Để phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Chia sẻ: Hoang Qui Hai | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:7

0
513
lượt xem
261
download

Để phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Để phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cần nhận thức được những khó khăn và thuận lợi của đất nước. Đó là một nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua nhiều năm chiến tranh nền kinh tế còn thấp kém. Từ một nền kinh tế kế hoạch tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có bước chuyển đổi cơ chế, luật pháp cho phù hợp....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Để phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

  1. Để phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ  nghĩa ở Việt Nam Doãn Đình Huề (Cập nhật: 4/12/2007) Để phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cần nhận thức được những khó khăn và thuận lợi của đất nước. Đó là một nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua nhiều năm chiến tranh nền kinh tế còn thấp kém. Từ một nền kinh tế kế hoạch tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có bước chuyển đổi cơ chế, luật pháp cho phù hợp. 1- Quan điểm về phương hướng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mục tiêu lợi nhuận là tâm điểm khiến cho các thành phần kinh tế đều vươn tới. Bằng mọi biện pháp, thủ đoạn, các nhà sản xuất tìm mọi cách để thu được nhiều lãi. Trong quá trình tái sản xuất hàng hóa thì tiêu thụ hàng hóa là khâu quyết định của quá trình sản xuất. Sản xuất bao nhiêu, sản xuất cái gì luôn là câu hỏi đối với các nhà sản xuất hàng hóa. Họ không mạo hiểm sản xuất ra mà hàng hóa không tiêu thụ được. Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường được coi trọng phát triển. Quan điểm này đã chi phối quá trình phát triển lâu dài của cả nền kinh tế. Vì vậy, quan điểm của các nước đi theo nền kinh tế thị trường khuyên ta phải nhanh chóng tư nhân hóa nền kinh tế, phát triển các doanh nghiệp tư nhân. Họ cho rằng chỉ có con đường đó mới thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển, coi nhẹ vai trò của kinh tế nhà nước, vai trò lãnh đạo của Đảng. Điều này được thể hiện dưới các hình thức ràng buộc như gắn với việc cho vay các nguồn vốn, trong đó có vốn ưu đãi, vốn dài hạn và trung hạn, các dự án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Đây là vấn đề rất nhạy cảm. Nếu nhận thức việc vay vốn không đầy đủ, không sáng suốt sẽ dẫn đến tình trạng đến kỳ hạn, chúng ta sẽ không trả được nợ, hoặc sử dụng vốn không đem lại hiệu quả kinh tế, từ thất bại về kinh tế sẽ dẫn đến vấn đề chính trị. Thực tế trên thế giới có nước từ vấn đề kinh tế không tự chủ được dẫn đến buông lỏng và bị thỏa hiệp, nhượng bộ về chính trị dẫn đến mất định hướng phát triển và chủ quyền. Đây là bài học rất bổ ích mà chúng ta cần phải suy ngẫm, tính toán cho phù hợp với chặng đường phát triển kinh tế - xã hội cho phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới. Trong guồng máy chung luôn vận động và phát triển, không cho phép ta đứng ngoài mà phải chuyển động. Sự sáng tạo và thông minh của con người Việt Nam luôn là niềm tin để chúng ta chiến thắng mọi trở
  2. ngại và khó khăn để giành thắng lợi. Điều này được chứng minh trong chiến tranh cứu nước vĩ đại, cái khó ló cái khôn, có được cách đánh hay, sáng tạo. Trong xây dựng và phát triển kinh tế hiện nay đòi hỏi con người Việt Nam có sáng tạo mới. Lĩnh vực công nghệ thông tin, nước ta đi sau nhưng có bước tiến khá được bạn bè thế giới khen ngợi. Nhiều chuyên gia lĩnh vực tin học cho rằng tiềm năng Việt Nam sẽ là một trong những trung tâm thông tin - xử lý phần mềm của thế giới. Sự sáng tạo của tuổi trẻ Việt Nam có nhiều thành tựu mà các nước nhìn nhận ở Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới như thi Rô bớt con, tin học, thợ nghề, toán, vật lý, hóa, ngoại ngữ, sinh… Đáng chú ý là người phát minh ra máy rút tiền tự động ATM là người Việt kiều tại Mỹ. Các loại hình dịch vụ tài chính, ngân hàng thanh toán bằng hệ thống giao dịch điện tử nối mạng đã được Việt Nam thực thi một cách nhanh có hiệu quả. Nếu như một giao dịch, xưa mất vài ngày thì đến nay chỉ mấy vài giây. Sự nắm bắt, tiếp thu công nghệ hiện đại tiên tiến với phương châm "đi tắt, đón đầu" đã đem lại hiệu quả trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới. Ở các lĩnh vực khác như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, xây dựng, giao thông, thủy sản… đã được trang bị và ứng dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh nên đem lại hiệu quả kinh tế cao. Điều quan trọng là làm cho xã hội nhìn nhận được thành quả của đổi mới của Đảng và bước đầu tiếp cận với tiến trình hội nhập kinh tế thế giới. Chính vì vậy, sự nghiệp đổi mới của Đảng đòi hỏi mỗi chúng ta phải có nhận thức đúng hơn, phải tự vận động vượt lên chính mình để không bị tụt hậu, phải tiếp cận nhanh với công nghệ tiên tiến của thế giới. Quan điểm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước chính là cái mới của sự nghiệp đổi mới của Đảng. Đương nhiên để có được nhận thức đúng đòi hỏi quá trình thực tiễn đã minh chứng qua các giai đoạn phát triển của đất nước. Qua mỗi lần đại hội Đảng, chúng ta càng nhận thức rõ hơn, cụ thể hơn, sâu sắc hơn, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Quả thực coi trọng các thành phần kinh tế cùng phát triển đã làm cho nền kinh tế khởi sắc, đời sống nhân dân ta được nâng cao, nông thôn được đổi mới. Sự đổi mới nhanh chóng ở Việt Nam về kết cấu hạ tầng, thu nhập, đời sống và nhất là từ nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Nhiều sản phẩm của các thành phần kinh tế đã có chỗ đứng ở thị trường thế giới, có thương hiệu. Có mặt hàng bán giá rẻ làm cho nước công nghiệp phát triển cũng lo ngại và kiện ta bán giá thấp, phá giá thị trường. Sở dĩ sản phẩm của ta cạnh tranh được với hàng ngoại, vì sản xuất chi phí thấp hơn; như cá ba sa ở đồng bằng sông Cửu Long. Trong quá trình phát triển các thành phần kinh tế, điều cần coi trọng là thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế nhà nước đóng vai trò quan trọng là vì nhiều ngành nghề, lĩnh vực các thành phần kinh
  3. tế khác không làm được hoặc làm không hiệu quả thì kinh tế nhà nước đảm nhiệm. Kinh tế tư nhân tuy năng động nhưng nếu lợi nhuận ít sẽ không đảm đương được nhiệm vụ mà xã hội cần. Quan điểm phát triển kinh tế gắn với quốc phòng, an ninh nhằm đáp ứng tình hình mới. Quan điểm này được hầu hết các nước đều coi trọng. V.I. Lê-nin đã từng chỉ rõ: giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn. Đối với mỗi quốc gia, an ninh chính trị xã hội luôn được đặt lên hàng đầu. Ở nước ta quan điểm trên luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng. Đương nhiên, cũng vì lý do nước ta đã trải qua nhiều năm chiến tranh, đã thấm đậm triết lý không có gì quý hơn độc lập tự do, chủ quyền dân tộc. Đến nay, đất nước thống nhất trên 30 năm, vết thương chiến tranh vẫn còn hằn sâu trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam. Cho nên phát triển kinh tế gắn với quốc phòng, an ninh là quan điểm không thể nào coi nhẹ được. Các công trình lớn xây dựng tính đến nhiều mặt, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm, thu nhập của dân cư, an sinh, môi trường, gắn với việc bảo vệ giữ gìn. Mỗi công trình kinh tế xây dựng ở đâu đều được bàn bạc với quốc phòng, căn chỉnh với các phương án tối ưu. Cũng chính nhờ quán triệt quan điểm này trong nhiều năm qua, nước ta có tình hình an ninh chính trị ổn định được các nước đánh giá cao. Điều này làm hoạt động du lịch tăng trưởng nhanh, nhà đầu tư nước ngoài đến ngày một đông, các khu công nghiệp, khu chế xuất hình thành ở nhiều nơi. Đáng chú ý là Đảng và Nhà nước ta đang từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp và tạo môi trường kinh doanh để các đối tác đầu tư, các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh để hoạt động sản xuất kinh doanh. Quan điểm phát triển kinh tế - xã hội gắn với xóa đói giảm nghèo giữa các vùng, miền. Tính ưu việt của chế độ xã hội ta là luôn làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo, là mục tiêu thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Mục tiêu này theo suốt ở các chặng đường phát triển kinh tế - xã hội qua các nhiệm kỳ Đại hội Đảng gắn với kế hoạch mục tiêu thực hiện. Đối với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển nhanh, nhưng cũng làm cho khoảng cách giàu nghèo thêm doãng ra và có sự phân hóa lớn. Chúng ta phải chấp nhận một bộ phận dân cư trong xã hội làm giàu nhanh để kéo bộ phận dân cư khác. Vấn đề giáo dục cộng đồng phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại, kinh tế tư nhân bằng các loại hình khác nhau, tạo điều kiện có việc làm cho người lao động để tăng thu nhập nhằm xóa đói giảm nghèo. Cần nhận thức rằng, phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với tiềm năng, thế mạnh, khả năng mỗi vùng, miền. Trước hết, phải tạo cho địa phương có điều kiện làm giàu, sau đó giúp đỡ các địa phương khác; miền xuôi giàu trước có trách nhiệm giúp miền núi, vùng sâu, vùng xa để từng bước đi lên. Ở vùng điều kiện phát triển kinh tế thuận lợi giúp vùng kinh tế khó khăn phải
  4. được quán triệt tới từng các cấp ủy, chính quyền từ trung ương đến địa phương và cơ sở. Đây chính là sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng ta trong quan điểm phát triển kinh tế - xã hội gắn với xóa đói giảm nghèo, phấn đấu để diện đói nghèo trong xã hội ở mức thấp nhất. Về giải pháp giúp đỡ bằng nhiều hình thức, với quan điểm là "cho cần câu, chứ không cho xâu cá". Quan điểm này thời gian qua đã được các địa phương trong cả nước thực hiện rất tốt, có nhiều điển hình kinh tế hộ đã thoát nghèo trở thành triệu phú. 2- Giải pháp để phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 2.1. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm đáp ứng sự nghiệp đổi mới của Đảng và thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Điều cần chú ý là đổi mới hoạt động ngân hàng - tài chính là khâu đột phá trong suốt tiến trình đổi mới nền kinh tế. Cơ chế quản lý, giám sát hoạt động ngân hàng - tài chính được đổi mới theo hướng thông thoáng hơn, phù hợp với tự do hóa tài chính nhằm tạo môi trường thuận lợi, cho các tổ chức tín dụng hoạt động theo nguyên tắc thị trường. Tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường. Tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường, nhất là thị trường tài chính. Chú trọng liên kết giữa thị trường tiền tệ với thị trường vốn. Kết hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa để ổn định kinh tế vĩ mô, tăng dự trữ ngoại tệ, khuyến khích thực hành tiết kiệm trong tiêu dùng, tập trung vốn cho đầu tư phát triển. Cơ chế điều hành chính sách tiền tệ được chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa sang cơ chế điều hành dựa vào thị trường với việc từng bước loại bỏ các biện pháp kiểm soát tiền tệ trực tiếp như các kế hoạch tiền mặt, kế hoạch tín dụng, trần tín dụng ấn định lãi suất và đưa vào áp dụng các công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp như nghiệp vụ thị trường mở, chiết khấu, dự trữ bắt buộc được vận hành linh hoạt và phù hợp với thông lệ quốc tế. Xây dựng hệ thống ngân hàng đáp ứng với cơ chế thị trường cùng với các loại hình dịch vụ tiện ích nhằm phục vụ cho hội nhập kinh tế quốc tế. Sớm cổ phần hóa các ngân hàng thương mại theo sự chỉ đạo của Chính phủ. Đương nhiên, để cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước cần có lộ trình và có giải pháp mạnh để đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa. Ngân hàng Nhà nước không phát hành tiền cho chi tiêu ngân sách. Các khoản tín dụng của Ngân hàng Nhà nước dành cho ngân sách nhà nước và các ngân hàng thương mại là các khoản tín dụng ngắn hạn, có bảo đảm. Lãi suất được chuyển từ cơ chế lãi suất cố định được kiểm soát bằng các mệnh lệnh hành chính sang cơ chế lãi suất thị trường. Nhờ vậy, lãi suất và tỷ giá trở thành thước đo giá trị và đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy tiết kiệm, đầu tư, kiểm soát lạm phát, ổn định hệ thống tài chính, góp phần khuyến khích xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế.
  5. 2.2. Xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng tạo điều kiện để các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh phát huy trong cơ chế thị trường. Đương nhiên để thực hiện được nội dung này cần có luật pháp đồng bộ. Lâu nay, chúng ta chuyển sang cơ chế mới song luật pháp lại thiếu đồng bộ nên việc thực hiện còn nhiều vướng mắc. Có nhiều văn bản dưới luật và kể cả các luật còn mâu thuẫn, “chồng chéo” đã làm cho các doanh nghiệp khó vận dụng, thậm chí luồn lách luật. Tình trạng trốn thuế, chây ỳ thuế ở các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp tư nhân là khá phổ biến đã gây thất thoát lớn cho nguồn thu của Nhà nước. Việc thỏa thuận thuế giữa cơ sở và cơ quan thuế tồn tại một quá trình dài khiến cho công tác hành thu chưa đáp ứng được tính công bằng, khách quan. Không ít trường hợp cùng trên địa bàn, cùng sản xuất, kinh doanh mặt hàng song nộp thuế lại khác nhau do “cơ chế thỏa thuận thuế”, khiến cho các cơ sở, doanh nghiệp chưa phấn khởi nộp thuế đúng với trách nhiệm và nghĩa vụ. Đối với doanh nghiệp liên doanh cùng ở chân hàng rào khu công nghiệp, việc áp thuế với mỗi đơn vị có số thu chênh lệch nhau gây bức xúc cho các doanh nghiệp. Điều này được các ý kiến phát biểu ở “Cuộc đối thoại giữa các doanh nghiệp với lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.” Đáng lưu ý là có một thực trạng là thủ tục hành chính ở Việt Nam là quá rườm rà, phức tạp, qua nhiều khâu, chi phí tốn kém. Không ít các nhà đầu tư ngại việc làm thủ tục do chậm trễ, thủ tục hành chính qua nhiều cửa mà chủ yếu “hành là chính”. Nếu có “lót tay” thì thông đồng bén giọt, nếu không còn chờ đợi. Mặt khác, ngay việc thực hiện các ưu tiên cho các doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu trong nước làm hàng xuất khẩu còn bị thu thuế như doanh nghiệp mua nguyên liệu từ bên ngoài; thậm chí nếu tính đầy đủ còn bị thuế cao hơn. Tất cả các tồn tại trên đều là do việc các văn bản, luật pháp còn chưa đồng bộ khiến cho quá trình thực hiện gặp khó khăn. Đương nhiên cũng không loại trừ nhiều bộ phận như hải quan ở nhiều địa phương còn tự đặt ra quy chế riêng để thực hiện công tác hành thu, nhằm tạo nguồn thu bất chính để mưu cầu lợi ích riêng. Thực tế cho thấy, ở nhiều cửa khẩu hàng xuất đi nước ngoài vẫn còn nhiều tiêu cực mà chưa được ngăn chặn, như áp thuế không đúng với số lượng, chủng loại hàng hóa. Các mặt hàng “nhạy cảm” vẫn chưa được kiểm soát triệt để bảo đảm nghiêm minh đúng luật pháp. 2.3. Tiếp tục phát triển các thành phần kinh tế để đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Qua hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng phấn khởi, được bạn bè thế giới đánh giá cao. Những thành tựu đó là nhờ sự lãnh đạo của Đảng trong đổi mới tư duy kinh tế, đưa nền kinh tế nhiều thành phần thay cho việc chỉ chú trọng kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Sự nhận thức rõ về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã tạo điều kiện cho đất nước khởi sắc. Thực tiễn cho
  6. thấy phát triển kinh tế hàng hóa là giai đoạn thấp của kinh tế thị trường, cho nên đẩy mạnh sản xuất hàng hóa trong điều kiện đất nước còn nghèo thì phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là đúng hướng. Những kỳ thị về kinh tế tư nhân đã dần dần không còn mặc cảm. Chính nhờ phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế trang trại đã giải quyết nhiều việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho dân cư, góp phần xóa đói giảm nghèo. Trong thực tiễn đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, trở thành triệu phú. Đến Đại hội Đảng X, cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân là một bước nhận thức mới trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Mục tiêu là đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để thực hiện mục tiêu này, kinh tế nhà nước phải là đầu tàu để cùng các thành phần kinh tế khác phát triển. Kinh tế nhà nước sẽ có mặt ở những nơi khó khăn, xung yếu, làm những việc mà kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế khác không thể làm được, hoặc làm không hiệu quả. Điều quan trọng là bất cứ một đảng cầm quyền nào thì việc điều hành nền kinh tế - xã hội đều phải xây dựng một nền kinh tế mạnh. Sức mạnh của nền kinh tế là phải điều phối được nhịp độ tăng trưởng kinh tế, kiềm chế được tốc độ tăng lạm phát, tự chủ được tài chính quốc gia không phụ thuộc vào kinh tế bên ngoài. Sự độc lập trong tiến trình điều hành đất nước đi theo mục tiêu và định hướng đã chọn là thể hiện thế mạnh của một quốc gia. Cho nên để làm được điều đó, kinh tế nhà nước cần được nắm giữ và coi trọng phát triển. 2.4. Phát triển các loại hình dịch vụ trong nền kinh tế thị trường sẽ tạo nguồn thu lớn thúc đẩy nền kinh tế phát triển, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ở các nước phát triển, các loại hình dịch vụ phát triển chiếm tỷ trọng cao (Mỹ chiếm 70%, Anh, Pháp, Đức là 60%, Nhật Bản là 50%, Hàn Quốc 50%…) trong nền kinh tế. Sở dĩ ở các nước công nghiệp có các loại hình dịch vụ phát triển vì: 1- Do yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có các dịch vụ mới thúc đẩy được sản xuất kinh doanh phát triển. 2- Đây là nguồn thu nhập rất lớn cho ngân sách, dễ thu hồi vốn, lãi cao thậm chí còn hơn cả sản xuất. 3- Nó phát triển theo xu hướng là xã hội hóa và quốc tế hóa nhất là các ngành tài chính, ngân hàng, giao thông, thương mại - du lịch, xây dựng… Chẳng hạn thẻ rút tiền tự động ATM gửi một nơi mà rút ra ở nhiều nơi, thậm chí ở cả nước ngoài. Dịch vụ của các công ty lớn xuyên quốc gia như Hon Đa (Nhật Bản), Sam Sung (Hàn Quốc), Si-ê-men (Đức), Cô ca - Cô la (Mỹ), Đun Hin (Anh)… mang tính toàn cầu. Sự tiện ích của các dịch vụ đã làm cho con người thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống, nó thúc đẩy cho sản xuất kinh doanh phát triển. Thước đo của các loại hình dịch vụ có chất lượng cao được bạn hàng lựa chọn. Điện thoại di động, máy ảnh kỹ thuật số, internet… là dịch vụ tiện ích mà đến nay những người khó tính nhất cũng phải thừa nhận đó là nhanh và tiện lợi, là văn minh nhân loại của thế kỷ XXI này.
  7. Điều đáng chú ý là các loại hình dịch vụ ở mỗi ngành lại có tính đặc thù riêng đòi hỏi phải có chuyên môn phù hợp. Nhưng điều cần nhận thức rằng dù dịch vụ ở lĩnh vực nào thì cái chung của dịch vụ là phục vụ cho sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các loại hình dịch vụ phải vươn lên phục vụ cho các nước. Vấn đề đặt ra là các loại hình dịch vụ phải chuyên sâu, có nghiệp vụ vững mới đáp ứng được khách hàng trong nước và nước ngoài mến mộ. Sẽ là mất cơ hội, nếu tàu nước ngoài đến cập cảng lại từ bỏ không cần dịch vụ của ta mà lại đến cảng nước khác, dẫu rằng họ rất cần sửa chữa và các dịch vụ khác. Sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi giai đoạn đòi hỏi các loại hình dịch vụ phải vươn lên thích ứng nắm bắt để phục vụ có hiệu quả. Mô hình Xin-ga-po - một quốc gia có diện tích và dân số khiêm tốn nhưng lại có các loại hình dịch vụ cao, hoạt động có hiệu quả mà chúng ta cần học tập và suy ngẫm.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản