Đề tài - Chỉ đạo việc dạy học bồi dưỡng phân môn Tập làm văn cho HS khối 3,4 5

Chia sẻ: Nguyenhoang Phuonguyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:14

0
217
lượt xem
89
download

Đề tài - Chỉ đạo việc dạy học bồi dưỡng phân môn Tập làm văn cho HS khối 3,4 5

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong bậc học tiểu học, bốn kĩ năng quan trọng mà bộ môn Tiếng Việt, môn học cơ bản nhất của bậc học cần đạt là : nghe, đọc , nói, viết . Trong đó kĩ năng viết là kĩ năng quan trọng nhất và cũng khó rèn luyện cho học sinh nhất. Để rèn kĩ năng viết cho học sinh, người dạy phải dạy tốt các phân môn như chính tả , luyện từ và câu, tập viết và tập làm văn. Để viết đẹp và viết đúng, người thầy phải chú trọng rèn kĩ năng cho học sinh...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài - Chỉ đạo việc dạy học bồi dưỡng phân môn Tập làm văn cho HS khối 3,4 5

  1. Đề tài Chỉ đạo việc dạy học bồi dưỡng phân môn Tập làm văn cho HS khối 3,4 5 Chương I Đặt vấn đề 1. Lý do chọn đề tài. a. Cơ sở lí luận : Trong bậc học tiểu học, bốn kĩ năng quan trọng mà bộ môn Tiếng Việt, môn học cơ bản nhất của bậc học cần đạt là : nghe, đọc , nói, viết . Trong đó kĩ năng viết là kĩ năng quan trọng nhất và cũng khó rèn luyện cho học sinh nhất. Để rèn kĩ năng viết cho học sinh, người dạy phải dạy tốt các phân môn như chính tả , luyện từ và câu, tập viết và tập làm văn. Để viết đẹp và viết đúng, người thầy phải chú trọng rèn kĩ năng cho học sinh khi dạy tập viết và chính tả. Còn muốn dạy cho học sinh viết đúng và hay thì chúng ta phải đặc biệt chú ý dạy tốt hai phân môn là luyện từ và câu và tập làm văn. Trong hai phân môn này, nhiều giáo viên cho rằng tập làm văn là môn khó dạy nhất, khó rèn kĩ năng cho học sinh nhất vì đòi hỏi học sinh phải có năng khiếu mới viết văn hay được. Nội dung bồi dưỡng làm văn nhằm trau dồi vốn sống. vốn văn chương, nâng cao năng lực cảm nhận và diễn tả ở học sinh . Học sinh luyện viết văn theo theo kiểu bài đã học. Các kiểu bài cơ bản ở tiểu học là kể chuyện, miêu tả, viết thư . Trong các lần kiểm tra định kì hay hội thi học sinh giỏi cấp trường, thi học sinh giỏi giải Nguyễn Hiền dành cho HS lớp 4 , học sinh giỏi bậc tiểu học cấp thành phố hằng năm, phần tập làm văn luôn giữ một điểm số rất cao nhưng ít có học sinh đạt điểm tối đa về bài làm văn, số học sinh đạt điểm giỏi bài văn viết khá ít, chỉ chiếm khoảng 10 % hội thi HS giỏi các cấp , có khi còn thấp
  2. hơn. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của bản thân tôi, là một giáo viên dạy văn hoá nhiều năm và đảm nhận công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nhiều năm, thì dạy tập làm văn cũng không quá khó hoặc chỉ có học sinh năng khiếu mới viết văn hay được. Tất cả đều có thể rèn luyện được nếu chúng ta có biện pháp và cách thức giảng dạy phù hợp. Sau khi đảm nhận chức vụ phó hiệu trưởng ở trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc , tôi đã dùng những kinh nghiệm trong giảng dạy của mình để chỉ đạo giáo viên phụ trách mảng bồi dưỡng học sinh giỏi cách dạy tập làm văn hiệu quả hơn. b.Cơ sở thực tiễn Trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc chỉ có 18 lớp với số học sinh khoảng 500 em, trong đó học sinh khối 3,4,5 khoảng 340 em. Toàn trường tổ chức được 3 lớp học bồi dưỡng cho đối tượng học sinh giỏi của 3 khối lớp này. Trước đây, nhà trường tổ chức bồi dưỡng cho các em vào chiều thứ bảy hoặc sáng chủ nhật nhưng sau khi có công văn hướng dẫn công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của Sở GD & ĐT thành phố Đà Nẵng thì nhà trường đã sửa đổi lịch bồi dưỡng cho phù hợp và việc dạy đã trở thành công việc chung của mọi giáo viên , không tập trung vào một số ít như trước nữa. Chính vì thế mà kịp thời chỉ đạo công tác dạy và học mảng bồi dưỡng học sinh giỏi là một yêu cầu cấp thiết của bộ phận chuyên môn hiện nay. Đó là lí do tôi chọn đề tài này để thực nghiệm việc chỉ đạo chuyên môn trong trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc. Chương II Thực trạng việc dạy bồi dưỡng phân môn tập làm văn cho học sinh giỏi ở trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc. 2.1. Thực trạng giảng dạy của giáo viên Qua kiểm tra việc dạy học của các giáo viên trong các tiết dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt , tôi nhận thấy giáo viên còn vướng mắc các hạn chế sau :
  3. * Chưa sáng tạo trong việc tổ chức các hình thức khai thác kiến thức môn học , giúp học sinh lĩnh hội được cách viết văn theo theo kiểu bài . * Chưa giúp học sinh thấy được mối liên kết giữa các kiểu bài , sự hỗ trợ lẫn nhau của các dạng bài được học để viết một bài văn hay. * Đề bài luyện tập của giáo viên ra cho học sinh rèn luyện cũng thiếu sự sáng tạo, còn lệ thuộc vào sách giáo khoa , chưa biết tạo cơ hội cho học sinh phát huy óc tưởng , trí sáng tạo của mình. 2.2. Thực trạng học tập của học sinh. Học sinh của trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc nhìn chung chăm chỉ học tập nhưng do xuất thân từ tầng lớp lao động nghèo, ít có sự hướng dẫn bảo ban của cha mẹ nên chất lượng đầu vào nói chung không cao như các trường lân cận như Trần Cao Vân hay Hoa Lư. Cũng với sự nỗ lực như nhau, cũng với nội dung bài giảng như nhau nhưng kết quả của học sinh Nguyễn Bá Ngọc đạt được lại thấp hơn rất nhiều so với học sinh trong những năm tôi dạy ở đấy. Học sinh thường lệ thuộc vào dàn ý của cô giáo, thiếu sự sáng tạo. Bài làm của các em thiếu nét riêng, ít cảm xúc và chưa vận dụng tốt các ngữ liệu mẫu ở sách giáo khoa để thực hành. Khâu đọc đề và xác định yêu cầu của đề, học sinh thường bỏ qua nên bài làm chưa đi đúng yêu cầu trọng tâm, cách diễn đạt còn vụng, câu liệt kê, lủng củng, không có sự vận dụng từ các bài tập rèn kĩ năng của luyện từ và câu vào bài viết...Vì thế, trong các hội thi học sinh giỏi , kết quả của các em còn hạn chế, chưa đạt được như mong muốn . 2.3. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng dạy học trên Tôi có thể đánh giá các tồn tại nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân sau đây : a. Thời gian triển khai nội dung chương trình thay sách chưa lâu, đặc biệt là khối 4 và 5 nên giáo viên chưa nắm bắt hết các yêu cầu về kiến thức và kĩ năng cần đạt, đặc biệt là ở phân môn tập làm văn.
  4. b. Từ quan điểm biên soạn sách là tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh và phương pháp giảng dạy chủ yếu là coi trọng phần thực hành, qua luyện tập thực hành, học sinh rút ra kiến thức chủ yếu của bài học. Phần bài học không có định nghĩa, không có quy tắc nên GV còn lúng túng khi nâng từ kiến thức cụ thể lên thành kiến thức tổng quát. c. Nội dung chương trình tập làm văn ở tiểu học được biên soạn theo kiểu kết hợp giữa văn chương nghệ thuật và văn bản nhật dụng để học sinh học tập và thực hành. Cứ vài tiết học về miêu tả hay kể chuyện thì có 1 tiết điền vào đơn từ, viết đơn, tranh luận hay thuyết trình... Việc đan xen giữa hai đơn vị kiến thức có mặt ưu nhưng cũng có mặt hạn chế. Nhiều giáo viên chưa xâu chưỗi được kiến thức cho học sinh, học sinh nhớ cái này , quên cái kia là điều thường thấy trong các bài văn nói và viết. d. Mỗi tuần , giáo viên chỉ dạy cho học sinh khối 3,4,5 khoảng 2 tiết về các nội dung nâng cao ở môn Tiếng Việt. Thời gian đó, giáo viên tập trung luyện chính tả , luyện từ và câu, thời gian dành cho luyện tập làm văn rất ít. Do đó chất lượng học tập làm văn không được nâng cao. Chương III Giải quyết vấn đề 3.1. Một số biện pháp chỉ đạo giúp giáo viên dạy bồi dưỡng nâng cao chất lượng học tập phân môn tập làm văn khối 3,4,5. 3.1.1. Dựa vào các bài thơ để giúp học sinh rèn luyện kĩ năng kể chuyện. Văn kể chuyện , ở tiểu học, được giảng dạy từ lớp 3 nhưng trọng tâm của thể loại này được học ở lớp 4. Kiểu bài kể chuyện được xây dựng với những đề bài cụ thể và những kĩ năng thực hành đặt ra cho từng đề bài cụ thể đó. Ở các tiết học chính khoá, GV đã dạy cho học sinh một số kĩ năng kể chuyện như cốt chuyện, nhân vật trong câu chuyện, tả ngoại hình nhân vật, tả hoạt động, tả nội tâm, ... Thông qua một số dạng đề bài như : Kể lại chuyện đã nghe, đã học, kể lại chuyện được chứng kiến tham gia, kể chuyện thay lời nhân vật, kể chuyện dựa vào
  5. cốt chuyện có sẵn, kể chuyện theo các nhân vật cho sẵn, viết tiếp câu chuyện cho hoàn chỉnh... học sinh được rèn kĩ năng kể chuyện khá cụ thể cho từng kiểu , từng dạng. Tuy nhiên thời gian dành cho luyện tập của từng dạng không nhiều. Các dạng bài kể chuyện này còn mờ nhạt trong học sinh , đặc biệt là học sinh trung bình và yếu. Trong các lớp bồi dưỡng, tôi đã chỉ đạo giáo viên phụ trách, thực hiện một biện pháp giúp học sinh rèn kĩ năng kể chuyện và tổng hợp được nhiều yêu cầu của kể chuyện vào bài viết mà ít mất thời gian đầu tư. Đó là dựa vào một số bài thơ có tính chất tự sự để yêu cầu học sinh kể chuyện . Giaó viên có thể dùng một bài thơ nhiều lần để củng cố luyện tập nhiều kĩ năng, mỗi bài tập 1 yêu cầu khác nhau, sau đó mới yêu cầu học sinh kể toàn bộ câu chuyện bằng lời của mình. Ví dụ 1 : Dựa vào bài thơ Qua Thậm Thình của Nguyễn Bùi Vợi, em hãy kể lại câu chuyện nhằm giải thích nguyên nhân sinh ra tên gọi của làng . Nội dung bài thơ như sau: Qua Thậm Thình. Đi qua xóm núi Thậm Thình Bâng khuâng nhớ nước non mình nghìn năm Vua Hùng một sáng đi săn Trưa tròn bóng nắng nghỉ chân chốn này Dân dâng một quả xôi đầy Bánh chưng mấy cặp , bánh dày mấy đôi Đẹp lòng vua phán bầy tôi Tìm đất kén thợ định nới xây nhà Trăm cô gái tựa tiên sa Múa chày đôi với chày ba rập rình.
  6. Đêm đêm tiếng Thậm tiếng Thình. Cối gạo đầy cả nghĩa tình nước non...... Để học sinh làm tốt đề bài luyện tập này, giáo viên nên chẻ nhỏ các yêu cầu ra để học sinh thực hành. Cụ thể là : Bài tập 1: Dựa vào bài thơ, hãy tả ngoại hình nhân vật Vua Hùng trong câu chuyện. Bài tập 2: Dựa vào bài thơ, hãy kể lại cuộc nói chuyện của Vua Hùng với các quan và dân xóm Núi bàn về việc làng giã gạo nuôi quân. Bài tập 3: Dựa vào bài thơ , hãy tả nội tâm nhân vật Vua Hùng khi được dân chúng tiếp đón nồng nhiệt. Bài tập 4 : Dựa vào bài thơ , em hãy tả cảnh các cô gái xóm núi say sưa giã gạo nuôi quân. Sau các bài tập nhỏ trên, giáo viên mới yêu cầu học sinh về nhà làm lại cả bài. Có như thế, các em mới áp dụng được các kĩ năng đã học vào bài làm văn viết. Ví dụ 2: Dựa vào bài thơ Gọi bạn , em hãy kể lại câu chuyện về tình bạn thật xúc động của Bê Vàng và Dê Trắng. Nội dung bài thơ là : Gọi bạn. Tự xa xưa thuở nào Trong rừng xanh sâu thẳm Đôi bạn sống bên nhau Bê Vàng và Dê Trắng Một năm trời hạn hán
  7. Suối cạn , cỏ héo khô Lấy gì nuôi đôi bạn Chờ mưa đến bao giờ Bê Vàng đi tìm cỏ Lang thang quên đường về Dê Trắng thương bạn quá. Chạy khắp nẻo tìm Bê Đến bây giờ Dê Trắng Vẫn gọi hoài : Bê ! Bê ! Để học sinh làm tốt đề bài luyện tập này, giáo viên nên chẻ nhỏ các yêu cầu ra để học sinh thực hành. Cụ thể là : Bài tập 1: Dựa vào bài thơ, hãy tả ngoại hình 2 nhân vật Bê Vàng Và Dê Trắng trong câu chuyện. Bài tập 2: Dựa vào bài thơ, hãy kể lại cuộc chia tay của Bê Vàng Và Dê Trắng trước khi Bê Vàng đi tìm cỏ. Bài tập 3: Dựa vào bài thơ , hãy tả nội tâm nhân vật Dê Trắng khi chờ mãi không thấy Bê Vàng trở về. Bài tập 4 : Dựa vào bài thơ , em hãy tưởng tượng và kể lại phần kết của câu chuyện theo suy nghĩ của em. Các bài thơ có tính chất tự sự trong chương trình tiểu học có nhiều như bài Nàng Tiên ốc, Tiếng Vọng, Ê- MI-LI, con...Ngoài ra giáo viên nên sưu tầm thêm các bài thơ của
  8. Trần Đăng Khoa như : Đám ma bác giun, Em kể chuyện này, của Bác Hồ như Con Cáo và tổ ong.... để cho học sinh luyện tập. 3.1.2. Dựa vào các dạng bài tập nâng cao để luyện tập kể chuyện phát huy tính sáng tạo Hiện nay, theo chương trình mới, hệ thống bài tập phân môn tập làm văn kiểu bài kể chuyện được liệt kê , miêu tả theo nhiều cách khác nhau. Để phats huy trí tưởng tượng cho HS giỏi, giáo viên có thể đưa ra những dạng bài như sau: a/ Kể lại chuyện đã nghe, đã học bằng cách mượn lời. Ví dụ : Mượn lời chú Sẻ non trong câu chuyện “ Con Sẻ ” của Tuộc ghê nhi ép, em hãy kể lại câu chuyện đó. b/ Dựa vào cốt chuyện có sẵn sau đây , hãy kể lại sự tích con ong mật. ( GV ghi cốt chuyện sự tích con ong mật cho theo sinh theo dõi làm bài) c/ Tưởng tượng để viết tiếp đoạn văn sau đây thành câu chuyện hoàn chỉnh. ( GV ghi đoạn chuyện còn thiếu, cho học sinh tưởng tượng và viết thêm. Đoạn viết thêm có thể là phần đầu, phần diễn biến hoặc phàn kết thúc) d/ Dựa vào ý nghĩa sau đây để kể một câu chuyện. Ví dụ : Ý nghĩa : Câu chuyện kể về một chú bé thấy bàn chân ông nội quá to đã tìm hiểu nguyên do. Câu chuyện giáo dục chúng ta yêu thương quan tâm chăm sóc những người thân yêu trong gia đình. 3.1.3. Dựa vào câu chủ đề để giúp học sinh viết đoạn văn miêu tả đúng trọng tâm. Trong bậc tiểu học, văn miêu tả là thể loại quan trọng nhất , được giảng dạy chủ yếu ở lớp 4 và 5. Trong nội dung sách giáo khoa mới đang hiện hành , kiến thức về câu chủ đề trong ngũ pháp văn bản được đưa vào một cách nhẹ nhàng giúp học sinh vận dụng khá nhanh để làm văn miêu tả. Đây là điểm mới hợp lí và cần thiết so với sách giáo khoa cũ . Vì thế giáo viên
  9. phải tận dụng tối đa hình thức luyện tập viết đoạn văn theo câu chủ đề để học sinh thực hành. Như ta đã biết câu chủ đề còn gọi là câu chốt là câu nêu lên toàn bộ ý chính của một đoạn văn, thường đứng ở đầu hoặc ở cuối đoạn văn. Sau câu chủ đề ( hoặc trước ) là những câu văn nhằm giải thích ý cho câu chủ đề. Vì vậy, nếu giáo viên có định hướng câu chủ đề tốt sẽ giúp cho học sinh viết bài văn tả đúng trọng tâm hơn. Ví dụ 1: Ở kiểu bài tả cảnh với đề bài cụ thể là : Em hãy tả vẻ đẹp của vườn hoa trong một buổi sáng mùa xuân. Trong phần thân bài, giáo viên có thể nêu 2 câu chủ đề như sau, yêu cầu học sinh phát triển thành 2 đoạn văn tả cảnh. a/ Buổi sáng, vườn hoa rực rỡ sắc màu và ngào ngạt hương thơm. b/ Vườn hoa nhộn nhịp, tươi vui với biết bao ong bướm rập rờn và tiếng chim ca hát. Ví dụ 2: Ở kiểu bài tả đồ vật với dề bài cụ thể là : Hãy tả một đồ dùng học tập của em. Trong phần thân bài, giáo viên có thể nêu 2 câu chủ đề như sau, yêu cầu học sinh phát triển thành 2 đoạn văn tả đồ vật. a/ Cái cặp của em mới đẹp làm sao. b/ Cặp của em đã đẹp lại còn tiện lợi biết bao! Ví dụ 3: Ở kiểu bài tả người với đề bài cụ thể là : Hãy tả người mà em yêu quý nhất.
  10. Trong phần thân bài, giáo viên có thể nêu 3 câu chủ đề như sau, yêu cầu học sinh phát triển thành 3 đoạn văn tả người. a/ Mẹ em không đẹp nhưng rất dễ nhìn. b/ Chẳng có ai vừa giỏi giang lại vừa thông minh như mẹ của em. c/ Mẹ yêu em không sao kể hết . Các câu chủ đề phải gói gọn 1 nội dung chính của bài văn. Giaó viên có thể sử dụng nhiều câu chủ đề khác để hướng dẫn học sinh luyện tập, không nhất thiết phải cứ áp dụng một ý chung nhất. Ở đối tượng học sinh năng khiếu, giáo viên cũng nên khuyến khích các em phá bỏ những cách diễn đạt thông thường để có những bài viết có cách diễn đạt bức phá , thực sự hấp dẫn người đọc mà không theo khuôn mẫu nào. 3.1.4. Dựa vào nội dung cốt chuyện hoặc dàn ý của bài kể chuyện để tả ngoại hình, tả nội tâm, tả hoạt động nhân vật . Đối với văn kể chuyện, xây dựng cốt chuyện, dàn bài là quan trọng nhưng nếu học sinh không biết vận dụng các yêu cầu về tả ngoại hình, tả nội tâm , tả hoạt động.v..v vào kể chuyện thì câu chuyện chẳng thể sinh động hấp dẫn mà chỉ là liệt kê các ý chính. Vì vậy, giáo viên phải hướng dẫn học sinh thật kĩ , khi nào phải tả ngoại hình, khi nào phải tả nội tâm, khi nào phải thể hiện hành động ngôn ngữ... Thông thường các các tả này xen với kể hiệu quả và gây được sự chú ý cho người nghe, tăng hiệu quả của chuyện kể là : a/ Tả ngoại hình: Khi nhân vật chính hay phụ xuất hiện thì phải tả ngay ngoại hình của nhân vật đó. Nhân vật chính phải tả nhiều hơn nhân vật phụ. Phải chọn lọc chi tiết về ngoại hình để tả sao cho chi tiết đó thể hiện được tính cách nhân vật. b/ Tả nội tâm : Nội tâm của nhân vật thường bộc lộ khi xuất hiện tình huống có vấn đề. Vì vậy, khi kể chuyện, đến đoạn chuyện xuất hiện tình huống có vấn đề thì giáo viên yêu cầu
  11. học sinh phải suy nghĩ và diễn đạt nội tâm nhân vật. Cần tả ngắn, sử dụng câu hỏi tu từ, câu cảm để thể hiện nội tâm cho phù hợp để tăng hiệu quả cảm nhận của người đọc. c/ Tả hoạt động, lời nói, cử chỉ...: Trong bất kì câu chuyện nào, nhân vật cũng phải hoạt động. Chính hoạt động đã đẩy câu chuyện đi đến cao điểm của sự việc, buộc phải giải quyết để kết thúc một cách hợp lí. Chính các hoạt động này đã đẩy câu chuyện đi từ diễn biến này đến diễn biến khác . Vì thế, nhân vật trong chuyện kể phải có hoạt động, có lời nói, có cử chỉ phù hợp với đặc điểm nhân vật và với nội dung câu chuyện. Giáo viên phải hướng dẫn kĩ các yêu cầu này để học sinh có thể kể chuyện tốt hơn với khả năng xây dựng lời hội thoại, tả người thông qua hoạt động..v.. v. 3.1.5. Làm tốt một số công việc để giúp học sinh xác định đúng yêu cầu đề , có vốn từ và biết cách diễn đạt trong làm văn. Với bất kì thể loại văn nào, giáo viên cũng phải rèn cho học sinh kĩ năng xác định yêu cầu đề bài. Với các dạng đề bài không mở rộng, giáo viên chỉ cần hướng dẫn học sinh chú ý vào câu lệnh . Nhưng với các đề bài mở rộng, phần gợi mở tương đối quan trọng, giáo viên phải cho học sinh đọc kĩ đề gạch chân các dữ liệu cần thiết để tập trung chú ý. Ví dụ : Hãy tả vẻ đẹp của một vườn hoa mà em có dịp thấy. Ở bài này, học sinh có thể chọn tả bất kì điểm nào để thể hiện vẻ đẹp của vườn hoa. Nhưng nếu đề bài sửa lại chút ít, mở rộng hơn , cụ thể như : Vườn hoa gần nhà em, vào buổi sáng mùa xuân rực rỡ sắc màu và ngào ngạt hương thơm. Hãy tả lại vẻ đẹp của vườn hoa ấy. thì nội dung bài làm của các em phải tập trung vào các ý chính : rực rỡ sắc màu và ngào ngạt hương thơm. Để học sinh có vốn từ, sử dụng tốt trong văn miêu tả, giáo viên phải yêu cầu học sinh sử dụng sổ tay văn học, ghi chép những đoạn văn hay, những ý tứ độc đáo làm tư liệu và không quên ghi chép những từ ngữ miêu tả , gợi tả hợp lý với từng chủ đề , từng kiểu bài. Giaó viên nên hướng dẫn học sinh ghi chép thành mảng, ví dụ : Nhóm từ tả hoạt động của người, của vật, nhóm từ tả làn da, tả tính cách, tả đôi mắt, tả mái tóc; nhóm từ tả màu sắc, tả hương thơm... Đó là những tư liệu cần thiết để các em viết văn tránh sao lặp, tả gượng ép, ý nghèo, dùng từ không chính xác.
  12. Ở nội dung luyện từ và câu lớp 5, học sinh đã bắt đầu học về các phép liên kết câu. Đây là một trong những kĩ thuật viết văn quan trọng. Giáo viên phải luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng các phép liên kết đó trong diễn đạt để các em nắm được ngữ pháp văn bản, tạo tiền đề cho các em học tốt Tiếng Việt ở cấp học trung học cơ sở tiếp theo. 3.2. Kết quả đạt được. Sau khi đã chỉ đạo việc dạy học tập làm văn cho giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi khối 3,4 5, tôi nhận thấy kết quả học tập phân môn này có chiều hướng phát triển. Qua các kiểm tra hằng tháng, kết qủa về điểm của bài văn viết đã tiến bộ rõ rệt. Nhiều em đã vận dụng khá tốt những kiến thức được học vào bài viết, bài nói của mình . Cụ thể như em Hồ Ngọc Quỳnh lớp 5/2, em Vương Nguyễn Thuỳ Dương lớp 5/1, em Nguyễn Thị Thuỳ Duyên lớp 4./1, em Hồ Trúc Đào lớp 4/2, em Nguyễn Thị Lệ Trinh lớp 3/3, Văn Thuỷ Tú lớp 3/1. Em. Ngọc Thanh lớp 5/2 còn biết dựa vào bài thơ Một niềm vui bất ngờ của cô giáo Dương Khuê Anh để kể lại câu chuyện về Tấm gương đạo đức của Bác Hồ có tựa đề là Chòm râu Bác Hồ được giải A kể chuyện về Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cấp trường. Điểm khảo sát chất lượng của học sinh các lớp bồi dưỡng cũng tăng lên , cụ thể như sau: KHỐI BÀI KHẢO SÁT ĐẦU BÀI KHẢO SÁT THÁNG 1 NĂM Giỏi : 3/ 30 tỉ lệ 10 Giỏi : 9/ 30 tỉ lệ 30 % % 3 Khá: 21/30 tỉ lệ 70 % Khá: 21/30 tỉ lệ 70 T. bình 0 / 30 tỉ lệ 0% % T. bình 6/ 30 tỉ lệ 20
  13. % Giỏi : 3/ 24 tỉ lệ 12,5 Giỏi : 10 / 24 tỉ lệ 42 % % 4 Khá: 12 /24 tỉ lệ 50 % Khá: 6 /24 tỉ lệ 25 T. bình 2/ 24 tỉ lệ 8 % % T. bình 6/ 24 tỉ lệ 25 % Giỏi : 4/ 28 tỉ lệ 14,4 Giỏi : 14/ 28 tỉ lệ 50 % % 5 Khá: 6/ 28 tỉ lệ 22,2 Khá: 8 / 28 tỉ lệ % 36,6 % T. bình 4/ 28 tỉ lệ 14,4 T. bình 6/ 28 tỉ lệ % 22,2 % Bài học kinh nghiệm. Trong công tác chỉ đạo chuyên môn, về mảng kiến thức của phân môn tập làm văn, tôi rút ra bài học kinh nghiệm sau đây :  Phải tập trung nghiên cứu chuyên sâu nội dung bài dạy.  Người quản lí công tác chuyên môn phải nắm bắt kĩ yêu cầu cơ bản của môn học và có hệ thống kiến thức về môn học để kịp thời chỉ đạo và chỉ đạo sâu sát cho giáo viên thực hiện.
  14.  Kết hợp giữa chỉ đạo và kiểm tra đáng giá để kịp thời phát hiện sai sót hoặc bổ sung uốn nắn những thiếu sót trong công tác giảng dạy của giáo viên.  Luôn yêu cầu giáo viên rèn kĩ năng nói cùng với kĩ năng viết cho học sinh và tiến hành đồng thời 2 hoạt động : nói trước, viết sau. Khi hoạt sinh nói, cả lớp nghe và sửa chữa bổ sung cho bạn , nghĩa là các em đã được học 1 lần, sau đó các em viết lại nghĩa là học lần thứ hai. Cách dạy này sẽ củng cố kĩ năng một cách có hiệu quản nhất, đặc biệt trong dạy học tập làm văn.  Luôn đưa ra các đề bài, các tình huống mang đậm tính nhân văn để học sinh được nâng cao tâm hồn, bồi dưỡng cho học sinh nền tảng đạo đức thông qua bài học, hướng các em đến điều thiện, cái đẹp, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo con người có đầy đủ, đức , trí , thể , mỹ. Chương IV Kết luận Dạy học là một nghề vừa lao tâm vừa lao lực . Đó là một nghề cao quý nhưng cũng đòi hỏi cao phẩm chất đạo đức , kiến thức và kĩ năng ở mỗi người. Muốn thành công trong công tác giảng dạy, người thầy phải luôn học hỏi không ngừng. Với tư cách một người làm công tác chuyên môn, tôi nhận thấy rằng việc nghiên cứu nội dung chương trình, đề xuất những biện pháp chỉ đạo phù hợp là nhiệm vụ quan trọng của mình để không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học ở trường tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, thể hiện tốt vai trò chủ đạo định hướng của người dạy trong công cuộc thực hiện đổi mới sách giáo khoa hiện nay. Trên đây là một số kinh nghiệm chỉ đạo của tôi trong công tác dạy và học. Mong các đồng chí lãnh đạo cấp trên góp ý, chỉ đạo thêm để nhà trường rút kinh nghiệm tốt hơn trong công tác chỉ đạo chuyên môn ở cơ sở.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản