Đề tài "Chính sách tiền tệ và phương thức vận hành các công cụ chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam hiện nay"

Chia sẻ: Trịnh Hữu Xuyên Hữu Xuyên | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:32

1
532
lượt xem
311
download

Đề tài "Chính sách tiền tệ và phương thức vận hành các công cụ chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam hiện nay"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, trên đất nước ta đang diễn ra sôi động quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu một cách có hệ thống nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế theo cơ chế mới, trong đó một lĩnh vực có vị trí hết sức quan trọng được coi là huyết mạch trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững đó là lĩnh vực Tiền...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài "Chính sách tiền tệ và phương thức vận hành các công cụ chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam hiện nay"

  1. Đề tài "Chính sách tiền tệ và phương thức vận hành các công cụ chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam hiện nay"
  2. MỤC LỤC Lời mở đầu !................................................................................................... 3 I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CUA CHÍNH SACH TIỀN TỆ ............. 3 II. MỤC TIÊU CUA CHÍNH SACH TIỀN TỆ ......................................... 5 2.1 Mục tiêu tăng trưởng kinh tế ................................................................... 7 2.2 Giảm thiểu những thăng trầm trong chu chuyển kinh tế .......................... 8 III. PHƯƠNG THỨC VẬN HÀNH CÁC CÔNG CỤ CỦA CSTT .......... 9 1. Vận dụng đối với các NHTG và thị trường tiền tệ ..................................... 9 1.1 Thay đổi dự trữ bắt buộc đối với Ngân hàng trung gian .......................... 9 1.2 Thay đổi điều kiện và lãi suất chiết khấu ............................................. 10 1.5 Thực hiện chính sách lãi suất .............................................................. 12 1.6 Ấn định một biên vực bắt buộc trong cho vay ........................................ 12 1.7 Kiểm soát tín dụng tiêu dùng ................................................................. 13 2.1 Dự trữ ngoại hối .................................................................................... 13 2.2 Thiết lập và điều tiết hoạt động của thị trường ngoại hối ...................... 14 2.3 Chính cách ngoại hối............................................................................. 14 PHẦN 2. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM ............... 15 CỦA NHNN VIỆT NAM HIỆN NAY ....................................................... 16 I. MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC ................................................................. 16 II. CÁC CÔNG CỤ ĐIỀU HÀNH CSTT HIỆN NAY............................. 16 1. Công cụ lãi suất ....................................................................................... 16 2. Công cụ tỷ giá hối đoái ............................................................................ 18 3. Công cụ dự trữ bắt buộc .......................................................................... 19 4. Công cụ tái chiết khấu, tái cấp vốn .......................................................... 20 5. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở ............................................................ 21 I. ĐÁNH GIÁ CHUNG ............................................................................ 23 II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP .......................................................................... 24 2. Giải pháp điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam ...................................... 25 3. Giải pháp trong thực hiện công cụ dự trữ bắt buộc .................................. 26 Đối với NHNN ............................................................................................. 27 Một số giải pháp khác ................................................................................. 27 TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 31 Tiền và hoạt động Ngân hàng - NXB Chính trị Quốc gia ........................ 31 Các nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại - Chủ biên : GS - TS Lê Văn Tư ..................................................................................................................... 31 Các Website : http://www.mof.gov.vn ..................................................... 31 Lời kết ! ....................................................................................................... 31 Đà Nẵng, ngày 05 tháng 08 năm 2003 ......................................................... 32 Sinh viên thực hiện ..................................................................................... 32 Nguyễn Thế Anh .......................................................................................... 32 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ........................................ 32
  3. Lời mở đầu ! T rong công cuộc đổi mới hiện nay, trên đất nước ta đang diễn ra sôi động quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu một cách có hệ thống nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế theo cơ chế mới, trong đó một lĩnh vực có vị trí hết sức quan trọng được coi là huyết mạch trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững đó là lĩnh vực Tiền tệ - Ngân hàng. Ở nước ta, với tư cach la thiết chế đầu nao cua toàn bộ hệ thống tai chính va ngân hang. Ngân hàng Trung ương la cơ quan chu chốt, thiết kế va vận hành các công cụ Chính sách tiền tệ phục vụ cho mục tiêu điều tiết vĩ mô trong từng thời kỳ. Kinh nghiệm phát triển kinh tế của các nước đã chỉ ra răng, mỗi bước thăng trầm cua nền kinh tế đều co nguyên nhân sâu xa găn liền với Chính sách tiền tệ và hoạt động của Hệ thống ngân hàng. Với nhận thức trên, băng những kiến thức tiếp nhận trong qua trình hoc tập cũng như nghiên cứu thêm một số tai liệu co liên quan, Em đa lựa chon và đi sâu vao phân tích đề tài: “CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ PHƯƠNG THỨC VẬN HANH CAC CÔNG CỤ CHÍNH SACH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HANG NHA NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY ” làm đề án môn học năm 3 cua mình. Đề an gồm 2 phần chính : PHẦN 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA PHẦN 2. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CUA NGÂN HANG NHA NƯƠC VIỆT NAM Dù đã cố gắng nhiều trên cơ sở nỗ lực cua ban thân cũng như sự giup đỡ tận tình cua Giao viên hướng dẫn, ThS. Trịnh Thị Trinh. Song, do đề tài là một vấn đề lớn, trình độ hiểu biết lại có hạn nên đề án cũng khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định. Kính mong được sự chỉ bảo của thầy cô và ý kiến đóng góp của các bạn để nội dung đề án được hoàn t-hiện hơn. PHẦN 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CUA CHÍNH SACH TIỀN TỆ 1. Khái niệm và vai trò của CSTT
  4. Chính sách tiền tệ (CSTT) là một bộ phận trong tổng thể hệ thống Chính sách Kinh tế của Nhà nước, do Ngân hàng Trung Ương (NHTW) thực hiện để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế, nhăm đạt tới những muc tiêu kinh tế - xa hội nhất định trong từng thời ky nhất định. Theo nghĩa rộng: CSTT là Chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền trong nền kinh tế quốc dân nhăm tac động đến muc tiêu cơ ban là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua cua đồng tiền va ổn định gia cả cua hang hoa. Theo nghĩa thông thường: CSTT là Chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng thêm trong thời ky tới phu hợp với mức tăng trưởng kinh tế dự kiến và chỉ số lam phat nếu co. Theo điều 2 luật NHNNVN: “CSTT quốc gia là một bộ phận của Chính sách Kinh tế - tài chính của Nhà nước nhăm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lam phat, gop phần thúc đẩy phat triển kinh tế - xã hội, bao ddamr quốc phong an ninh và nâng cao đời sống nhân dân. Nhà nước quản lý thống nhất mọi hoạt động của Ngân hàng, có chính sách để động viên các nguồn lực trong nước là chính, tranh thủ tối đa nguồn lực ngoài nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, đảm bảo vai trò chủ đạo và chủ lực của các tổ chức tín dụng nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, giữ vững định hướng Xã hội chủ nghiã, chủ quyền quốc gia, mở rộng hợp tác và hội nhập quôc tế, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.” CSTT có một vai trò cực kỳ quan trọng, thể hiện ở việc nó có nhiệm vụ tác động và nhiều hướng tạo ra đầu tư, tiết kiệm và ổn định tiền tệ, giá cả. Qua đó góp phần quan trọng vào sự thành công hay thất bại của cả nền kinh tế. Trên cơ sở 4 mục tiêu kinh tế vĩ mô, một CSTT được đánh giá là hoàn hảo nếu: Tốc độ lạm phát: 1% - 3%. Tăng trưởng kinh tế: 3% - 5%. Thất nghiệp khoản 4% tổng lao động. Số dư trong cán cân thanh toán quốc tế chiếm 2% - 3% trên GDP.
  5. 2. Hình thức và đối tượng quản lý Chính sách tiền tệ có 2 hình thức thể hiện cơ bản sau:  CSTT nới lỏng: cung tiền tệ trở nên dồi dào, thừa thải nhăm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tao công ăn việc lam va chống suy thoai.  CSTT thăc chăt: nền kinh tế trở nên đăt đo, khó khăn do lương cung tiền bị hạn chế nhằm han chế đầu tư, kìm ham sự phat triển “quá nóng” của nền kinh tế và chống lạm phát... Đối tượng quản lý của CSTT: chính là khối tiền. Theo quan niệm tiền tệ của cơ chế thị trường thì tùy theo mục đích khác nhau mà phân chia tiền theo nhiều phương thức, tiêu chuẩn khác nhau.  Theo chức năng lưu thông, tiền được thể hiện ở khối tiền măt (M) do NHTW phat hanh gồm: tiền mặt trong dân cư, trong cac tổ chức kinh tế va phi kinh tế cung với tiền mặt tồn quy tai quy tín dung, kho bac, quỹ điều hành nghiệp vụ, quỹ dự trữ của NHTW.  Theo chức năng lưu thông va phương tiện thanh toán, tiền được xac định là khối tiền M1 = M + những khoản tiền gởi không kỳ hạn băng ban tệ. năng điều tiết cua NHTW, ở Việt Nam đã chon khối tiền M2 là đối tượng quản lý của CSTT vì M2 ổn định hơn. II. MỤC TIÊU CUA CHÍNH SACH TIỀN TỆ Có Trên tổng thể, mục tiêu của Chính sách tiền tệ là điều tiết. Hay nói khác hơn, mục tiêu của NHTW có thể quy thành hai nhóm là: Mục tiêu tiền tệ và Mục tiêu kinh tế. 1. Mục tiêu tiền tệ (mục tiêu trực tiếp ) Về phương diện tiền tệ, có 4 mục tiêu mà Chính sách tiền tệ mong muốn đạt tới là: điều hòa khối tiền tệ, kiểm soát tổng số thanh toán băng tiền, bao vệ gia trị quốc nội cua đồng tiền và ổn định giá trị quốc ngoại cua đồng tiền.  Theo chức năng lưu thông thanh toan và cất trữ thì tiền tệ thể hiện băng khối tiền M2 = M1 + những khoản tiền gởi có kỳ hạn băng bản tệ.  Với tổng số tín dụng thì biểu hiện dưới khối tiền M3 = M2 + những công cụ tài chính khác. Dựa trên việc căn cứ vao mục tiêuđiều tiết trong chính sách kinh tế cũng như căn cứ vào kha
  6. 1.1 Điều hòa khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế - xã hội : Đó là nhăm duy trì mối tương quan Tiền - Hàng được ổn định bằng cach điều hoa khối lượng tiền tệ. Cơ chế điều hoa dưới hai nội dung chính là Mức độ va Cach luân chuyển. Co một nguyên tắc tổng quat là nếu mỗi năm nền kinh tế đều tăng trưởng thì phai tăng khối lượng tiền tệ bằng ty lệ tăng trưởng kinh tế. Điều hòa khối tiền tệ ngày nay có nghĩa là điều chỉnh việc tạo tiền và sử dụng tiền trong hệ thống Ngân hàng hai cấp. Một khả năng ky bí của hệ thống Ngân hang hai cấp la tao tiền, điều chỉnh mức cung tiền để ổn định tiền tệ. Do việc phân chia hệ thống Ngân hang thành hai cấp nên co việc phân chia hai loai tiên : tiền Ngân hàng trung ương và tiền Ngân hàng. Tiền trung ương là tiền do NHTW độc quyền phát hành. Tiền Ngân hàng (tiền tín dụng) là tiền do các NHTM tạo ra thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế, đăt biệt la tiền trên các tài khoản thanh toán séc. Nó được tạo ra như là một sự mở rộng gấp nhiều lần quỹ dự trữ Ngân hàng thông qua hệ số tạo tiền. Để điều hòa khối lượng tiền tệ NHTW sử dụng các công cụ trực tiếp và gián tiếp : Những phương tiện trực tiếp có ảnh hưởng thăng đối với khối lượng tiền lưu hanh. Những phương tiện trực tiếp bao gồm : Kiểm soat cac NHTM, sự bất động hóa vang nhập khẩu, han chế nhập nội các ngoai tệ... Với những phương tiện gián tiếp có ảnh hưởng không chăc chắn, anh hưởng co xay ra hay không la tuy ở phan ứng cua cac đối tượng, bao gồm : Tăng hay giam lai suất chiết khấu, Chính sach thị trường mở... Những phương tiện gián tiếp chu yếu thực hiện thông qua cơ chế thị trường, mà công cụ chủ yếu trong cơ chế thị trường là lãi suất. Như vậy, thông qua cung ứng tiền trung ương và các phương tiện trực tiếp hoăc gián tiếp, NHTW hoan toan lam chu kha năng điều hoa khối lượng tiền tệ cung ứng cho nền kinh tế và đó là lẽ sống còn của NHTW. 1.2 Kiểm soát tổng số thanh toán băng tiền : Việc kiểm soát khối tiền tệ đơn thuần có nhược điểm là không lưu ý tới tốc độ lưu hành tiền tệ. Sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến vật giá không phải chỉ có khối tiền (M) mà còn cả tốc độ lưu hành tiền tệ (V) nửa. Hay nói cách khác, kiểm soát tổng số thanh toán băng tiền chính la kiểm soat độ lớn cua tiền tệ ma co tính tơi tốc độ lưu thông của tiền (V) để từ đó xác định mức cung tiền phù hợp. Nhưng việc kiẻm soát M.V. là rất khó bởi vì tùy thuộc vào cách hành động của các chủ thể kinh tế riêng biệt trong sử dụng tiền tệ. Nó tùy thuộc vào niềm tin của những người này đối với giá trị tiền tệ, sự tiên liệu của họ về thời cơ kinh tế, những cơ hội làm ăn sinh lời, khuynh hướng tiêu xai cua dân chung, long tin vao chính sách kinh tế cua Nha nước...Ngoai ra nó còn phụ thuộc vào khả năng thanh toan cua ngân hang, trình độ ky thuật công nghệ ngân hang, mức độ tin tưởng cua dân chung đối với ngân hang. Ơ những nước công nghiệp phat triển, các tiện ích ngân hang được sử dung rộng rãi, các chủ thể kinh tế quen dùng séc trong thanh toán..vì vậy NHTW kiểm soát số chi trả của toàn xã hội qua hệ thống ngân hàng băng cach tính tổng gia trị
  7. sec đưa đi giao hoan tai NHTW va theo doi biến chuyển cua nó. Còn ở nước ta, việc dùng séc và các phương tiện thanh toán khác qua ngân hàng còn ít thông dụng, dùng tiền măt để chi trả la phổ biến cho nên co một khối tiền măt rất lớn lưu thông bên ngoai hệ thống ngân hang, vượt qua tầm kiểm soát của NHTW. Đó là đầu mối gây bất ổn cho nền kinh tế một các đột biến. Đó cũng là lý do cần thu hút lượng tiền trong tay dân cư vào hệ thống ngân hàng dưới hình thức tiền gởi không kỳ hạn và dùng séc để thanh toán, một yếu tố cần thiết để cho việc thực thi Chính sách tiền tệ được hữu hiệu. 1.3 Bảo vệ giá trị quốc nội của đồng tiền : Giá trị quốc nội của đồng tiền là sức mua của nó đối với hàng hóa và dịch vụ trong nước. Sức mua của đồng tiền biến đổi ngược chiều với vật giá. Khi mức vật giá chung gia tăng, sức mua cua đồng tiền giam va ngược lai. Do đo, bao vệ gia trị quốc nội cua đồng tiền cung chính la bao vệ sức mua cua đồng tiền quốc nội. Muốn vậy, Chính sách tiền tệ phải bảo đảm được mức giá chung ổn định, nghĩa là phải kiểm soát lạm phát ở một tỷ lệ vừa phải. Sự ốn định của vật giá là điều cần thiết để mọi người được an tâm, tin tưởng trong việc tính toán công việc đầu tư, vì đầu tư là cuộc tính toán lâu dài. Vậy, cần có sự ổn định lâu dài mới khuyến khích sức đầu tư. Trong trường hợp không duy trì được sự ổn định, một mức vật giá gia tăng hằng năm ở mức 2 hay 3% là mức gia tăng thuận lợi cho sự phát triển ma Chính sach tiền tệ co thể chấp nhận được. Le tất nhiên, một Chính sach tiền tệ co thể tac động tới sự gia tăng năng suất trong hoat động san xuất của cac chu thể kinh tê vẩn là điều mong mỏi. 1.4 Đảm bảo giá trị quốc ngoại của đồng tiền : Giá trị quốc ngoại của đồng tiền thể hiện thông qua tỷ giá hối đoái. Sự biến động của tỷ giả hối đoái có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh tế trong nước tùy theo mức độ hướng ngoại của nền kinh tiền tệ. Trái lại, mọi biến chuyển về tiền tệ cũng tác động tới mối tương quan giữa tiền tệ trong nước và tiền tệ nước ngoài... Chính vì vậy, Chính sách tiền tệ phải chú trọng đến việc bảo đảm và ổn định giá trị quốc ngoại của đồng tiền trong nước. Tỷ giá hối đoái chịu sự tác động mạnh của khối dự trữ ngoại hối, thị trường và chính sách hối đoái, tình hình giá cả trong nước... do đó, một Chính sách tiền tệ nhăm ổn định kinh tế trong nước cần phai đi đôi với những biện phap nhăm ổn định ty gia hối đoai. Có nhiều biện phap như kiểm soat lam phat, tăng cung tiền để tăng trưởng kinh tế, xac định lĩnh vưc đầu tư ưu tiên ... 2. Mục tiêu kinh tế (mục tiêu gián tiếp) Chính sách tiền tệ còn nhăm đến một muc đích xa hơn, đo là muc tiêu kinh tế, Muc tiêu kinh tế gồm co hai điểm chính sau đây :  Tăng trưởng kinh tê, trong đo co mục tiêu đạt đến mức nhân dụng cao.  Giảm thiểu những thăng trầm trong chu chuyển kinh tế. 2.1 Mục tiêu tăng trưởng kinh tế
  8. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của tiền tệ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy co nhieu ý kiến khác nhau về chi tiết nhưng vẫn xác định được quan điểm chung về tác động của lãi suất và số cầu tổng hợp của khối tiền tệ trên mức tăng trưởng đo. Tac động đo thông qua hai ngo : Khi khối tiền tệ M tăng, noi chung có tác dụng làm giảm lãi suất, khuyến khích đầu tư, làm cho tổng sản phẩm xã hội cũng tăng. Nếu ty lệ gia tăng cua tổng sản phẩm xa hội lớn hơn nhịp gia tăng dân số se co tăng trưởng kinh tế. Măt khac, sự gia tăng khối tiền tệ đưa đến tác dụng làm tăng số cầu tổng hợp : cac thanh phần dân cư co tiền nhiều hơn se tiêu thu nhiều hơn va mai lực trên thị trường tăng giúp giai quyết hang tồn đong, lam cho cac doanh nghiệp gia tăng san xuất, hàng hóa lưu thông phân phối với nhịp điệu rộn rịp hơn. Đến một lúc nào đó doanh nghiệp cũng phải gia tăng thêm việc mua săm may moc, thiết bị, nha xưởng... Ca hai sức cầu về san phẩm tiêu dung và về san phẩm đầu tư đều tăng, từ đó tổng sản phẩm xã hội cũng tăng. Nếu mức gia tăng đo lớn hơn nhịp gia tăng dân số se co tăng trưởng kinh tế. Trong cả hai trường hợp đều có sự gia tăng nhân dung, vì nhân công, tư ban, ky thuật công nghệ la ba yếu tố quan trọng quyết định số lượng sản xuất, trong đó yếu tố nhân công được tăng lên trước khi xí nghiệp gia tăng san xuất. Đối với xí nghiệp quan ly co hiệu qua, việc tuyển dung thêm nhân công chỉ xay ra khi số nhân lực hiện hữu được tận dụng. Như vậy, muốn đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ngoai việc gia tăng khối tiền tệ trong Chính sach tiền tệ cần co những biện phap đẩy manh đầu tư san xuất để thâm dung nhân công. 2.2 Giảm thiểu những thăng trầm trong chu chuyển kinh tế Với những tác động của các công cụ Chính sách tiền tệ có thể rút ngăn chu ky va thay đổi những nhược điểm cua chu kỳ kinh tế. Sự tăng trưởng kinh tế bất cứ nước nao cũng không thể keo dai mãi. Lý do cơ bản là số cầu dù tiếp tục gia tăng nhưng số cung không thể đap ứng mãi được. No bị han chế bởi nhiều yếu tố, đáng kể trước tiên la nhân công. Khi nền kinh tế tăng trưởng liên tuc đến một luc nao đo nhân công khan hiếm, hạn chế mức gia tăng san xuất. Đó la chưa kể nguyên liệu cung co thể khan hiếm. Sự khan hiếm cua yếu tố nhân công, nhiên liệu lam tăng phí tổn sản xuất, nâng cao giá thanh va gia ban trên thị trường. Vào thời điểm này, nếu khối lượng tiền tệ tiếp tục gia tăng ma không thể kiềm chế, số cầu tăng manh, hậu qua tất yếu lam tăng vật gia, tình trạng lam phat ngày cang trầm trong hơn. Tình hình đo buộc phai giam bớt khối tiền tệ, từ đó làm giảm số cầu, làm giảm khuynh hướng tiêu thụ của dân cư. Hoạt động kinh tế rơi vào tình trạng ngưng trệ. Trước tình hình đó, các nhà sản xuất hàng hóa bán chậm lại, tích lũy hàng tồn kho nhiều, giảm lương, thậm chí sa thải công nhân, dẩn đến thất nghiệp... tình trạng suy thoái kinh tế lan rộng. Để chặn đứng suy thoái, NHTW sẽ phải thi hành chính sách bành trướng khối tiền tệ, khuyến khích các ngân hàng cho vay để nâng số cầu lên, nhu cầu
  9. đầu tư tăng... những sự kiện đó đưa nền kinh tế từ giai đoạn suy thoái sang giai đoạn phục hưng để từ đó có thể chuyển sang giai đoạn tăng trưởng mạnh. III. PHƯƠNG THỨC VẬN HÀNH CÁC CÔNG CỤ CỦA CSTT Để kiến thiết Chính sách tiền tệ, NHTW phải vận dụng những công cụ đặt biệt của nó, người ta gọi đó là “công cụ của Chính sách tiền tệ”. Công cụ là những phương tiện cụ thể của hoạt động. Phần lớn các công cụ hoạt động đều có thể được sử dụng hoặc vì mục đích điều hòa toàn bộ các luồng tiền tệ, hoạt động tiền tệ và giá cả hoặc để điều hành một số chính sách chung. Một công cụ Chính sách tiền tệ được xem là hữu ích nếu công cụ đó có tính linh hoạt và mang lại hiệu quả, tức là công cụ này có thể thay đổi khi cần thiết, thường xuyên hay không thường xuyên với mức tăng giảm khối tiền lớn hay nhỏ tùy thuộc vào mục tiêu của NHTW đã đề ra. Phương thức vận hành các công cụ Chính sách tiền tệ của NHTW thường được thực hiện để điều hành các NHTG và thị trường tiền tệ, thứ hai là nhằm xử lý mối quan hệ đối với khu vực tài chính tiền tệ đối ngoại. 1. Vận dụng đối với các NHTG và thị trường tiền tệ Có tất cả 7 công cụ mà NHTW có thể vận dụng, đó là : Dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, thị trường tiền tệ mở, kiểm soát tín dụng chọn lọc, lãi suất tiền gởi, kiểm soát tín dụng tài trợ Thị trường Chứng khoán và kiểm soát tín dụng tiêu dùng. Chúng ta sẽ lần lượt đi sâu phân tích từng công cụ một. 1.1 Thay đổi dự trữ bắt buộc đối với Ngân hàng trung gian NHTW được giao quyền bắt buộc các NHTG phải ký gởi tại NHTW một phần của tổng số tiền gởi mà họ nhận được từ dân cư và các thành phần kinh tế thao một tỷ lệ nhất định. Phần ký gởi bắt buộc đó gọi là dự trữ bắt buộc. NHTW ấn định một tỷ lệ bao nhiêu tùy theo tình hình, mục đích là để giới hạn khả năng cho vay của NHTM, tránh trường hợp ngân hàng này ham kiếm lợi nhuận bằng cách cho vay quá mức, có thể gây hại tới quyền lợi của người ký gởi tiền ở ngân hàng. Ngoài ra, nó còn là phương tiện để NHTW có thêm quyền lực điều khiển hệ thống ngân hàng, tạo nên mối quan hệ lệ thuộc của NHTM đối với NHTW. Khả năng cho vay của NHTM bị hạn chế buộc họ phải đi vay lại ở NHTW. NHTW là người cho vay sau cùng của mọi ngân hàng và là cứu tinh của họ trong những trường hợp khẩn cấp như tình trạng đồng loạt rút tiền gởi của công chúng. Về nguyên tắc, khi ấn định một mức dự trữ bắt buộc ở mức thấp, NHTW muốn khuyến khích các NHTG mở rộng mức cho vay của họ, tức muốn bành trướng khối tiền tệ. Ngược lại, khi nâng cao tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHTW muốn giới hạn khả năng cho vay của các NHTG, báo hiệu một Chính sách tiền tệ thắc chặt; từ đó ảnh hưởng đến doanh thu lợi nhuận của các ngân hàng, đây là vấn đề hết sức nhạy cảm và luôn được quan tâm của NHTW. Chính vì vậy một sự gia tăng DTBB đòi hỏi phải nguyên cứu trước sức chịu đựng của NHTG đối với mức dự trữ mới sẽ ban hành. Có thể vận dụng mức DTBB cho loại tiền gửi không kỳ hạn và một mức dự trữ thấp hơn cho loại tiền
  10. gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn hoặc một tỷ lệ DTBB thấp hơn cho ngân hàng hoạt động ở khu vực nông thôn... Nhìn chung, DTBB là công cụ mang tính chất hành chính của NHTW nhằm điều tiết mức cung tiền của NHTM cho nền kinh tế thông qua hệ số nhân tiền tệ. Mức dự trữ do luật pháp quy định theo đó NHTM phải gởi tiền vào một tài khoản không lãi ở NHTW. Dự trữ bắt buộc là biện pháp kiểm soát cung ứng tiền tệ chứ không phải là cách để cho tiền ổn định. Nó có ý nghĩa to lớn để điều hòa cung cầu trên thị trường tiền tệ, thực hiện yêu cầu của Chính sách tiền tệ. 1.2 Thay đổi điều kiện và lãi suất chiết khấu Tái chiết khấu là phương thức để NHTW đưa tiền vào lưu thông, thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng. Thông qua việc tái chiết khấu, NHTW đã tạo cơ sở đầu tiên thúc đẩy hệ thống NHTM thực hiện vai trò tạo tiền đồng thời khai thông thanh toán. Đối với NHTM, lẽ sống của họ là nhận tiền gởi của mọi giới và cho vay phần lớn tiền gởi đó để thu lãi. Tuy nhiên, không phải lúc nào hoạt động ngân hàng cũng diển ra thuận lợi. Có những lúc người gởi tiền đến rút tiền quá nhiều (theo chu kỳ kinh tế ), ngân hàng dể rơi vào tình trạnh thiếu khả năng chi trả. Chính vào những lúc “ngàn cân treo sợi tóc” đó, NHTM tìm đến sự giúp đở của NHTW, người cho vay cuối cùng có khả năng vô biên, không bao giờ bị phá sản. NHTW cấp tín dụng cho các NHTG qua nhiều hình thức. Hình thức thông dụng và cổ điển là chiết khấu các thương phiếu của NHTG hoặc tái chiết khấu nếu NHTG đã chiết khấu trước đó. Khi nhận chiết khấu hay tái chiết khấu, NHTW làm tăng khối tiền tệ. Đó là hình thức tạo tiền được các nhà kinh tế xem là lành mạnh vì nó có khả năng tự thanh toán... Với việc nâng cao hoặc giảm mức lãi suất chiết khấu NHTW có thể khuyến khích giảm hoặc tăng mức cung ứng tín dụng của NHTM đối với nền kinh tê, đồng thời qua đó cũng giảm hoặc tăng mức cung ứng tiền tệ. Chính sách chiết khấu còn là công cụ định hướng tín dụng. Nếu muốn kích thích xuất khẩu, NHTW sẽ cho tái chiết khấu trước hết các thương phiếu xuất khẩu hoặc nâng hạn mức tái chiết khấu đối với các thương phiếu đó. Ngoài ra, NHTW còn thực hiện chiết khấu trong những trường hợp: giúp NHTG điều chỉnh dự trữ bắt buộc bị thiếu hụt, giúp NHTG thực hiện tín dụng theo mùa, các NHTG nào thiếu hụt thanh khoản (vì những nghiệp vụ cho vay tương đối dài hạn) để khuyến khích phát triển. 1.3 Chính sách thị trường mở (Open Market Operations) Chính sách thị trường mở (OMO) là việc NHTW mua bán giấy tờ có giá với mục đích tác động tới thị trường tiền tệ, điều hòa về cung và cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối dự trữ của các NHTM tại NHTW, từ đó tác động đến khả năng cung cấp tín dụng của các ngân hàng này. Thị trường mở là một trong những cửa ngõ để NHTW phát hành tiền vào guồng máy kinh tế hoặc rút bớt khối tiền lưu thông trong đó, bằng cách mua hay bán những trái phiếu, bằng những nghiệp vụ gọi là “nghiệp vụ thị trường mở”
  11. (open market operations). Nếu như chính sách chiết khấu có tác động tổng hợp và có những hạn chế tạm thời thì Chính sách thị trường mở là công cụ tác động nhanh và linh hoạt. Khi mua bán giấy tờ có giá với việc quy định mức giá có lợi, NHTW muốn tác động tới nguồn vốn của các NHTM ở NHTW và do đó tác động tới mức cho vay của các NHTM đối với nền kinh tế và dân cư. Trên thị trường mở, NHTW chủ yếu mua bán trái phiếu của Chính phủ. Bằng cách này, NHTW tăng khối dự trữ của NHTG, vì ngân hàng này cần dự trữ nên đem bán trái phiếu hoặc bán trái phiếu với lãi suất thấp để cho vay sinh lợi nhiều hơn. Khi dự trữ của ngân hàng thặng dư, thí dụ tăng thêm 1, NHTW có thể mở rộng khả năng cho vay gấp 4 hoặc 5 lần tùy theo mức DTBB, vì phần dự trữ tăng thêm có tác dụng như phần tiền gởi ở ngân hàng này. Thêm vào đó, còn có tác dụng của việc NHTW mua trái phiếu của Chính phủ với giá cao hơn, lãi suất hạ xuống kích thích giới doanh nghiệp đi vay, tức là tăng thêm của khối tiền tệ. Ngược lại khi muốn giảm bắt khối tiền tệ NHTW bán trái phiếu chính phủ trên thị trường mở cho bất cứ ai muốn mua, ngân hàng doanh nghiệp hoặc cá nhân. Hậu quả là dự trữ của NHTG tại NHTW giảm xuống, khả năng cho vay của NHTG bị thu hẹp, nhất là khi tiền mua trái phiếu chính phủ do cá nhân hay doanh nghiệp mua và trả bằng chi phiếu tiền gửi không kỳ hạn giảm, làm giảm thiểu khối tiền tệ. Như vậy, Sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và của hệ thống ngân hàng nói riêng đã tạo điều kiện cho NHTW các nước có thể điều hành chính sách tiền tệ của mình một cách linh hoạt và chủ động hơn, đáp ứng sự vận động ngày càng nhanh chóng của luồng vốn lưu chuyển trong nền kinh tế. Với Thị trường mở, NHTG có thể tìm cho mình nguồn tài trợ cần thiết với những thủ tục nhanh gọn. Cho nên hoạt động của thị trường mở ngày càng quan trọng hơn, làm giảm bớt hoạt động tái chiết khấu. Qua thị trờng này, NHTW có thể tác động đến việc tăng giảm khối tiền tệ một cách trực tiếp đối với ngân hàng. 1.4 Kiểm soát tín dụng có chọn lọc (Selective Credit Controls) Ba công cụ vận dụng để thực thi Chính sách tiền tệ kể trên có tác dụng tổng quát là kiểm soát khối lượng cho vay của ngân hàng, mức lãi suất và khối tiền tệ nói chung. Nhưng NHTG còn thoải mái ở chổ là muốn cho ai vay tùy sự xét đoán của mình. Điều đó có nghĩa là ba công cụ nêu trên chưa ảnh hưởng đến cơ cấu tín dụng mà NHTG cấp cho khách hàng. Nếu không áp dụng chính sách kiểm soát tín dụng “chọn lọc”, NHTG sẽ chỉ hướng tín dụng vào những ngành kinh doanh lớn, cho xí nghiệp nước ngoài vay hoặc cho vay để mua bán chứng khoán, ít chú trọng đến những ngành hoạt động có lợi ích xã hội nhiều hơn như xây dựng nhà cửa, doanh nghiệp nhỏ... Một chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc sẽ giới hạn mức tín dụng tối đa cấp cho những ngành mà Nhà nước không ưu tiên phát triển nữa, ngược lại ưu đãi những ngành hoạt động nào được xem như ưu tiên, cần yểm trợ tín dụng mạnh hơn. Ví dụ như xây cất nhà, doanh nghiệp nhỏ, hay có sự phân biệt để ưu tiên phát triển những vùng lãnh thổ đặc biệt so với những ngành khác. Việc yểm trợ tín dụng ưu đãi với một lãi suất ưu đãi là một đòn bẩy giúp thực hiện chính sách kinh tế của Nhà nước.
  12. Chính sách này muốn đạt mục tiêu của nó cần nâng cao chất lượng kiểm soát và thanh tra NHTG, chất lượng đó tùy thuộc trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ và đạo đức liêm khiết của họ. 1.5 Thực hiện chính sách lãi suất Lãi suất là một công cụ quan trọng đặc biệt trong tay NHNN để hạch định và điều hành chính sách tiền tệ. Lãi suất là vấn đề hết sức nhạy cảm trong nền kinh tế, nó tác động đến mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, tích luỹ tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư... Kinh nghiệm cho thấy vai trò quan trọng của cơ chế điều hành lãi suất đối với mục tiêu ổn dịnh và phát triển thị trường tài chính tiền tệ, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế. Chính sách lãi suất có thể bao gồm tiền vay và tiền gởi ngân hàng. Thông thường, chính sách lãi suất tiền gởi và tiền vay biến động cùng chiều, nghĩa là cả hai mức lãi suất đó đều tăng lên hay giảm xuống: khi tăng lãi suất tiền gởi lên, lãi suất cho vay cũng được nâng lên và ngược lại tùy theo chính sách của NHTW. Các chính sách lãi suất mà ngân hàng các nước cũng như Việt Nam đã từng áp dụng là: chính sách lãi suất trần, lãi suất sàn, chính sách chênh lệch lãi suất, chính sách lãi suất cơ bản, lãi suất thỏa thuận, tự do hóa lãi suất... Các mức và cơ cấu lãi suất cần hướng đến các mục tiêu sau :  Khuyến khích tích lũy và sự trung gian tài chính.  Hướng các nguồn tài chính vào hoạt động có tỷ suất lợi nhuận cao nhất.  Điều chỉnh cơ cấu thời hạn của các luồng tài chính, có nghĩa là phân định vốn ngắn hạn và vốn dài hạn.  Cho phép các tổ chức tài chính có sự chênh lệch lãi suất thích hợp để bù đắp chi phí hoạt động và có lãi. Dựa vào chính sách lãi suất mà các NHTG tùy thuộc vào từng thời kỳ và mục tiêu của Chính sách tiền tệ mà NHTW đề ra các chính sách lãi suất phù hợp nhằm điều tiết hoạt động tín dụng của NHTG, từ đó sẽ tác động đến mức tổng mức cung tiền trong lưu thông. 1.6 Ấn định một biên vực bắt buộc trong cho vay Ap dụng đối với việc kinh doanh trên thị trường chứng khoán. Trong kinh doanh chứng khoán, người đầu tư thường sử dụng vốn tín dụng do ngân hàng cung cấp. Nhà nước hay NHTW quy định một giới hạn tiền mặt phải trả trong kinh doanh chứng khoán gọi là biên vực. Khi biên vực mở rộng thì hoạt động tín dụng sẽ bị thu hẹp và ngược lại. Ơ những nước công nghiệp phát triển, thị trường chứng khoán hoạt động rất rộn rịp, các NHTM thường tài trợ các nghiệp vụ mua cổ phiếu và trái phiếu theo thể thức thiếu chịu: trong đó người mua chi trả tiền ngay một phần trị giá mua, số còn lại thì nợ người trung gian giá khoán. Người này giữ chứng khoán làm vật thế chấp và dùng nó vay lại ở NHTM, số tiền trả ngay gọi là “biên vực”. Ơ những nước còn đang phát triển hoặc chưa có thị trường chứng khoán, người ta có thể áp dụng thể thức này hơi khác bằng cách ấn định tỷ lệ cho vay áp
  13. dụng cho sản xuất, kinh doanh cao hay thấp tùy theo tình hình. Nếu muốn bành trướng khối tiền tệ, tỷ lệ cho vay trên vốn lưu động hay trên trịo giá lô hàng thế chấp cao. Ngược lại khi muốn hạn chế tín dụng NHTM. NHTW ấn định tỷ lệ cho vay thật thấp, làm như vậy là để buộc các đơn vị phải tung hàng tồn kho ra bán, không giữ hàng lại để chờ giá lên. Và như vậy nghiệp vụ này giống chính sách kiểm soát tín dụng có chọn lọc áp dụng cho từng ngành hoạt động. 1.7 Kiểm soát tín dụng tiêu dùng Ơ các nước công nghiệp phát triển, thường người ta hay khuyến khích tiêu dùng bằng nhiều cách, chẳng hạn như bán trả góp. Nhưng trong nhiều trường hợp nhất là trong tình trạng chiến tranh, NHTW có quyền quy định mức trả tiền ngay cao hay thấp đối với những nghiệp vụ bán hàng tiêu dùng trả góp hay mua nhà trả góp, để hạn chế hay khuyến khich các nghiệp vụ này. NHTW cũng có thể rút ngắn thời hạn thiếu chịu bằng cách tăng thêm tiền trả góp hằng tháng. Ơ nước ta, thể thức mua bán này ít thông dụng nhưng cũng đề cập tới, khi nền sản suất đến giai đoạn sản xuất nhiều thì thể thức bán hàng trả góp rất phổ biến và NHTW sẽ thấy lúc nào cần áp dụng sự can thiệp của mình. Các công cụ để thực thi Chính sách tiền tệ trên đây chỉ liên quan đến hai đầu mối quan hệ của NHTW với NHTG và với thị trường tiền tệ. 2. Vận dụng đối với khu vực tài chính tiền tệ đối ngoại Ngân Hàng Trung ương thường được giao phó nhiệm vụ giao dịch với khu vực tài chính tiền tệ nước ngoài, tức là với NHTW khác, các cơ quan tài chính tiền tệ, tín dụng quốc tế... và thực hiện quản lý ngoại hối, thực hiện những nghiệp vụ liên quan tới cán cân thanh toán quốc tế, tổ chức và điều tiết thị trường hối đoái trong nước, giao dịch mua bán ngoại hối trên thị trường quốc tế nhằm bảo vệ giá trị quốc ngoại của đồng tiền tệ quốc gia. Các chính sách đưa ra bao gồm: 2.1 Dự trữ ngoại hối Được sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo mục tiêu của Chính sách tiền tệ. Mỗi nước đều có khối dự trử ngoại hối, lớn hay nhỏ tùy theo khả năng của nền kinh tế nước đó có thể tạo lập được nhiều hay ít. Nó là kết quả của tổng số thu và chi ngoại tệ (kể cả vàng) của một nước trong một thời hạn nhất định, thường là một năm. Dự trữ ngoại hối tăng khi thu lớn hơn chi bất kể thu chi ngoại hối vì lý do gì. Điều đó có được khi ngân hàng trung ương mua bán ngoại hối. Ngân hàng trung ương mua ngoại hối, khối tiền tệ tăng thêm; ngược lại khi bán ngoại hối khối tiền tệ giảm, nếu những yếu tố khác không thay đổi.Nói chung, dự trữ ngoại hối được thành lập là do :  Do tích lũy của NHTW, nguồn quỹ dự trữ của Ngân sách Nhà nước.  Phần trăm tỷ lệ ngoại tệ của các đơn vị, tổ chức có thu nhập ngoại tệ phải bán lại cho Ngân hàng trung ương. Sự biến chuyển trong Dự trữ ngoại hối tùy thuộc vào hai yếu tố chính là Thị trường hối đoái và Chính sách hối đoái mà ta sẽ xem xét tiếp sau đây :
  14. 2.2 Thiết lập và điều tiết hoạt động của thị trường ngoại hối Thị trường hối đoái là nơi mua bán ngoại tệ. Thị trường hối đoái tạo điều kiện môi trường để việc mua bán giao dịch trao dịch trao ngoại hối diển ra một cách thuận lợi dể dàng. Trong một nước mà thị trường hối đoái tổ chức quá đơn sơ, thị trường hối đoái không tổ chức sẽ bành trướng mạnh mẽ, khiến cho NHTW chẳng những không tích lũy được dự trữ ngoại hối, mà cũng không chủ động được nguồn cung ứng tiền tệ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các đơn vị này khi có nhu cầu ngoại tệ lại đi mua ngoại tệ trôi nổi trên thị thị trường không tổ chức bằng lượng tiền đồng trong nước mà hậu quả cuối cùng là số lượng tiền nội địa lớn luân chuyển ngoài hệ thống Ngân hàng: một yếu tố làm tăng áp lực vay tiền Ngân hàng để bổ sung nguồn vốn lưu động và NHTM lại thiếu tiền. Từ đó áp lực trên nhu cầu phát hành tiền sẽ gia tăng. Thị trường hối đoái có tổ chức hoàn hảo hay không còn tùy thuộc vào chính sách hối đói (đáp ứng chính sách kinh tế mở cửa tới mức độ nào...) 2.3 Chính cách ngoại hối Tập hợp tất cả những quy chế, chính sách, điều kiện, yêu cầu về quản lý ngoại hối. Trên cơ sở đó mà đảm bảo cho mọi công cụ liên quan đến ngoại hối hoạt động có hiệu quả. Đối với Việt Nam, nguyên tắc là áp dụng chính sách ngoại hối có quản lý chặt. Theo đó, tất cả các tổ chức, các cá nhân có ngoại tệ đều phải bán cho ngân hàng được phép kinh doanh ngoại hối, khi có nhu cầu thì mua ngoại tệ tại ngân hàng. Các tổ chức thì có thể mua ngoại tệ tại thị trường hối đoái trong nước. Nhưng trong thực tế, các tổ chức cá nhân lại có thể mua bán ngoại tệ trôi nổi ngoài những nơi chỉ định trên, mặc dầu bị cấm đoán. Chính vì vậy một lượng lớn ngoại tệ đang lưu hành bên ngoài hệ thống ngân hàng. Lại nữa, chúng ta đang tổ chức thị trường mua bán ngoại tệ với tỷ giá dựa trên cơ sở cung cầu thị trường, đồng thời vẫn duy trì một cơ chế tiền gởi bằng ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng để rồi nhận lấy hết những rủi ro không đáng có. Có một nghịch lý là: Trong khi chúng ta đang khuyến khích thu hút ngoại tệ vào trong nước để đầu tư phát triển kinh tế, nhưng với cơ chế và cách làm của ta, chúng ta phải đem ngoại tệ ra gởi ở nước ngoài, vô tình đã làm lợi cho những nước có ngoại tệ đó ! Tóm lại, một chính sách ngoại hối độc quyền, quá cứng nhắc sẽ không tránh khỏi những căng thẳng như trên. Đó là điểm cần lưu ý khi thiết lập một thị trường hối đoái có tổ chức với những quy định sao cho uyển chuyển thích hợp với tình hình thực tế trong nước mà không cản trở sản xuất kinh doanh. 2.4 Tỷ giá hối đoái (hối suất) Tỷ giá hối đoái là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, cũng là đòn bẩy kinh tế tác động mạnh đến các hoạt động sản suất kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu trong nước. Việc hình thành tỷ giá hối đoái phải theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định tùy theo điều kiện, đặc điểm của từng thời kỳ.
  15. Một tỷ giá hối đoái quá thấp (tức đồng bản tệ có giá trị tăng lên so với ngoại tệ) có tác dụng khuyến khích nhập khẩu, gây bất lợi cho xuất khẩu vì hàng xuất khẩu tương đối đắt, khó bán ra nước ngoài, tức là gây trở ngại cho ngành sản xuất trong nước hướng về xuất khẩu, bất lợi cho việc chuyển dịch ngoại tệ từ nước ngoài vào trong nước, khối lượng dự trữ ngoại hối sẽ bị xói mòn. Ngược lại, một tỷ giá hối đoái cao sẽ có tác động bất lợi cho nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu vì làm cho hàng nhập khẩu đắt hơn, hàng xuất khẩu rẻ hơn, dể cạnh tranh trên thịo trường quốc tế, dể tìm được thị trường hơn. Do đó, những ngành sản xuất có nguyên liệu nhập khẩu hay thay thể hàng nhập khẩu gặp trở ngại trong khi ngành sản xuất hàng cho thị trường nước ngoài thuận lợi hơn, lượng ngoại tệ có khuynh hướng chuyển vào trong nước khá hơn, khối dự trử ngoại tệ có cơ hội gia tăng. Trong các trường hợp trên, NHTW can thiệp để giữ cho tỷ giá hối đoái không thăng trầm quá đáng, làm dịu bớt những tình trạng bất ổn định của nền kinh tế trong nước. NHTW can thiệp trên thị trường hối đoái bằng cách tham gia mua hay bán ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái biến đổi trong một biên vực không quá lớn, nhờ đó chế ngự bớt tác động đối với nền kinh tế trong nước. Khi giá ngoại tệ lên cao, NHTW đưa ngoại tệ ra bán để làm chậm bớt nhịp tăng giá ngoại tệ. Dĩ nhiên, chỉ làm được điều đó khi dự trữ ngoại còn ở mức độ tương đối khả quan. Ngược lại, khi giá ngoại tệ xuống quá thấp, NHTW dùng tiền trong nước mua ngoại tệ vào để duy trì một biên vực biến đổi ít tác động mạnh đối với sinh hoạt kinh tế trong nước nhất là để tái tạo khối dự trữ ngoại tệ đã bị thiếu hụt. PHẦN 2. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM A . TÌNH HÌNH VẬN HÀNH CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
  16. CỦA NHNN VIỆT NAM HIỆN NAY I. MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC Mục tiêu chiến lược theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX là : “Thực thi Chính sách tiền tệ góp phần ổn định kinh tế vi mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy sản suất tiêu dùng, kích thích đầu tư phát triển. Sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ như tỷ giá, lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở... theo nguyên tắc thị trường. Nâng dần và tiến tới thực hiện đầy đủ tính chuyển đổi của đông Việt Nam... hình thành môi trường minh bạch, lành mạnh và bình đẳng cho hoạt động của hệ thống Ngân hàng... “ II. CÁC CÔNG CỤ ĐIỀU HÀNH CSTT HIỆN NAY Mục đich của Chính sách tiền tệ là điều tiết lượng tiền trong lưu thông, sự điều tiết này thể hiện qua hai hướng: mở rộng và thắc chặc tiền tệ. Việc điều tiết lượng cung tiền như thế nào để cho nền kinh tế phát triển một cách nhịp nhàng luôn là vấn đề nan giải của các quốc gia, thiếu hay thừa tiền luôn có tác dụng tiêu cực của nó. Tuy nhiên, trong thực tế điều hành CSTT tùy vào từng thời kỳ phát triển kinh tế, tùy vào hoàn cảnh cụ thể của Kinh tế - xã hội mà sử dụng CSTT thắt chặt hay mở rộng tiền tệ. Đây cũng là vấn đề nhạy cảm đối với các nhà điều hành CSTT. Để làm được điều này, NHTW phải sử dụng hàng loạt các công cụ như: dự trữ bắt buộc, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở. Ơ nước ta trong thời gian qua, NHNN đã thể hiện vai trò của mình trong việc thực thi CSTT, được thể hiện thông qua việc sử dụng các công cụ như sau: 1. Công cụ lãi suất Lãi suất là một công cụ quan trọng đặc biệt trong tay NHNN để hạch định và điều hành Chính sách tiền tệ. Lãi suất là vấn đề hết sức nhạy cảm trong nền kinh tế, nó tác động đến mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, tích luỹ tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư... Kinh nghiệm quốc tế và thực tiển nước ta trong nhiều năm đổi mới cho thấy vai trò quan trọng của cơ chế điều hành lãi suất đối với mục tiêu ổn định và phát triển thị trường tài chính tiền tệ, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế. Thật vậy, cùng với tiến trình đổi mới, điều hành CSTT, việc điều hành lãi suất của NHNN đã không ngừng hoàn thiện. Từ việc NHNN bắt đầu chuyển sang thực hiện chính sách lãi suất thực dương từ chế độ lãi suất âm năm 1992, từng bước xoá bỏ bao cấp qua lãi suất, đánh dấu bước khởi đầu cho thực hiện mục tiêu tự do hóa lãi suất. Từ cơ chế trần lãi suất thực hiện từ năm 1996, NHNN đã chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản năm 2000, thực hiện tự do hóa lãi suất cho vay ngoại tệ từ tháng 6/2001 và thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng (TCTD) với khách hàng từ tháng 6/2002. Điểm khác biệt và nội dung đổi mới chủ yếu của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản khác với các cơ chế lãi suất trước đó kể cả cơ chế lãi suất trần gần đây được coi là có nhiều tính ưu việc hơn, đó là việc xác định một mức lãi suất dựa vào quan hệ cung cầu vốn tín dụng trên thị trường, thông qua việc tính toán bình
  17. quân các mức lãi suất huy động và cho vay của một số NHTM được chọn làm đại diện, đồng thời có tham khảo cân nhắc thêm lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất thị trường mở, lãi suất đấu thầu trái phiếu kho bạc và một số chỉ tiêu mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số lạm phát, tỷ giá...mức lãi suất này được công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng thực hiện cho vay. Rõ ràng là nếu như các cơ chế lãi suất trước đó chủ yếu được điều hành theo ý thức chủ quan áp đặt hành chính thì với cơ chế lãi suất này đã thực hiện một bước đổi mới cơ bản là NHNN đã điều hành lãi suất theo tín hiệu thị trường chú trọng đến cung cầu vốn tín dụng và mục tiêu của Chính sách tiền tệ. Điều đáng ghi nhận là quá trình đổi mới điều hành lãi suất đã được NHNN thực hiện theo hướng tiến tới mục tiêu tự do hóa với những bước đi thận trọng phù hợp với xu hướng phát triển của Thị trường tiền tệ, khả năng kiểm soát tiền tệ của NHNN và mức độ hội nhập của kinh tế Việt Nam vào Thị trường tài chính khu vực và thế giới. Việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận giữa TCTD va khách hàng đã tạo điều kiện cho các quan hệ tín dụng, lãi suất phát triển, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa các TCTD. Vấn đề nổi bật trong cả năm 2002 là lãi suất diễn biến trái chiều nhau, trong khi lãi suất ngoại tệ giảm xuống thì lãi suất nội tệ tăng lên. Trước yêu cầu khách quan của thực tiễn, từ ngày 1/6/2002 NHNN quyết định chuyển sang cơ chế lãi suất thoả thuận Đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Theo đó các tổ chức tín dụng được chủ động thoả thuận lãi suất đối với khách hàng trên cơ sở cung cầu vốn, lãi suất cơ bản do NHNN công bố chỉ có tính chất tham khảo. Tuy nhiên NHNN vẫn tiếp tục điều hành và thực hiện lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn đối với các tổ chức tín dụng. Nếu như lãi suất huy động vốn cao nhất của các tổ chức tín dụng trong các tháng đầu năm 2002 chỉ dừng ở mức 0,6% /tháng, lãi suất cho vay bình quân 0,7% /tháng thì từ tháng 6 và đặc biệt từ tháng 8/2002 và 9/2002 đã tăng lên cao. Lãi suất huy độngvốn cao nhất của nhiều NHTM lên tới 0,7% thậm chí 0,72%, cao nhất trong vòng 3 năm gần qua. Ngay cả Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam và Ngân Hàng Công Thương Việt Nam luôn có thế mạnh về huy động vốn, có lãi suất tiền gửi thấp, thường xuyên bán buôn vốn và chi phối trên thị trường tiền tệ nhưng từ tháng 8 và 9/2002 tung ra chiến dịch huy động vốn bằng các kỳ phiếu và trái phiếu lên tới 8% - 8,2%/năm. Tình hình đó đã thực sự cho thấy sự sôi động của thị trường vốn. Điều này trước hết do nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng lên, tiếp theo là do sự phát triển của thị trường bất động sản và cuối cùng là do nhiều tổ chức phi ngân hàng tham gia cạnh tranh tích cực trên thị trường vốn như hoạt động của Trung tâm giao dịch Chứng khoán tại Thành Phố Hồ Chí Minh, các Công ty bảo hiểm, Quỹ đầu tư, Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính, Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện... làm cho các NHTM không còn độc quyền trên thị trường vốn như trước đây nữa. Như vậy, qua gần 20 năm đổi mới, cơ chế lãi suất của NHNN đã được hoạch định theo hướng tích cực nới lỏng, từng bước hướng tới tự do hoá, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội trong nước, mức độ hội nhập của nền kinh tế nước ta với thị trường tài chính khu vực và thế giới. Cơ chế điều hành lãi suất
  18. ngày càng trở nên linh hoạt hơn, bám theo cung cầu vốn thị trường, dần dần mở rộng quyền chủ động xác định lãi suất kinh doanh cho các tổ chức tài chính để tăng khả năng cạnh tranh nhưng vẫn đảm bảo sự kiểm soát và điều hành của NHNN đối với lãi suất trên thị trường tiền tệ. 2. Công cụ tỷ giá hối đoái Với hiệp định thương mại Việt Mỹ và những nội dung trong cam kết AFTA lĩnh vực ngân hàng Việt Nam đang từng bước xoá bỏ những khác biệt trong trong chính sách giữa các NHVN và ngân hàng nước ngoài. Vì vậy chính sách ngoại hối, tỷ giá, Việt Nam cũng cần phải có những bước thay đổi phù hợp. Để thực hiện mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức ổn định 7-9%/năm, Việt Nam cần có những chính sách kinh tế nói chung và những chính sách tỷ giá nói riêng hợp lý, ổn định tạo môi trường thuận lợi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, duy trì tỷ giá hối đoái phù hợp với quan hệ cung cầu trên thị trường đồng thời không ngừng nâng cao uy tín của Đồng Việt Nam nhằm từng bước làm cho Đồng Việt Nam trở thành đồng tiền tự do chuyển đổi, góp phần ngăn chặn tình trạng đô la hoá trong nền kinh tế, tỷ giá hối đoái cần được điều hành một cách linh hoạt, phù hợp với cung cầu ngoại tệ nhằm khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, tăng dự trữ ngoại tệ cho đất nước, không để xảy ra những biến động lớn gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế xã hội. Cơ chế điều hành TGHĐ hiện nay là không ấn định một cách cứng nhắc bằng mệnh lệnh hành chính, chênh lệch nhiều với tỷ giá thực tế giao dịch trên thị trường mà là tỷ giá thực tế hình thành khách quan trên thị trường có tổ chức và thị trường tự do. Thay thế việc quản lý mang tính hành chính của NHNN bằng một cơ chế mềm dẻo hơn, ít mang tính áp đặt hơn, dựa vào công cụ kinh tế là chính nhưng không buông lỏng, thả nổi tỷ giá một cách tuỳ tiện. Cụ thể: Lấy tỷ giá thực tế bình quân trên thị trường liên ngân hàng làm căn cứ xác định giá mua bán ngoại tệ giữa ngân hàng với ngân hàng, giữa ngân hàng với doanh nghiệp và dân cư. Các NHTM xác định giá mua bán cụ thể trong phạm vi nhất định so với giá thực tế giao dịch bình quân thị trường liên ngân hàng của ngày gần nhất. Trước đó (hiện nay là +/- 0,25%) và vì vậy đã hạn chế thấp nhất những tác động của việc kích giá tăng đột biến, gây ảnh hưởng xấu về Kinh tế - xã hội. So với cơ chế trước đây thì cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay là một bước chuyển đổi khá căn bản về phương thức điều hành. Cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay là sự chuyển đổi từ cơ chế tỷ giá cố định do NHNN quy định và chỉ được điều chỉnh trong những tình huống hết sức cấp thiết sang một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn, phản ứng nhạy bén hơn với cung cầu thị trường nhưng vẫn được quản lý khá chặt chẽ. Cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay đã làm cho thị trường ngoại tệ của Việt Nam sôi động lên với doanh số giao dịch cao trên cả thị trường liên ngân hàng và thị trường ngoại tệ nói chung. Lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường đã
  19. tăng lên đáng kể, mức cung ngoại tệ dồi dào và đáp ứng được các nhu cầu về ngoại tệ của nền kinh tế. Tỷ giá trên thị trường tự do cũng luôn bám sát tỷ giá của thị trường chính thức. Lòng tin đối với Đồng Việt Nam đã được nâng cao. Thị trường ngoại tệ trong nước đã được ổn định và chính mối tương quan giữa cung cầu ngoại tệ đã thực sự quyết định mức tỷ giá tạo nên tính ổn định của thị trường. Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái hiện nay là một bước tiến tích cực góp phần quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội, đồng thời nó là một tất yếu khách quan trong quá trình đổi mới đất nước. Tuy nhiên thị trường ngoại hối Việt Nam vẫn còn những điểm chưa được: thị trường ngoại hối Việt Nam chưa thực sự phát triển, các giao dịch hối đoái chủ yếu vẫn là giao ngay đơn thuần, khối lượng giao dịch ngoại tệ chưa cao, tình trạng đầu cơ găm giữ ngoại tệ còn khá phổ biến. Việc đánh giá cung cầu ngoại tệ rất khó khăn trong khi khả năng can thiệp và phối hợp các công cụ chính sách còn nhiều hạn chế. Hệ thống thanh toán chưa phát triển, hiện tượng sử dụng đô la trong thanh toán còn phổ biến dẫn tới những ảnh hưởng khó lường đối với tỷ giá hối đoái. Khối lượng ngoại tệ trôi nổi ngoài hệ thống ngân hàng chưa được kiểm soát còn rất lớn. Bên cạnh đó các hệ thống văn bản hướng dẫn còn chồng chéo gây khó khăn trong việc cân đối cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế để làm cơ sở hoạch định chính sách tỷ giá. Tóm lại môi trường để ổn định tỷ giá hối đoái ở Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn, để ổn định thì cần có những giải pháp cụ thể. 3. Công cụ dự trữ bắt buộc Là công cụ hổ trợ, công cụ gián tiếp được chính thức thực hiện năm 1992. Kể từ thời điểm đó đến nay, công cụ dự trữ bắt buộc đã không ngừng được đổi mới và hoàn thiện. Ban đầu theo quy định của Thống đốc NHNN năm 1992 tiền dự trữ bắt buộc được duy trì tại một tài khoản riêng với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% trên toàn bộ tiền gởi ở các TCTD. Theo đó, vai trò của công cụ dự trữ bắt buộc là để bảo đảm khả năng thanh toán và kiển soát cung ứng tiền tệ nhưng lại hạn chế NHNN dự báo nhu cầu tăng giảm dự trữ của các NHTM và vốn của các NHTM không được sử dụng một cách linh hoạt. Chính vì vậy, để khắc phục các hạn chế trên, năm 1995 công cụ dự trữ bắt buộc đã được đổi mới với một số quy định chủ yếu như: tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán được thống nhất vào một tài khoản, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% áp dụng cho các loại tiền gửi dưới 1 năm và trong cơ cấu trên dự trữ bắt buộc có 70% phải gửi tại NHNN và các TCTD phải thường xuyên duy trì đầy đủ số tiền dự trữ bắt buộc phải gửi tại NHNN (duy trì hằng ngày). Với những đổi mới này NHNN có thể dự báo nhu cầu dự trữ của các TCTD thông qua theo dõi mức dự trữ vượt. Tuy nhiên, việc khống chế theo ngày cộng với sự phát triển của thị trường tiền tệ còn ở mức độ thấp khiến cho công cụ này trở nên cứng nhắc, các TCTD luôn để vượt hạn chế khả năng sử dụng vốn hiệu quả của các TCTD. Bước đổi mới đáng kể nêu trên gắn liền với sự ra đời của hai luật ngân hàng. Từ năm 1999, công cụ dự trữ bắt buộc bắt đầu được áp dụng mở rộng. Với cách tính dự trữ bắt buộc mới, các TCTD có thể điều hành vốn linh hoạt hơn trước đây. Đồng thời NHNN có thể dự đoán được nhu cầu dự trữ của các NHTM, tăng khả năng kiểm soát tiền tệ của NHNN. Thêm vào đó, năm 1999, tỷ
  20. lệ dự trữ bắt buộc đã được điều chỉnh ngày càng linh hoạt phù hợp với mục tiêu CSTT trong từng thời kỳ. Nếu so sánh các lần tăng giãm tỷ lệ dự trữ bắt buộc với các mức lạm phát và lãi suất qua các năm ta sẽ thấy, thời kỳ có lạm phát cao hay lãi suất cao cũng là lúc tỷ lệ DTBB được quy định ở mức cao. Điều này cho thấy đã có sự phối hợp vân dụng công cụ tỷ lệ DTBB với các công cụ khác của CSTT trong điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Điều này rất dể thấy trong diển biến của tỷ lệ DTBB trong năm 1999, đây là năm mà Chính phủ mở rộng tiền tệ để kích cầu, lãi suất trần được điều chỉnh giảm 4 lần thì tỷ lệ DTBB cũng giảm 3 lần. Đến năm 2000, việc điều chỉnh tăng tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi bằng ngoại tệ đã có tác dụng hạn chế dòng chuyển đổi từ đồng VND sang đồng USD, khắc phục tình trạng khan hiếm VND của các TCTD, hạn chế phần nào hiện tượng đô la hóa trong tài sản của hệ thống ngân hàng, góp phần thực hiện mục tiêu CSTT. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gởi nội tệ vẫn được giử nguyên ở mức thấp nhất trong hơn hai năm qua, 2% đối với NHNN0 & PTNT VN và 3% với các TCTD đô thị khác. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ được điều chỉnh giảm từ 12% xuống còn 8% thực hiện từ tháng 4 - 2002. Tiếp đến, trước diển biến FED cắt giảm 05%/năm lãi suất chủ đạo đối với USD, NHNN cũng quyết định giảm tỷ lệ DTBB tiền gửi USD xuống còn 5% thực hiện từ tháng 12/2002. 4. Công cụ tái chiết khấu, tái cấp vốn Lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là công cụ khá nhạy cảm trong quá trình điều hành khối lượng tiền tệ và đã được Nhà nước cho phép sử dụng tại điều 41, 43 pháp lệnh NHNNVN nay là điều 17 luật NHNNVN. Tuy nhiên, thực tế nước ta do chưa có các công cụ truyền thống trực tiếp để thực hiện việc chiết khấu và tái chiết khấu. Do đó việc chiết khấu đang được thực hiện dựa trwn các chứng từ do NHTM đã cho vay nhưng chưa đến hạn các doanh nghiệp phải trả nợ. Căn cứ vào các chứng từ đó, NHNN cho các NHTM vay lại những khoản nợ mà NHTM đã cho các doanh nghiệp vay. Bên cạnh phương pháp tái chiết khấu này NHNN còn thực hiện phương thức mua lại các dự án đã được ngân hànNHTG thẩm định trước khi đầu tư nhưng không đủ nguồn vốn. Cũng do chưa có những công cụ nghiệp vụ để thực hiện công cụ lãi suất tái chiết khấu nên NHNNVN đã sử dụng hình thức cho vay cầm cố. Hình thức này được thực hiện bằng cách các NHTM, các TCTD đem một số loại giấy tờ có giá trị đến NHNN làm vật thế chấp để vay tiền. Loại tín dụng này nhằm giải quyết khó khăn rài chính tạm thời cho các NHTM. Trong giai đoạn trước 3/1997, NHNN quy định lãi suất tái cấp vốn theo lãi suất cho vay trên từng khế ước xin tái cấp vốn, chính vì vậy mà lãi suất tái cấp vốn mang tính bị động, lãi suất tái cấp vốn có sự phân biệt giữa các ngân hàng. Kể từ 3/1997, cùng với việ hoàn thiện cơ chế lãi suất, lãi suất tái cấp vốn đã được xác định một cách độc lạp, tái cấp vốn đã thực sự trở thành công cụ tiền tệ được NHNN quan tâm trong việc điều tiết cung ứng tiền. Cứ mỗi lần thay đổi lãi

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản