Đề ôn tập học kỳ 1 môn giảng văn lớp 12

Chia sẻ: Nguyễn Hải Yến | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:14

0
394
lượt xem
92
download

Đề ôn tập học kỳ 1 môn giảng văn lớp 12

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề 1: Phân tích đoạn thơ sau: “Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn Tiếng ai tha thiết bên bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề ôn tập học kỳ 1 môn giảng văn lớp 12

  1.                         VIỆT BẮC (TỐ HỮU) Đề 1: Phân tích đoạn thơ sau: “­ Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ­Tiếng ai tha thiết bên bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” I MỞ BÀI        ‘Việt Bắc” là 1 trong những đỉnh cao của thơ Tố Hữu, là thành tựu chung của thơ ca  kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài thơ đc viết nhân 1 sự kiện có ý nghĩa lịch sử: Sau kháng  chiến chống P thắng lợi, tháng 10­1954, trung ương Đảng và chính phủ dời chiến khu Việt Bắc về  thủ đô Hà Nội. Trong cuộc chia tay giữa người dân Việt Bắc (VB”) ở lại và người cán bộ kháng  chiến (k/c’) về xuôi, Tố Hữu đã xúc động viết bài thơ này. (Mượn hình thức đối đáp của 2 nhân vật trữ tình nhưng thực chất là lời độc thoại nội  tâm, tác giả đã thể hiện đc tình cảm lớn của con người VN lúc bấy giờ. Đó là lòng yêu nước, gắn  liền với lòng yêu cách mạng, càng nhớ về quá khứ gian khổ mà thắng lợi huy hoàng lại càng tự  hào, tin tưởng vào tương lai.) Đoạn bình giảng nằm ở phần đầu của bài “Việt Bắc”. Đây là tiếng lòng chân thành,  đằm thắm, thấm đượm ân tình cách mạng (CM) của người miền ngược với người miền xuôi trong  buổi chia tay đầy lưu luyến nơi núi rừng VB” II THÂN BÀI (Chia tay đã trở thành đề tài truyền thống trong thi ca.Đã có biết bao tiếng thơ đặc sắc  viết về đề tài này như đoạn “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều (Truyện Kiều – Nguyễn Du); “Tống biệt  hành ( Thâm Tâm)… Nhưng nếu như những cuộc chia tay đó đều mang tính cá nhân giữa bạn  bè, chồng vợ thì trong bài thơ “VB”, ta đc chứng kiến 1 cuộc chia ly đặc biệt giữa chính phủ k/c’  với nhân dân VB”. Đó là cuộc chia tay lớn lao, mang ý nghĩa cộng đồng)    Khổ thơ đầu là lời của người ở lại: 1.     ­Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
  2. Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn… Nổi bật lên trong lời của người ở lại là cách xưng hô “mình­ta”. Từ “mình” trong tiếng  Việt thường chỉ dùng ngôi thứ nhất. Từ “mình” được dùng ở ngôi thứ 2 khi đối tượng của người nói  có sự gắn bó chân tình ruột thịt như người bạn đời yêu mến. Trong bài “Việt Bắc”, từ “mình” chủ  yếu đc dùng ở ngôi thứ 2: “Mình về mình có nhớ ta”, cũng có khi từ “mình” cùng 1 lúc dùng để chỉ  cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ 2: “Mình đi mình lại nhớ mình”. Biện pháp nghệ thuật này diễn tả sự  gắn bó sâu sắc giữa “mình’ và “ta”, tuy 2 mà là 1. ­ Khổ thơ dồn chứa 1 nỗi nhớ mênh mang. Điệp từ “nhớ” nhắc lại nhiều lần với những  sắc thái biểu cảm khác nhau + Nỗi nhớ khi thì trải dài theo thời gian của cuộc kháng chiến. Người ở lại nhớ về  những kỷ niệm sâu nặng giữ “mình” và “ta”: Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. 15 năm là  khoảng thời gian tính từ cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và VB” trở thành căn cứ địa của CM, cho tới khi  cuộc CM thành công. “15 năm ấy thiết tha mặn nồng”. “Thiết tha mặn nồng” là những từ chỉ trạng  thái tình cảm lứa đôi. Để có đc tình cảm thiết tha mặn nồng, giữa mình và ta đã phải trải qua bao  nhiêu cay, đắng, ngọt, bùi. Những khi thiếu thốn “chia nhau từng củ sắn lùi/bát cơm sẻ nửa chăn  sui đắp cùng”. Những lúc cùng chung chiến hào “nhớ khi giặc đến giặc lùng/Rừng cây núi đá ta  cùng đánh tây”. Cả những lúc cùng vui chiến thắng: “tin vui chiến thắng trăm miền”… Tất cả như  đồng hiện lên trong nỗi nhớ(….) + Nỗi nhớ bao trùm cả  chiều rộng không gian: “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ  nguồn”. Người ở lại đã xoáy vào những đạo lý của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn” ­ Khổ thơ xuất hiện những câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta”, “mình có nhớ kô” để diễn tả  nỗi day dứt khôn nguôi của người ở lại. Đó cũng là những câu hỏi thường trở đi trở lại trong thơ Tố  Hữu:  Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay Ra sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm   2. Khổ    2: Tâm trạng của người ra đi:   ­Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay… ­ Người ra đi cũng tràn ngập nhớ nhung nhưng kô trực tiếp bày tỏ cảm xúc mà chỉ im  lặng lắng nghe. Im lặng cũng là 1 cách tri âm sâu sắc, hợp với phong cách của người cán bộ miền  xuôi, đằm sâu tinh tế ­ Những từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” kô chỉ tạo nên nhạc điệu của câu  thơ ngọt ngào đằm thắm mà còn diễn tả đúng tâm trạng của người đang yêu. Từ “tha thiết” ở khổ 
  3. thơ này như ngầm đáp lại với từ ‘thiết tha’ ở khổ thơ trên tạo sự cộng hưởng trong cảm xúc giữa  người đi và kẻ ở.(….) ­ Trên cái nền xanh bạt ngàn của núi rừng VB” trong buổi sớm mai nổi bật lên màu áo  chàm giản dị đơn sơ mà biết bao yêu thương trìu mến. Màu áo chàm biểu tượng cho con người  VB” thuần hậu, chất phác chỉ có 1 tấm lòng son luôn hướng về Đảng, về CM. Cuộc chia tay này  trở nên trang trọng hơn khi tác giả dùng từ “phân li” – từ Hán Việt. ­ Trong cuộc phân li, cả người đi và kẻ ở đều nghẹn ngào xúc động. Biết bao tình cảm  chứa chan khiến cho nghẹn lời: Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay   Dường như ngôn ngữ bất lực. Họ cầm tay nhau, truyền cho nhau những tình cảm nồng  ấm, tha thiết, truyền cho nhau niềm tin vào sự gắn bó chung thủy. Ta đã từng chứng kiến cái nắm  tay thắm tình đồng đội trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu: “Thương nhau tay nắm lấy bàn  tay”. Còn ở đây, ta lại được chứng kiến cái nắm tay thắm tình quân dân sâu nặng. Cái nắm tay ấy  thật đẹp, thật nên thơ, có ý nghĩa nhiều hơn lời nói. III. KẾT BÀI Đoạn thơ là những nốt dạo đầu của bản hòa âm VB” chan chứa yêu thương và nghĩa  tình CM, qua đó ta hiểu và trân trọng những tình cảm gắn bó với quê hương đất nước của nhà  thơ. Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị. Trong thơ ông khí chất chính trị lấn át cảm hứng trữ  tình thì thơ kô có sức thuyết phục. Chỉ khi cảm xúc trữ tình sâu lắng, hòa quyền cùng cảm hứng  chính trị thì thơ ông mới thấm sâu, lắng đọng trong tâm hồn người đọc. Bài thơ “Việt Bắc” nói  chung và đoạn thơ trên nói riêng đã đạt đến tầm như thế. Đề 2: Phân tích đoạn thơ sau: Ta về mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình. Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
  4. I. MỞ BÀI ­ ­ ­ Đoạn bình giảng nằm ở phần thứ nhất của bài thơ. Đây là lời của người ra đi, thể hiện  sự gắn bó thủy chung với mảnh đất quê hương CM qua nỗi nhớ thiên nhiên và con người VB” II. THÂN BÀI 1.Hai câu đầu nói lên tâm trạng của người ra đi ­ Phân tích cặp đại từ “mình­ta” (như đề 1) ­ Tâm trạng bao trùm của người về là nỗi nhớ. Ở 2 câu thơ này, từ “nhớ” đc điệp lại 2  lần chia đều cho cả người đi và kẻ ở. “Nhớ ta” là nỗi nhớ hướng về người ra đi. Còn “ta nhớ” là nỗi  nhớ hướng về người ở lại. ­ Nỗi nhớ bao trùm là nhớ về thiên nhiên và con người VB”.Ở câu thơ thứ 2, “hoa” là  hình ảnh cho thiên nhiên VB” tươi đẹp 2. Tám câu thơ còn lại là sự cụ thể hóa về nỗi nhớ của người ra đi (2.1 Nhận xét chung: Tám câu thơ có 1 cấu tứ khá đặc biệt, cứ 1 câu thơ 6 tiếng  miêu tả về thiên nhiên lại đan xen 1 câu thơ 8 tiếng miêu tả về con người. Mỗi cặp lục bát làm  thành 1 bức tranh tứ bình. Nghệ thuật tứ bình là nghệ thuật quen thuộc trong hội họa cổ điển  phương Đông. Nếu nói về thiên nhiên thì có “tùng, trúc, cúc, mai”; “phong, hoa,tuyết, nguyệt”; nếu  nói về con người thì có “ngư, tiều, canh, mục”. Tám câu thơ trong đoạn bình giảng làm nên bộ  tranh tứ bình về 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.) 2.2 Phân tích chi tiết: a.Cảnh mùa đông: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng ­ Gam màu làm nền cho bức tranh mùa đông là màu xanh trầm tĩnh của rừng đại ngàn.  Trên nền màu xanh trầm tĩnh ấy nở bừng bông hoa chuối đỏ tươi như 1 bó đuốc cháy lên sáng  rực, làm ấm cả không gian, ấm cả lòng người. Và màu đỏ của hoa chuối lại đc tô điểm bởi màu  nắng ở câu thơ thứ 2 đã khiến cho cảnh rừng mùa đông trầm mặc bỗng sinh động hẳn lên. ­ Giữa khung cảnh thiên nhiên núi rừng VB” xuất hiện hình ảnh con người đứng trên  đèo cao, ánh mặt trời chiếu vào lưỡi dao cài trên thắt lưng lóe sáng. Hình ảnh con người đứng trên  đèo cao là 1 hình ảnh đẹp, 1 vẻ đẹp tự tin, vẻ đẹp của con người đc làm chủ núi rừng. b. Cảnh mùa xuân: Ngày xuân mơ nở trắng rừng
  5. Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang ­ Trong bức tranh mùa xuân, gam màu làm nền đã có sự thay đổi, từ màu xanh trầm  tĩnh của rừng đại ngàn chuyển sang màu trắng tinh khiết của hoa mơ. Từ “trắng” vốn là tính từ  nhưng ở đây đã đc động từ hóa  “mơ nở trắng rừng” gợi cảm giác cả cánh rừng như đang bừng  sáng lên trong sắc trắng của hoa mơ (Bức tranh mùa xuân trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, gam màu làm nền là màu  xanh non của cỏ, còn màu hoa lê chỉ là những nét chấm phà điểm xuyết Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa Còn rừng VB” mỗi khi xuân về lại tắm trong sắc trắng hoa mơ, rưng rưng tinh khiết. Đây  là vẻ đẹp đặc trưng của thiên nhiên VB”) ­ Trong cảnh thiên nhiên mùa xuân thơ mộng cũng xuất hiện hình ảnh con người: Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Cụm từ “chuốt từng sợi giang” diễn tả vẻ đẹp con người với sự cần mẫn, cẩn trọng, tài  hoa, dường như bao yêu thương đều đc gửi trong từng sợi giang kết thành vành nón c. Cảnh mùa hè: Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng 1 mình ­ Nếu cảnh mùa đông, mùa xuân mới có hình ảnh, màu sắc thì cảnh mùa hè có thêm  âm thanh. Tiếng ve ngân làm cho cảnh rừng thêm xao động. Tiếng ve ngân đã  đánh thức sắc  màu. Những ngày cuối xuân, cả rừng phách còn là màu xanh vì những nụ phách còn náu trong kẽ  lá. Khi tiếng ve ngân đầu tiên của mùa hè ngân lên thì cả rừng phách nhất loạt đổ hoa vàng. Chỉ  trong 1 thời gian ngắn mà cả rừng phách lênh láng sắc vàng. Từ “đổ” đc tác giả dùng chính xác  và tinh tế. Nó vừa gợi lên sự chuyển màu mau lẹ vừa diễn tả đc những trận mưa hoa vàng rừng  phách mỗi khi có làn gió thổi qua. ­ Sự xuất hiện hình ảnh người thiếu nữ VB” đã làm dịu đi cái nắng,cái nóng của mùa hè.  Cô gái Tây Bắc đi hái măng 1 mình kô gợi lên sự hiu hắt cô đơn mà cho ta thấy vẻ đẹp thanh bình  của rừng VB” và vẻ đẹp của con người cần cù chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh thầm lặng.  Đằng sau hình ảnh này ta còn nhận ra cả niềm cảm thương kín đáo của tác giả. d. Khép lại bộ tranh tứ bình là cảnh mùa thu Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung ­ Trong bộ tranh về thiên nhiên bốn mùa chỉ có cảnh trong mùa thu là cảnh hiện tại.  Đây là mùa thu hòa bình đầu tiên. Đất nước vừa trải qua cuộc kháng chiến hơn 3000 ngày không  nghỉ để làm sao có thể có đc mùa thu hòa bình đầu tiên ấy. ­ Mùa thu đc mô tả với những cảnh đêm trăng. Cảnh phù hợp với những khúc hát giao  duyên, khi chia tay, khi giã bạn. Cảnh có ánh trăng thu mơ mộng. Trăng rọi qua vòm lá, dệt lên 
  6. trên mặt đất 1 tấm thảm hoa trăng. Câu thơ của Tố Hữu gợi cho ta nhớ đến câu thơ của Hồ Chí  Minh cũng viết về trăng ở rừng VB” trong những năm kháng chiến chống Pháp: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa (Cảnh khuya) ­ Từ “ai” phiếm chỉ trong câu thơ thứ 2 đã khiến cho người đọc có thêm những liên  tưởng: tiếng hát ấy là tiếng hát của người ở lại, người ở lại hát để nói hộ nỗi lòng của người ra đi.  Câu thơ “nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” còn gợi nhắc đến câu thơ ở phần đầu tác phẩm: “  Tiếng ai tha thiết bên cồn”. Chính sự hô ứng này đã tạo ra âm điệu bâng khuâng, vương vấn 2.3 Tiểu kết Mỗi bức tranh mang 1 vẻ đẹp riêng nhưng cả bộ tranh tứ bình lại có vẻ đẹp chung,đó là  sự hòa hợp giữa cảnh và người, giữa âm thanh và màu sắc. Màu sắc có sự hòa hợp tới mức tuyệt  diệu: màu xanh của núi rừng, màu đỏ của hoa chuối, màu trắng của hoa mơ, màu vàng của rừng  phách. Âm thanh cũng có sự hòa hợp giữa âm thanh của tự nhiên (tiếng ve ngân) với âm thanh  của con người (tiếng hát đêm trăng). Đoạn bình giảng vừa là 1 bức họa vừa là bản nhạc đc tấu  lên để ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người VB”. III. KẾT BÀI ­ Đoạn bình giảng là lời của người về nói với người ở lại nhưng vẫn gợi lên lối hát đối  đáp giữa người về kẻ ở quen thuộc trong ca dao, dân ca. Điệp từ “nhớ’ đc nhắc lại nhiều lần, mỗi  lần 1 sắc thái khác nhau nhưng đều gợi lên ân tình tha thiết. ­ Đoạn thơ có kết cấu theo kiểu hô ứng. Mở đầu là câu hỏi: “Ta về mình có nhớ ta?” và  khi kết thúc câu hỏi ấy đã đc trả lời: cả ta và mình cùng chung 1 nỗi nhớ “ân tình thủy chung” Đề 3: Phân tích đoạn thơ sau: Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung. Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cũng mũ nan. Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay. Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên. I. MỞ BÀI ­ ­
  7. ­ Đoạn bình giảng nằm ở phần 1 của bài “Việt Bắc”. Đoạn thơ phản ánh khí thế, sức  mạnh và niềm tin của nhân dân ta trong kháng chiến chống P ở chiến khu Việt Bắc. Nếu cả bài  “Việt Bắc” là khúc hát ru với nhạc điệu dịu dàng, đằm thắm thì đoạn thơ này lại mang âm hưởng  anh hùng ca giàu chất sử thi. II. THÂN BÀI 1.Trước hết, đoạn thơ phản ánh đc khí thế, sức mạnh của nhân dân ta trong cuộc   kháng chiến chống P ở chiến khu Việt Bắc. a. Hai câu thơ đầu là ấn tượng chung về những con đường VB” cũng là những con   đường kháng chiến của dân tộc ta, những con đường thể hiện sự lớn mạnh của cuộc chiến tranh   vệ quốc ­ Từ “của ta” vang lên dõng dạc tự hào thể hiện ý thức làm chủ đất nước, làm chủ  những con đường ­ Từ “những” gợi hình ảnh về các ngả đường VB”, các ngả đường hướng vào mặt trận ­ Từ “đêm đêm” gợi sự gian khổ nhưng với từ “rầm rập” ở phía sau đã gợi hình ảnh bước  đi quyết liệt, mạnh mẽ, hào hùng, những bước đi rung chuyển của núi sông “như là đất rung” ­ Khí thế sức mạnh của dân tộc ta trên chiến trường VB” gợi lại không khí hào hùng của  quân đội thời Trần:  Ba quân hào khí át sao Ngưu (Phạm Ngũ Lão) hoặc khí thế của nghĩa quân Lam Sơn Gươm mài đá, đá núi cũng mòn Voi uống nước, nước sông phải cạn (Nguyễn Trãi) b. 4 câu thơ tiếp theo thực sự là 1 bức tranh hùng tráng diễn tả cuộc chiến tranh nhân   dân. Để dựng lên bức tranh này, tác giả sử dụng bút pháp anh hùng ca đậm chất sử thi b.1 Câu 3 và 4 là hình ảnh “quân đi” ­ Những từ ngữ giàu giá trị tạo hình “điệp điệp trùng trùng” gợi sự vô tận của những  đoàn quân. Các từ “đi”, “điệp điệp trùng trùng” gợi lên âm hưởng hào hùng của đoàn quân ­ H/ả “ánh sao đầu súng” vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng.  Trong khung cảnh “đêm đêm”, trên nẻo đường VB” vẫn ngời sáng ánh sao trên đầu súng. Ánh  sao cũng chính là ánh sáng của lí tưởng CM. Tầm vóc người chiến sĩ như vươn tới sao trời. H/ả  “bạn cùng mũ nan” cho thấy sự hài hòa giữa cái đẹp, cái ngời sáng, cái cao cả ( đó chính là ánh  sao) với cái giản dị của người lính CM. b.2 hai câu thơ tiếp theo:  Đó là hình ảnh đoàn dân quân ra trận ở thời kỳ tổng phản  công. Câu thơ kô dùng sự trùng điệp mà vẫn gợi ra sự trùng điệp bởi nghệ thuật đảo cú pháp: Mở 
  8. đàu là từ “dân công”, kết thúc câu thơ là “từng đoàn” như 1... Giữa câu thơ là h/ả lửa đuốc bừng  sáng của dân công, làm bừng sáng núi rừng VB” ­ H/ả 2 (Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay) cũng là hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trung,  thể hiện sức mạnh của đoàn quân đạp bằng chông gai với khí thế rộn ràng. Con đường ra trận  đẹp như con người hoa đăng (muôn tàn lửa bay) 2.Sức mạnh nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống P, Tố Hữu tin vào 1 ngày   mai tương sáng: ­ 2 câu thơ có cảm xúc trực tiếp từ không khí chiến trường từng đc chứng kiến, những  đoàn xe vận tải nối đuôi nhau “tiếp lương tải đạn”. Những đoàn xe bật sáng, soi cho rõ những con  đường phía trước. Từ ý nghĩa những chiếc đèn pha của những đoàn xe tải mà tác giả thể hiện  được cảm hứng lãng mạn CM: Từ trong khó khăn gian khổ hi sinh, ngời lên chiến thắng của tương  lại. Tác giả sử dụng đối lập tương phản ánh sáng với ngàn đêm thăm thẳm sương dày trong hiện  tại để diễn tả sự trưởng thành và những niềm tin cuộc kháng chiến sẽ giành thành công thắng lợi.
  9. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ NGUYỄN TUÂN Đề bài: Phân tích hình tượng sông Đà và hình tượng người lái đò, từ  đó nêu lên những nét nghệ thuật chủ yếu trong phong cách nghệ thuật của  Nguyễn Tuân I. MỞ BÀI ­ Bài “Người lái đò sông Đà” được trích từ tập tùy bút “Sông Đà” (xuất bản năm 1960).  Tập tùy bút này là thành tựu nghệ thuật của Nguyễn TUân sau CM, đồng thời là tác phẩm tiêu  biểu của thể tài tùy bút trong văn học hiện đại (Qua tùy bút “Sông Đà”, người đọc thấy ngời sáng lên vẻ đẹp thiên nhiên tổ quốc và  con người Việt Nam. Thiên nhiên Tổ quốc với vẻ đẹp hùng vĩ dữ dội và mĩ lệ thơ mộng, con người  Viêt Nam với vẻ đẹp thông minh dũng cảm và rất mực tài hoa) Tùy bút “Người lái đò sông Đà” là tùy bút tiêu biểu trong tập tùy bút “Sông Đà”. Nổi bật  lên trong thiên tùy bút là hình tượng sông Đà và người lái đò. Qua 2 hình tượng trung tâm xuyên  suốt này, người đọc thấy đc phong cách độc đáo của Nguyễn Tuân. II. THÂN BÀI 1.HÌnh tượng sông Đà: Nhận xét chung: dưới ngòi bút của NTuân, S.Đà hiện lên như 1 nhân vật có hoạt động,  cá tính,tâm trạng khá phức tạp: vừa hung bạo, vừa  trữ tình. Lúc trở mặt hung bạo, S.Đà như “kẻ  thù số 1 của con người”; lúc trữ tình, S.Đà lại đầy chất thơ, dịu dàng tha thiêt như 1 người tình, 1  người cố nhân S.Đà là 1 dòng sông độc, lạ thích hợp với phong cách nghệ thuật của NTuân hay phản  ánh hình tượng từ cái gì khác thường, phi thường a. Tính cách hung bạo: tính cách hung bạo của Đà giang đc thể hiện qua diện mạo và   tâm địa của nó: ­ Diện mạo: + 1 trong những hình ảnh đầu tiên gợi lên sự hùng vĩ dữ dội của S.Đà là đá bờ sông  dựng vách thành. Tác giả đã miêu tả độ cao chất ngất của vách đá “mặt sông đúng ngọ mới có  mặt trời” và độ hẹp của lòng sông bằng phép so sánh “ vách đá chẹt lòng sông như cái yết hầu.  Lòng sông hẹp đến mức con nai con hổ có thể nhảy vọt từ bờ bên này sang bờ bên kia. Nước ở  đây chảy siết, lúc nào cũng tối và lạnh + Sự hung bạo của S.Đà tiếp tục đc đẩy cao hơn trong đoạn văn miêu tả đoạn  ghềnh Hát Loong. S.Đà là thế giới của sóng, đá và gió “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió,  cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như muốn đòi nợ xuýt những con đò đi ngang qua”.  Những câu văn ngắn, nhanh, dồn dập kết hợp hình ảnh trùng điệp, những động từ dày đặc đã tái  hiện 1 cách sinh động sự dữ dội cảu sóng, của gió, của đá S.Đà. Những con sóng cứ vút lên,   chồm lên nhau
  10. + Nhưng ấn tượng nhất vẫn là những cái hút nước khủng khiếp: Tác giả sử dụng 1  loạt so sánh để miêu tả sự khủng khiếp như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm  móng câu như “nước thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”. Thuyền bè đi qua đây phải đi rất   nhanh, nếu sơ ý sẽ bị cái hút nước khủng khiếp ấy hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược,  đi ngầm dưới lòng sông, mươi phút sau thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới. Mặt sông lừ lừ cánh quạ  tìm ăn xác người. ­ Tâm địa hiểm ác của S.Đà đc thể hiện qua trận địa đá và thác nước S.Đà + Đá sông Đà hàng ngàn năm vẫn bền bỉ mai phục dưới lòng sông như trận đồ bát  quái với nhiều cửa tử và cửa sinh. Đá sông Đà còn là 1 lũ tướng quân hung bạo có cả nhân hình  và nhân tính. Cái dữ dội của trận địa đá càng đc tăng thêm bởi sóng thác như hùm beo, có lúc  như đội cả thuyền lên. Thác đá S.Đà còn đc đẩy lên với sức mạng của thần linh “binh pháp của   thần sông, thần đá” +Thác nước S.Đà cũng vô cùng dữ dội và nham hiểm. từ xa mời thấy thác, ta đã  nghe thấy những âm thanh của thác hiện lên với tình cảm rất người. Tiếng thác lúc thì như van  xin, lúc lại như khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo, lúc lại dữ dội như “hàng ngàn con trâu mộng  giữa rừng vầu, rừng tre nứa đổ lửa”. Đây là sự so sánh, liên tưởng rất độc đáo và bất ngờ của  NTuân. Ông đã dùng lửa để tả nước, dùng rừng để tả sông, dùng tiếng thét dữ dội của hàng ngàn  con trâu mộng để miêu tả sự dữ dội của tiếng thác Dưới ngòi bút NTuân, S.Đà trở thành hung thần số 1 trong cuộc đấu trí đấu lực với  con người. Tuy nhiên, ngày nay những người dân Tây Bắc đã chinh phục đc con sông Đà hung  bạo. Nhà máy thủy điện S.Đà mọc lên đã bắt thác lũ S.Đà trở thành nguồn điện năng dồi dào  phục vụ đời sống con người b. Vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Đà S.Đà kô chỉ hung bạo dữ dội mà còn trữ tình thơ mộng. Những trang văn NTuân viết về  vẻ đẹp trữ tình S.Đà thực sự là những “tờ hoa” bất hủ, thể hiện sự khám phá về phương diện thẩm  mĩ của nhà văn ­ Dáng vẻ: S.Đà hiện lên trong dáng vẻ của 1 người con gái yêu kiều, tha thướt: “S.Đà  tuôn dài tuôn dài như 1 áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở  hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Vẻ đẹp của dòng  sông hiện lên trong không gian thơ mộng, huyền ảo của mây trời, hoa khói Tây Bắc. Câu văn đẹp  như bức tranh thủy mặc, đem đến cho người đọc những cảm xúc tinh vi và trong trẻo ­ Màu sắc: Màu sắc S.Đà thay đổi theo mùa chẳng khác gì người con gái đẹp tiềm ẩn  trong mình bao nhiêu bí mật. Xuân về, dòng sông êm ả màu xanh ngọc bích, một sắc xanh sáng  trong thơ mộng khác với màu xanh canh hến của sông Lô, sông Gâm. Thu sang, từ thượng nguồn  nước lũ ùa về, sông Đà cuồn cuộn phù sa, lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa.  Mùa hè đến, S.Đà lại lóe lên màu sắc tháng Ba Đường thi ­ Cảnh 2 bên bờ sông:
  11. + Cùng con thuyền đuôi én lướt nhẹ trên dòng sông vào buổi xuân sang, tác giả  ngắm 2 bên bờ sông, cảnh hoang sơ và mĩ lệ + Cảnh ở đây lặng tờ, kô 1 bóng người, có thể nghe tiếng cá dầm xanh quẫy nước,  tiếng cựa mình của những búp cỏ gianh nhưng kô hề rợn ngợp bởi tràn trề sự sống: những là ngô  non đầu mùa, cỏ non đồi núi đang ra những búp cỏ non, con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi  áng cỏ sương. Cảnh vật và con người giao hòa thắm thiết. Nhà văn như nghe thấy, như hiểu tiếng  nói của con vật lành. Giọng văn đày chất thơ thấm đẫm chất cổ điển ­ Sở dĩ NTuân nhìn sông Đà gợi cảm như vậy bởi S.Đà với ông như 1 cố nhân, 1 tri âm  tri kỷ. Đi rừng nhiều ngày, bắt đc ra S.Đà, nhìn thất ánh nắng rực rỡ của sông Đà nhà văn reo lên.  “Bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn, bươm bướm trên sông Đà. Chao ôi trông con sông vui  như nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui  như nối lại giấc chiêm bao đứt quãng”. Tác giả  reo ngỡ  ngàng cà sung sướng. Đó đã thể hiện niềm vui, tình cảm đặc biệ của nhà văn với sông Đà *Tiểu kết: miêu tả sông Đà với vẻ đẹp vừa hùng vĩ dữ dội, vừa mĩ lệ thơ mộng đâu chỉ  là bút lực của NTuân mà còn là tâm hồn của nhà văn với thiên nhiên, đất nước. Lòng yêu nước  của tác giả đc bộc lộ thầm kín nhưng thiết tha; yêu nước là yêu vẻ đẹp thiên nhiên tổ quốc, chính  vì yêu nước mà NTuân đã viết nên trang văn tài hoa khi cực tả dòng sông Đà. 2. Phân tích hình tượng ông lái đò: Cuộc sống của người lái đò là cuộc chiến đấu hàng ngày với thiên nhiên hung dữ và  chính trong cuộc chiến đấu ấy, vẻ đẹp của người lái đò mới đc bộc lộ 1 cách rõ ràng nhất. Tác giả  đã ghi lại cuộc chiến đấu gian lao – chiến trường S.Đà. Cuộc chiến đấu ấy trải qua 3 vòng vây và  ở mỗi vòng vây, ông lái đò lại có những đối sách thích hợp vì ông đã nắm đc binh pháp của thần  sông, thần đá a. Vòng 1:  Đây là 1 trận chiến kô cân sức, giữa 1 người lao động bình dị, bé nhỏ với  thiên nhiên hung dữ, khắc nghiệt: ­ Sông Đà: + S.Đà như 1 con quái vật khổng lồ bày thạch trận để vây hãm ông đò. Những tên  tướng đá với cái mặt “ngỗ ngược”, “nhăn nhúm méo mó”. Hòn thì canh cửa đá trông như là sơ hở  để dụ dỗ đối phương; hòn thì oai phong bệ vệ hất hàm bắt con thuyền phải xưng tên tuổi; hòn thì  ở thế tiến công, nhỏm cả dậy để vồ lấy con thuyền + Mặt nước hò la vang động. Sóng thác như hùm beo ùa vào và đánh những đòn  hiểm ác. Bẻ gẫy cán chèo, đá trái, thúc vào bụng, vào hông thuyền làm ông đò lái bị thương ­ Ông lái: Trước con S.Đà hung ác, hiểm độc, ông lái đò vẫn hiện lên lồng lộng. Ông như 1  chiến tướng với bản lĩnh cao cường kô chịu khuất phục kẻ thù. Vết thương làm cho ông đò méo  bệch đi nhưng ông cố nén vết thương, cầm chắc tay chèo, tỉnh táo chỉ huy các bạn chèo đưa con  thuyền vượt qua 4 cửa tử, tiến nhanh vào cửa sinh b. Vòng 2:
  12. ­ S.Đà càng hung hãn, điên cuồng. Chúng bố trí thêm nhiều cửa tử và bố trí lệch cửa  sinh. Thác nước như hùm beo lồng lộn. S.Đà ở vòng 2 này đã biểu hiện rõ diện mạo và tâm địa  “kẻ thù số 1 của con người”, đặt người lái đò vào những thử thách khôn lường ­ Ông lái đò đã am hiểu binh pháp của thần sông, thần đá, từ thế thủ công ông chuyển  sang thế tiến công, mặc cho dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh. Người lái đò khi thì cưỡi lên  sóng túm lấy bờm sóng, khi thì ghì cương lái, khi thì phóng nhanh, vượt mạnh, đè sấn lên mặt,  chặt đôi dòng nước. Thằng tướng đá tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng => Hình ảnh mà NTuân ghi lại ở vòng 2 này vừa là hình ảnh tinh tế, vừa là kết quả của  trí tưởng tượng phong phú trước công cuộc chinh phục thiên nhiên của người dân Tây Bắc. Người  lái đò đã chiến thắng dòng sông Đà hung bạo như tráng sĩ quật ngã hùm beo. Như 1 kị sĩ đã  thuần phục đc con tuấn mã bất kham c. Vòng 3: ­ S.Đà: Càng thua đau, S.Đà càng trở nên hung tợn và nham hiểm. Ở vòng 3 này, bên  trái bên phải đều là luồng chết, cái luồng sống lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ của thác ­ Ông lái đò: Sức sống của ông lái đò hết sức mong manh. Nhưng ở vòng 3 này, ông lái  đò đã thể hiện sự thông mình và tài ba của mình. Con thuyền đuôi én đã vun vút lao qua cổng đá  cánh mở cánh khép, vừa lái vừa lượn… Tài nghệ của ông lái đò đã đạt đến tuyệt đối, nghệ sĩ; hay  nói như NTuân: “Tay lái nở hoa” d. Qua hình tượng người lái đò, người đọc kô chỉ thấy lòng yêu nước mà còn thấy quan   niệm mới về chủ nghĩa anh hùng của NTuân ­ Lòng yêu nước đc thể hiện qua lòng yêu mến tự hào trước vẻ đẹp của những con  người Việt Nam, đó là những con người cần cù, thông minh, dũng cảm và rất mực tài hoa nghệ sĩ. ­ Với NTuân, chủ nghĩa anh hùng có ở những người bình thường giản dị trong cuộc  sống hàng ngày. Một ông lái đò  70 tuổi đã có cả trăm lần vượt sông nước Đà giang. Vậy mà sau  những chuyến đi, ông lái đò lại trở về cuộc sống   đời thường, bình dị. Ông lái đò lại cùng vui  chuyện về sông nước, cùng ăn cơm lam, cùng kể chuyện về những loài cá anh vũ, cá dầm xanh  với các bạn đò. Người lái đò như chưa hề nghĩ rằng mình đã từng có những hành động quả cảm,  đã từng lập nên kì tích S.Đà 3. Qua hình tượng sông Đà và hình tượng người lái đò, chúng ta thấy đc những nét chủ   yếu nhất trong phong cách nghệ thuật của NTuân (Có người đã khái quát phong cách nghệ thuật của NTuân trong 1 chữ “ngông” có  nghĩa là muốn nhấn mạnh 1 phong cách nghệ thuật độc đáo, khác người) a. Nhà văn hay hướng tời cái khác thường, cái phi thường để gây cảm xúc mãnh liêt.   Chính phong cách nghệ thuật này đã đưa NTuân đến với sông Đà – 1 dòng sông độc lạ. Chúng thủy giai đông tẩu
  13. Đà giang độc bắc lưu (Nguyễn Quang Bích) S.Đà chứa đựng trong mình những mặt đối ngược như nước với lửa, vừa hung bạo vừa  trũ tình. S.Đà đẹp tới mức tuyệt mĩ và dữ dội đến khủng khiếp. Phải là dòng sông độc lạ như S.Đà  mới là đối tượng để NTuân có thể đua tài bút lực cùng tạo hóa. Có người cho rằng, NTuân tìm đến  S.Đà là 1 phong cách nghệ thuật độc đáo tìm đến 1 đối tượng độc đáo b. NTuân thường tiếp cận và miêu tả đối tượng từ phương diện văn hóa nghệ thuật.   Nếu đối tượng là con người thì cong người thường mang vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ Được chi phối qua phong cách nghệ thuật nên qua ngòi bút của NTuân, người lái đò đã  trở thành người nghệ sĩ của sông nước. Người lái đò và S.Đà như người nhạc trưởng với bản nhạc  của mình. Mà người nhạc trưởng ấy đã thuộc lòng bài nhạc đó đến từng câu từng chữ, từng đoạn  xuống dòng. Các Mác đã có 1 câu: “ Bản chất của 1 con người là nghệ sĩ rất đúng với nhiều hình  tượng của NTuân, trong đó có hình tượng người lái đò c. Phong cách nghệ thuật của NTuân là phong cách tài hoa, uyên bác: ­Sự tài hoa ­> ngôn ngữ, hình ảnh, câu văn + Ngôn ngữ của NTuân nóng rẫy sự sống, nó nổi khối, nổi hình, nổi âm thanh, nổi  cảm giác. Ông là nghệ sĩ của ngôn từ. Miêu tả S.Đà, nhà văn viết “ S.Đà tuôn dài tuôn dài như  áng tóc trữ tình”. Từ “áng” thường đc dùng nói về các tác phẩm hay và đẹp. Cách viết “S.Đà như  áng tóc trữ tình” đã biến S.Đà thành 1 tác phẩm tuyệt mĩ của thiên nhiên ban tặng cho con người.  Miêu tả ông lái đò khi bị thương cố nén vết đau, nhà văn kô dùng từ “méo xệch” mà là “méo  bệch”. “Méo xệch” mới chỉ diễn tả đc nỗi đau làm biến dạng khuôn mặt còn “méo bệch” kô chỉ  diễn tả nỗi đau làm biến dạng mà còn làm nhợt nhạt cả khuôn mặt

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản