Đề tài “ Cân đối ngân sách nhà nước- thực trạng và hướng hoàn thiện”

Chia sẻ: donglanh_18_5

Đại hội Đảng lần VI năm 1986 đã đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế của nước ta. Đảng và Nhà nước đã chủ trương chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt từ năm 1991 trở đi nền kinh tế nước ta đã thực sự bắt nhịp được theo cơ chế kinh tế mới, đất nước cũng đã có nhiều sự thay đổi và phát triển trên nhiều phương diện, nhất là vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô nền...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài “ Cân đối ngân sách nhà nước- thực trạng và hướng hoàn thiện”

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP


Đề tài



“ Cân đối ngân sách nhà nước- thực trạng
và hướng hoàn thiện”
MỤC LỤC
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
Tên đề tài:
Cân đối ngân sách nhà nước- thực trạng và hướng hoàn thiện

LỜI NÓI ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài
2.Phạm vi nghiên cứu
3.Mục đích nghiên cứu
4.Phương pháp nghiên cứu
5.Bố cục luận văn
PHẦN NỘI DUNG
Chương I:
Những vấn đề lý luận chung về ngân sách nhà nước và cân đối ngân sách nhà nước
1.1.Khái quát về ngân sách nhà nước
1.1.1.Khái niệm ngân sách nhà nước
1.1.2.Đặc điểm ngân sách nhà nước
1.2.Khái quát về cân đối ngân sách nhà nước
1.2.1. Các lý thuyết về cân đối ngân sách nhà nước
1.2.1.1. Lý thuyết cổ điển về cân bằng ngân sách
1.2.1.2. Các học thuyết hiện đại về cân đối ngân sách nhà nước
1.2.2.Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước
1.2.3.Đặc điểm cân đối ngân sách nhà nước
1.2.4.Vai trò của cân đối ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Chương II:
Nội dung cơ bản của vấn đề cân đối ngân sách nhà nước
2.1.Các nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước
2.2.Cân đối giữa tổng thu và tổng chi, giữa các khoản thu và các khoản chi ngân sách
nhà nước
2.2.1.Tổng thu ngân sách nhà nước
2.2.1.1.Thu nội địa
2.2.1.2.Thu từ xuất khẩu, nhập khẩu
2.2.1.3.Thu viện trợ không hoàn lại
2.2.2.Tổng chi ngân sách nhà nước
2.2.2.1.Chi đầu tư phát triển
2.2.2.2.Chi trả nợ và viện trợ
2.2.2.3.Chi thường xuyên
2.2.2.4.Chi bổ sung dự trữ ngân sách
2.2.3.Cân đối giữa tổng thu và tổng chi, các khoản thu và các khoản chi ngân sách nhà nước
2.3.Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước để đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước
2.3.1.Phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách
2.3.2.Phân định thẩm quyền quyết định thu, chi giữa các cơ quan Nhà nước
2.3.3.Phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính giữa các cấp ngân sách nhà nước
2.4.Kiểm soát tình trạng ngân sách nhà nước- Bội chi ngân sách nhà nước
2.4.1.Khái niệm và nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước
2.4.1.1.Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước
2.4.1.2.Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước
2.4.2.Các biện pháp xử lý bội chi ngân sách nhà nước
Chương III:
Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam từ khi chuyển đổi sang cơ
chế thị trường đến nay và hướng hoàn thiện.
3.1.Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam và một số nước trên thế giới.
3.1.1.Trên thế giới
3.1.2.Ở Việt Nam
3.1.2.1.Giai đoạn trước khi có luật ngân sách nhà nước
3.1.2.1.1.Tình hình thu chi ngân sách nhà nước
3.1.2.1.2.Về phân cấp quản lí ngân sách nhà nước
3.1.2.1.3.Về bội chi ngân sách nhà nước
3.1.2.2.Giai đoạn từ khi có luật ngân sách nhà nước đến nay
3.1.2.2.1.Về thu ngân sách nhà nước
3.1.2.2.2.Phân định nhiệm vụ chi và nguồn thu ngân sách nhà nước
3.1.2.2.3.Về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước để đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước
3.1.2.2.4.Bội chi ngân sách nhà nước
3.1.2.2.5. Về việc tuân thủ các nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước
3.2.Hướng hoàn thiện cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam
3.2.1.Định hướng cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam
3.2.2.Thuận lợi và thách thức trong quản lý và cân đối ngân sách nhà nước
3.2.3.Giải pháp hoàn thiện cân đối ngân sách nhà nước
3.2.3.1.Giải pháp mang tính tài chính
3.2.3.1.1.Hoàn thiện các chính sách về thuế
3.2.3.1.2.Chuyển dich cơ cấu thu ngân sách nhà nước
3.2.3.1.3.Cải cách công tác quản lý thu ngân sách nhà nước
3.2.3.2.Khắc phục tình trạng thu, chi ngân sách nhà nước vượt xa dự toán
3.2.3.3.Hoàn thiện các định mức phân bổ chi tiêu ngân sách nhà nước
3.2.3.4.Hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhà nước để đảm bảo cân đối ngân
sách nhà nước
3.2.3.5.Đẩy mạnh các biện pháp bù đắp bội chi ngân sách nhà nước


PHẦN KẾT LUẬN
LỜI NÓI ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Đại hội Đảng lần VI năm 1986 đã đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển
kinh tế của nước ta. Đảng và Nhà nước đã chủ trương chuyển đổi từ nền kinh tế bao
cấp tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt từ
năm 1991 trở đi nền kinh tế nước ta đã thực sự bắt nhịp được theo cơ chế kinh tế mới,
đất nước cũng đã có nhiều sự thay đổi và phát triển trên nhiều phương diện, nhất là vai
trò quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế- xã hội của Nhà nước được đề cao hơn bao
giờ hết. Để đảm trách tốt được vai trò này, Nhà nước cần có những biện pháp và công
cụ hữu hiệu để can thiệp vào hoạt động kinh tế. Một trong những công cụ quan trọng
để Nhà nước can thiệp đúng lúc và kịp thời một cách toàn diện vào nền kinh tế chính
là ngân sách nhà nước. Mỗi một nhà nước khi thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động
thì đều có ngân sách nhà nước để đảm bảo thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình,
để thực hiện được tốt chức năng và nhiệm vụ đó thì đòi hỏi phải có một ngân sách nhà
nước cân đối và ổn định. Từ quá khứ đến hiện tại cũng đã có nhiều quan điểm, học
thuyết khác nhau bàn về cân đối ngân sách nhà nước nhưng trong thực tiển để làm
được vấn đề này là rất khó khăn, vì tình hình kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia luôn
biến đổi không ngừng nó có thể là tăng trưởng, phát triển nhưng cũng có thể rơi vào
khủng hoảng, suy thoái. Điều này dẫn đến ngân sách nhà nước có thể rơi vào tình
trạng bội chi hay bội thu. Vì vậy mỗi quốc gia cần lựa chọn và vận dụng những
phương cách khác nhau phù hợp với tình hình kinh tế- xã hội của nước mình để cân
đối ngân sách nhà nước cho hiệu quả.
Trong xu thế hội nhập kinh tế như hiện nay, vấn đề cân đối ngân sách nhà nước là rất
quan trọng và cần được quan tâm đúng mức. Bỡi lẽ, ngân sách nhà nước là công cụ tài
chính cốt yếu để Nhà nước điều phối toàn xã hội, giải quyết những vấn đề khó khăn
của đất nước, đem lại sự công bằng cho người dân,… Nhưng để đảm bảo tốt những vai
trò trên thì ngân sách nhà nước phải được cân đối. Thực tế ở Việt Nam trong thời gian
vừa qua, ngân sách nhà nước không ổn định và mất cân đối đã kéo theo những hậu quả
làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế và nhiều vấn đề xã hội nãy sinh như:
thu vào ngân sách nhà nước không đủ chi dẫn đến nợ nước ngoài nhiều, lạm phát tăng
nhanh, không có nguồn tài chính để đầu tư đúng mức vào hoạt động kinh tế… Để khắc
phục những vấn đề trên, chính phủ đã có nhiều cố gắng trong việc cải cách quản lý
hành chính, đổi mới chính sách thu, chi ngân sách để hướng tới một ngân sách nhà
nước được cân đối nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, ổn định xã hội và kiểm
soát tình trạng lạm phát đang diển ra ở nước ta và đưa Việt Nam tiến vào thời kỳ hội
nhập của nền kinh tế thế giới. Cân đối ngân sách nhà nước là một vấn đề phức tạp
nhưng nó có một vai trò quan trọng đối với kinh tế đất nước trong thời kỳ chuyển đổi,
hội nhập và cùng với những lý do nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “ Cân đối ngân sách
nhà nước- thực trạng và hướng hoàn thiện” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình.
Qua đó tôi hy vọng có được những hiểu biết và nhận thức đúng đắn hơn về vấn đế cân
đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam, góp phần hoàn thiện những chính sách về cân đối
ngân sách nhà nước trong thời kỳ mới đưa đất nước phát triển cùng thế giới.
2. Phạm vi nghiên cứu
Cân đối ngân sách nhà nước là một vấn đề rất rộng và phức tạp. Nhưng do hạn chế về
thời gian nghiên cứu nên trong luận văn của mình tôi chỉ tập trung nghiên cứu những
vấn đề sau:
- Giới thiệu những vấn đề chung về cân đối ngân sách nhà nước.
- Cân đối ngân sách nhà nước trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế kinh tế thị trường.
- Những đề xuất hoàn thiện tình hình cân đối ngân sách của nước ta dựa trên thực
trạng cân đối ngân sách nhà nước.
3. Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài luận văn này tôi hướng tới những mục đích sẽ đạt được sau đây:
- Hệ thống lại những quan điểm, những định nghĩa về ngân sách nhà nước và cân
đối ngân sách nhà nước từ đó đưa những quan điểm phù hợp nhất với nước ta trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đưa ra những nội dung cơ bản về cân đối ngân sách nhà nước ở nước ta hiện
nay, tìm hiểu và nhận xét về tình hình cân đối ngân sách nhà nước ta trong thời gian
vừa qua, từ đó tìm ra những ưu khuyết điểm của chính sách cân đối ngân sách nhà
nước để đề xuất những giả pháp tích cực và hữu hiệu về vấn đề cân đối ngân sách nhà
nước ở nước nhằm thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển bền vững và ổn định.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn của mình, tôi đã sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu khoa học như: so sánh, phân tích và đánh giá, thống kê, thu
thập tài liệu,…để thể hiện nội dung luận văn của mình mang tính chất của một đề tài
nghiên cứu khoa học.
5. Bố cục của đề tài
Bố cục của luận văn được người viết trình bày như sau: Phần lời nói đầu, phần nội
dung và phần kết luận. Trong phần nội dung gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về ngân sách nhà nước và cân đối
ngân sách nhà nước.
- Chương 2: Nội dung cơ bản của vấn đề cân đối ngân sách nhà nước.
- Chương 3: Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam từ khi
chuyển đổi sang cơ chế thị trường đến nay và hướng hoàn thiện.
Để hoàn thành đề tài luận văn này, tôi đã sử dụng những kiến thức được học trong nhà
trường, cùng với việc nghiên cứu các tài liệu có liên quan như: Sách, tạp chí, internet
và những số liệu thực tế. Bên cạnh sự nổ lực của bản thân, tôi còn nhờ sự dạy bảo,
hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của Cô Lê Huỳnh Phương Chinh cùng các bạn trong
lớp, trong khoa. Tuy nhiên do kiến thức còn nhiều hạn chế nên việc nghiên cứu và
trình bày đề tài của tôi khó tránh khỏi những thiếu xót. Em kính mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn bè để luận văn của em được hoàn thiện hơn.
Sau cùng xin cho em gửi đến các thầy cô, cùng tất cả các bạn, đặc biệt là cô Lê Huỳnh
Phương Chinh lời cám ơn chân thành và sâu sắc nhất.




Chương I:
Những vấn đề lý luận chung về ngân sách nhà nước và cân đối ngân sách nhà
nước.
1.1. Khái quát về ngân sách nhà nước
1.1.1.Khái niệm ngân sách nhà nước
Một Nhà nước muốn tồn tại và phát triển cần có một nguồn quỹ tài chính (Nguồn quỹ
này được Nhà nước huy động từ trong xã hội) để phục vụ cho hoạt động của Nhà
nước, giúp Nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình.Chính vì vậy, sự ra
đời của Nhà nước cũng kéo theo sự hình thành về ngân sách nhà nước.
Ở giai đoạn đầu của lịch sử phát triển Nhà nước, quỹ tài chính được hình thành với
mục đích đảm bảo cho sự tồn tại của bộ máy nhà nước.Tuy nhiên, quỹ tài chính này
chưa đảm bảo đầy đủ các yếu tố để được gọi là ngân sách nhà nước. Vì nó chưa đảm
bảo tính minh bạch và rỏ ràng trong cách sử dụng, quản lý và phân phối các nguồn lực
tài chính. Lúc này, các nguồn lực tài chính huy động được hoàn toàn không phải vì
mục đích phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội, mà còn phục vụ cho những mục đích
chi tiêu riêng, khác của những chủ thể đứng đầu Nhà nước. Đặc trưng này được biểu
hiên rỏ nhất là ở thời kỳ Nhà nước phong kiến, nguồn lực tài chính của Nhà nước tập
trung trong tay nhà Vua và hoàn toàn do nhà Vua quyết định phân chia và chi tiêu nó
như thế nào. Chính vì thế, việc sử dụng nguồn lực tài chính của quốc gia không được
minh bạch, rỏ ràng, theo hướng tiêu cực và chủ quan của một người. Đặc biệt, người
dân không thể kiểm sóat được những khoản đóng góp của mình vào quỹ tài chính đã
chi tiêu cho việc gì và mình đã được hưởng những lợi ích gì.
Ngân sách nhà nước đã xuất hiện từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ, từ thời kỳ phong kiến
nhưng thuật ngữ “ ngân sách nhà nước” được thừa nhận với một ý nghĩa đầy đủ của nó
khi mầm móng tư bản chủ nghĩa ra đời1. Lúc này nhà Vua không còn quyền tự quyết
đối với các khoản thu chi của quốc gia nữa mà nó đã được chuyển giao lại cho Quốc
hội. Điều đó cũng tạo ra một bước ngoặc mới về việc quản lý và sử dụng ngân sách
nhà nước được minh bạch và rỏ ràng hơn. Ngân sách Nhà nước là một thuật ngữ xuất
hiện lần đầu tiên ở Anh vào thế kỷ 17. Khi đó, ngân sách nhà nước được hiểu là một
nguồn quỹ hoặc là túi tiền của người quản lý ngân khố, nó là toàn bộ những khoản thu
chi thuộc về Nhà nước và do Nhà nước thực hiện. Cho đến ngày nay, ngân sách nhà
nước được hiểu là bảng kế hoạch tài chính lớn nhất của một quốc gia bao gồm tất cả
các khoản thu chi phục vụ cho chức năng và nhiệm vụ của bộ máy nhà nước, thong
qua đó đảm bảo những lợi ích công cộng của xã hội.
Ngân sách nhà nước là một phạm trù rất rộng và bao quát, vừa liên quan đến lĩnh vực
kinh tế vừa liên quan đến góc độ quản lý Nhà nước. Vì vậy hiện nay có nhiều ý kiến
khác nhau định nghĩa về ngân sách Nhà nước, nhưng thể hiện rõ nhất và đầy đủ nhất
về bản chất của ngân sách nhà nước là hai định nghĩa trên hai phương diện kinh tế và
pháp lý.
 Ngân sách nhà nước xét về phương diện kinh tế 2: Trước hết là một khái niệm
thuộc phạm trù kinh tế học hay hẹp hơn là tài chính học.Theo đó, ngân sách nhà nước
là bảng dự toán về các khoản thu và các khoản chi tiền tệ của một quốc gia, được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thực hiện trong một khoản thời hạn nhất
định, thường là một năm. Từ định nghĩa đó ta thấy có 2 yếu tố cơ bản trong ngân sách
nhà nước:
+ Ngân sách nhà nước là một bảng kế hoạch tài chính của một quốc gia, thông
qua hành vi kinh tế là xác lập nội dung thu chi liên quan đến ngân quỹ của Nhà nước.
Do đó phải được Quốc hội với tư cách là người đại diện cho toàn thể nhân dân trong
quốc gia đó quyết định trước khi chính phủ đem ra thi hành trên thực tế, để đảm bảo
cho việc thu, chi ngân sách có hiệu quả và phù hợp với người dân. Ngoài ra, Quốc hội
còn là người giám sát chính phủ trong quá trình thi hành ngân sách và có quyền phê


1
Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước, Tư Pháp, 2007, Trang 9,10.
2
Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước, NXB Tư Pháp 2007, Trang 11-12.
chuẩn bảng quyết toán ngân sách hàng năm do chính phủ đệ trình khi năm ngân sách
kết thúc.
+ Ngân sách nhà nước có hiệu lực trong vòng một năm, tức là việc dự toán thu,
chi đã được đề ra phải hoàn thành trong năm ngân sách đó tính từ ngày 01/01 đến ngày
31/12 hàng năm. Đây là khoản thời gian mà pháp luật quy định nhằm giới hạn rỏ việc
thực hiện dự toán ngân sách nhà nước. Khoản thời gian này có thể trùng hoặc không
trùng với năm dương lịch tùy theo tập quán của mỗi nước. Việc quy định rỏ thời gian
này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngân sách nhà nước, tránh sự tùy
tiện, độc đoán của Nhà nước trong việc thu nộp và chi tiêu ngân sách.
 Ngân sách nhà nước xét về phương diện pháp lý 3: Theo phương diện này,
ngân sách nhà nước cũng không có nhiều khác biệt so với phương diện kinh tế, nó đều
nói về các khoản thu, chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được
thực hiện trong một năm. Khi tiếp cận ngân sách nhà nước qua phương diện kinh tế, ta
thấy đó là một bảng kế hoạch tài chính khổng lồ của một quốc gia, trong đó dự liệu các
khoản thu chi và tiền tệ trong một năm. Còn ở phương diện pháp lý, ngân sách nhà
nước được hiểu là một đạo luật đặc biệt của mỗi quốc gia do Quốc hội ban hành và
chính phủ thực hiện trong một thời hạn xác định. Nhưng khác với những đạo luật
thông thường, ngân sách nhà nước được cơ quan lập pháp tạo ra theo trình tự thủ tục
riêng và hiệu lực thi hành của đạo luật này được xác định rỏ ràng là một năm.
Theo Điều 1 luật ngân sách nhà nước 2002, ngân sách nhà nước được định nghĩa là:
“ Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực
hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước”.
Qua những quy định và phân tích về ngân sách nhà nước ta thấy, ngân sách nhà nước
chính là một đạo luật tài chính do Quốc hội ban hành, dự toán về các khoản thu chi
thực hiện trong một năm của một quốc gia, bên cạnh đó ngân sách nhà nước còn là
một công cụ tài chính quan trọng để Nhà nước thực hiện và điều tiết hoạt động kinh tế-
xã hội của đất nước. Trong nền kinh tế thị trường nhiều biến động như hiện nay thì
ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội.
- Trước hết, ngân sách nhà nước là công cụ có hiệu lực của Nhà nước để
điều chỉnh thu nhập của toàn xã hội hạn chế sự phân hóa giàu nghèo đảm bảo sự công
bằng trong xã hội, góp phần giải quyết các vấn đề của xã hội như: trợ cấp thất nghiệp,
chính sách trợ giúp cho những người có thu nhập thấp, có hoàn cảnh khó khăn, chi
chính sách dân số, giúp đỡ đồng bào bị thiên tai,…Để thực hiện được việc này, Nhà


3
Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước, NXB Tư Pháp 2007, Trang 14-15.
nước đã sử dụng công cụ thuế điều chỉnh những người có thu nhập cao trong xã hội,
tạo nguồn thu về cho ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết
hoạt động kinh tế của một quốc gia. Thông qua các hoạt động: Cấp phát vốn, đầu tư cơ
sở vật chất hạ tầng cho các ngành then chốt, mũi nhọn của đất nước, áp dụng các chính
sách thuế để định hướng đầu tư phát triển kinh doanh… Nhà nước đã đảm bảo cho nền
kinh tế phát triển ổn định và tạo thế cân bằng giữa các ngành nghề, địa phương của đất
nước. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường nhiều biến động hiện nay, sự thay đổi về
giá cả, mất cân bằng về cung cầu, lạm phát xãy ra thì vai trò điều tiết của ngân sách
nhà nước góp phần quan trọng vào việc bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát. Nhà
nước thực hiện các biện pháp giảm chi, tăng thu và huy động nguồn vốn từ trong nhân
dân để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước, sử dụng quỹ dự trữ nhà nước để điều tiết
nền kinh tế.
- Ngân sách nhà nước còn là công cụ để hướng dẫn tiêu dùng của xã hội,
xuất phát từ đặc điểm ngân sách nhà nước đảm bảo điều kiện vật chất để thực hiện
chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Vì vậy hàng năm nhà nước phải chi một khoản
tiền rất lớn cho hoạt động của bộ máy nhà nước từ cơ quan lập pháp, hành pháp, tư
pháp đồng thời chi cho các khoản nhằm bình ổn, phát triển kinh tế- xã hội. Ngân sách
nhà nước có chứa đựng những khoản dự toán chi ngân sách hang năm để định hướng
việc chi tiêu cho xã hội, khoản chi nào là phù hợp, là cần thiết để cân đối với các
khoản thu năm đó, tránh tình trạng chi tiêu lãng phí, tràn lang dẫn đến thâm hụt ngân
sách nhà nước.
1.1.2. Đặc điểm ngân sách nhà nước
Thông qua định nghĩa về ngân sách nhà nước, ta thấy ngân sách nhà nước là một loại
hình ngân sách đặc biệt quan trọng. Nó không chỉ mang những đặc điểm chung của
các loại ngân sách thông thường, mà còn hàm chứa những đặc điểm riêng thể hiện bản
chất của một loại hình ngân sách của một quốc gia như:
- Ngân sách nhà nước vừa là một bảng kế hoạch tài chính vừa là một đạo luật của
một quốc gia. Ngân sách nhà nước chính là toàn bộ các khoản thu, chi của một quốc
gia đã được dự toán thực hiện trong một năm, việc thiết lập ngân sách nhà nước không
chỉ mang tính kỹ thuật nghiệp vụ kinh tế giống như các loại ngân sách thông thường
khác mà nó còn mang tính kỹ thuật pháp lý, ngân sách nhà nước được soạn thảo và
thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đặc biệt phải được Quốc hội xem xét,
biểu quyết thông qua giống như việc ban hành một đạo luật. Đặc điểm này đã làm cho
ngân sách nhà nước khác hẵn với các loại ngân sách thông thường khác như: ngân
sách của gia đình của các tổ chức chính tri- xã hội,… Ngân sách nhà nước đảm bảo về
giá trị pháp và bắt buộc các chủ thể liên quan phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ
của mình giống như việc thực hiện, chấp hành một đạo luật. Còn các loại ngân sách
khác thì việc thực hiện và chấp hành của các chủ thể có liên quan, chỉ dừng ở mức độ
thỏa thuận để ràng buộc trách nhiệm của mỗi người.
- Ngân sách nhà nước là bảng kế hoạch tài chính của toàn thể quốc gia, sẽ được
Quốc hội biểu quyết thông qua trước khi trao cho chính phủ thi hành. Đặc điểm này
thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp trong quá
trình xây dựng và thực hiện ngân sách. Trong đó cơ quan lập pháp thường có vai trò áp
đảo hơn, cơ quan hành pháp chỉ là cơ quan thừa hành thực hiện bảng kế hoạch tài
chính mà Quốc hội đã thông qua, nhưng đồng thời còn phải chịu sự giám sát của Quốc
hội trong khi thực thi nhiệm vụ ngân sách nhà nước nhằm hạn chế sự lạm quyền của
các cơ quan hành pháp bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động
tài chính nhà nước. Điều này bộc lộ lên nét đặc trưng riêng của ngân sách nhà nước mà
ở các loại hình ngân sách khác không có, ngân sách nhà nước được thiết lập và thi
hành có sự tham gia, giám sát của nhân dân theo phương cách trực tiếp hay gián tiếp
thông qua vai trò của Quốc hội, có sự tham gia của cơ quan hành pháp, cơ quan lập
pháp và có sự phân chia nhiệm vụ rỏ ràng giữa hai cơ quan này. Trong khi đó, các loại
hình ngân sách khác thì Nhà nước để cho chính chủ thể đó tự quyết định và tự chịu
trách nhiệm về hậu quả xãy ra. Một số cơ quan hành pháp của Nhà nước chỉ tham gia
kiểm tra, giám sát trong những trường hợp cần thiết, mà không tạo nên mối tương
quan giữa cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp.
- Ngân sách nhà nước được thiết lập và thực thi nhằm phục vụ hoạt động của bộ
máy nhà nước, đảm bảo cho Nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình vì
lợi ích chung của toàn xã hội. Bộ máy nhà nước muốn hoạt động được cần có một số
tiền rất lớn để chi tiêu và số tiền đó được trích ra từ ngân sách nhà nước. Nhà nước
thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình nhằm bảo đảm cho sự phát triển của toàn
xã hội, phục vụ lợi ích của toàn dân, không phân biệt người giàu nghèo hay đẳng cấp
địa vị xã hội. Đặc biệt ngân sách nhà nước còn ưu tiên để giúp đỡ phục vụ cho những
người nghèo, hỗ trợ để giảm bớt những tệ nạn xã hội. Vì vậy chính phủ luôn tìm cách
thỏa mãn giữa nhiệm vụ thu và nhiệm vụ chi đã được hoạch định và cho phép thực
hiện bởi Quốc hội. Đặc điểm này đã thể hiện một bản chất rất riêng của ngân sách nhà
nước, ngân sách nhà nước phục vụ cho toàn xã hội, toàn dân, không phân biệt người
giàu, người nghèo hay cá nhân, tổ chức nào để đảm bảo cho sự phát triển của cả đất
nước. Còn các loại ngân sách khác chỉ bao hàm được một số đối tượng cụ thể và
những mục tiêu hẹp hơn.
- Ngân sách nhà nước được thiết lập và vận hành theo bốn nguyên tắc cơ bản sau:
+ Nguyên tắc ngân sách nhất niên: Nguyên tắc này ra đời đầu tiên ở nước
Anh vào cuối thế kỷ 17 nhưng sau đó lại trở thành nguyên tắc được thừa nhận tại các
nước có nền dân chủ phát triển sớm ở châu Âu như: Pháp, Đức. Nguyên tắc này hàm
chứa hai nội dung cơ bản sau: Mỗi năm, Quốc hội sẽ biểu quyết ngân sách một lần
theo hạn kỳ do luật định và bản dự toán ngân sách nhà nước này chỉ có hiệu lực thi
hành trong một năm, chính phủ là người được phép thi hành bản dự toán đó4. Ở Việt
Nam, nguyên tắc này đã được ghi nhận trong luật, các khoản thu và chi ngân sách nhà
nước được thực hiện trong một năm, tính từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 năm dương
lịch. Nguyên tắc này được đặt ra nhằm mục đích giúp cho Nhà nước kiểm soát kịp thời
các hoạt động thu, chi của quốc gia, tránh sự lãng phí, đảm bảo sự dân chủ cho người
dân. Nhân dân có quyền tham gia vào việc quản trị nguồn tài chính của đất nước thông
qua người đại diện của mình là Quốc hội.
+ Nguyên tắc ngân sách đơn nhất: Nguyên tắc này cũng lần đầu tiên
được xây dựng ở Anh, Pháp, Đức,…và ngày nay nó được thừa nhận ở nhiều nước trên
thế giới. Nguyên tắc này hiểu theo cách thông thường, là mọi khoản thu và chi tiền tệ
của quốc gia trong một năm chỉ được phép trình bày trong một văn kiện duy nhất, đó
là bản dự toán ngân sách sẽ được chính phủ trình quốc hội quyết định để thực hiện5. Ở
nước ta chưa có một quy định cụ thể, chính thức nào về nguyên tắc này, nhưng trong
luật ngân sách nhà nước có quy định: “ Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp được
quyền quyết định điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước các cấp trong trường hợp cần
thiết…” đã thể hiện sự vận dụng linh hoạt nguyên tắc này ở nước ta. Nguyên tắc này
hướng tới mục tiêu: đảm bảo tính khả thi cho dự toán ngân sách nhà nước trong quá
trình thực hiện, giúp cho Quốc hội dễ dàng kiểm soát và theo dõi hoạt động của ngân
sách nhà nước. Vì mọi vấn đề có liên quan đều được tập trung trong một văn kiện, từ
đó sẽ giúp cho các cơ quan có thẩm quyền có cách nhìn bao quát và đầy đủ về tình
hình ngân sách của quốc gia. Trên cơ sở đó, Nhà nước sẽ đề ra được những nhiệm vụ
khả quan hơn của ngân sách năm sau.
+ Nguyên tắc ngân sách toàn diện: Nguyên tắc này xuất hiện vào khoản thế kỷ 17, 18
ở các nước châu Âu. Nguyên tắc này được thể hiện qua hại nội dung sau: Mọi khoản
thu và chi đều phải được ghi cụ thể, rỏ ràng trong bảng dự toán ngân sách hàng năm đã
được Quốc hội quyết định; các khoản thu và chi không được phép bù trừ cho nhau mà
mọi khoản thu dùng để tài trợ cho mọi khoản chi6. Thực hiện tốt nguyên tắc này, bảng
dự toán ngân sách nhà nước sẽ đảm bảo được thiết lập rỏ ràng, cụ thể, minh bạch và

4
Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước, NXB Tư Pháp 2007, Trang 28.
5
Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước, NXB Tư Pháp 2007, Trang 30, 31.
6
Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước, Tư Pháp, 2007, Trang 32.
đầy đủ. Nước ta cũng đã ghi nhận và vận dụng nguyên tắc này bằng những quy định
cụ thể trong luật.
+ Nguyên tắc ngân sách thăng bằng: Nguyên tắc này cũng đã xuất hiện khá sớm ở
các quốc gia trên thế giới. Lúc đầu các nhà tài chính học cho rằng, sự thăng bằng của
ngân sách nhà nước là một ý niệm kế toán nhiều hơn là ý nghĩa về phương diện kinh tế
hay pháp lý. Theo đó, sự thăng bằng của ngân sách nhà nước được hiểu là tổng số thu
phải cân bằng với tổng số chi trong năm ngân sách. Còn các nhà tài chính học đương
đại đưa ra quan điểm mới về sự thăng bằng của ngân sách nhà nước là: Sự thăng bằng
ngân sách không hoàn toàn không đồng nghĩa với sự cân bằng giữa tổng thu và tổng
chi mà thực chất là sự cân bằng giữa tổng thu hoa lợi và tổng chi có tính chất phí tổn7.
Nguyên tắc này cũng đã được ghi nhận trong luật ngân sách nhà nước Việt Nam hiện
hành. Nguyên tắc này đã giúp xác định được tình trạng ngân sách nhà nước đang ở
mức thăng bằng, bội thu hay thâm hụt tại một thời điểm để từ đó đưa ra những hướng
giải quyết vấn đề ngân sách nhà nước cho phù hợp. Hiện nay nguyên tắc ngân sách
thăng bằng vẫn chưa đảm bảo thực hiên tốt ở nhiều quốc gia, do những biến đổi về
tình hình kinh tế- xã hội liên tục xãy ra như: khủng hoảng kinh tế, lạm phát, thiên
tai,…
Ngân sách nhà nước là công cụ chủ yếu giúp nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm
vụ của mình. Với công cụ này, Nhà nước đảm bảo cho sự vân hành của nền kinh tế- xã
hội theo hướng ổn định và phát triển, đem lại sự công bằng và bình đẳng cho mọi
người dân, giải quyết kịp thời những vấn đề khó khăn của đất nước. Để thực hiện tốt
được các vấn đề trên, Nhà nước đã lập kế hoạch thu chi cụ thể của một năm được sự
xét duyệt và phê chuẩn của các cơ quan có thẩm quyền, rồi đưa ra thi hành trên thực tế
nhằm hướng tới mục tiêu đạt được sự cân đối giữa các khoản thu chi ngân sách nhà
nước và hoàn thành nhiệm vụ mà năm ngân sách đề ra.
1.2. Khái quát về cân đối ngân sách nhà nước
1.2.1. Các học thuyết về cân đối ngân sách nhà nước
Cân đối ngân sách là một vấn đề quan trọng được đặt ra đối với mỗi Nhà nước, nó đảm
bảo cho Nhà nước đó thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình. Nhưng ở từng
thời kỳ khác nhau thì chức năng và nhiệm của Nhà nước sẽ có sự thay đổi, nó được mỡ
rộng và nâng lên cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Đăc biệt khi nền kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trường, Nhà nước đã có sự can thiệp vĩ mô vào hoạt động kinh tế.
Do đó, ngân sách nhà nước đã trở thành công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp vào



7
Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước, Tư Pháp, 2007, Trang 34, 35.
hoạt động kinh tế và vấn đề cân đối ngân sách nhà nước lại càng được quan tâm hơn
với nhiều học thuyết bàn về nó.
1.2.1.1. Lý thuyết cổ điển về cân bằng ngân sách
Theo lý thuyết này, nội dung của cân bằng ngân sách rất đơn giản: “ Mỗi năm số thu
phải ngang với số chi”8. Quan điểm này bao gồm hai nguyên tắc cơ bản sau: Một là,
tổng số những khoản chi không được quá tổng số những khoản thu. Hai là, tổng số
những khoản thu của ngân sách không bao giờ được lớn hơn tổng số những khoản chi
của ngân sách. Tức là ngân sách nhà nước phải được cân bằng tuyệt đối, bội chi hay
bội thu ngân sách đều biểu hiện sự lãng phí về nguồn lực trong nhân dân.Ngoài ra,
thuyết này còn đòi hỏi ngân sách nhà nước phải cân bằng cả khi lập dự toán và trong
quá trình thực hiện, nếu chỉ cân bằng khi lập dự toán còn trong quá trình thực hiện lại
không cân bằng thì không thể coi là cân bằng thực sự.
1.2.1.2. Các học thuyết hiện đại về cân đối ngân sách nhà nước
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường tự do cạnh tranh thì sự can thiệp của
Nhà nước vào hoạt động kinh tế đóng một vai trò rất quan trọng, đảm bảo sự ổn định
và phát triển của nền kinh tế, lúc này cân đối ngân sách lại trở thành một công cụ thiết
yếu hơn. Trong bối cảnh đó, quan điểm về cân đối ngân sách nhà nước cũng có nhiều
thay đổi.
- Lý thuyết về ngân sách chu kỳ
Nền kinh tế trãi qua một chuỗi dài các chu kỳ, mỗi chu kỳ đều trãi qua giai đoạn
phồn thịnh và suy thoái. Ở giai đoạn phồn thịnh của nền kinh tế thì của cải vật chất tạo
ra nhiều, năng suất lao động xã hội cao, thất nghiệp ít,…Do đó nguồn thu vào ngân
sách nhà nước sẽ lớn hơn nhu cầu chi tiêu và ngân sách nhà nước thường ở tình trạng
bội thu. Vì vậy nếu không xem xét cân đối ngân sách nhà nước theo chu kỳ, Nhà nước
rất dễ dùng số bội thu này chi tiêu vào những việc không cần thiết. Ngược lại, khi có
khủng hoảng xãy ra nền kinh tế chuyển sang giai đoạn suy thoái, của cải vật chất tạo ra
ít, năng suất lao động của xã hội thấp, thất nghiệp gia tăng,…Dẫn đến việc thu ngân
sách gặp nhiều khó khăn, ngoài ra Nhà nước còn chi tiền để phục hồi nền kinh tế và
giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh làm cho ngân sách nhà nước dễ rơi vào tình
trạng bội chi9. Như vậy, theo thuyết này sự cân bằng ngân sách nhà nước sẽ không duy
trì được trong khuôn khổ một năm mà sẽ duy trì trong khuôn khổ một chu kỳ kinh tế.
Nghĩa là, nguyên tắc cân đối giữa thu và chi ngân sách nhà nước vẫn được tôn trọng
nhưng sự cân bằng ngân sách nhà nước phải thực hiện trong một chu kỳ phat triển kinh
tế.

8
Xem: Trần Đình Ty, Quản lý tài chính công, NXB Lao Động 2003, Trang 326.
9
Xem: Trần Đình Ty, Quản lý tài chính công, NXB Lao Động 2003, Trang 328, 329.
- Lý thuyết về ngân sách cố ý thiếu hụt
Lý thuyết cổ điển đã chỉ ra, muốn thăng bằng ngân sách trong giai đoạn suy
thoái thì phải giảm thu hoặc tăng chi10. Nhưng cả hai phương pháp này đều kiềm hãm
sự phát triển kinh tế, làm cho nền kinh tế càng đình trệ hơn. Do vậy khi kinh tế rơi vào
giai đoạn suy thoái, phải tránh sự kiềm hãm đó bằng cách cố găng hy sinh thăng bằng
ngân sách, phải sử dụng sự mất cân đối ngân sách, tăng chi tiêu để đưa nền kinh tế
thoát khỏi suy thoái. Tuy nhiên, việc cố ý tạo sự thiếu hụt ngân sách nhà nước có thể
ảnh hưởng xấu đến chính sách tiền tệ, lạm phát gia tăng. Nhưng những người ủng hộ
thuyết này cho rằng: “ Sự phục hồi kinh tế sẽ đem lại nguồn để ngân sách nhà nước trở
về tình trạng cân bằng và đẩy lùi lạm phát”.
- Thuyết hạn chế tiêu dùng thi hành trong thời chiến
Thuyết này cho rằng, vì muốn thỏa mãn nhu cầu của chiến tranh ngân sách nhà nước
phải chi tiêu rất nhiều, trong khi đó khối lượng tài sản cung cấp trên thị trường lại khan
hiếm hơn thời bình11. Lúc này ngân sách nhà nước phải thiết lập một chế độ hạn chế
chi tiêu và kiểm soát giá cả. Chế độ này sẽ hướng người dân đến việc chi tiêu không
hết số thu nhập có khả năng sử dụng của mình, do đó Nhà nước sẽ tìm cách thu hồi số
tiền dư đó vào ngân sách nhà nước bằng cách đánh thuế hoặc phát hành công trái.
Tóm lại, mỗi thuyết bàn về cân đối ngân sách ở mỗi khía cạnh, góc độ và thời điểm
khác nhau nhưng cùng hướng tới vấn đề làm sao cho ngân sách nhà nước được cân
bằng. Trong nền kinh tế thị trường ngày nay thì thuyết cổ điển không còn phù hợp nữa
vì quá cứng nhắc, việc duy trì chính sách chi tiêu theo thuyết này tuy rất cần thiết
nhưng không thể đem đến sự phát triển bền vững cho nền kinh tế. Các thuyết hiện đại
thì đưa ra những biện pháp mạnh hơn để đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước nhưng
trong điều kinh tế chuyển đổi và hội nhập như nước ta hiện nay, chúng ta cần phải lựa
chọn và vận dụng hợp lý các lý thuyết đó để đưa đất nước phát triển.
1.2.2. Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là một bảng kế hoạch tài chính của một quốc gia trong đó dự trù
các khoản thu và chi được thực hiện trong một năm. Trên thực tế quá trình thu chi
ngân sách nhà nước luôn trong trạng thái biến đổi không ngừng, nó bị ảnh hưởng bởi
sự vận động của nền kinh tế quốc gia, có khi những khoản thu dự kiến không đủ đáp
ứng nhu cầu chi tiêu trong năm đó, hoặc có khi mức thu lại vượt xa những khoản chi.
Do vậy các khoản chi tiêu và thu ngân sách nhà nước phải được tính toán chính xác và
phù hợp với thực tế để đảm bảo cho ngân sách nhà nước trong trạng thái cân bằng, ổn
định. Thu và chi ngân sách là hai vấn đề quan trọng để đảm bảo cho ngân sách nhà

10
Xem: Trần Đình Ty, Quản lý tài chính công, NXB Lao Động 2003, Trang 330.
11
Xem: Học viện tài chính, Giáo trình quản lý tài chính nhà nước, NXB Tài Chính 2004, Trang 265.
nước được cân đối, hai vấn đề này lại nằm trong mối tương quan giữa tài chính và kinh
tế, vì kinh tế có phát triển thì Nhà nước mới huy động được nguồn thu vào ngân sách
nhà nước, còn kinh tế không ổn định, kém phát triển thì nguồn thu vào ngân sách nhà
nước giảm và còn phải chi nhiều để hổ trợ. Điều đó dể dẫn đến ngân sách nhà nước bị
mất cân đối.
- Xét về bản chất, cân đối ngân sách nhà nước là cân đối giữa các nguồn thu mà
Nhà nước huy động được tập trung vào ngân sách nhà nước trong một năm và sự phân
phối, sử dụng nguồn thu đó thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong năm đó
- Xét về góc độ tổng thể, cân đối ngân sách nhà nước phản ánh mối tương quan
giữa thu và chi trong một tài khóa. Nó không chỉ là sự tương quan giữa tổng thu và
tổng chi mà còn thể hiện sự phân bổ hợp lý giữa cơ cấu các khoản thu và cơ cấu các
khoản chi của ngân sách nhà nước
- Xét trên phương diện phân cấp quản lý nhà nước, cân đối ngân sách nhà nước là
cân đối về phân bổ và chuyển giao nguồn thu giữa các cấp ngân sách, giữa trung ương
và địa phương và giữa các địa phương với nhau để thực hiện chức năng và nhiệm vụ
được giao.
Cân đối ngân sách nhà nước không chỉ đơn thuần là sự cân bằng về số lượng biểu hiện
qua các con số giữa tổng thu và tổng chi, mà nó còn biểu hiện qua các khía cạnh khác
nhau. Tựu trung lại ta có thể hiểu: Cân đối ngân sách nhà nước là một bộ phận quan
trọng của chính sách tài khóa, phản ánh sự điều chỉnh mối quan hệ tương tác giữa thu
và chi ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội mà Nhà nước
đã đề ra trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể.
1.2.3. Đặc điểm cân đối ngân sách nhà nước
Từ những quan niệm về cân đối ngân sách nhà nước ta có thể rút ra một số đặc điểm
cơ bản sau đây:
- Cân đối ngân sách nhà nước phản ánh mối quan hệ tương tác giữa thu và
chi ngân sách nhà nước trong năm ngân sách nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Nó
vừa là công cụ thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước, vừa bị ảnh hưởng bởi
các chỉ tiêu kinh tế- xã hội. Cân đối ngân sách nhà nước không phải là để thu chi cân
đối hoặc chỉ là cân đối đơn thuần về mặt lượng, mà cân đối ngân sách nhà nước nhằm
thực hiện các mục tiêu chiến lược kinh tế- xã hội của Nhà nước đồng thời các chỉ tiêu
kinh tế- xã hội này cũng quyết định sự hình thành về thu, chi ngân sách nhà nước. Tuy
nhiên việc tính toán thu, chi không phản ánh một cách thụ động các chỉ tiêu kinh tế- xã
hội, mà cân đối ngân sách nhà nước có tác động làm thay đổi hoặc điều chỉnh một
cách hợp lý các chỉ tiêu kinh tế- xã hội, bằng khả năng quản lý hoặc phân bổ nguồn
lực có hiệu quả.
- Cân đối ngân sách nhà nước là cân đối giữa tổng thu và tổng chi, giữa các
khoản thu và các khoản chi, cân đối về phân bổ và chuyển giao nguồn lực giữa các cấp
trong hệ thống ngân sách nhà nước, đồng thời kiểm soát được tình trạng ngân sách nhà
nước đặc biệt là tình trạng bội chi ngân sách nhà nước. Cân bằng thu- chi ngân sách
nhà nước chỉ là tương đối chứ không thể đạt mức tuyệt đối được vì hoạt động kinh tế
luôn ở trạng thái biến động Nhà phải điều chỉnh hoạt động thu, chi cho phù hợp. Bên
cạnh đó, cần phân bổ nguồn thu cho hợp lý để đảm bảo sự ổn định về kinh tế- xã hội
giữa các địa phương. Mặt khác, nếu ngân sách không cân bằng mà rơi vào tình trạng
bội chi thì cần đưa ra những giải quyết kịp thời để ổn định lại ngân sách nhà nước.
- Cân đối ngân sách nhà nước mang tính định lượng và tính tiên liệu.Trong
quá trình cân đối ngân sách nhà nước, người quản lý phải xác định các con số thu, chi
ngân sách nhà nước so với tình hình thu nhập trong nước, chi tiết hóa từng khoản thu,
chi nhằm đưa ra cơ chế sử dụng và quản lý nguồn thu phù hợp với hoạt động chi, từ đó
để làm cơ sở phân bổ và chuyển giao nguồn lực giữa các cấp ngân sách. Cân đối ngân
sách nhà nước phải dự đoán được các khoản thu, chi ngân sách một cách tổng thể để
đảm bảo thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội.
1.2.4. Vai trò của cân đối ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Cân đối ngân sách nhà nước là một công cụ quan trọng để Nhà nước can thiệp vào
hoạt động kinh tế- xã hội của đất nước, với vai trò quyết định đó thì cân đối ngân sách
nhà nước trong nền kinh tế thị trường có các vai trò sau:
- Cân đối ngân sách nhà nước góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Nhà nước
thực hiện cân đối ngân sách nhà nước thông qua chính sách thuế, chính sách chi tiêu
hàng năm và quyết định mức bội chi cụ thể nên có nhiều tác động đến hoạt động kinh
tế cũng như cán cân thương mại quốc tế. Từ đó góp phần ổn định việc thực các mục
tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô như: Tăng trưởng mức thu nhập bình quân trong nền
kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát được duy trì ở mức ổn định và có thể dự toán
được,…
- Cân đối ngân sách nhà nước góp phần phân bổ, sử dụng nguồn lực tài
chính có hiệu quả, để đảm bảo được vai trò này ngay từ khi lập dự toán Nhà nước đã
lựa chọn trình tự ưu tiên hợp lý trong phân bổ ngân sách nhà nước và sự gắn kết chặt
chẽ giữa chiến lược phát triển kinh tế- xã hội với công tác lập kế hoạch ngân sách.
Trong phân cấp quản lý ngân sách, nếu cân đối ngân sách nhà nước phân định nguồn
thu một cách hợp lý giữa trung ương với địa phương và giữa các địa phương với nhau
thì sẽ đảm bảo thực hiện được các mục tiêu kinh tế- xã hội đã đề ra.
- Cân đối ngân sách nhà nước góp phần đảm bảo công bằng xã hội, giảm
thiểu sự bất bình đẳng giữa các địa phương. Nước ta với mỗi một vùng lại có một điều
kiện kinh tế- xã hội khác nhau, có những vùng điều kiện kinh tế- xã hội rất khó khăn
làm ảnh hưởng đến thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân, có những vùng
điều kiện kinh tế- xã hội thuận lợi, phát triển làm cho thu nhập và cuộc sống của người
dân được nâng lên. Vì vậy cân đối ngân sách nhà nước sẽ đảm được sự công bằng,
giảm thiểu sự bất bình đẳng giữa người dân và các vùng miền. Nhà nước có thể huy
động nguồn lực từ những người có thu nhập cao, những vùng có kinh tế phát triển để
hổ trợ, giúp đỡ những người nghèo có thu nhập thấp và những vùng kinh tế kém phát
triển. Bên cạnh đó, cân đối ngân sách nhà nước góp phần phát huy lợi thế của từng địa
phương, tạo nên thế mạnh kinh tế cho địa phương đó dựa trên tiềm năng có sẳn của địa
phương.
Tóm lại, , Ngân sách nhà nước vừa là công cụ tài chính quan trọng, vừa là đạo luật của
một quốc gia. Nó được thiết lập và vận hành cùng với sự tồn tại và phát triển của quốc
gia đó. Đặc biệt trong thời kỳ chuyển đổi và hội nhập như hiện nay, ngân sách nhà
nước và vấn đề cân đối ngân sách càng đóng vai trò quan trọng hơn vào sự phát triển
đất nước, bình ổn xã hội. Hiểu và vận dụng tốt các học thuyết về cân đối ngân sách
nhà nước sẽ giúp nước ta có thể giải quyết những vấn đề còn tồn đọng về ngân sách
nhà nước trong thời gian vừa qua. Ngân sách nhà nước được cân đối, ổn định sẽ giúp
Nhà nước thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình đối với toàn dân, toàn xã hội.
Chương II:


NỘI DUNG VẤN ĐỀ CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

2.1 Nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước
Cân đối ngân sách nhà nước là vấn đề rất quan trọng và cần thiết để Nhà nước
thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình. Nhưng để ngân sách nhà nước được
giữ ở mức cân đối và ổn định thì không đơn giản, vì nó còn phụ thuộc nhiều yếu tố
như: Tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia. Hiện nay, vấn đề lạm phát
tăng nhanh, khủng hoảng kinh tế, thiên tai,… đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thu,
chi ngân sách nhà nước. Sự không ổn định trong hoạt động thu, chi ngân sách nhà
nước đã dẫn đến tình trạng mất cân đối ngân sách nhà nước. Đối với Việt Nam, từ khi
đất nước chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, cùng với vai trò của Nhà nước được
nâng lên trong hoạt động kinh tế thì việc cân đối đối ngân sách nhà nước ngày càng
được chú trọng hơn. Nắm được tầm quan trọng của cân đối ngân sách nhà nước trong
sự nghiệp phát triển đất nước và ổn định xã hội, nước ta đã đưa ra những chính sách và
biện pháp để đảm bảo cho ngân sách nhà nước được cân đối. Nhưng trước hết nước ta
cần phải xây dựng nguyên tắc cân đối ngân sách phù hợp với điều kiện kinh tế, chính
trị và xã hội của nước mình thì việc cân đối mới đảm bảo hiệu quả. Mặt khác, việc xây
dựng nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước phải được bắt đầu từ việc xác định vai trò
của nhà nước và phù hợp với từng bối cảnh cụ thể12.
Theo luật ngân sách nhà nước 2002 thì ngân sách nhà nước được cân đối dựa trên
nguyên tắc sau:
+ Tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp
phần tích lũy ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển, trường hợp còn bội chi, thì số
bội chi phải nhỏ hơn chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách.Nguyên
tắc này đã phân định ranh giới giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, thể hiện
sự thận trọng trong chính sách tài khóa của Việt Nam. Theo đó, các khoản thu thường
xuyên được sử dụng để trang trải chi thường xuyên và một phần thu thường xuyên
cùng với thu bù đắp được sử dụng để chi đầu tư phát triển13. Trong đó, chi đầu tư phát
triển được chú trọng hơn, vì nó có thể làm tăng khả năng thu hồi vốn cho ngân sách
nhà nước nhưng phải đảm bảo được sự cân đối giữa chi đầu tư phát triển và chi thường

12
Xem:Nguyễn Thị Bình Minh và Bùi Thị Mai Hòa, “Cân đối ngân sách nhà nước nhìn từ góc độ lý luận và
thực tiển” , Tạp chí tài chính số 10/2006, Trang 33.
13
Xem: Nguyễn Thị Bình Minh và Bùi Thị Mai Hòa, “Cân đối ngân sách nhà nước nhìn từ góc độ lý luận và
thực tiển” , Tạp chí tài chính số 10/2006, Trang 38.
xuyên, vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong chi tiêu công của Nhà
nước. Chi đầu tư phát triển là hoạt động cần thiết đối với sự phát triển kinh tế, xã hội
của một quốc gia. Nó tạo ra những điều kiện cở sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho nền
kinh tế, cũng từ đó kéo theo sự phát triển của nhiều lĩnh vực khác và đảm bảo các vấn
đề xã hội của đất nước, giúp nhà nước thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình.
Vì vậy chi đầu tư phát triển là vấn đề được Nhà nước ưu tiên trong xây dựng nguyên
tắc cân đối ngân sách nhà nước.
+ Bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và nước
ngoài. Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc không sử
dụng cho tiêu dùng, chỉ được sử dụng cho mục đích phát triển và bảo đảm bố trí ngân
sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn. Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện
nay thì vấn đề bội chi ngân sách là không thể tránh khỏi đối với một quốc gia. Nhưng
chưa hẵn bội chi ngân sách nhà nước là biểu hiện sự yếu kém của nền kinh tế, mà nó
còn là một trong các cách thức tạo ra sự cân đối ngân sách nhà nước trong dài hạn,
đảm bảo cho nền kinh tế- xã hội phát triển và ổn định. Nguyên tắc vay bù đắp bội chi
nên dành cho mục đích phát triển và đảm bảo bố trí ngân sách để chủ động trả hết nợ
khi đến hạn là rất cần thiết để đảm bảo ngân sách nhà nước được cân đối, tận dụng
được nguồn vốn vay một cách có hiệu quả. Chi cho tiêu dùng là hoạt động chi không
mang tính chất thu hồi vốn và không tạo thặng dư, do đó nguồn vay bù đắp bội chi chỉ
để dành cho mục đích phát triển. Về nguyên tắc, ngân sách địa phương được cân đối
với tổng số chi không vượt quá tổng số thu; trường hợp tỉnh thành phố trực thuộc trung
ương có nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách
cấp tỉnh bảo đảm, thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm đã được hội đồng nhân
dân cấp tỉnh quyết định, nhưng không vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp
tỉnh năm dự toán, thì được phép huy động vốn không vượt quá 30% vốn đầu tư xây
dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh.
+ Nguyên tắc này đã tạo cho chính quyền địa phương có được nhiều ưu thế hơn
trong việc quyết định ngân sách cấp mình. Vấn đề cho phép cấp tỉnh vay nợ là cần
thiết, giúp cho chính quyền địa phương có thể chủ động hơn trong việc tạo ra những
điều kiện về cơ sở vật chất hạ tầng để phát triển kinh tế và đảm bảo vấn đề xã hội của
địa phương mình. Tuy nhiên, khoản vay nợ này lại được tính vào thu trong cân đối
ngân sách địa phương, do vậy nhìn một cách tổng thể thì ngân sách địa phương tôn
trọng nguyên tắc phải cân bằng thu chi theo quy định của luật ngân sách nhà nước năm
2002, song thực chất ngân sách địa phương có bội chi và khoản bội chi này lại không
tính vào trong bội chi ngân sách nhà nước. Điều này dẫn đến sự thiếu minh bạch trong
cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam. Ngoài ra việc quy định tỷ lệ tối đa chung cho
mọi địa phương là 30%( trừ Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh) là chưa hợp lý, vì mỗi địa
phương có điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau nên nhu cầu vay nợ, khả năng quản lý
nợ và hoàn trả nợ là khác nhau.
Ngoài những nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước theo quy định của luật hiện hành,
thì trong quá trình cân đối ngân sách nhà nước thì cần phải dựa trên hệ thống các
nguyên tắc lập ngân sách và quản lý chi tiêu công hiệu quả như:
 Tính tổng thể và tính kỷ luật tài chính: Để kiểm soát được các nguồn
tài chính có hiệu quả, yêu cầu trong cân đối ngân sách nhà nước phải đánh giá đúng
nguồn lực tài chính đó và lựa chọn những công cụ thích hợp nhất để phân bổ nguồn
lực nhằm đạt được mục tiêu ngân sách đã đề ra. Điều này có nghĩa là, khi cân đối ngân
sách nhà nước thì những quyết định về chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên cần
phải được gắn kết với nhau. Trong chi tiêu ngân sách nhà nước cần tập trung chi vào
những khoản cần thiết, chi tiêu tiết kiệm, tránh lãng phí để thực hiện tốt các chiến lược
mà chính phủ đề ra.
 Tính linh hoạt và tính tiên liệu: Trong cân đối ngân sách nhà nước, tính
linh hoạt và tính tiên liệu là cần thiết, vì nó giúp nhà quản lý đưa ra cách xử lý và điều
phối nguồn lực tài chính một cách hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi để nhà nước thực
hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội đã đề ra. Tính linh hoạt yêu cầu phải trao quyền cho
người quản lystrong việc ra quyết định phân bổ nguồn lực tài chính. Tính tiên liệu
đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách và chương trình có hiệu quả.
Nguyên tắc này đòi hỏi cân đối ngân sách nhà nước phải chú ý đến sự cân đối trong
ngắn hạn và dài hạn, và phải vận dụng cách tiếp cận trung hạn đối với việc điều chỉnh
mất cân đối ngân sách nhà nước.
 Tính trung thực: Khi cân đối ngân sách nên dựa vào những dự toán đã
được lập từ thực tế tình hình kinh tế- xã hội của đất nước, mà không có sự thiên vị về
vấn đề thu hoặc chi ngân sách nhà nước. Những dự toán quá lạc quan sẽ dễ đưa đến sự
vi phạm tính kỷ luật tài chính và dẫn đến việc không thực hiện được những chiến lươc,
chính sách Nhà nước đã đề ra.
 Thông tin, minh bạch và trách nhiệm: Đây là vấn đề rất cần thiết trong
cân đối ngân sách nhà nước. Thông tin tốt sẽ làm tăng thêm tính trung thực và giúp
người quản lý sẽ đưa ra những quyết định hợp lý. Thông tin chính xác và kịp thời về
chi phí, đầu ra và kết quả đạt được sẽ giúp cho quá trình thực hiện cân đối ngân sách
nhà nước đạt hiệu quả. Tính minh bạch và trách nhiệm trước hết yêu cầu những người
ra quyết định phải có tất cả những dữ liệu và thông tin thích hợp, phải chịu trách
nhiệm về quyết định của mình.
2.2 Cân đối giữa các khoản thu và khoản chi ngân sách nhà nước trong cơ
cấu ngân sách nhà nước
Trong ngân sách nhà nước, cơ cấu các khoản thu và chi ngân sách nhà nước có liên
quan mật thiết đến vấn đề cân đối ngân sách nhà nước.Vì cân đối ngân sách chính là
sự cân bằng về các khoản thu và chi ngân sách, đảm bảo cho sự cân bằng này thì trong
quá trình cân đối ngân sách nhà nước phải dựa trên một cơ cấu ngân sách hợp lý và
được phân định rỏ ràng. Cơ cấu ngân sách nhà nước sẽ giúp cho cân đối ngân sách nhà
nước thực hiện dễ dàng và xác thực hơn. Dựa vào cơ cấu thu, Nhà nước sẽ xác định
được những khoản thu vào ngân sách nhà nước trong một năm tài khóa, từ đó làm cơ
sở tiền đề cho việc tiến hành thực hiện các khoản chi ngân sách nhà nước và Nhà nước
có thể dựa vào những khoản thu đã được dự kiến sẵn để lên kế hoạch chi tiêu hợp lý
trong năm đó. Ngược lại, các khoản chi ngân sách nhà nước là mục tiêu hướng tới và
là giới hạn để xây dựng kế hoạch thu ngân sách nhà nước. Nhà nước dựa vào cơ cấu
chi ngân sách nhà nước để từ đó dự trù được các khoản phải chi trong năm, nhưng
phải đảm bảo được sự phối hợp cân đối giữa các khoản thu và chi ngân sách nhà nước
để đạt được mục tiêu ngân sách đề ra. Ta thấy, các khoản thu và chi ngân sách nước có
mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau trong suốt một năm ngân sách và cùng hướng
tới mục tiêu đảm bảo cho ngân sách nhà nước được cân đối và ổn định.
2.2.1 Cơ cấu các khoản thu trong cân đối ngân sách nhà nước
o Nhìn từ góc độ kinh tế: Thu ngân sách nhà nước được hiểu là nguồn vốn
tiền tệ của Nhà nước do Nhà nước huy động để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của chính
bộ máy nhà nước đó.
o Nhìn từ góc pháp lý: Thu ngân sách nhà nước đó là những khoản thu theo
những hình thức pháp lý nhất định. Theo đó, thu ngân sách nhà nước được cụ thể hóa
trong văn bản pháp luật thực định như sau:
“Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí,lệ phí, các khoản thu từ
hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các
khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật”.[ Khoản 1 Điều 2
Luật ngân sách nhà nước 2002]
Các khoản thu của ngân sách nhà nước chủ yếu được chia thành hai loại sau:
 Thu có tính chất hoa lợi: Theo thông lệ các khoản thu có tính chất hoa lợi
bao gồm: Khoản thu về thuế; khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; khoản
đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân; khoản thu từ viện trợ không hoàn lại của
nước ngoài cho chính phủ;… Trong đó khoản thu về thuế được xem là quan trọng và
thương xuyên nhất, nó đóng góp một phần lớn vào nguồn thu của ngân sách nhà nước.
Thu có tính chất hoa lợi dựa vào hai yếu tố sau: Những khoản thu làm tăng ngân quỹ
nhưng không làm tăng trái khoản ( tức là làm tăng các khoản nợ).
 Thu không có tính chất hoa lợi: Theo quan điểm của Philip E.Taylor, khoản
thu không có tính chất hoa lợi được hiểu là những khoản thu làm tăng ngân quỹ nhưng
đồng thời cũng làm tăng một số lượng tương ứng các trái vụ của quốc gia14. Tức là thu
vào ngân sách nhà nước bao nhiêu thì cũng sẽ dùng để chi tương ứng như vậy, nó
không góp phần làm tăng ngân sách nhà nước. Các khoản thu này bao gồm: Thu về
vay nợ và viện trợ có hoàn lại; thu về lệ phí và phí;…
Trong cơ cấu các khoản thu ngân sách nhà nước, có những khoản thu cơ bản và mang
tính chất thường xuyên ảnh hưởng lớn đến vấn đề cân đối ngân sách nhà nước ở nước
ta hiện nay như: các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh
tế của nhà nước; các khoản thu từ các hoạt động viện trợ; các khoản đóng góp tự
nguyện của cá nhân và tổ chức.
2.2.1.1 Thu từ thuế, phí và lệ phí
Thuế, phí và lệ phí đều là nguồn thu chủ yếu, thường xuyên của ngân sách nhà nước.
Các khoản thu này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn cho ngân sách nhà
nước và là công cụ để Nhà nước điều hành, quản lý xã hội góp phần thực hiện công
bằng xã hội. Các khoản thu này mang gía trị pháp lý cao, vì nó gắn liền với quyền lực
của nhà nước15. Nguồn thu từ thuế, phí và lệ phí vừa đảm bảo để ngân sách nhà nước
chi cho tiêu dùng, vừa hổ trợ cho chi đầu tư phát triển và chi cho tiêu dùng. Khi những
nguồn thu này bị tổn thất thì thường kéo theo tình trạng ngân sách nhà nước thu không
đủ chi, làm mất cân đối ngân sách nhà nước.
Thuế là khoản thu mang tính cưỡng chế của Nhà nước, nhằm động viên một bộ phận
thu nhập từ lao động, của cải, vốn, từ việc chi tiêu hàng hóa, dịch vụ và từ việc lưu
giữ, chuyển dịch tài sản của các tổ chức và cá nhân tập trung vào quỹ ngân sách nhà
nước để phục vụ nhu cầu chi tiêu của nhà nước16. Thu từ thuế là nguồn thu chiếm tỷ
trọng chủ yếu trong tổng thu ngân sách nhà nước chiếm khoản 90%, bỡi vì thuế đánh
vào tất cả các hoạt động tiêu dùng của xã hội như: hoạt động sản xuất, chế tạo, sữa
chữa, chế biến,… Còn đối với cá nhân, thuế đánh vào tất cả các thu nhập thường
xuyên và bất thường của họ dựa vào những quy định cụ thể của luật thuế. Thuế là
khoản thu mang tính pháp lý cao, được cụ thể hóa thành luật và do Quốc hội thông
qua. Để đảm bảo thuế trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, Nhà nước
cần phải xác lập một hệ thống thuế có khả năng bao quát đầy đủ các nguồn thu đã,

14
Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước, NXB Tư Pháp 2007, Trang 23.
15
Học viện tài chính, Giáo trình quản lý tài chính nhà nước, NXB Tài Chính 2004, Trang 159.
16
Học viện tài chính, Giáo trình quản lý tài chính nhà nước, NXB Tài Chính 2004, Trang 115.
đang và sẽ phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thu nộp thuế phải
chặt chẽ, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời.
Phí là khoản thu nhằm thu hồi chi phí đầu tư cung cấp các dịch vụ công cộng không
thuần túy theo quy định của pháp luật và là khoản tiền mà các tổ chức, cá nhân phải trả
khi sử dụng các dịch vụ công cộng đó17. Việc thu phí là hết sức cần thiết, khách quan,
phù hợp với vai trò quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước. Thu phí sẽ làm tăng thu nhập
cho ngân sách nhà nước, từ đó làm tăng khả năng đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất
hàng hóa và các dịch vụ công cộng, đảm bảo công bằng xã hội. Các khoản thu từ phí
cũng có thể là những khoản thu đưa vào ngân sách nhà nước, cũng có thể là những
khoản thu để lại cho các đơn vị thu sử dụng. Đối với các khoản thu về cho ngân sách
nhà nước, đây là một trong những nguồn thu quan trọng của các cấp ngân sách và
được đưa vào cân đối chung của ngân sách các cấp.
Lệ phí là những khoản thu gắn liền với việc cung cấp các dịch vụ hành chính pháp lý
của nhà nước cho các cá nhân và tổ chức nhằm phục vụ cho công việc quản lý hành
chính nhà nước theo quy định của pháp luật18. Khoản tiền này không phải là giá dịch
vụ mà là khoản thu phục vụ cho yêu cầu quản lý của nhà nước. Chỉ có một số cơ quan
thuộc bộ máy nhà nước mới được phép thu lệ phí và phải được quy định cụ thể trong
văn bản pháp luật hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Lệ phí là nguồn thu nộp
hoàn toàn vào ngân sách nhà nước và là nguồn thu thường xuyên của ngân sách các
cấp.Vì vậy thu lệ phí được bố trí trong cân đối thu chi của ngân sách các cấp, đảm bảo
cho nhu cầu chi bình thường của ngân sách cấp đó.
2.2.1.2 Các khoản thu ngoài thuế, phí và lệ phí
Ngoài nguồn thu cơ bản từ thuế, phí và lệ phí thì ngân sách nhà nước còn bao gồm
những nguồn thu khác bổ sung vào ngân sách nhà nước. Những nguồn thu đó không
mang tính chất thường xuyên, ổn định và chỉ là phần đóng góp khá nhỏ vào ngân sách
nhà nước nhưng nó cũng đảm bảo cho Nhà nước có nguồn vốn để thực hiện các mục
tiêu kinh tế- xã hội đã đề ra, góp phần cân đối giữa hoạt động thu chi của ngân sách
nhà nước.
 Thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước: Bao gồm tiền thu hồi vốn của
nhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của nhà nước đối với các tổ chức
và cá nhân, thu nhập của nhà nước từ việc góp vốn vào các cơ sở kinh tế, kể cả thu từ
lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của tổ chức kinh tế có sự tham gia góp
vốn của nhà nước.

17
Lê thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật ngân sách nhà nước, Tủ sách đại học Cần Thơ 2007, Trang 49.
18
Lê thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật ngân sách nhà nước, Tủ sách đại học Cần Thơ 2007, Trang 49.
 Thu từ hoạt động viện trợ: Bao gồm các khoản thu từ viện trợ nhân dân,
viện trợ không hoàn lại của các quốc gia và các tổ chức quốc tế,…Đây là những nguồn
quan trọng để bổ sung vào ngân sách nhà nước, giúp cho nhà nước thực hiện các
khoản chi phát triển, cải cách kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống người dân.
 Thu từ các khoản đóng góp tự nguyện của cá nhân và tổ chức: Đây là
những khoản thu không mang tính ổn định vào ngân sách nhà nước, nhưng nó cũng
góp một phần qua trọng cho ngân sách nhà nước khi nhà nước tiến hành chi cho các
vấn đề xã hội của đất nước, các chương trình phát triển về giáo dục, kinh tế- xã
hội,…góp phần bù đắp những khoản thiếu hụt cho ngân sách nhà nước.
2.2.2 Cơ cấu các khoản chi trong cân đối ngân sách nhà nước
- Nhìn từ góc độ kinh tế: Chi ngân sách nhà nước là việc Nhà nước đã sử dụng
các hoạt động tài chính thông qua việc sử dụng ngân sách nhà nước để tài trợ cho việc
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước trong một thời hạn nhất định.
- Nhìn từ góc độ pháp lý: Chi ngân sách nhà nước là một chế độ tài chính đặc thù theo
đó Nhà nước thể hiện quyền sở hữu của mình đối với ngân sách nhà nước thong qua
việc cấp phát tài chính cho những đối tượng thuộc diện hưởng ngân sách nhà nước.
Theo đó, chi ngân sách nhà nước được quy định tại Khoản 2 Điều 2 Luật ngân sách
nhà nước 2002:
“ Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm
quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, chi trả nợ của Nhà
nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật”.
Cơ cấu chi ngân sách nhà nước được phân biệt thành hai loại sau:
 Các khoản chi có tính chất phí tổn: Là những khoản chi làm giảm ngân quỹ
nhưng không làm giảm trái vụ của quốc gia, tức là những khoản chi này không làm
giảm bớt nghĩa vụ thanh toán nợ nhưng lại làm giảm ngân quỹ của quốc gia19. Bao
gồm các khoản chi như: Chi viện trợ không hoàn lại cho nước ngoài; chi trợ cấp cho
các đối tượng chính sách xã hội;… Những khoản chi này gây nhiều tổn thất cho ngân
sách nhà nước, nhưng vì trách nhiệm chăm lo cho nhân dân và tinh thần hữu nghị quốc
tế nên ngân sách nhà nước cần phải chi những khoản đó.
 Các khoản chi không có tính chất phí tổn: Là những khoản chi làm giảm
ngân quỹ đồng thời cũng làm giảm trái vụ tương ứng của quốc gia, tức là những khoản
chi này sẽ làm giảm ngân quỹ của quốc gia đồng cũng làm giảm nghĩa vụ thanh toán
nợ của quốc gia đó20. Bao gồm các khoản chi như: Chi trả nợ của Nhà nước đối với
các tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài; chi đầu tư phát triển; chi cho sự

19
Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước, NXB Tư Pháp 2007, Trang 24.
20
Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật ngân sách nhà nước, NXB Tư Pháp 2007, Trang 25.
nghiệp kinh tế;…Các khoản chi này cũng không làm ảnh hưởng nhiều đến việc làm
tăng hay giảm ngân sách nhà nước, vì việc chi ra bao nhiêu sẽ làm giảm gánh nặng về
nợ cho Nhà nước bấy nhiêu.
Nội dung chi ngân sách rất đa dạng và phức tạp, bao gồm nhiều khoản mục khác
nhau. Vì vậy, Nhà nước sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình điều phối và sử dụng
ngân sách nhà nước. Nếu các khoản chi này không được phân loại rỏ ràng sẽ dễ dẫn
đến tình trạng chi tiêu không hợp lý, không đảm bảo được mục tiêu ngân sách đã đề ra
và ảnh hưởng đến sự thăng bằng trong ngân sách nhà nước. Các khoản chi được cơ cấu
hợp lý, đánh giá đúng mức độ, sự cần thiết và lợi ích của từng khoản chi sẽ mang lại
những hiệu quả thiết thực cho sự phát triển của đất nước. Trong cơ cấu chi ngân sách
nhà nước, bao gồm các khoản chi như: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên và
những khoản chi khác được đảm bảo bằng nguồn thu của ngân sách nhà nước được
xem là những khoản chi cơ bản trong cân đối ngân sách nhà nước ở nước ta hiện nay.
2.2.2.1 Chi đầu tư phát triển
Chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng một phần
vốn tiền tệ đã được tạo lập thông qua hoạt động thu của ngân sách nhà nước để đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất và để dự trữ vật tư hàng hóa
nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế. Chi đầu
tư phát triển chủ yếu là những khoản chi nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật và tạo
điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng21. Ở Việt Nam hang năm ngân sách nhà nước đã
giành một lượng vốn lớn để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, đầu tư phát
triển sản xuất, thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Chi đầu tư phát triển là khoản chi quan trọng nhưng không mang tính ổn định. Khoản
chi này tạo ra nguồn tài sản cố định, năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế. Mỗi năm,
Nhà nước phải bỏ ra một nguồn vốn khá lớn chi cho các hoạt động này nhưng do các
dự án đầu tư phát triển mỗi năm là khác nhau, nguồn tài chính của nhà nước cũng thay
đổi theo từng năm tùy thuộc nguồn thu vào ngân sách nhà nước. Dù vậy, Nhà nước ta
vẫn đảm bảo cho hoạt động chi đầu tư phát triển đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng và
phát triển kinh tế. Chi đầu tư phát triển bao gồm những nội dung sau: Chi về đầu tư
xây dựng cơ bản; chi để hình thành và bổ sung vốn lưu động của doanh nghiệp nhà
nước; chi cho quỹ dự trữ tài chính; chi bổ sung một phần vốn điều lệ của quỹ hổ trợ
phát triển để thực hiện các hoạt động tín dụng đầu tư phát triển,… Trong chi đầu tư
xây dựng cơ bản là khoản chi lớn nhất nhưng nó cũng là khoản chi khá nhạy cảm dễ
dẫn đến thất thoát lãng phí trong quá trình sử dụng, vì vậy Nhà nước cần phải có


21
Học viện tài chính, Giáo trình quản lý tài chính nhà nước, NXB Tài Chính 2004, Trang 181- 182.
những biện pháp giám sát, quản lý chặt chẽ để tránh thất thoát, lãng phí ngân sách nhà
nước.
2.2.2.2 Chi thường xuyên
Chi thường xuyên của ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ
ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ
thường xuyên của nhà nước về kinh tế- xã hội22. Hiện nay sự phát triển kinh tế- xã hội
của đất nước đã làm cho các khoản chi thường xuyên tăng lên với nhiều nội dung chi
khác nhau như: Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn
hóa thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi
trường các sự nghiệp khác; các hoạt động sự nghiệp kinh tế; các nhiệm vụ về quốc
phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội theo quy định của chính phủ và các văn bản
hướng dẫn thực hiện; hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản
Việt Nam; hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội như: Ủy ban mặt trận tổ quốc
Việt Nam, hội cựu chiến binh Việt Nam, hội lien hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh
niên cộng sản Hồ Chí Minh; hỗ trợ các tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; phần chi thường xuyên trong các chương trình mục
tiêu quốc gia; trợ giá theo chính sách của nhà nước; các khoản chi thường xuyên khác
theo quy định của pháp luật.
Phân loại rỏ ràng những khoản chi nêu trên giúp nhà nước dễ dàng hơn trong việc lập
dự toán các khoản chi trong năm và giúp cho việc điều hành, quản lý ngân sách nhà
nước trở nên hợp lý hơn. Không giống với chi đầu tư phát triển, các khoản chi thường
xuyên mang tính ổn định khá rỏ nét. Bỡi vì, nó đảm bảo để nhà nước thực hiện chức
năng của mình, dù nền kinh tế- xã hội có thay đổi nhưng chức năng của nhà nước vẫn
không đổi và việc chi cho các hoạt động trên vẫn phải thực hiện, vấn đề cần xem xét là
nên chi cho khoản nào trước và khoản nào sau. Chi thường xuyên chỉ nhằm đáp ứng
cho hoạt động của bộ máy nhà nước, thực hiện chức năng của nhà nước mà không trực
tiếp tạo ra giá trị thặng dư thu hồi vốn về cho ngân sách nhà nước. Do vậy, khi sử dụng
vốn cho hoạt động chi này Nhà nước cần tổ chức lại bộ máy nhà nước thật gọn nhẹ,
hoạt động có hiệu quả để giảm bớt nguồn vốn phải chi, làm giảm gánh nặng về cho
ngân sách nhà nước.
2.2.2.3 Các khoản chi khác
+ Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính: Dự trữ tài chính là nguồn quỹ đặc biệt
được dùng để tạm ứng cho ngân sách nhà nước thực hiện các nhiệm vụ chi khi nguồn
thu chưa tập trung kịp cho ngân sách, dùng để xử lý cân đối ngân sách nhà nước trong


22
Học viện tài chính, Giáo trình quản lý tài chính nhà nước, NXB Tài Chính 2004, Trang 219.
trường hợp cần nguồn quỹ để thực hiện các nhiệm vụ cần thiết như: phòng, chống,
khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh,… Bên cạnh đó dự trữ tài chính còn
dùng để khắc phục tình trạng bội chi ngân sách nhà nước trong trường hợp các khoản
vay để bù đắp bội chi không đạt mức dự toán đã được quy định thông qua. Quỹ dự trữ
tài chính chỉ có ở ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh, được hình thành từ phần
tăng thu ngân sách; thu kết dư và tối đa 25% trong dự toán chi ngân sách hàng năm.
+ Chi trả gốc, lãi tiền huy động cho đầu tư: Đây là các khoản chi phản ánh
việc thực hiện trái vụ của Nhà nước trong quan hệ vay mượn23. Trong quá trình chấp
hành ngân sách, do thường xuyên phải đương đầu với tình trạng thu không đủ chi
Chính phủ thường lựa chọn một biện pháp hữu hiệu là vay nơ trong và ngoài nước.
Việc sử dụng biện pháp này để cân đối thu, chi ngân sách đã dẫn đến tính tất yếu của
khoản chi trả nợ trong kết cấu chi ngân sách nhà nước. Nhà nước tiến hành vay nợ
thông qua việc phát hành trái phiếu và việc thanh toán nợ sẽ được Bộ tài chính lập kế
hoạch, sau đó trình quốc hội thông qua, Kho bạc nhà nước sẽ tiến hành thanh toán khi
trái phiếu đến hạn.
+ Chi viện trợ: Là khoản chi nãy sinh trong quan hệ đối ngoại của Nhà nước,
cho phép Chính phủ có thể giúp đỡ các quốc gia bị lâm vào tình trạng khó khăn về tài
chính do hậu quả của thiên tai để lại, hoặc do các biến cố về chính trị,…Nước ta là
nước nghèo, đang phát triển nhưng vẫn phải chi viện trợ cho các quốc gia khác để thể
hiện tinh thần hợp tác hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau, làm tăng cường mối quan hệ của
nước ta với các nước trên thế giới. Chi viện trợ là một khoản chi được đưa vào trong
kết cấu chi nhân sách nhà nước và được đưa vào trong cân đối ngân sách nhà nước là
hợp lý, vì nước ta cũng được nhận sự viện trợ của các nước để phát triển kinh tế và
giải quyết các vấn đè xã hội.
Qua đó ta thấy có sự tương thích giữa cơ cấu thu và chi ngân sách nhà nước đã góp
phần quan trọng cho ngân sách nhà nước được cân đối. Nhà nước có thể điều phối hoạt
động chi dựa trên nguồn thu vào của một tài khóa, phân định những nguồn thu nào
quan trọng và cần thiết, từ đó có những chính sách chi tiêu hợp lý.
2.3 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước để đảm bảo cân đối trong hệ thống
ngân sách nhà nước
Theo luật ngân sách nhà nước năm 2002, phạm vi cân đối ngân sách nhà nước được
phân định khá rỏ ràng, bao gồm: cân đối ngân sách trung ương và cân đối ngân sách
địa phương, trong đó cân đối ngân sách trung ương có vai trò rất quan trọng. Bỡi lẽ,
trong hệ thống ngân sách trung ương thường tập trung những nguồn thu lớn và đảm


23
Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Gáo trình luật ngân sách nhà nước, NXB Tư Pháp 2004, Trang 83.
nhận những nhiệm vụ chi chủ yếu gắn liền với việc thực hiện các dự án có tầm chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của cả nước nói chung, định hướng phát triển kinh tế- xã
hội của địa phương nói riêng. Ngoài ra, ngân sách trung ương còn đảm trách vai trò
điều phối nguồn lực tài chính giữa các cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách và cân
đối ngân sách nhà nước. Còn cân đối ngân sách địa phương phải gắn liền với việc đảm
bảo thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý kinh tế- xã hội các cấp chính quyền địa
phương, thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển. Như vậy, cân đối ngân sách trung
ương và cân đối ngân sách địa phương có sự tương tác lẫn nhau trong quá trình thu chi
ngân sách nhà nước, khi cả hai ngân sách này được cân đối tốt sẽ đảm bảo cho nền
kinh tế- xã hội phát triển, ổn định. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là một vấn đề
quan trọng trong cân đối ngân sách nhà nước, do đó cần phải thiết lập nội dung phân
cấp sao cho đảm bảo được mối quan hệ cân đối giữa nguồn thu và nhiệm vụ chi của
các cấp ngân sách trên cơ sở phối hợp sức mạnh của cả hai hệ thống ngân sách nhà
nước.
2.3.1. Phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách
Trong phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, việc phân định nhiệm vụ chi giữa các cấp
ngân sách phụ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia và sự quản
lý, điều hành của Nhà nước. Nhiệm vụ chi được xây dựng trên cơ sở gắn liền với lợi
ích và phù hợp với năng lực quản lý, điều kiện thực tế của các địa phương. Vì vậy khi
phân định nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách cần lưu ý một số vấn đề sau: Giao cho
các cấp chính quyền địa phương quản lý và cung cấp các dịch vụ công cộng gắn liền
với đời sống kinh tế- xã hội trên địa bàn thì chất lượng và hiệu quả dịch vụ sẽ được
tăng lên. Giao cho chính quyền trung ương các trách nhiệm chi đối với các nhiệm vụ
chi thường xuyên bị thay đổi nhanh chóng, thì khả năng ổn định kinh tế vĩ mô và điều
hòa kinh tế xã hội của chính phủ sẽ được nâng cao.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ chi được phân cấp và tạo sự tương thích giữa nhiệm vụ chi
và nguồn thu của các cấp ngân sách nhà nước, thì việc phân định nguồn thu chia làm 3
nhóm lớn sau đây:
+ Nguồn thu 100% vào ngân sách trung ương bao gồm các khoản thu được quy định
tại khoản 1 Điều 31 Luật ngân sách nhà nước năm 2002:
 Thuế giá trị gia tăng và hàng hóa xuất nhập khẩu;
 Thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu;
 Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập khẩu;
 Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán ngành;
 Các khoản thuế và thu khác từ dầu, khí theo quy định của chính phủ;
 Tiền thu hồi vốn của ngân sách trung ương tại các tổ chức kinh tế, thu
hồi cho vay của ngân sách trung ương( cả gốc và lãi), thu từ quỹ dự trữ tài chính của
trung ương, thu từ vốn góp của nhà nước;
 Viện trợ không hoàn lại của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các
tổ chức khác, các cá nhân nước ngoài cho chính phủ Việt Nam;
 Phần nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật từ các khoản
phí và lệ phí do các cơ quan, đơn vị thuộc trung ương tổ chức thu, không kể phí xăng,
dầu, lệ phí trước bạ;
 Thu kết dư ngân sách trung ương;
 Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
Đây là những khoản thu phát sinh trên tất cả các địa bàn của từng địa phương mà luật
quy định phải nộp vào ngân sách trung ương. Các khoản thu này là nguồn tài chính
chủ yếu để đảm bảo cho hoạt động của bộ máy nhà nước. Ngân sách trung ương có
một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đảm bảo cho
mọi hoạt động chi tiêu của cả nước.
+ Nguồn thu 100% vào ngân sách địa phương, bao gồm các khoản thu quy định tại
Khoản 1 Điều 32 Luật ngân sách nhà nước năm 2002 như sau:
 Thuế nhà, đất;
 Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu được từ hoạt động dầu,
khí;
 Thuế môn bài;
 Thuế chuyển quyền sử dụng đất; Thuế sử dụng đất nông nghiệp;
 Tiền sử dụng đất;
 Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước không kể tiền cho thuê mặt nước thu từ
hoạt động dầu khí;
 Tiền đền bù thiệt hại đất, tiền cho thuê và bán nhà ở thuộc sở hữu nhà
nước;
 Lệ phí trước bạ;
 Thu từ hoạt động sổ số kiến thiết;
 Thu hồi vốn của ngân sách địa phương tại các tổ chức kinh tế, thu từ quỹ
dự trữ tài chính của địa phương, thu nhập từ vốn góp của địa phương;
 Viện trợ không hoàn lại của tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá
nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương;
 Các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động sự nghiệp và các khoản thu
khác nộp vào ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật;
 Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài
nước;
 Thu kết dư ngân sách địa phương theo quy định tại Điều 63 Luật ngân
sách nhà nước năm 2002;
 Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
Đây là những khoản thu phát sinh trên địa bàn mà địa phương trực tiếp quản lý và
được thu nộp toàn bộ vào ngân sách địa phương, để địa phương trực tiếp chi cho các
hoạt động kinh tế xã hội ở địa phương mình. Qua đó, nguồn thu 100% vào ngân sách
địa phương có vai trò quan trọng trong việc cung ứng nguồn vốn trực tiếp cho các hoạt
động phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, tạo điều kiện chủ động hơn cho địa
phương thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình.
+ Nguồn thu điều tiết theo tỉ lệ % giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương, bao gồm các khoản thu quy định tại Khoản 2 Điều 30 Luật ngân sách nhà
nước năm 2002:
 Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu;
 Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của
các đơn vị hạch toán toàn ngành;
 Thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao;
 Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không kể thuế chuyển lợi nhuận
ra nước ngoài từ dầu, khí;
 Thuế tiêu thụ đặc biệt từ hang hóa, dịch vụ trong nước;
 Phí xăng, dầu.
Đây là những khoản thu phát sinh trên địa bàn địa phương và mỗi cấp ngân sách địa
phương được hưởng theo một tỉ lệ % nhất định. Tỉ lệ phân chia điều tiết cho các cấp
ngân sách được áp dụng ổn định từ 3 đến 5 năm, sau khoản thời gian này phải điều
chỉnh lại , nhằm tạo cho địa phương chủ động trong bố trí kế hoạch ngân sách hang
năm và khuyến khích đầu tư tạo nguồn thu. Nếu tỉ lệ này lớn hơn 100% thì địa phương
sẽ được hưởng toàn bộ số thu phân chia theo tỉ lệ, phần còn thiếu sẽ được cấp bổ sung.
Nếu tỉ lệ này là 100%, tức là ở mức cân đối thì sẽ không phân chia. Nếu tỉ lệ này nhỏ
hơn 100% thì ngân sách trung ương sẽ điều tiết bớt nguồn thu phát sinh trên địa bàn
địa phương này.
Thông qua việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách đã tạo ra
những thuận lợi đáng kể góp phần vào việc ổn định và cân đối ngân sách nhà nước ở
nước ta, nguồn thu ở ngân sách địa phương đã tăng lên đáng kể, nhiều địa phương đã
tự đảm bảo được vấn đề cân đối ngân sách ở địa phương mình, mỗi địa phương đã có
trách nhiệm hơn trong việc thực hiện thu chi ở địa phương mình.Trong cân đối ngân
sách đặt ra vấn đề phải phân định rỏ ràng nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp
ngân sách là hoàn toàn hợp lý, vì nhiệm vụ của mỗi cấp ngân sách là khác nhau: ngân
sách trung ương phải nắm giữ các nguồn thu cơ bản quan trọng của đất nước để từ đó
thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế và thực hiện những nhiệm vụ chi cần thiết
để đảm cho sự phát triển chung của đất nước, đồng thời hỗ trợ kịp thời cho các địa
phương thực hiện nhiệm vụ ngân sách của mình trong năm tài khóa. Mặt khác, giữa
các địa phương khả năng tạo nguồn thu và nhiệm vụ chi là khác nhau, do điều kiện
kinh tế xã hội của mỗi vùng không giống nhau nên dễ dẫn đến sự mất cân đối trong hệ
thống ngân sách nhà nước. Vì vậy nhà nước cần phải đảm bảo cơ chế điều hòa, chuyển
giao nguồn thu hợp lý cho từng địa phương, tạo điều kiện cho mỗi địa phương đều
thực hiện được nhiệm vụ của năm ngân sách. Do nguồn lực tài chính của nước ta là có
hạn, vì vậy khi chuyển giao về cho địa phương Nhà nước cần phải đảm bảo tính công
bằng, hiệu quả để đảm bảo cho địa phương phát huy các tiềm lực sẵn có.
2.3.1. Phân định thẩm quyền quyết định thu, chi giữa các cơ quan nhà nước
2.4 Kiểm soát tình trạng ngân sách nhà nước- Bội chi ngân sách nhà nước
2.4.1 Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước
Bội chi ngân sách nhà nước là một trong những vấn đề quan trọng gắn liền với quá
trình thực hiện cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam. Trong điều kiện nền kinh tế
thị trường hiện đại bội chi ngân sách nhà nước là điều không thể tránh khỏi đối với
ngân sách của một quốc gia, vì Nhà nước thường bỏ ra một lượng tiền khá lớn để khắc
phục những khiếm khuyết của cơ chế thị trường, đảm bảo cho nền kinh tế- xã hội phát
triển24. Trong khi đó nguồn thu vào của ngân sách nhà nước thường không đủ cho hoạt
động chi tiêu để Nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, sự chênh lệch
giữa các khoản thu nhiều hơn chi trong ngân sách nhà nước đã dẫn đến tình trạng bội
chi ngân sách nhà nước trong nhiều năm qua. Vì vậy Nhà nước muốn thực hiện cân
đối ngân sách nhà nước trước hết phải xác định được vấn đề bội chi của nước ta như
thế nào, tìm ra nguyên nhân và từ đó đưa ra những giải pháp hợp lý để khắc phục tình
trạng bội chi, đảm bảo bội chi ngân sách nhà nước có thể ở mức chấp nhận được thúc
đẩy kinh tế phát triển.
Theo đó ta có thể hiểu: “Bội chi ngân sách nhà nước là tình trạng chi ngân sách nhà
nước vượt quá thu ngân sách nhà nước trong một năm, là hiện tượng ngân sách nhà
nước không cân đối thể hiện trong sự so sánh giữa cung và cầu về nguồn lực tài chính
của nhà nước”.

24
Xem:Nguyễn Thị Bình Minh và Bùi Thị Mai Hòa, “Cân đối ngân sách nhà nước nhìn từ góc độ lý luận và
thực tiển” , Tạp chí tài chính số 10/2006, Trang 33.
Bội chi NSNN đã tồn tại khá lâu dài trong nền tài chính nước ta, ngay từ khi chưa có
Luật NSNN điều chỉnh. Trong thực tiển điều hành và quản lý NSNN, nước ta cũng đã
áp dụng nhiều biện pháp để xử lý bội chi NSNN nhằm hướng tới một NSNN cân đối,
ổn định. Những quy định trong văn bản luật năm 1996 và năm 1998 chưa cụ thể hóa
được vấn đề bội chi NSNN, cho đến khi luật NSNN năm 2002 ra đời thì vấn đề bội chi
NSNN được quy định rỏ ràng hơn: “Bội chi NSNN là bội chi NSTW được xác định
bằng chên lệch thiếu giữa tổng chi NSTW và tổng số thu NSTW của năm ngân sách”25.
Theo quy định trên bội chi NSNN chỉ tính đến bội chi NSTW, còn NSĐP phải đảm
bảo cân bằng thu chi. Tuy vậy, trong sự cân bằng đó, địa phương lại được phép vay nợ
và thu vay nợ lại được ghi vào thu cân đối NSĐP. Như vậy, con số bội chi được công
bố hang năm sẽ nhỏ hơn so với thực tế nếu như địa phương thực hiện vay nợ và trả lãi
trong năm ngân sách.
2.4.2 Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước26
Hiện nay bội chi ngân sách nhà nước là vấn đề đang được sự quan tâm của hầu hết
các nước, kể cả nước đang phát triển cũng như nước phát triển. Vì nó có sự tác động
rất lớn đến vấn đề phát triển kinh tế xã hội và xãy ra ở hầu hết các quốc gia. Thực tế
xuất phát từ những nguyên nhân sau:
+ Nguyên nhân khách quan: Do nên kinh tế suy thoái và khủng hoảng làm cho nguồn
thu vào ngân sách nhà nước bị giảm sút, nhưng nhu cầu chi tiêu lại gia tăng để giải
quyết những vấn đề khó khăn mới về kinh tế- xã hội như: trợ cấp xã hội, các khoản chi
để phục hồi nền kinh tế,… Điều đó dễ dẫn đến tình trạng thu không đủ chi và ngân
sách nhà nước bị thâm hụt. Ngược lại, khi kinh tế ở giai đoạn phồn thịnh, thu vào ngân
sách nhà nước liên tục tăng lên mà không phải chi các khoản chi bất thường thì ngân
sách nhà nước tăng lên và đảm bảo thực hiện tốt những dự toán đã được đề ra. Qua đó,
ta thấy suy thoái và khủng hoảng kinh tế là một trong những nguyên nhân gây ra bội
chi ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, thiên tai và tình trạng bất ổn về an ninh chính trị
của quốc gia, thế giới cũng ảnh hưởng rất lớn đến ngân sách nhà nước. Do nhu cầu chi
tiêu cho quốc phòng và an ninh trật tự xã hội tăng lên và phải chi nhiều để khắc phục
hậu quả thiên tai.
+ Nguyên nhân chủ quan: Do quản lý, điều hành ngân sách nhà nước bất hợp lý. Biểu
hiện qua những vấn đề sau: Tác động từ chính sách cơ cấu thu chi của nhà nước, việc
khai thác và đánh giá nguồn thu chưa tốt, phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước còn
nhiều bất cập, gây thất thoát và lãng phí nguồn lực tài chính của nhà nước, vấn đề phân
cấp quản lý ngân sách ngân sách nhà nước chưa khuyến khích địa phương nổ lực trong

25
Xem: Điều 4 Khoản 1 Nghị định 60/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 6/6/2003.
26
Xem: Trường đại học luật Hà Nội, Gáo trình luật ngân sách nhà nước, NXB Tư Pháp 2004, Trang 268- 269.
khai thác nguồn thu và phân bổ chi tiêu hiệu quả. Điều đó đã làm nguồn thu vào ngân
sách nhà nước bị thất thoát, hoạt động thu không hiệu quả và không đủ cho hoạt động
chi của nhà nước. Ngoài ra do nhà nước chủ động sử dụng bội chi ngân sách nhà nước
như là một công cụ để thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng tạo
sự tăng trưởng cho nền kinh tế, khắc phục tình trạng suy thoái của nền kinh tế.
Việt Nam thời gian qua con số bội chi ở mức khoảng 5%27, Nhà nước đã tìm mọi biện
pháp để con số bội chi này không tăng lên. Nguyên nhân của tình hình bội chi này, do
nước ta liên tục phải đối mặt với cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan của
vấn đề bội chi ngân sách nhà nước như: ảnh hưởng của sự khủng hoảng và suy thoái
của nên kinh tế giới, sự bất ổn về chính tri của một số nước trong khu vực, thiên tai lũ
lụt xãy ra thường xuyên, thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ trong nước ở các lĩnh vực,
hệ thống hành thu chưa tốt, chi tiêu còn lãng phí, tham nhũng nhiều,…đã làm cho
ngân sách nhà nước phải chi tiêu rất nhiều để đảm bảo ổn định xã hội và phát triển
kinh tế đất nước, nhưng nguồn thu lại bị thất thoát và không ổn định. Và nước ta phải
chấp nhận ở mức bội chi như vậy.
2.4.3 Các biện pháp xử lý bội chi ngân sách nhà nước28
Xử lý bội chi ngân sách nhà nước là vấn đề vừa rất nhạy cảm vừa rất cần thiết, vì nó
không chỉ ảnh hưởng đến cân đối ngân sách nhà nước, mà còn tác động đến nền kinh
tế và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Trong nền kinh tế nhiều biến động như
hiện nay, Nhà nước cần phải lựa chọn những giải pháp xử lý bội chi hợp lý, có tính
chiến lược lâu dài thúc đẩy kinh tế phát triển, khơi dậy các tiềm năng kinh tế và phân
bổ có hiệu quả các nguồn lực xã hội. Bên cạnh đó cũng cần thực hiện các chính sách
điều chỉnh quan hệ phân phối nguồn lực tài chính nhà nước như: tăng thuế, cắt giảm
chi tiêu, phát hành tiền, vay nợ. Do vậy khi áp dụng các biện pháp xử lý bội chi ngân
sách nhà nước này, Nhà nước cần phải dựa vào bối cảnh kinh tế- xã hội thực tại của
đất nước, vận dụng một cách linh hoạt sao cho phát huy những mặt tích cực và hạn chế
mặt tiêu cực, để mang lại kết quả tốt nhất tạo điều kiện cho ngân sách nhà nước được
cân đối ổn định.
- Tăng các khoản thu, chủ yếu là tăng thuế: Biện pháp này có khả năng bù đắp
và giảm bội chi ngân sách nhà nước. Có hai cách để tăng thuế: Một là, tăng thuế suất.
Hai là, mỡ rộng, nuôi dưỡng nguồn thu và chống thất thu thuế.Tuy nhiên đây không
phải là những giải pháp cơ bản để xử lý bội chi ngân sách nhà nước, bỡi lẽ nếu tăng
thuế không hợp lý sẽ dẫn đến giá cả hàng hóa tăng, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống và
sản xuất của người dân, nghiêm trọng hơn sẽ làm mất động lực kinh doanh của các

27
Xem: http://www.baovietnam.vn/kinhte/103686/11/Bap-benh-muc-tieu-thu-chi-ngan-sach.
28
Xem: http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news ID=29954438
doanh nghiệp, làm mất đi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nước ta đối với các
nước. Tăng thuế về mặt lý thuyết có thể tăng thu ngay, nhưng trên thực tế vấn đề này
có đảm bảo tính khả thi hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Hiệu quả hoạt
động của hệ thống quản lý thu, hiệu suất của từng sắc thuế như thế nào, khả năng kinh
tế của quốc gia,…Nếu thuế tăng cao sẽ dẫn đến trốn thuế, không kích thích kinh tế
phát triển. Vì vậy biện pháp này tương đối khó thực hiện và phải triển khai trong thời
gian dài, có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp các ngành để đảm bảo sự công bằng về
nghĩa vụ đóng góp của mỗi người dân.
- Thiết lập chính sách chi hiệu quả và cắt giảm chi ngân sách nhà nước: Bên
cạnh biện pháp tăng thuế một cách hợp lý, chính phủ cần phải thiết lập một chính sách
chi ngân sách nhà nước hiệu quả và tiến tới cắt giảm chi ngân sách nhà nước và tăng
cường tiết kiệm. Đây là giải pháp mang tính tình thế nhưng vô cùng quan trọng đối với
mỗi quốc gia khi xãy ra bội chi ngân sách nhà nước. Việc cắt giảm bội chi ngân sách
nhà nước chỉ phát huy tác dụng khi nhà nước cắt giảm những khoản chi tiêu lãng phí,
bất hợp lý, các khoản chi bao cấp cho xã hội và doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước cần
triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư và chi thường xuyên của ngân sách nhà nước, tức là
chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm thực hiện các mục tiêu
kinh tế xã hội đã đề ra, còn những dự án chưa và không có hiệu quả thì phải cắt giảm
và thậm chí không đầu tư. Đồng thời cũng phải tiến hành cắt giảm những khoản chi
thường xuyên của các cơ quan nhà nước nếu những khoản chi này không hiệu quả và
chưa cần thiết.
- Phát hành tiền: Xử lý bội chi ngân sách nhà nước thông qua phát hành tiền và
đưa ra lưu thông sẽ giúp chô chính phủ huy động nhanh nguồn vốn để cân đối ngân
sách nhà nước. Tuy nhiên, giải pháp này có thể gây ra lạm phát nếu nhà nước phát
hành quá nhiều tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, sẽ gây ra những vấn đề khó
khăn cho nền kinh tế sau này như: Kinh tế tăng trưởng nóng, không cân đối với khả
năng tài chính hiện tại của đất nước,… Nhưng nếu phát hành tiền ở mức hợp lý, phù
hợp với diễn biến của nền kinh tế và sử dụng tiền đó có hiệu quả thì sẽ không làm tăng
lạm phát, không gây tác động xấu đến nền kinh tế mà sẽ góp phần khắc phục tình trạng
bội chi ngân sách nhà nước, thúc đẩy kinh tế phát triển và đảm bảo cân đối ngân sách
nhà nước.
- Vay nợ: Nhà nước tiến hành vay nợ theo hai cách để bù đắp bội chi ngân sách
nhà nước, bao gồm:
+ Vay nợ trong nước: Chính phủ phát hành trái phiếu trên thị trường tài chính
trong nước để tiến hành vay nợ. Biện pháp này dễ triển khai thực hiện và giúp chính
phủ tránh được những ảnh hưởng từ bên ngoài. Tuy nhiên nguồn vay mang lại cho
ngân sách nhà nước là không lớn vì chỉ tiết kiệm trong khu vực tư.
+ Vay nợ nước ngoài: Bao gồm nguồn vốn do chính phủ phát hành trái phiếu
trên thị trường tài chính quốc tế và nguồn vốn ODA. Nhà nước sẽ phụ thuộc nhiều vào
đối tác cho vay, chịu sự ràng buộc áp đặt bởi nhiều điều kiện từ phía chủ thể này và
nếu vay trong thời hạn dài sẽ tăng các khoản nợ nước ngoài đặt gánh nặng cho vấn đề
tài chính ở nước ta.
Do vậy, vay trong nước hay vay nước ngoài đều phải trả nợ gốc và cả lãi, càng vay thì
gánh nặng về nợ sẽ càng tăng. Nếu về lâu dài sử dụng biện pháp vay nợ để bù đắp bội
chi ngân sách nhà nước thì sẽ gây nhiều áp lực cho chính phủ về nợ và ảnh hưởng
nghiêm trọng đến vấn đề cân đối ngân sách nhà nước, ngân sách nhà nước khó đạt
mức cân bằng.
Qua đó ta thấy bội chi ngân sách nhà nước có mối quan hệ mật thiết với vấn đề cân đối
ngân sách nhà nước. Nếu bội chi ngân sách nhà nước xãy ra, tức là chi lớn hơn thu
ngân sách nhà nước làm cho ngân sách bị thiếu hụt, mất cân đối và nhà nước tìm cách
khắc phục bội chi ngân sách nhà nước cũng chính là tìm cách đưa ngân sách nhà nước
về trạng thái cân đối giữa nguồn thu và nguồn chi. Bội chi ngân sách nhà nước được
xử lý tốt và được đảm bảo ở mức hợp lý sẽ góp phần quan trọng vào cân đối ngân sách
nhà nước và thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội phát triển đất nước.
Tóm lại, Cân đối ngân sách nhà nước là vấn đề cần thiết phải được đảm bảo thực hiện
của quốc gia, vì nó tác động rất lớn đến sự phát triển, bền vững đối với kinh tế xã hội
của quốc gia đó.Do vậy để thực hiện tốt quá trình cân đối ngân sách nhà nước, phải
dựa trên các nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước để đảm bảo cân đối đạt hiệu quả,
phải xác định được nội dung chính trong cân đối ngân sách nhà nước chính là sự cân
đối về các khoản thu và các khoản chi trong cơ cấu ngân sách nhà nước. Từ đó có
những hoạch định rỏ ràng về các vấn đề thu chi ngân sách nhà nước trong năm tài
khóa nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra trong năm đó. Bên cạnh đó,
Nhà nước cần có sự phân cấp về quyền hạn, nhiệm vụ và lợi ích giữa các cấp ngân
sách với nhau để tạo sự công bằng và thúc đẩy mỗi cấp ngân sách phát huy được ưu
thế của mình góp phần vào việc cân đối ngân sách ở cấp mình quản lý và ngân sách
nhà nước nói chung. Đồng thời nhà nước cũng phải tăng cường hoạt động giảm sát của
mình đối với ngân sách nhà nước, từ đó đưa ra những biện pháp xử lý bội chi ngân
sách nhà nước phù hợp với tình hình kinh tế- xã hội của đất nước góp phần thực hiện
cân đối ngân sách nhà nước.
Chương III:
Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam từ khi
chuyển đổi sang cơ chế thị thị trường cho đến nay và hướng
hoàn thiện
3.1 Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước ở một số nước trên thế giới và ở Việt
Nam
3.1.1 Cân đối ngân sách ở một số nước trên thế giới
Cân đối ngân sách nhà nước là vấn đề không chỉ đặt ra ở Việt Nam mà ở hầu hết các
nước trên thế giới, đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển. Vì cân đối ngân
sách có mối liên hệ mật thiết với sự ổn định và tăng trưởng nền kinh tế- xã hội của một
quốc gia. Điển hình như: Mỹ, Nhật, Trung Quốc,… là những nước có nền kinh tế phát
triển hàng đầu thế giới, thu nhập bình quân đầu người đạt mức khá cao, vấn đề an sinh
xã hội được đảm bảo tốt. Một trong những nhân tố tạo nên sự thành công của các nước
này, chính là họ có một ngân sách nhà nước ổn định và thặng dư. Mặc dù hiện tại do
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế, dẫn đến ngân sách nhà nước
của Nhật, Mỹ bị thâm hụt nghiêm trọng nhưng trong quá khứ họ đã làm được điều mà
các quốc gia khác không dễ gì thực hiện, đó là duy trì một tình trạng ngân sách ổn định
và thặng dư trong nhiều năm thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh chóng. Với tiềm lực là
những quốc gia phát triển mạnh về kinh tế và có nền công nghiệp hàng đầu, trong thời
gian sắp tới họ sẽ có những chính sách phù hợp để giải quyết vấn đề thâm hụt ngân
sách.
- Cân đối ngân sách nhà nước ở Mỹ: Từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế (1929-
1933) đến cuối những năm 60 kinh tế Mỹ phát triển một cách nhanh chóng. Mỹ đã vân
dụng học thuyết của Keynes để phục hồi kinh tế, kiểm soát thu chi ngân sách một cách
triệt để với việc chính phủ tăng chi tiêu công cộng và đầu tư cho kinh tế phát triển
bằng nguồn ngân sách nhà nước. Tính trung bình năm 1950- 1958 tỷ lệ chi kinh tế
trong tổng chi ngân sách chiếm 13%- 15%. Đến những năm 70 và 80 nền kinh tế Mỹ
lại rơi vào tình trạng suy thoái, chính phủ Mỹ đã thực hiện nhiều chính sách như: cải
cách thuế để đảm bảo nguồn thu trong ngân sách, cải cách chi tiêu ngân sách phù hợp
điều kiện kinh tế- xã hội. Tuy nền kinh tế Mỹ ở giai đoạn này dần được phục hồi,
nhưng tình trạng thâm hụt ngân sách vẫn tăng ở những năm 1980, 1990, 1995. Do đó,
Mỹ đã kiên quyết giảm bội chi ngân sách và hướng tới chiến lược thăng dư ngân sách
trong thời gian tới nhằm tăng cường tài chính quốc gia, đáp ứng tốt các vấn đề về an
sinh xã hội. Trong 4 năm (1998-2001), Mỹ đã đạt mức thặng dư ngân sách là 127 tỷ
USD. Nhưng kể từ khi Tổng thống Bush lên nắm chính quyền thì ngân sách nhà nước
của Mỹ đã có nhiều biến động. Từ một ngân sách thặng dư đã chuyển sang thâm hụt
ngân sách chỉ một năm sau đó. Bỡi lẽ, Mỹ đã chi khá nhiều ngân sách khắc phục hậu
quả của cuôc khủng bố vào tháng 9/ 2001, trong khi đó lại cắt giảm thuế từ việc thừa
hưởng nguồn thặng dư ngân sách. Những năm tiếp theo Mỹ lại chi quá nhiều cho các
cuộc chiến tranh ở Irắc và Ápganixtan, vẫn duy trì chính sách cắt giảm thuế đã góp
phần đẩy nhanh mức thâm hụt ngân sách lên đến 413 tỷ USD vào năm 2004 và mức
kỷ lục 454,8 USD năm 2008 và ước tính thâm hụt ngân sách có thể lên đến 482 tỷ
USD năm 2009 29. Mỹ đang đối mặt với ngân sách thâm hụt khá lớn và suy thoái kinh
tế nghiêm trọng, theo nhận định của các nhà chính trị Mỹ thời gian tới tình trạng thâm
hụt ngân sách nhà nước vẫn có thể tăng mạnh, do Mỹ phải chi hỗ trợ nhiều để đưa đất
nước thoát khỏi suy thoái. Để giải quyết tình trạng thâm hụt ngân sách đang diễn ra,
Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đưa ra một số biện pháp như: cắt giảm chi phí chiến
tranh bằng cách rút bớt quân tại Iraq, chấm dứt chính sách miễn thuế tạm thời đối với
những người có thu nhập từ 250.000 USD/năm trở lên, sắp xếp lại bộ máy chính
phủ,…và thực hiện gói kích cầu để phục hồi kinh tế. Ông Obama nhấn mạnh: "Nước
Mỹ phải làm tất cả những gì có thể để khống chế thâm hụt ngân sách khi nền kinh tế
bắt đầu phục hồi" 30. Với những giải pháp trên, ngân sách Mỹ có thể sẽ khắc phục
được tình trạng thâm hụt, dần trở lại cân đối và tiến tới thặng dự
- Cân đối ngân sách nhà nước ở Nhật Bản: Sau chiến tranh thế giới thứ hai,
Nhật Bản đã thực hiện nhiều chính sách để khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng
nề của chiến tranh và theo đuổi một ngân sách cân đối, ổn định. Nhật đã gia tăng tiết
kiệm trong chi tiêu dùng, đầu tư phát triển kinh tế, giảm chi phí cho quân sự . Nhìn
chung, Chính phủ duy trì được một ngân sách cân bằng cho đến giữa những năm 1960
với các chính sách thắt chặt tài chính và mở rộng tiền tệ. Tuy nhiên đến năm 1965-
1966, nguồn thu ngân sách giảm sút, chính phủ Nhật Bản đã thành lập ngân sách bổ
sung bằng việc phát hành trái phiếu để bù đắp sự thiếu hụt nguồn thu, đảm bảo cho
ngân sách cân đối và phục hồi tình trạng suy thoái của nền kinh tế. Nền kinh tế Nhật
Bản trong những năm 70, 80, 90 biến động liên tục, từ suy thoái đến tăng trưởng rồi
trở lại suy thoái. Vì vậy, vấn đề ngân sách nhà nước cũng không ổn định, chính phủ
Nhật Bản đã thực hiện nhiều chính sách như: phát hành trái phiếu để bù đắp thiếu hụt,
kiềm chế chi tiêu, tăng chi đầu tư, cắt giảm thuế để kích cầu,…Để đảm bảo nguồn tài
chính cho nhà nước. Hiện nay, kinh tế Nhật Bản đang rơi vào tình trạng suy thoái,

29
Xem: www.asset.vn
30
Xem:http://www.sbsc.com.vn/news/detail.do;jsessionid=6C080B3A2BF0C77BE99B2AC28E9548CD.www5?
id=56095
chính phủ đã có những điều chỉnh về ngân sách để giải quyết sự suy thoái nghiêm
trọng đang diễn ra. Theo Kyodo, Chính phủ Nhật Bản vừa thông qua một ngân sách
cao kỷ lục tới 88.500 tỷ Yên (980 tỷ USD) dành cho tài khóa 2009 (bắt đầu từ tháng
4/2009), tăng 6,6% so với ngân sách tài khóa 2008, bao gồm việc cắt giảm thuế, hoàn
thuế xuất khẩu, giảm viện trợ nước ngoài và làm nợ công tăng, các đợt phát hành trái
phiếu chính phủ của Nhật Bản sẽ tăng 31,3% so với tài khóa 2008 lên 33.290 tỷ yên để
bù đắp cho nguồn thu thuế dự kiến sụt giảm 31. Với những giải pháp nêu trên, trong
thời gian sắp tới Nhật Bản có thể là nước sẽ thoát khỏi suy thoái kinh tế sớm nhất thế
giới và không ảnh hưởng đến sự thăng bằng ngân sách ở nước này.
- Cân đối ngân sách nhà nước ở Trung Quốc: Trung Quốc bắt đầu chuyển đổi
nền kinh tế từ năm 1978. Cho đến nay, mô hình kinh tế của Trung Quốc chuyển dần từ
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch, rồi lại tiếp
tục chuyển sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc.
Cùng với sự chuyển biến mô hình kinh tế, cuộc cải cách nền tài chính Trung Quốc
cũng đi theo các mô hình đó. Về cơ bản, là từ chỗ điều tiết trực tiếp và điều tiết vi mô
về tài chính đã chuyển đổi thành điều tiết gián tiếp và điều tiết vĩ mô về tài chính32.
Trong đó chính phủ đặc biệt chú trọng đến vấn đề cân đối ngân sách trong phân cấp
giữa chính quyền trung ưong và chính quyền địa phương. Trước cải cách, cân đối ngân
sách nhà nước Trung Quốc có đặc trưng là tập trung cao độ nguồn tài chính vào ngân
sách trung ương để thực hiện chính sách kế hoạch hóa tập trung và thực hiện bao cấp
cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Từ năm 1980 trở đi, chính sách ngân sách và thuế đã
được thi hành một cách nhất quán, linh hoạt theo hướng kiềm chế quy mô thâm hụt
của ngân sách quốc gia. . Mức thâm hụt ngân sách đã giảm từ 5,1% GDP trong năm
1979 xuống còn 1,2% GDP trong năm 1981. Trong cải cách, chính phủ đã bắt đầu
phân chia nguồn thu cho địa phương nhằm tăng cường quyền tự chủ cho địa phương
trong việc cân đối ngân sách, thực hiện cơ chế khoán ngân sách. Từ năm 1994, Chính
phủ đã chấm dứt tình trạng vay tiền ngân sách, thay vào đó sử dụng phương pháp phát
hành trái phiếu các loại. Theo Luật Ngân sách quốc gia có hiệu lực thi hành từ
1/1/1995, hệ thống ngân sách của Trung quốc được chia thành 5 cấp theo kết cấu cấp
chính quyền. Ngân sách của từng cấp sau khi được phê chuẩn không được phép sửa
đổi, điều chỉnh. Ngân sách của các cấp chính quyền địa phương phải thực hiện nguyên
tắc lường thu để chi, cân đối thu - chi, không được để bội chi ngân sách. Các cấp chính
quyền không được phép phát hành trái phiếu, không được phép chiếm dụng hoặc giữ
lại vốn của ngân sách cấp trên, đồng thời có nhiệm vụ thu nộp ngân sách cấp trên kịp

31
Xem:http://www.vtca.vn/Chitiettintuc/tabid/10606/ArticleID/108726/tid/10517/language/vi-VN/Default.aspx
32
Xem: http://www.laocai.gov.vn/NHDLTNTQ/content/1010008_001.htm
thời, đầy đủ. Một việc làm chưa từng có trong thực tiễn kinh tế thế giới là Chính phủ
cắt giảm tỷ lệ nguồn thu thuế từ 30% GDP năm 1979 xuống còn 10,3% GDP năm
1996. Tuy nhiên, Việc giảm các nguồn thu không làm mất cân đối ngân sách, do các
khoản chi NSNN được cắt giảm với tốc độ nhanh hơn, từ mức 36,4% GDP năm 1979
xuống 11,5% năm 1996. Xét về cơ cấu chi thì các khoản chi của Chính phủ Trung
ương giảm mạnh từ 20,7%GDP năm 1979 xuống còn 3,8% năm 1996; chi tiêu của
chính quyền địa phương giảm với tốc độ ít hơn từ 15,7% GDP xuống còn 8,3% GDP.
Điều này cũng thể hiện sự phân cấp quản lý ngày càng nhiều cho các cấp chính quyền
địa phương. Để có thể giảm chi tiêu của NSNN phải nói tới vai trò của tài chính trong
việc thực hiện chính sách lao động và xã hội 33. Tóm lại, Trung Quốc đã rất thành công
trong việc cải cách nền tài chính quốc gia, đặc biệt vấn đề cân đối ngân sách nhà nước
được quan tâm đúng mức tạo tiền đề cho sự phát triền kinh tế của Trung Quốc trong
thời gian vừa qua. Hiện tại do phải đối mặt với tình hình suy thoái kinh tế, con số thâm
hụt ngân sách của Trung Quốc lên đến 950 tỷ NDT, chiếm 3,1% trong tổng GDP của
năm 2008.
3.1.2 Cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam từ khi chuyển đổi sang cơ chế thị
trường đến nay.
3.1.2.1 Tác động của tình hình kinh tế xã hội đến vấn đề cân đối ngân sách nhà
nước trong thời gian vừa qua.
Từ khi Đảng và NHà nước chủ trương chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng
XHCN, đặc biệt từ năm 1991 cho đến nay nền kinh tế xã hội đã có những chuyển biến
rỏ rệt như: mỡ rộng các quan hệ quốc tế; tăng cường sự viện trợ của nước ngoài; thu
hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; khơi dậy sự năng động và tiềm lực kinh
tế của Việt Nam; phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ và con người; tăng cường
các vấn đề về an sainh xã hội; nâng cao đời sống của người dân,…tác động mạnh mẽ
đến vấn đề cân đối ngân sách nhà nước ở nước ta.
- Về kinh tế: Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới, tốc độ tăng trưởng GDP của
Việt Nam đã tăng lên liên tục. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986 - 1990),
GDP chỉ đạt mức tăng trưởng bình quân 4,4%/năm, thì trong 5 năm tiếp theo (1991 -
1995), tăng trưởng GDP bình quân là 8,2%, cao hơn so với kế hoạch đề ra là 5,5% -
6,5%, và thuộc vào loại cao trong số các nước đang phát triển. Trong giai đoạn 1996 -
2000, tốc độ tăng GDP bình quân của Việt Nam là 6,9%, tuy có thấp hơn nửa đầu thập
niên 90 thế kỷ XX do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á,
nhưng vẫn vào loại cao trong khu vực. Song bước vào năm 2001 tình hình lại có nhiều

33
Xem: http://www.langson.vn/langsonqt/?q=node/313
chuyển biến tốt, tốc độ tăng GDP của Việt Nam là 6,9%, năm 2002: 7%, năm 2003:
7,3%, năm 2004: 7,7%, năm 2005: 7,5%, năm 2006: 8,2% và năm 2007: 8,5%. So với
các nước trong khu vực, Việt Nam đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng
rất cao 34.
- Về xã hội: Trước thời kỳ đổi mới, phần lớn dân số nước ta sống bằng nghề
nông, Việt Nam bị đánh giá là một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, với mức thu nhập
bình quân đầu người rất thấp và có nhiều người trong diện nghèo đói. Đường lối đổi
mới và chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người
lao động, dẫn đến nâng cao thu nhập cho người dân. Năm 1991 thu nhập bình quân
đầu người được cải thiện ở mức 122,5 USD/người, tăng lên 400 USD/người năm 2000
và 637,3 USD/người năm 2005. Con số này đã đạt được 820 USD/người năm 2007.
Bên cạnh đó, số hộ giàu tăng lên và số hộ nghèo giảm xuống. Tỷ lệ nghèo đói giảm
mạnh từ 58% năm 1993 giảm còn 37% năm 1998 tiếp tục giảm còn 28% năm 2004 và
còn lại mức thấp 18,1% năm 200635. Đời sống của người dân được cải thiện, các vấn
đề an sinh xã hội được đảm bảo hơn.
Nước ta đã đạt được những thành tựu nỗi bật trong thời gian vừa qua, đưa Việt Nam từ
một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, yếu kém chuyển dần sang cơ cấu kinh tế mới
theo hướng công nghiệp hóa -hiện đại hóa. Để đạt được những kết quả trên, Nhà nước
đã thực hiện đồng bộ nhiều chính sách phát triển kinh tế- xã hội với sự hổ trợ đắc lực
của ngân sách nhà nước. Ngược lại, khi nền kinh tế xã- hội phát triển sẽ đảm bảo tốt
nguồn thu vào ngân sách giúp nhà nước thực hiện các khoản chi cho các mục tiêu ngân
sách đề ra, tạo điều kiện cho ngân sách nhà nước ở trạng thái cân bằng, ổn định. Trong
mối tương quan giữa nền kinh tế- xã hội phát triển bền vững sẽ là cầu nối hữu hiệu để
chính phủ thực hiện cân đối ngân sách nhà nước đạt hiệu quả.
Tuy nhiên, những biến động mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2007 đã
tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế- xã hội của Việt Nam, gây ra sự bất ổn cho nền tài
chính của đất nước, đặc biệt sẽ khó khăn hơn trong quá trình cân đối ngân sách nhà
nước. Nền kinh tế Mỹ, Nhật đang suy thoái nghiêm trọng là một trong những nguyên
nhân làm giảm nguồn thu vào ngân sách nhà nước trong thời gian sắp tới. Vì các nước
này sẽ tiến hành giảm và có thể cắt giảm ODA đối với nước ta, thuế xuất nhập khẩu có
thể bị thất thu lớn từ hai đối tác trên,…Bên cạnh đó, cơn sốt về gía dầu trên thế giới đã
gây ra những bất ổn trên thị trường hàng hóa buộc chính phủ phải chi hỗ trợ khá lớn từ
ngân sách nhà nước, khủng hoảng tài chính, lạm phát đang diễn ra,…Những vấn đề


34
Xem: http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news_ID=26852349
35
Xem: http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news_ID=26852349
trên đã tác động trực tiếp đến các khoản thu chi ngân sách nhà nước và vấn đề cân đối
ngân sách nhà ở nước ta.
3.1.2.2 Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn (1991-1996)
trước khi có Luật ngân sách nhà nước
Giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, vấn đề cân đối ngân sách nhà nước luôn được
chính phủ quan tam thực hiện. Trong Nghị Quyết của Quốc hội khóa 8, kỳ họp thứ 10
ngày 26/12/1991 đã đưa ra quan điểm và yêu cầu trong cân đối ngân sách nhà nước là:
“Thu trong nước phải đảm bảo các khoản chi thường xuyên và trả nợ”. Việc phân
định nguồn thu, nhiệm vụ chi và vấn đề chuyển giao nguồn lực giữa các cấp ngân sách
để thực hiện cân đối trong hệ thống ngân sách nhà nước được quy định trong Quyết
Định 186/HĐBT ngày 27/11/1989 và Quyết Định 168/HĐBT ngày 19/5/1992 của
HĐBT. Trong giai đoạn này, thực trạng cân đối ngân sách bao gồm những vấn đề sau:
tình hình thu chi ngân sách nhà nước, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước và bội chi
ngân sách nhà nước.
3.1.2.2.1 Tình hình thu chi ngân sách nhà nước
- Về thu ngân sách nhà nước: Nhà nước đã có những cải cách trong hoạt động thu
ngân sách nhà nước để đảm bảo nguồn thu trong giai đoạn này như:cải cách bộ máy
hành thu thuế đánh dấu bằng sự ra đời của Tổng cục thuế thống nhất hoạt động từ
trung ương xuống địa phương, hình thành hệ thống thuế áp dụng thống nhất cho các
thành phần kinh tế,… Trong giai đoạn này, thu ngân sách nhà nước đã đạt kết quả cao.
Xét về tốc độ tăng thu NSNN, các năm 1990, 1991, 1992 tốc độ tăng thu năm sau cao
hơn năm trước, năm 1992 tốc độ tăng thu tăng 98,1% so với năm 1991. Xét về quy
mô, thu NSNN so với tổng GDP tăng từ 13,8% GDP năm 1991 lên đến đỉnh cao
23,3% GDP năm 1995. Bình quân 5 năm (1991- 1995) thu NSNN đạt 20,5 % GDP 36.
Trong đó số thu thuế, phí và lệ phí chiếm hơn 90% tổng thu NSNN. Tuy nhiên, thu
trong nước trong tổng thu NSNN có xu hướng giảm dần từ 86,77% năm 1991 xuống
còn 73,77% năm 1996. Đạt được nguồn thu nêu trên là do trong giai đoạn này chính
phủ đã “cỡi trói” và giải phong sức sản xuất cho mọi thành phần kinh tế, các hoạt động
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, thương mại, đầu tư đang rầm rộ và sôi động. Ngoài ra,
thời điểm này những tấn dầu thô đầu tiên được xuất khẩu đã góp phần không nhỏ vào
nguồn thu ngân sách nhà nước.
- Về chi ngân sách nhà nước: Nguồn thu ngày một ổn định và theo chiều hướng tăng
lên. Vì vậy, chính phủ cũng đã điều chỉnh cơ chế chi ngân sách phù hợp đảm bảo cân
đối ngân sách nhà nước được cải thiện. Trong Nghị Quyết Quốc hội khóa 8, kỳ họp

36
Xem: Bùi Đường Nghiêu, Đổi mới chính sách tài khóa đáp ứng yêu cầu chiến lược phát triển kinh tế- xã hội
2001-2010, NXB Tài Chính 2000, Trang 28.
thứ 10 ngày 26/ 12/1991 nêu rỏ: “Nhà nước tập trung trong đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng và các cơ sở then chốt của nền kinh tế”. Chiến lược chi tiêu NSNN trong giai
đoạn này tập trung vốn cho xây dựng kết cấu hạ tầng và những khu vực then chốt của
nền kinh tế, quan điểm này rất phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội hiện tại của nước
ta. Bên cạnh đó Nhà nước còn từng bước cắt giảm những khoản chi mang tính bao
cấp, bao biện, không thuộc chức năng và nhiệm vụ của NSNN như: một số nội dung
chi trong sự nghiệp y tế, giáo dục,… để giảm gánh nặng cho NSNN, thực hiện cổ phần
hóa các doanh nghiệp nhà nước nhằm giảm các khoản chi bao cấp cho loại doanh
nghiệp này như: bao cấp qua cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản, mua máy móc thiết bị,
bù lỗ, bù chênh lệch giá,… Chi NSNN trong giai đoạn này đã đạt được những kết quả
như sau: Về quy mô, năm 1990 tổng chi NSNN chiếm 20,5% GDP đến năm 1991
giảm xuống chỉ còn 15,9% GDP, sau đó đột ngột tăng lên 30% GDP vào năm 1993.
Từ năm 1994, đặc biệt sau năm 1995 tổng chi NSNN so với GDP lien tục giảm. Mức
chi bình quân thực tế giai đoạn (1991-1995) đạt 24,5% GDP. Về tốc độ chi NSNN,
tăng mạnh vào các năm 1992 tăng 100% so với năm 1991, năm 1993 NSNN cũng đạt
tốc độ tăng chi cao tăng 69% so với năm 1992 37. Tuy đã có những chuyển hướng tích
cực trong hoạt động chi NSNN nhưng NSNN vẫn chưa khắc phục được tình trạng
phân phối và sử dụng nguồn lực phân tán, dàn trãi, lãng phí, mục tiêu chi cho đầu tư
phát triển được đề cao nhưng phải xếp hang sau mục tiêu kiềm chế lạm phát.
Nhìn chung, tình hình thu chi NSNN trong giai đoạn này là tích cực, phù hợp với xu
hướng tăng trưởng kinh tế của nước ta. Tuy tốc độ tăng chi có cao hơn tốc độ tăng thu
nhưng cân đối NSNN tiến gần tới chỉ tiêu mà Quốc hội đề ra: “Thu trong nước phải
đảm bảo các khoản chi thường xuyên và trả nợ”.
3.1.2.2.2 Về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Trong giai đoạn này, hệ thống phân cấp ngân sách nhà nước mang tính tập trung hóa
cao, quyền quyết định mọi khoản thu đều tập trung vào chính quyền trung ương, đồng
thời ngân sách trung ương đảm nhận phần lớn các khoản chi NSNN. Bình quân cả giai
đoạn này NSTW chi phối khoản 66% tổng chi NSNN, còn NSĐP khoản 34% tổng chi
NSNN. NSĐP được phân cấp quản lý và thực hiện một số nhu cầu chi gắn với nhiệm
vụ của chính quyền địa phương, chủ yếu là quản lý hành chính Nhà nước trên địa bàn
địa phương. Theo đó, địa phương được phân định một số khoản thu cố định từ thuế
nông nghiệp và thuế doanh thu, là hai khoản thu điều tiết giữa ngân sách trung ương và
ngân sách địa phương. Trong quá trình sử dụng ngân sách, địa phương phải tự đảm
bảo cân đối giữa thu và chi, không chi vuợt khả năng của NSNN. Trong trường hợp

37
Xem: http://www.tapchiketoan.com/ngan-hang-tai-chinh/tai-chi-cong/nhung-thach-thuc-trong-can-doi-ngan-
sach-thoi-gia.html
NSĐP thu không đủ chi và không tìm ra biện pháp giải quyết để tự cân đối, thì có thể
tạm vay từ quỹ dự trữ tài chính. Việc phân định như vậy, là phù hợp với năng lực,
trình độ quản lý còn nhiều hạn chế của địa phương và trong điều kiện chuyển đổi còn
nhiều khó khăn của đất nước.
Nhưng việc phân cấp quản lý NSNN trong giai đoạn này cũng còn nhiều bất cập,
chính phủ thường xuyên điều chỉnh tỷ lệ các khoản thu điều tiết giữa NSTW và NSĐP,
một số khoản thu có năm thu để lại cho địa phương sử dụng có năm lại thu về NSTW
(thu cấp quyền sử dụng đất), nhiệm vụ chi của từng cấp cũng thường xuyên thay đổi
(chi cho bộ máy viện kiểm sát nhân dân) là nhiệm của NSTW có năm lại do địa
phương thực hiện. Điều này dẫn đến sự bất ổn, thiếu minh bạch, không cụ thể hóa
trong việc quản lý cũng như phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi của các cấp ngân
sách nhà nước.
3.1.2.2.3 Về bội chi ngân sách nhà nước
Bước vào giai đoạn từ năm 1991-1995, tình hình đất nước đã có nhiều chuyển biến
tích cực, sản xuất và lưu thông hàng hoá đã có động lực mới, tình trạng thiếu lương
thực đã được giải quyết căn bản. Cơ cấu chi NSNN đã dần dần thay đổi theo hướng
tích cực. Nguồn thu trong nước đã đủ cho chi thường xuyên, tình trạng đi vay hoặc
dựa vào phát hành tiền cho chi thường xuyên đã chấm dứt. Trong giai đoạn này, chi
đúng đối tượng, có hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội được đặt ra. Nhờ
những giải pháp trên, số thâm hụt NSNN đã giảm dần qua từng năm và được bù đắp
bằng vay của dân và vay nước ngoài, từ năm 1992 Nhà nước đã có những quy định về
việc chấm dứt phát hành tiền trực tiếp để bù đắp bội chi. Trong giai đoạn từ năm 1991-
1995, tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP chỉ ở mức 1,4% đến 4,17% (1991: 1,4%,
1992:1,5%, 1993: 3,9%, 1994: 2,2% và năm 1995 là 4,17%) 38. Như vậy, có thể thấy
bội chi NSNN trong những năm 1991-1995 là rất thấp được khống chế ở mức chấp
nhận được là 2,63%, thể hiện chính sách thắt chặt chi tiêu của Chính phủ trong thời kỳ
này.
Nhìn chung, thực trang cân đối NSNN ở Việt Nam trong giai đoạn này đã có nhiều
chuyển biến tích cực. Nhà nước đã có nhiều nổ lực trong việc đổi mới chính sách quản
lý và cân đối NSNN để cải thiện khai thác nguồn thu và phân bổ nguồn lực Quốc gia,
thúc đẩy kinh tế phát triển. So với giai đoạn trước, cân đối NSNN ở giai đoạn này đạt
được kết quả rất khả quan như: nguồn thu vào NSNN gia tăng, chi tiêu tiết kiệm và
hợp lý hơn, có sự cân đối giữa nguồn thu và nhệm vụ chi, bội chi giảm và duy trì ở
mức chấp nhận được,…Tuy vậy, cân đối NSNN trong giai đoạn này cũng còn nhiều

38
Xem: Lê Quốc Lý, “Bội chi NSNN trong mối quan hệ với lạm phát ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Tài Chính
số 10/2008, Trang
hạn chế như: cải cách thuế vẫn còn nhiều bất cập, hệ thống thuế chồng chéo, phức tạp
gây khó khăn cho công tác hành thu và quản lý thuế; vay bù đắp bội chi NSNN chỉ chú
trọng giải quyết nhu cầu chi; các nguồn thu và nhiệm vụ chi phân cấp cho chính quyền
địa phương không ổn định hạn chế khả năng chủ động của NSĐP khi cân đối ngân
sách cấp mình, Nhà nước vẫn chưa xóa bỏ hết các khoản chi bao cấp dẫn đến lãng phí
nguồn lực tài chính của đất nước.
3.1.2.2 Thực trạng cân đối ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn từ khi có Luật
ngân sách nhà nước cho đến nay
Với những thay đổi mạnh mẽ trong thời kỳ đầu chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị
trường, nước ta cũng đã đạt được những kết quả khả quan cũng như những khuyết
điểm còn tồn đọng trong cân đối NSNN. Yêu cầu đặt ra cần có một hệ thống văn bản
luật điều chỉnh, quy định rỏ ràng hơn đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch khi thực
hiện cân đối NSNN, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển bền vững. Vì vậy, ngày
20/03/1996 Quốc hội khóa 9, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật ngân sách nhà nước và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1997. Cùng thời điểm đó, các văn bản hướng dẫn
thi hành Luật NSNN cũng được Chính phủ và Bộ tài chính đưa ra để vận dụng thực
hiện. Để phù hợp hơn với thực tế và các luật thuế mới ( thuế thu nhập doanh nghiệp,
thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế gía trị gia tăng) ngày 20/5/1998 Luật NSNN đã được sữa
đổi, bổ sung. Đến năm 2002, đất nước bước vào giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và
tiến tới gia nhập WTO nên Luật NSNN cần phải sửa đổi theo hướng phù hợp với
thông lệ quốc tế, với các cam kết quốc tế về thuế quan, đồng thời phải đảm bảo được
nguồn thu NSNN để có thể chủ động và linh hoạt trong cân đối NSNN. Do vậy, trong
kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa 11 đã thông qua Luật NSNN sửa đổi, bổ sung ngày
16/12/2002 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2004.
3.1.2.2.3 Thực trạng phân cấp quản lý NSNN để thực hiện cân đối NSNN trong hệ
thống NSNN
3.1.2.2.3.1 Vấn đề phân định nhiệm vụ chi và nguồn thu NSNN
Luật NSNN đã xử lý một cách căn bản quan hệ tài chính giữa các cấp chính quyền,
quan hệ giữa NSTW và NSĐP. Phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể, khá rỏ
rang. Trong đó NSTW giử vai trò chủ đạo, đảm bảo các nhiệm vụ chiến lược, có quy
mô toàn quốc. Còn NSĐP ngày càng được mỡ rộng quyền tự chủ hơn trong khai thác
các nguồn thu tại chổ và chủ động bố trí chi tiêu hợp lý. Từ những chính sách đúng
đắn được thể chế bằng luật và pháp lệnh mà nguồn thu ngân sách ở các tỉnh, thành đã
tăng lên một cách bền vững. Kết quả là NSĐP từ chổ chioeems 34% tổng chi NSNN
giai đoạn 1991- 1996 đã tăng lên 45% giai đoạn 1997- 2006. Điều này tạo nền tảng cơ
bản cho địa phương chủ động nhằm cân đối ngân sách tích cực hơn. Qua phân cấp
NSNN , nguồn thu của các địa phương đã được tăng lên rỏ rệt. Nếu trước đây thu
NSĐP chỉ chiếm 20%-22%/tổng thu NSNN thì nay đã chiếm ở mức 42%-44% trên
tổng thu NSNN39. Để đạt được kết quả nêu trên, là cả một sự nổ lực về cân đối nguồn
lực phù hợp phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội. Việc sửa đổi Luật NSNN
đã đánh một bước tiến đáng kể trong việc tăng cường năng lực khai thác, huy động các
nguồn lực tài chính qua NSNN. Với việc sửa đổi hệ thống phân cấp NSNN, theo đó
trao quyền tự chủ nhiều hơn cho chính quyền địa phương, nguồn thu NSNN đã được
các cấp chính quyền địa phương quan tâm nhiều hơn so với trước. Quy định về ổn
định NSĐP theo tỷ lệ % phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách
cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3- 5 năm, đã tạo điều kiện cho các
địa phương yên tâm và tích cực trong việc huy động các nguồn thu trên địa bàn. Quy
định cho phép địa phương được huy động các nguồn vốn tín dụng trong nước cho đầu
tư với mức tối đa 30% vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân
sách cấp tỉnh, đã mỡ đường cho nhiều địa phương trong việc huy động các nguồn vốn
ngoài ngân sách để tham gia đầu tư cho các mục tiêu ngân sách. Kết quả đạt được là
chỉ khoản 3 trong 2 năm đã chiếm 24,0% tổng vốn đầu tư từ NSNN. NSĐP ngày càng
được hưởng nhiều nguồn thu hơn như: các khoản thu từ thuế tài nguyên môi trường
được hưởng toàn bộ, hưởng khoản thu điều tiết từ thuế tiêu thụ đặc biệt,…đã đem lại
kết quả đáng kể cho NSĐP. Nếu như từ năm 2003 trở về trước, cả nước chỉ có 5 địa
phương có khả năng thu vượt chi và có điều tiết về NSTW, thì sau khi điều chỉnh lại
Luật đến nay (dự toán NSNN năm 2009) đã có được 11 địa phương tự đảm bảo được
ngân sách chi của mình mà không cần sự hổ trợ của NSTW. Những kết quả nêu trên
đã góp phần quan trọng vào việc cân đối NSNN.
3.1.2.2.3.2 Vấn đề chuyển giao nguồn lực thông qua bổ sung cân đối cho các cấp
NSNN
Chính phủ sẽ quyết định chuyển giao nguồn lực thông qua bổ sung cân đối cho các địa
phương khi tỷ lệ điều tiết nhỏ hơn 100%. Như vậy, việc bổ sung cân đối cho các tỉnh
nghèo, đóng góp vào NSTW của các tỉnh giàu để thực hiện cân đối trong hệ thống
NSNN dựa trên đánh giá mức độ chênh lệch giữa nguồn thu NSĐP và nhu cầu chi
NSĐP. Nghĩa là NSTW sẽ cân đối thay cho NSĐP nếu xãy ra tình trạng thiếu hụt.
Theo số liệu thống kê, trong giai đoạn 1996- 2003, cả nước có trên 60 tỉnh-thành,
nhưng chỉ có 5 tỉnh, thành tự cân đối được ngân sách , còn lại trung ương phải cấp bổ
sung. Từ năm 2004 trở đi , cùng với chính sách đẩy mạnh phi tập trung hóa trong quản
lý NSNN, địa phương được mỡ rộng quyền tự chủ hơn. Nhờ vậy số địa phương tự cân

39
Xem: Lê Quốc Lý, “Phân cấp tài chính cho chính quyền địa phương trong nền kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tê”, Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 12/2008, Trang 8.
đối được ngân sách tăng lên 15 địa phương. Tuy vậy, trong 49 địa phương không tự
cân đối được ngân sách , giai đoạn 2004-2006, trung bình mỗi năm có tới 27 địa
phương nhận bổ sung cân đối từ NSTW với mức bổ sung > 50% chi trong cân đối của
NSĐP. Mặt khác, số bổ sung cho NSĐP chiếm bình quân khoảng 31% thu NSTW40.
Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến cân đối NSNN. Cơ chế NSTW cân đối thay cho
NSĐP đã làm hạn chế tính công bằng giữa các cấp ngân sách trong hệ thống
NSNN.Vấn đề cân đối NSNN không được phản ánh đúng thực tế, vì địa phương
thường cố tình đánh giá thấp nguồn lực hơn thực tế để tạo ra sự linh hoạt chính mình
trong phân bổ nguồn lực. Điều nầy ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính kỷ luật tài khóa
tổng thể trong việc quyết định phan bổ nguồn lực và thực hiện các mục tiêu của chính
sách tài khóa. Thực tế cho thấy năm 1998, ngoại trừ Hà Nội và Hải Phòng, số thực thu
và thực chi của các địa phương cao hơn nhiều so với dự toán: khoảng 20% ở Đồng
bằng song Hồng và 43% ở Tp.HCM và các vùng phụ cận. Tính bình quân cho tất cả
các tỉnh số thực chi vượt dự toán là 27%. Qua đó, NSĐP phương chưa thật sự phát huy
được khả năng chủ động đang có của mình, chưa tích cực triệt để khai thác nguồn thu,
chưa kê khai xác thực nguồn lực của địa mà còn trông chờ quá nhiều vào cơ chế bổ
sung cân đối ngân sách của nhà nước.Chính phủ cần có những biện pháp xử lý các vấn
đề còn tồn đọng nêu trên để vấn đề cân đối NSTW được đảm bảo hơn.
3.1.2.2.4 Bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam kể từ khi có luật ngân sách nhà
nước cho đến nay
Trong những năm qua, nước ta đã kiểm được mức bội chi NSNN ở giới hạn cho phép
(không quá 5% GDP/năm) và nguồn vay chủ yếu chi cho đầu tư phát triển, đây là một
thành công đáng ghi nhận trong vấn đề kiểm soát bội chi NSNN ở nước ta. Giai đoạn
từ năm 1997-2000, tình hình thu chi NSNN đã có nhiều chuyển biến tích cực, thu
không những đủ chi cho thường xuyên mà còn dành một phần cho đầu tư phát triển. Vì
vậy, thâm hụt NSNN được khống chế ở mức thấp. Tuy nhiên, do tác động của cuộc
khủng hoảng kinh tế, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, NSNN phải chi nhiều thu ít dẫn
đến bội chi NSNN trong giai đoạn này thay đổi liên tục, tỉ lệ bội chi NSNN ở mức từ
3,0% GDP năm 1996 lên đến 4,95% GDP năm 2000 (năm 1996 là 3,0%, năm 1997 là
4,05%, năm 1998 là 2,49%, năm 1999 là 4,37% năm 2000 là 4,95%). Đến giai đoạn từ
năm 2001- 2007, bội chi NSNN được duy tì ở mức 5% GDP và thực hiện ở mức 4,9%-
5% GDP (bao gồm cả tiền trả nợ gốc và không bao gồm các khoản chi ngoài dự toán41.
Còn theo lãnh đạo kiểm toán Nhà nước cho biết, mức bội chi NSNN năm 2008 là

40
Xem: Dương Thị Bình Minh và Bùi Thị Mai Hoài, “Cân đối ngân sách nhà nước nhìn từ góc độ lý luận và
thực tiễn”, Tạp chí tài chính tháng 10/2006, Trang 36.
41
Xem: http://www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/07/05/0507008-2/.
62.200 tỷ đồng bằng 4,95% GDP. Đây là vấn đề rất đáng lo ngại để thực hiện cân đối
NSNN, vì mức bội chi hàng năm không có chiều hướng giảm xuống và theo dự kiến
bội chi NSNN năm 2009 có thể là 83.300 tỷ đồng tăng 31,8% năm 200842.
Với kết quả bội chi NSNN như trên, ta thấy chính phủ cũng đã có nhiều nỗ lực trong
việc duy trì và đảm bảo bội chi NSNN ở mức chấp nhận được thúc đẩy kinh tế tăng
trưởng. Trong xử lý bội chi NSNN, các nguyên tắc cân đối NSNN được tuân thủ
nghiêm chỉnh, các biện pháp bù đắp bội chi theo quy định của luật được vân dụng một
cách hiệu quả, Nhà nước đã chấm dứt hoàn toàn việc phát hành tiền trực tiếp để tài trợ
bội chi NSNN, thay vào đó là tăng cường phát hành trái phiếu chính phủ và tận dụng
nguồn vốn vay nước ngoài dưới hình thức ODA nhằm đảm bảo đủ nguồn lực tài chính
để cân đối NSNN. Theo cách tính bội chi NSNN của Việt Nam, hàng năm mức bội chi
ngân sách được công bố không vượt quá 5% GDP. Nhưng có những khoản chi như:
chi cho công trình giao thông, thủy lợi và kiên cố hóa trường học thông qua trái phiếu
chính phủ, công trái giáo dục lại để ngoài cân đối NSNN, vì vậy thực tế con số bội chi
NSNN này lớn hơn 5%. Nếu xác định bội chi theo thông lệ quốc tế thì kể cả những
khoản chi để ngoài ngân sách, bội chi NSNN Việt Nam bình quân giai đoạn 1997-
2007 đã vượt con số 5%. Qua đó, tính minh bạch trong cân đối NSNN chưa vân dụng
triệt để khi xác định tỷ lệ bội chi NSNN. Bên cạnh đó, vấn đề bội chi NSNN trong thời
gian cũng tồn đọng một số vấn đề mà chính phủ ta cần phải xem xét, cân nhắc để có
những giải pháp tốt hơn khi xử lý bội chi NSNN trong những năm sắp tới như: số tiền
vay đăc biệt là vay nước ngoài cho đầu tư phát triển chưa được quản lý chặt chẽ, chưa
chú trọng đến mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên tạo áp lực
bội chi ngân sách nhà nước (nhất là ngân sách địa phương), NSĐP vẫn có bội chi
những mức bội chi này lại không được tính vào bội chi NSNN…
3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
3.2.1 Thuận lợi, khó khăn trong cân đối NSNN và định hướng cân đối NSNN
trong thời gian tới
-Thuận lợi: Hệ thống chính trị ổn định, Đảng và Nhà nước có sự quan tâm đúng mức
đến đề cân đối NSNN nhằm hướng tới một NSNN bền vững, ổn định làm điều kiện để
thực hiện tốt các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội. Những quy định pháp luật về cân
đối NSNN ngày càng hoàn thiện hơn giúp cho tiến trình thực hiện cân đối NSNN ngày
càng thuận lợi hơn, với sự ra đời, sữa đổi và bổ sung của Luật NSNN. Hội nhập kinh
tế quốc tế đã mỡ ra nhiều hướng phát triển cho nền kinh tế nước, thu hút đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam làm môi trường đầu tư được cải thiện, từ đó đã tạo ra sự tăng


42
Xem: http://www.qdnd.vn/qdnd/baongay.chinhsachkinhte.45034.qdnd
trưởng mạnh mẽ trong nguồn thu NSNN. Chính phủ đã chú trọng đến khai thác nguồn
thu nội địa trong điều kiện nền kinh tế nhiều biến động. Nhà nước đã có những điều
chỉnh về thuế, cơ chế thu chi khi tham gia vào WTO để vấn đề cân đối NSNN ngày
được đảm bảo hơn.
- Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi có được, nước ta cũng gắp nhiều khó khăn để
cân đối NSNN trong thời gian sắp tới. Nguồn thu ngân sách nhà nước có thể không ổn
định, chi têu NSNN có thể tăng lên, do đất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập kinh
tế quốc tế Nhà nước phải thực hiện các cam kết quốc tế về thuế quan, do ảnh hưởng từ
những biến động và suy thoái của nền kinh tế thế giới nguồn ODA có thể bị sụt giảm,
Nhà nước phải hỗ trợ nhiều cho nền kinh tế như: trợ gía xăng dầu, nông sản,…Năng
lực và trình độ quản lý của bộ máy nhà nước còn nhiều yếu kém. Những vấn đề trên có
thể là những trở ngại lớn để nước ta thực hiện cân đối NSNN.
- Định hướng cân đối NSNN trong thời gian tới: Từ những thuân lợi và thách thức
trong thời gian sắp tới, nước ta cần phải định hướng xây dựng và thực hiện cân đối
NSNN bền vững đủ sức đương đầu với những bất ổn trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Nhà nước cần đánh giá và khai thác tốt nguồn thu, phân bổ và sử dụng nguồn lực hợp
lý để đạt được các mục tiêu kinh tế- xã hội đề ra, thực hiện chi tiêu hợp lý tránh lãng
phí, xử lý tốt vấn đề bội chi NSNN và những vấn đề còn bất cập của cơ chế phân cấp
quản lý các cấp NSNN trong hệ thống NSNN. Đảm được các vấn đề nêu trên thì cân
đối NSNN trong thời gian tới sẽ đạt được nhiều kết quả khả quan.
3.2.1 Tăng cường kiểm soát bội chi NSNN và biện pháp bù đắp bội chi NSNN đảm
bảo vấn đề cân đối NSNN
3.2.1.1 Tăng cường công tác kiểm soát bội chi NSNN
Chính phủ cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của mình hơn nữa trong việc kiểm soát
bội chi NSNN. Vì thực tế một trong những nguyên nhân dẫn đến vấn đề bội chi NSNN
( tức là thu vượt quá chi NSNN) là do sự yếu kém trong năng lực và trình độ quản lý
của bộ máy nhà nước, không phát hiện và xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm
nguyên tắc và dự toán NSNN đã đề ra, nguồn vốn vay bù đắp bội chi chưa sử dụng
hiệu quả. Vì vậy trong thời gian tới, Chính phủ cần tăng cường rà soát, cắt giảm những
khoản chi tiêu NSNN chưa thật cần thiết và kém hiệu quả, từ đó có sự chuyển đổi linh
hoạt trong chi tiêu NSNN để không làm mất cân đối NSNN, không lãng phí nguồn thu
NSNN vào những hoạt động chi không cần thiết, không hiệu quả. Nhà nước phải kiểm
soát chặt chẽ ngay từ khâu vay vốn để bù đắp bội chi và sử dụng cho đầu tư phát triển,
duy trì mức bội chi cho phép hàng năm do Quốc hội quyết định. Bên cạnh đó, Nhà
nước cần tạo điều kiện cho người dân tham gia giám sát, theo dỏi quá trình thực hiện
nhiệm vụ ngân sách của các cấp, các ngành bằng cách Nhà nước phải cung cấp những
thong chính xác, đầy đủ và kịp thời cho người dân biết qua các phương tiện truyền
thanh, báo chí. Có sự phối hợp giám sát chặt chẽ này sẽ góp phần thúc đẩy tính minh
bạch và trách nhiệm của người sử dụng và quản lý NSNN.
Vấn đề vay nợ ở địa phương cũng phải được kiểm soát và quản lý hiệu quả hơn,
không để tình trạng địa phương còn kết dư ngân sách mà vẫn tiếp tục đi vay nợ. Mục
tiêu mà NSNN năm 2009 hướng tới là không cho bôi chi NSNN gia tăng mà kiềm chế
và giảm xuống ở mức 4,8% GDP. Thực hiện tốt được các vấn đề nêu trên sẽ góp phần
giảm bớt bội chi NSNN, giảm bớt gánh nặng về nợ cho Nhà nước và thực hiện tốt
nhiệm vụ ngân sách đề ra. Để thực hiện tốt chức năng kiểm soát NSNN, Quốc hội cần
phải chú trọng ngay từ khâu lập dự toán, cụ thể hóa từng khoản chi và phân chia nguồn
thu hợp lý và trong khâu chấp hành và quyết toán NSNN cần có sự đồng tâm nhất trí
cao của các Bộ, ngành và địa phương giám sát thực hiện dự toán đó. Bên cạnh đó cần
thực hiện triệt để chính sách có thu mới có chi, không để bội chi NSNN tăng quá cao,
nếu cần thiết nên giảm tỷ lệ bội chi NSNN so với GDP dưới mức 5%, ở khoảng 3-4%,
đây sẽ là mức bội chi NSNN tích cực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, phát triển. Đồng
thời, tiến tới tiến tới tính toán cân đối các nguồn phát hành trái phiếu, công trái giáo
dục một cách hiệu quả hơn, nếu chưa thật cần thiết hoặc chưa đủ thủ tục cắt giảm 43.
3.2.1.2 Hoàn thiện biện pháp bù đắp bội chi NSNN đảm bảo cân đối NSNN
Theo Luật NSNN năm 2002, biện pháp bù đắp bội chi NSNN là vay nợ (trong và
ngoài nước). Đây là biện pháp mang lại hiệu quả cao nhưng không dẫn đến lạm phát
và nhà nước có thể huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để đảm bảo cân đối
NSNN. Nhằm khắc phục những yếu kém còn tồn đọng trong thời gian tới cần có một
số thay đổi về cách thức vay nợ và sử dụng nguồn vay này hợp lý hơn để vấn đề xử lý
bội chi NSNN được đảm bảo theo những mục tiêu năm ngân sách đặt ra.
- Về hoạt động vay nợ trong nước: Để phù hợp với cơ chế chỉ bội chi cho đầu tư
phát triển, cần giảm phát hành các loại trái phiếu chính phủ kỳ hạn 1 năm và 2 năm,
thay vào đó là phát hành trái phiếu chính phủ 5 năm; 10 năm; 20 năm. Cũng cố và mỡ
rộng thị trường trái phiếu chính phủ và thị trường trái phiếu chính quyền địa phương
theo hướng nâng cao tính thanh khoản của thị trường, mỡ cữa thị trường trái phiếu thu
hút nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư trên các lĩnh vực trái phiếu đồng hoàn thiện hệ
thống thuế đánh vào thu nhập từ trái phiếu. Nhờ đó, Chính phủ sẽ linh hoạt hơn trong
việc cân đối nhu cầu vay nợ để bù đắp bội chi.
- Về hoạt động vay nợ nước ngoài: Vay nợ nước ngoài để bù đắp bội chi NSNN
được thể hiện qua các khoản vay ưu đãi. Do vậy để tăng tính chủ động trong cân đối


43
Tạp chí ngân hàng số 10/2008
NSNN, Chính phủ cần làm hài hòa các thủ tục tiếp nhận các nguồn vốn ODA và tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chương trình, dự án ODA giữa Việt Nam và
các nhà tài trợ.
Tuy vậy, cơ cấu vay lãi này là phải trả nợ nếu về lâu dài không kiểm soát tốt được bội
chi NSNN sẽ tăng gánh năng về nợ cho chính phủ. Vì vậy, hoàn thiện các biện pháp
vay nợ để thuận lợi hơn khi chính phủ thực hiện vay nợ bù đắp bội chi, chứ không
khuyến khích tăng bội chi và tăng nhu cầu vay nợ lên. Nhà nước cần đảm bảo mức vay
nợ trong nước chiếm tỷ trong lớn để giảm sự lệ thuộc vào nước ngoài, khai thác được
nội lực. Trong thời gian sắp tới, cần phải xác định mối tương quan giữa vay nợ trong
nước và vay nợ nước ngoài để đảm bảo bù đắp bội chi NSNN đạt hiệu quả nhất.
Bên cạnh đó, cần phải nghiên cứu và tìm hiểu nguyên dẫn đến bội chi NSNN để từ đó
lựa chọn những giải pháp cho phù hợp. Chính phủ có thể linh hoạt xử lý bội chi NSNN
bằng cách cắt giảm những khoản chi tiêu bất hợp lý, không hiệu quả và phát triển
nguồn thu để giảm bớt thâm hụt NSNN. Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm
trong cách quản lý và sử dụng NSNN, tránh lãng phí và tham nhũng góp làm giảm bội
chi NSNN đạt mục tiêu trong năm ngân sách. Chính phủ cần nghiên cứu thay đổi
phương pháp xác định bội chi NSNN đầy đủ và toàn diện phù hợp với thông lệ quốc tế
phản ánh đúng thực chất của bội chi NSNN.
3.2.2 Hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN để đảm bảo cân đối trong hệ thống
NSNN
Qua thực trạng phân cấp quản lý NSNN, vấn đề đáng chú ý gây nhiều bất cập làm ảnh
hưởng đến sự cân đối tổng thể trong NSNN đó là: NSTW thực hiện cân đối thay cho
NSĐP khi có thiếu hụt xãy ra ở địa phương. Sau những ưu điểm, cơ chế này đã tạo cho
địa phương quá bị động và không đảm bảo tính trách nhiệm cũng như minh bạch trong
quá trình sử dụng và quản lý nguồn lực tài chính ở địa phương. Vì vậy trong thời gian
tới cần khắc phục tình trạng NSTW cân đối thay cho NSĐP trên cơ sở tăng tính chủ
động và trách nhiệm của địa phương.
+ Mỡ rộng phân định nguồn thu và xác định rỏ ràng nhiệm vụ chi của từng cấp
chính quyền phù hợp với chức năng và năng lực của từng cấp chính quyền địa
phương
Để tăng nguồn lực cho địa phương, nâng cao khả năng chủ động và tích cực trong khai
thác nguồn thu nhằm giúp địa phương linh động hơn trong xử lý cân đối NSĐP mình
giảm bớt sự lệ thuộc vào sự hổ trợ của NSTW, Chính phủ cần thay đổi và mỡ rộng cho
địa phương một số nguồn thu gắn liền với kết quả tăng trưởng kinh tế trên địa bàn đó,
theo hướng chuyển dần một số khoản thu điều tiết giữa trung ương và địa phương sang
khoản thu địa phương được hưởng 100%, để kích thích địa phương nuôi dưỡng và
khai thác tốt nguồn thu ở địa phương mình. Như đối với Thuế thu nhập cá nhân là
khoản thu điều tiết giữa trung ương và địa phương, với mục đích nhà nước có thể thực
hiện vai trò điều tiết thu nhập tạo công bằng cho xã hội, có thể chuyển sang nguồn thu
100% cho NSĐP, vì đây là nguồn thu phát sinh chủ yếu ở địa phương nếu địa phương
được giữ lại hoàn toàn thì sẽ thúc đẩy địa phương quan tâm hơn, quản lý chặt chẽ
nguồn thu này hơn và trong tương lai nguồn thu này sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.
Trong thực tế nguồn thu này chưa đạt hiệu quả cao, vì tình trạng trốn thuế vẫn còn xãy
ra, kê khai thuế không đúng sự thật, gần đây với hiệu lực của Luật thuế thu nhập cá
nhân mới vào năm 2009 vấn đề này sẽ được xử lý triệt để hơn.
Bên cạnh đó, cần phải nâng tỷ lệ thu NSĐP trong NSNN lên để đảm báo tính chủ động
của địa phương trong điều kiện hội kinh tế thì nên cho địa phương quyết định thuế suất
của một số sắc thuế hoặc tự đặt ra sắc thuế riêng cho mình. Vì mỗi địa phương có điều
kiện kinh tế- xã hội khác nhau, chính địa phương đó sẽ quản lý được vấn đề là mỗi loại
thuế ứng với mức thuế suất bao nhiêu là khả thi và đạt mức thu hiệu quả nhất.Tuy
nhiên, biện pháp này có vẽ không khả thi và chưa phù hợp với điều kiện nước ta hiện
nay, vì năng lực và trình độ quản lý của chính quyền địa phương còn yếu kém. Nếu
thực hiện không tốt sẽ gây ra nhiều bất cập hơn, làm giảm tính thống nhất trong quản
lý, điều hành hệ thống thuế của cả nước, tạo sự cạnh tranh về thuế giữa các địa
phương.
+ Hoàn thiện cơ chế bổ sung cân đối NSNN nhằm khắc phục vấn đề NSĐP còn
quá lệ thuộc vào sự hỗ trợ của NSTW, mà không linh động tận dụng khả năng vốn
có của địa phương
Nhà nước chỉ nên xem bổ sung cân đối NSNN là giải pháp cuối cùng khi địa phương
đã nỗ lực hết mình trong khai thác nguồn thu, nhiệm vụ chi và nhu cầu chi là cần thiết
không thể cắt giảm và tiết kiệm hơn nữa, mà địa phương không thể tự cân đối được.
Có như vậy, mỗi địa phương mới phát huy tính chủ động và sáng tạo của mình trong
khai thác và sử dụng nguồn lực của địa phương. Chính quyền địa phương sẽ không
còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của ngân sách cấp trên nữa, thay vào đó sẽ
tích cực hơn trong công tác giải quyết thiếu hụt NSĐP, giảm bớt gánh nặng cho
NSNN. Bên cạnh đó, cần nâng cao trách nhiệm và tính minh bạch của mỗi địa phương
trong việc kê khai và dự toán khả năng thu chi của địa phương một cách chính xác, để
chính phủ có những giải pháp hợp lý bổ sung cân đối ngân sách cho mỗi địa phương.
Để hoàn thiện cơ chế bổ sung cân đối NSNN ngày càng đạt hiệu quả hơn, Nhà nước ta
cần quán triệt theo tinh thần không bổ sung cân đối toàn bộ những thiếu hụt của
NSĐP, mà để lại một phần cho địa phương tự bù đắp để tăng cường tính trách nhiệm
và khả năng chủ động cho địa phương. Việc xác định tỷ lệ bổ sung cân đối cho mỗi địa
phương là khác nhau, có thể dựa vào điều kiện và tiềm lực kinh tế- xã hội của từng
vùng mà điều chỉnh cho hợp lý. Hiện nay chính quyền địa phương có nhiều quyền tự
chủ hơn trong việc huy động cũng như sử dụng nguồn lực tài chính, vì vậy việc để lại
khoảng 10%-20% phần thiếu hụt cho NSĐP tự bù đắp là có tính khả thi cao, địa
phương có thể thực hiện được bằng cách nuôi dưỡng, khai thác tốt nguồn thu, giảm
những chi tiêu không hợp lý hoặc đi vay nợ theo luật định. Trong cơ chế bổ sung này,
cần ưu tiên cho những địa phương có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn, yếu kém và
thực hiện bổ sung có mục tiêu nhằm hỗ trợ địa phương phát huy được các thế mạnh và
khắc phục được những yếu kém.

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản