, nhóm thứ hai là những người bán hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho tiêu dùng. Sự phân nhóm này chỉ là tương đối và với mỗi người khi này thì thuộc nhóm người mua nhưng khi khác lại thuộc nhóm người bán. Thị trường là giao điểm gặp gỡ, tác động của hai nhóm người này. Cùng thông qua thị trường để giải quyết mâu thuẫn giữa người mua và người bán, bảo đảm thực hiện cân đối giữa cung và cầu. Mâu thuẫn trên thị trường phản ánh mâu thuẫn kinh tế, chính trị, xã hội. Khi mâu thuẫn được giải quyết thì người mua, người bán, người sản xuất, người tiêu dùng đều thực hiện được mục tiêu của mình. Những ách tắc trên thị trường có nguy cơ dẫn tới khủng hoảng kinh tế, mâu thuẫn gây mất ổn định xã hội. Thị trường mua bán hàng hóa dịch vụ phát triển khá tốt. Thị trường này hoạt động rất sôi động, khối lượng hàng hóa lưu thông tăng liên tục hằng năm với tốc độ tương đối cao ; mặt hàng ngày càng đa dạng đáp ứng được yêu cầu cơ bản của sản xuất và đời sống dân cư. Đã hình thành được thị trường thống nhất và thông suốt trong cả nước, mở rộng và phát triển thị trường quốc tế, từng bước đưa thị trường trong nước hội nhập khu vực và quốc tế. Đối với nhiều mặt hàng, ở một số trung tâm lớn, thị trường hàng hóa dịch vụ đã phát triển ở trình độ khá cao, tốc độ gia tăng mạnh mẽ. Thị trường này đã có đủ các thành phần kinh tế góp mặt và sự vận hành của nó, về cơ bản, được tuân thủ theo các quy luật khách quan ; sự quản lý và điều tiết của Nhà nước với thị trường hàng hóa dịch vụ đã có nhiều thay đổi theo hướng tôn trọng tính khách quan, phù hợp với tập quán, thông lệ trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, quy mô thị trường hàng hóa dịch vụ vẫn còn nhỏ bé, khả năng cạnh tranh trên thị trường của hàng hóa Việt Nam, 5
  6. Môn Kinh tế Vi mô doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn hạn chế. Định hướng và các chính sách về thị trường của Nhà nước còn nhiều bất cập. Như vậy, phát triển thị trường là điều kiện để phát triển sản xuất hàng hóa, suy rộng ra là điều kiện của sự phồn thịnh kinh tế xã hội. 2.Thị trường sức lao động Trong cơ chế thị trường với sự hoạt động của thị trường sức lao động (còn gọi là thị trường lao động), sức lao động trở thành hàng hóa, loại hàng hóa đặc biệt. Giá cả sức lao động chính là tiền lương (tiền công). Tiền lương là khoản tiền mà người chủ sử dụng sức lao động phải chi trả cho người lao động sau quá trình làm việc. Tiền lương là một phạm trù kinh tế, là kết quả của sự phân phối của cải trong xã hội ở mức cao. Từ cơ chế "tiếp nhận" chuyển sang cơ chế tuyển chọn và đa dạng hóa kinh doanh, tự do hóa hành nghề trong điều kiện mở cửa với nước ngoài đã tạo tiền đề cho sự ra đời của thị trường lao động. Hiện nay, thị trường lao động phổ thông khá phát triển ; thị trường lao động có trình độ cao và đặc biệt thị trường chất xám còn nhỏ bé, trong lúc không ít cản trở như cư trú, hộ khẩu, sự chuẩn bị trình độ cho người lao động, các công ty cung ứng dịch vụ lao động đồng bộ đã làm chậm sự phát triển và đang chia cắt thị trường lao động. Sức ép của cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới và áp dụng kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh. Kinh tế học vi mô coi sản xuất là sự kết hợp giữa hai yếu tố là lao động và vốn. Vốn thuộc quyền sở hữu của một bộ phận dân cư trong xã hội, còn một bộ phận dân cư khác do không có vốn chỉ có sức lao động, phải đi làm thuê cho những người có vốn và đổi lại họ nhận được một khoản tiền gọi là tiền lương. Tiền lương có liên quan đến vấn đề lý luận lợi ích, lý luận về sự phân phối và thu nhập của Nhà nước, của doanh nghiệp và người lao động. Tiền lương hàm chứa nhiều mối quan hệ biện chứng, đó là các mối quan hệ cơ bản như giữa sản xuất và nâng cao đời sống, giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa thu nhập và các thành phần dân cư. Đối với người lao động làm công ăn lương, tiền lương luôn là mối quan hệ đặc biệt hàng ngày đối với họ. Bỡi vì tiền lương là nguồn thu nhập chính nhằm duy trì và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động và 6
  7. Môn Kinh tế Vi mô gia đình họ. Sự phân phối công bằng, hợp lý hay không sẽ quyết định đến sự tận tâm, tận lực của người lao động đó đối với sự phát triển kinh tế- xã hội. Ơ mức độ nhất định, tiền lương có thể được xem là bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị, uy tín của người lao động trong xã hội. Vì vậy, tiền lương và thu nhập phải thể hiện được sự công bằng trong phân phối theo kết quả lao động và hiệu suất công tác của mỗi người. Hiện hay, Việt Nam được xem là thị trường có nhiều lao động trong khu vực Đông Nam Á. Có rất nhiều lượng lao động đã xuất khẩu sang nước ngoài, đặc biệt là các nước lân cận trong khu vực. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư nước ngoài cũng chọn Việt Nam là điểm dừng vì nhân công nhiều, tiền lương trả cũng không cao so với các nước khác và đầu tư vào Việt Nam sẽ lợi hơn cho việc kinh doanh của họ. 3. Thị trường khoa học và công nghệ Về cơ bản, thị trường khoa học và công nghệ được hình thành trên 3 yếu tố như sau: + Phải có hàng hóa. + Phân công lao động xã hội phải phát triển tương ứng sao cho có sự tồn tại quan hệ cung cầu giữa các thành viên trong xã hội và giữa các loại hình sản xuất trong xã hội, tức là hình thành bên cung và bên cầu. + Phải có phương tiện thanh toán cho loại hàng hóa đặc biệt này. Thị trường khoa học và công nghệ là loại thị trường đặc biệt tạo ra hàng hóa cũng đặc biệt và có các đặc trưng như sau: - Hàng hóa của KH&CN thực chất là tri thức, chất xám khó lượng định, được thể hiện dưới dạng vật chất hữu hình như bằng phát minh sáng chế hoặc vô hình dưới dạng ý tưởng công nghệ. - Việc xác định giá trị của hàng hóa là điều rất khó, do lao động sáng tạo ra hàng hóa là lao động trí óc và tồn tại sự bất đối xứng thông tin giữa bên bán và bên mua. - Khoa học hôm nay là công nghệ ngày mai do đặc thù này mà thị trường khoa học và công nghệ hình thành và phát triển muộn hơn các thị trường hàng hóa thông thường khác. 7
  8. Môn Kinh tế Vi mô Trên thế giới, khái niệm thị trường khoa học và công nghệ ít sử dụng, thuật ngữ thông dụng hơn là thị trường công nghệ vì khoa học hầu như không biên giới nhưng công nghệ thì phải mua bán khá tốn kém. Tuy nhiên, đối với một vấn đề đang tranh luận nhiều, song các nhà khoa học Việt Nam và Trung Quốc thiên về khái niệm “Thị trường khoa học & công nghệ”. Lý do chính là hiện nay khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ngày càng được rút ngắn, thậm chí rất ngắn. Ranh giới giữa khoa học và công nghệ khó tách bạch, do vậy, thực tiễn “thị trường khoa học và công nghệ” hay “thị trường công nghệ” đều mang ý nghĩa như nhau. Chúng ta phải có cách nhìn động đối với thị trường khoa học và công nghệ và đặt thị trường này trong bối cảnh tổng thể của các thị trường hàng hóa nói chung và do vậy khẳng định sự liên hệ mật thiết, sự phụ thuộc chặt chẽ của thị trường Khoa Học và Công Nghệ vào trình độ phát triển của các thị trường khác. Với cách nhìn như vậy sẽ cho ta đưa ra hàng loạt chính sách tổng thể, phối hợp hài hòa hơn trong việc phát triển thị trường Khoa Học và Công Nghệ của nước ta hiện nay nói chung, nhất là hiện nay chúng ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, cải cách cơ cấu ngành công nghiệp, cơ cấu lại các Doanh Nghiệp Nhà Nước, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của cả nền kinh tế. 4. Thị trường bất động sản Có nhiều khái niệm về thị trường bất động sản, dưới đây là một số khái niệm thông dụng nhất: - Khái niệm 1: thị trường bất động sản là nơi hình thành các quyết định về việc ai tiếp cận được bất động sản và bất động sản đó được sử dụng như thế nào và vì mục đích gì. - Khái niệm 2: thị trường bất động sản là đầu mối thực hiện và chuyển dịch giá trị của hàng hoá bất động sản. - Khái niệm 3: thị trường bất động sản là “nơi” diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và các dịch vụ có liên quan như môi giới, tư vấn… giữa các chủ thể trên thị trường mà ở đó vai trò quản lý nhà nước đối 8
  9. Môn Kinh tế Vi mô với thị trường bất động sản có tác động quyết định đến sự thúc đẩy phát triển hay kìm hãm hoạt động kinh doanh đối với thị trường bất động sản. - Khái niệm 4: thị trường bất động sản là "nơi" tiến hành các giao dịch về bất động sản gồm chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và các dịch vụ hỗ trợ như môi giới, tư vấn. Như vậy, thị trường bất động sản là quá trình giao dịch hàng hoá bất động sản giữa các bên có liên quan. Là “nơi” diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và các dịch vụ có liên quan như trung gian, môi giới, tư vấn... giữa các chủ thể trên thị trường mà ở đó vai trò quản lý nhà nước có tác động quyết định đến sự thúc đẩy phát triển hay kìm hãm hoạt động kinh doanh trên thị trường bất động sản. 5. Thị trường tài chính Thị trường tài chính là một bộ phận quan trọng bậc nhất trong hệ thống tài chính, chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hàng hóa. Thị trường tài chính phát triển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Vai trò, chức năng: Thị trường tài chính đóng vai trò là kênh dẫn vốn từ người tiết kiệm đến người kinh doanh, giúp cho việc chuyển vốn từ người không có cơ hội đầu tư sinh lợi đến những người có cơ hội đầu tư sinh lợi. Thị trường tài chính thúc đẩy việc tích lũy và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, sản xuất kinh doanh. Đồng thời, nó giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn, không chỉ đối với người có tiền đầu tư mà còn cả với người vay tiền để đầu tư. Người cho vay sẽ có lãi thông qua lãi suất cho vay. Người đi vay vốn phải tính toán sử dụng vốn vay đó hiệu quả nhất do họ phải hoàn trả cả vốn và lãi cho người cho vay đồng thời phải tạo thu nhập và tích lũy cho chính bản thân mình. Bên cạnh đó, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách mở cửa, cải cách kinh tế của Chính phủ thông qua các hình thức như phát hành trái phiếu ra nước ngoài, bán cổ phần, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất kinh doanh trong nước. Thị trường tài chính cho phép sử dụng các chứng từ có giá, bán cổ phiếu, trái phiếu, đổi tiền. 9
  10. Môn Kinh tế Vi mô Trong thị trường tài chính hình thành một số loại thị trường sau: Thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần: Thị trường nợ: Phương pháp chung nhất mà các công ty sử dụng để vay vốn trên thị trường tài chính là đưa ra một công cụ vay nợ, ví dụ như trái khoán hay một món vay thế chấp. Công cụ vay nợ là sự thoả thuận có tính chất hợp đồng có lãi suất cố định và hoàn trả tiền vốn vào cuối kì hạn. Kì hạn dưới 1 năm là ngắn hạn, trên 1 năm là trung và dài hạn. Thị trường nợ là thị trường diễn ra việc mua bán các công cụ nợ kể trên. Thị trường vốn cổ phần: Phương pháp thứ hai để thu hút vốn là các công ty phát hành cổ phiếu. Người nắm giữ cổ phiếu sở hữu một phần tài sản của công ty có quyền được chia lợi nhuận ròng từ công ty sau khi trừ chi phí, thuế và thanh toán cho chủ nợ (những người sở hữu công cụ nợ. Thị trường cấp một và thị trường cấp hai và thị trường cấp một: Là thị trường tài chính trong đó diễn ra việc mua bán chứng khoán đang phát hành hay chứng khoán mới. Việc mua bán chứng khoán trên thị trường cấp một thường được tiến hành thông qua trung gian là các ngân hàng. Thị trường cấp hai: Là thị trường mua bán lại những chứng khoán đã phát hành. Khi diễn ra hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường này thì người vừa bán chứng khoán nhận được tiền bán chứng khoán còn công ty phát hành không thu được tiền nữa, một công ty thu được vốn chỉ khi chứng khoán của nó được bán lần đầu tiên trên thị trường cấp một. Thị trường tiền tệ và thị trường vốn thị trường tiền tệ: Là một thị trường tài chính chỉ có các công cụ ngắn hạn( kỳ hạn thanh toán dưới 1 năm). Thị trường vốn: Là thị trường diễn ra việc mua bán các công cụ nợ dài hạn như cổ phiếu, trái phiếu. Thị trường vốn được phân thành ba bộ phận là thị trường cổ phiếu, các khoản cho vay thế chấp và trái phiếu 10
  11. Môn Kinh tế Vi mô Câu 2: Trong điều kiện kinh tế suy thoái và lạm phát như hiện nay với tư cách là người tiêu dùng đã điều chỉnh hành vi tiêu dùng của mình như thế nào đối với hai loại hàng hoá: Hàng hoá thiết yếu và hàng hoá cao cấp đề phù hợp với sự biến đổi về thu nhập thực tế. Trả lời: Trong giai đoạn suy thoái kinh tế, người tiêu dùng thắt lưng buộc bụng, trong khi các doanh nghiệp bước vào những chiến lược khuyến khích nhu cầu và vượt qua khuynh hướng tiết kiệm nơi người tiêu dùng. Mâu thuẩn này giữa chiến lược của người tiêu dùng (thắt lưng buột bụng) và doanh nghiệp (kích cầu) đưa đến một khám phá thú vị về tác động của cơn khủng hoảng đến nền kinh tế. Với mức thu nhập còn thấp hiện của bản thân việc chi tiêu càng trở thành bài toán khó. Làm thế nào để điều chỉnh hành vi tiêu dùng của mình mà cuối tháng thấy hài lòng với việc chi tiêu của mình trong tháng vừa qua quả thật không đơn giản. Có rất nhiều loại hàng hóa trên thị trường những ở góc độ của đề bài tôi xin đề cập việc chi tiêu với hai loại hàng hoá đó là hàng hoá thiết yếu và hàng hóa cao cấp. Trong thời kỳ tiền ít hàng nhiều việc chi tiêu càng trở lên khó khăn và đang phải suy nghĩ hơn điều này đẫn đến phản ứng của nguời tiêu dùng trong đó có tôi cũng với tư cách một trong số những người tiêu dùng cũng không ngoại lệ, và đây là những nguyên tắc chi tiêu trong thời kỳ khó khăn này: 1) Giảm tiêu dùng và hoang phí; 2) Quyết định cẩn thận hơn trong mua sắm; 3) Dành nhiều thời gian hơn để tìm kiếm thông tin; 4) Điều chỉnh loại sản phẩm tiêu dùng; 5) Mua sắm hàng thiết yếu hơn là hàng xa xỉ; 6) Chuyển dịch sang những thương hiệu rẻ hơn; 7) Chọn thương hiệu nội hơn là thương hiệu ngoại; 8) Mua sản phẩm trong những đóng gói nhỏ hơn; 9) Điều chỉnh cách chọn giá cả; 10) Hướng đến chi phí chu kỳ sống của sản phẩm; 11) Sản phẩm có bền và có đáng đồng tiền; 12) Hướng đến giá rẻ hơn; 13) Điều chỉnh cách tiếp cận các chiến lược chiêu thị; 14) Bớt lôi cuốn vào quà tặng khuyến mãi; 15) Thích những quảng cáo mang lại nhiều thông tin hơn là quảng cáo dựa vào hình ảnh; 11
  12. Môn Kinh tế Vi mô 16) Điều chỉnh về việc đi mua sắm; 17) Đi xem nhiều hơn là đi mua; 18) Thích những cửa hàng có chiết khấu và gần nhà; 19) Bớt bị lôi cuốn mua hàng cuối hành lang. Câu 3: Hàm cầu về lúa gạo hàng năm được xác định là Qd= 480 – 0,1P (P tín bằng đ/kg và Q tính bằng 1000 tấn). Biết rằng sản lượng lúa năm trước là 200 và sản lượng năm nay là 180. Hàm cầu: Qd = 480 - 0,1P (Đơn vị tính: P là đ/kg; Q là 1000 tấn) Sản lượng lúa năm trước Q1 = 200 Sản lượng lúa năm nay là Q2 = 180 a. Anh/chị có nhận xét gì về thu nhập của người trồng lúa năm nay so với năm trước. Từ số liệu đã cho, ta có: - Thu nhập năm trước của người trồng lúa: Q1 = 480 - 0,1P => 200 = 480 - 0,1P => P = 2800 đ/kg Thu nhập của người trồng lúa năm trước = 200.000*2800 đ/kg = 560.000.000.000 đồng - Thu nhập của người trồng lúa năm nay: Q2 = 480 - 0,1P => 180 = 480 - 0,1P => P = 3000 đ/kg Thu nhập của người trồng lúa năm nay = 180.000.000*3000 đ/kg = 540.000.000.000 đồng Do đó thu nhập của người trồng lúa năm nay giảm hơn so với năm trước là 20.000.000.000 đồng b. Để đảm bảo thu nhập cho người nông dân, chính phủ gợi ý 2 giải pháp là i) ấn định mức giá bán lúa gạo năm nay là 3200đ/kg; ii) Trợ cấp cho người nông dân là 200 đ/kg lúa gạo bán ra trên thị trường. Anh/chị hãy cho biết nên thực hiện giải pháp nào? Tại sao? * Giải pháp 1: Ấn định mức giá 3.200 đồng Áp dụng vào hàm Tổng cầu ta có: 12
  13. Môn Kinh tế Vi mô Qd = 480 - 0,1*3.200 = 160 nghìn tấn Ở phương án này thu nhập chia thành hai nguồn: - Bán gạo ra thị trường: 160.000.000 kg x 3.200 đồng = 512.000.000.000 đồng; ( 1 ) - Chính phủ phải phải chi tiền để mua 20 tấn gạo còn lại: 20.000.000 kg x 3.200 đồng = 64.000.000.000 đồng. (2) Như vậy so với giá cả thị thường thì chính phủ mất 4.000.000.000 đồng Cộng ( 1) và ( 2 ) ta được: 576.000.000.000 đồng * Giải pháp 2: Trợ cấp 200 đồng/kg. Ở phương án này thu nhập chia thành hai nguồn: - Bán gạo ra thị trường: 180.000.000 kg x 3.000 đồng = 540.000.000.000 đồng; ( 1 ) - Chi phủ phải chi tiền do trợ giá 200 đồng /kg là 180.000.000 kg x 200 đồng = 36.000.000.000 đồng; (2) Cộng ( 1) và ( 2 ) ta được: 576.000.000.000 đồng Vậy nên thực hiện giải pháp 1, vì cả hai giải pháp thì người nông dân có thu nhập là 576.000.000.000 đồng nhưng ở giải pháp 1 Chính phủ chi mất 4 tỷ còn giải pháp 2 chính phủ mất 36 tỷ; Như vậy giải pháp 1 đáp ứng được quyền lợi của nông dân mà vẫn giảm bớt chi tiêu cho chính phủ là 32 tỷ đồng. c. Giả sử chính phủ không khuyến khích người dân trồng nhiều lúa gạo bằng cách đánh thuế là 100đ/kg. Hỏi giá thị trường thay đổi như thế nào? Giá thực tế mà người trồng lúa nhận được là bao nhiêu? Ai là người chịu thuế? Chính phủ thu được số thuế là bao nhiêu? Khi chính phủ đánh thuế là 100 đ/kg, Giá thị thường sẽ tăng từ 3000 đ/kg lên 3100 đ/kg. Sản lượng tiêu thụ Qd = 480 - 0,1*3100 = 170 nghìn tấn Giá thực người trồng lúa nhận được là 3000 đ/kg; Người tiêu dùng là người chịu thuế Chính phủ thu được số thuế là 170.000.000 * 100 = 170.000.000.000 đồng. 13
  14. Môn Kinh tế Vi mô d. Vẽ đồ thị 14
  15. Môn Kinh tế Vi mô 15
Đồng bộ tài khoản