Đề tài: CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ MỸ YÊN - ĐẠI TỪ - THÁI NGUYÊN

Chia sẻ: redsun121091

Qua chuyến đi thực tế đầy thú vị và bổ ích trong vòng sáu ngày tại xã Mỹ Yên huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, lớp Cử nhân Khoa học Quản lý K8 chúng tôi đã có cơ hội vận dụng những kiến thức đã được học ở Nhà trường vào trong thực tế chuyến đi của mình, có được sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài: CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ MỸ YÊN - ĐẠI TỪ - THÁI NGUYÊN

Luận văn
Đề tài: TÀI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
TẠI XÃ MỸ YÊN - ĐẠI TỪ - THÁI NGUYÊN
Qua chuyến đi thực tế đầy thú vị và bổ ích trong vòng sáu ngày tại xã
Mỹ Yên huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, lớp Cử nhân Khoa học Quản lý
K8 chúng tôi đã có cơ hội vận dụng những kiến thức đã được học ở Nhà
trường vào trong thực tế chuyến đi của mình, có được sự kết hợp giữa lý
thuyết và thực hành. Đồng thời giúp chúng tôi học hỏi và lĩnh hội thêm
nhiều kiến thức về các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội của xã
Mỹ Yên để từ đó thấy được đời sống vật chất, tinh thần của người dân nơi
đây và cả những mong muốn mà người dân muốn gửi gắm tới Đảng & Nhà
nước, tới lãnh đạo chính quyền địa phương và tới cả chúng tôi nữa – những
chủ nhân, Nhà Quản lí tương lai của đất nước. Họ hy vọng rằng những đóng
góp nhỏ của chúng tôi trong đề tài nghiên cứu sẽ phần nào giúp đỡ được bà
con nhân dân trong xã dù nó mới chỉ là trên lí thuyết.
Cũng thông qua chuyến đi này đã giúp cho các thành viên trong lớp từ
chỗ chưa biết tên nhau trở thành những người bạn tốt của nhau, gắn bó và
đoàn kết. Chúng tôi cũng đã học được cách làm việc với một tập thể, với cán
bộ xã và cả những người dân nữa. Đây quả thực là một môi trường rèn luyện
rất tốt cho chúng tôi, là điều kiện giúp cho chúng tôi tự hoàn thiện bản thân
mình.
Để có được những kết quả thành công như trên đó chính là nhờ vào sự
giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo cũng như các cấp chính quyền và nhân
dân xã Mỹ Yên. Vì vậy, trước tiên chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành
tới Ban giám hiệu trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên cùng
các thầy cô trong Khoa Văn – Xã hội đã tạo điều kiện và giúp đỡ chúng em
có được chuyến đi thực tế này.
Chúng em xin gửi tới cô Nguyễn Thị Linh – giảng viên khoa Văn–Xã
hội lời cảm ơn chân thành nhất. Cảm ơn cô đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn
chúng em trong suốt quá trình đi thực tế và viết báo cáo thu hoạch để nhóm
hoàn thành đề tài.
Cuối cùng, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cấp lãnh
đạo và toàn thể bà con nhân dân xã Mỹ Yên đã luôn luôn sát cánh, giúp đỡ
chúng em trong suốt quá trình hực hiện đề tài tại địa phương.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2011.
Nhóm đề tài 05.
MỤC LỤC
A. Phần mở đầu ………………………………………………….
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
3.1.
Phạm vi nghiên cứu
3.2.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu
4.1.
Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn sâu
5.1.
Phương pháp quan sát
5.2.
Phương pháp phân tích tài liệu
5.3.
6. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lí luận
6.1.
Ý nghĩa thực tiễn
6.2.
7. Kết cấu báo cáo
B. Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Một số khái niệm liên quan
1.1.
Quan điểm, mục tiêu của Đảng và Nhà nước đối với công tác xóa
1.2.
đói giảm nghèo
Ý nghĩa của việc xóa đói giảm nghèo đối với sự phát triển kinh tế
1.3.
xã hội
Chương 2: Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Mỹ Yên huyện
Đại Từ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2011

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội xã Mỹ Yên
huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2.Tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Mỹ Yên, huyện
Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2.2.1.Tình trạng đói nghèo tại xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2.2.2. Một số chính sách, chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo đã và
đang được thực hiện tại xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

2.2.3 kết quả thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo ở xã Mỹ Yên giai đoạn
2008 – 2010

2.2.4. Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quá trình thực hiện
công tác xóa đói giảm nghèo

2.2.4.1. Một số hạn chế

2.2.4.2. Nguyên nhân của hạn chế

Chương 3: Một số khuyến nghị và giải pháp

3.1. Khuyến nghị

3.1.1. Đối với chính quyền xã
3.1.2. Đối với hộ nghèo đói
3.2. Đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo
3.2.1. Tạo điều kiện cho người nghèo phát tiển sản xuất – tăng thu nhập
3.2.2. Tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ
3.2.3. Đối với lãnh đạo chính quyền ở địa phương
ĐỀ TÀI
CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ MỸ YÊN HUYỆN
ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đói nghèo là một vấn đề mang tính toàn cầu, là sự quan tâm hàng đầu
của mọi quốc gia và mọi nền kinh tế. Khi xã hội càng phát triển thì sự tồn tại
của một bộ phận lớn những người nghèo lại làm cho khoảng cách giữa
người giầu và người nghèo trở nên lớn hơn và khi đó người nghèo lại càng
khó tiếp cận được với các dịch vụ của xã hội. Có thể khẳng định chắc chắn
rằng, nghèo đói chính là một rào cản lớn thực hiện tiến bộ xã hội, là nguyên
nhân của tình trạng thất học, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, sự ra tăng các
loại tệ nạn xã hội và mất ổn định anh ninh chính trị. Vì vậy, thực hiện xoá
đói giảm nghèo bền vững là một nhiệm vụ kinh tế - chính trị trọng tâm của
tất cả các quốc gia, nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người
nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, hướng tới việc thực hiện công bằng
và tiến bộ xã hội.
Ở nước ta, ngay từ những ngày đầu cách mạng, Hồ Chủ Tịch đã luôn
luôn chăm lo đến đời sống của nhân dân, Bác nói: “ hễ dân đói là Đảng và
Chính phủ có lỗi, hễ dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, hễ dân ốm đau
bệnh tật là Đảng và Chính phủ có lỗi, hễ dân không được học hành là Đảng
và Chính phủ có lỗi”. Người coi đói cũng là một loại giặc nguy hiểm như
giặc dốt và giặc ngoại xâm. Vì vậy, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám
thành công, người đã sớm phát động cuộc vận động thi đua ái quốc, kêu gọi
toàn dân bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau để giúp nhân dân
thoát khỏi nạn đói năm 1945 như tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm,
nhường cơm xẻ áo, quyên góp gạo cứu đói…Theo Người, xóa đói giảm
nghèo là: ''Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người
giàu thì giàu thêm”.
Tiếp thu những tư tưởng đó, Đảng và Nhà nước ta đã coi xóa đói giảm
nghèo là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Các chương trình
hỗ trợ hộ nghèo như chương trình 135, 167… của Đảng và Nhà Nước từng
bước được triển khai đến từng địa phương, tuy đã đạt được những thành tựu
quan trọng, góp phần từng bước nâng cao đời sống của người dân, nhưng
trong quá trình triển khai vẫn còn nhiều gặp phải nhiều khó khăn, thử thách
nên hiệu quả việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo đạt được chưa
cao.
Mỹ Yên là một xã nghèo thuộc huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên, số
hộ nghèo trong xã còn khá cao chiếm 26.90% (Thống kê năm 2010 của
UBNN xã Mỹ Yên). Cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, xã Mỹ
Yên đã thực hiện nhiều chính sách xóa đói giảm nghèo và đã đạt được
những hiệu quả nhất định, góp phần giảm đáng kể số hộ nghèo trong xã, đời
sống nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn
nhiều khó khăn, hạn chế.
Xuất phát từ những lý do trên đây, trong chuyến đi thực tế tại địa bàn xã
Mỹ Yên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài : “ Công tác xóa đói giảm nghèo ở xã
Mỹ Yên huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ” làm đề tài nghiên cứu của
mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đảng và nhà nước ta đã nhận thấy tầm quan trọng của công cuộc xoá
đói giảm nghèo, nên ngay trong phiên họp đầu tiên khi mới thành lập nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tháng 1/1946), Hồ Chủ Tịch đã khẳng định
một trong những nhiệm vụ tiên quyết lúc này là cần chống lại giặc đói.
Những đại hội Đảng sau đó, đặc biệt là từ Đại hội VI đến Đại hội X, Đảng ta
đã ban hành nhiều văn bản, nghị quyết đề cập tới vấn đề xóa đói giảm nghèo
tiêu biểu như NQ 30A/2008/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo
nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, được Chính Phủ ban hành ngày
21 tháng 5 năm 2002. Đại hội XI của Đảng, tiếp tục nhấn mạnh phải “ Tập
trung triển khai có hiệu quả Chương trình xóa đói, giảm nghèo, nhất là ở
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn”.
Trên bình diện lý luận, xoá đói giảm nghèo ở nước ta cũng nhận được
sự quan tâm của đông đảo cộng đồng giới các nhà khoa học, những người
làm công tác quản lý. Tiêu biểu như:
Tác giả Nguyễn Thị Hằng với “Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông
thôn nước ta hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1997.
Vũ Thị Ngọc Phùng với “Vấn đề tăng trưởng kinh tế, công bằng x ã
hội và vấn đề xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam”. Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia Hà Nội, 1993.
Hoàng Văn Bẩy với đề tài “Tìm hiểu chính sách xoá đói giảm nghèo
tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 – 2002” Niên khoá 1998 – 2002, Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
Ngoài ra, còn khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xoá đói giảm
nghèo, song hầu hết những đề tài này tiếp cận vấn đề xoá đói giảm nghèo ở
tầm vĩ mô mà chưa đi vào nghiên ở từng địa bàn nhỏ, cụ thể, đặc biệt cho
đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới vấn đề xoá đói giảm
nghèo ở xã Mỹ Yên huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, nên đề tài “ Công tác
xóa đói giảm nghèo tại xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ , tỉnh Thái Nguyên” mà
chúng tôi lựa chọn hoàn toàn mang tính mới.
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 .Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Mỹ Yên, huyện Đại
Từ , tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian nghiên cứu: xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên.
- Phạm vi thời gian nghiên cứu:
+ Thời gian khảo sát đối tượng nghiên cứu : từ ngày15/08/2011 đến ngày
20/08/2011.
+ Thời gian của đối tượng nghiên cứu : từ năm 2008 đến năm 2010.
4.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
4.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác xoá đói giảm nghèo tại địa
bàn xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, đề tài đề xuất một số
khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách
xoá đói giảm nghèo đối với địa phương, góp phần thực hiện mục tiêu giảm tỉ
lệ đói nghèo ở Mỹ Yên xuống mức thấp nhất trong thời gian tới.
4.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đây, đề tài cần giải quyết một
số nhiệm vụ cơ bản như sau:
1. Làm sáng rõ và hệ thống hoá cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về đói nghèo
và công tác xóa đói giảm nghèo.
2. Tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng công tác xoá đói giảm nghèo
tại xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, đồng thời chỉ ra nguyên
nhân của thực trạng đó.
3. Đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc
thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo tại địa bàn xã trong thời gian tới .
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phỏng vấn sâu
Để có thể hiểu sâu hơn về quá trình thực hiện công tác xóa đói giảm
nghèo ở xã Mỹ Yên trong thời gian vừa qua, nhóm chúng tôi đã sử dụng
phương pháp phỏng vấn sâu trong qúa trình nghiên cứu.
- Về phía cán bộ xã, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các đồng chí:
+ Đồng chí Hà Thị Nhì – Chủ tịch Ủy Ban nhân dân xã Mỹ Yên.
+ Đồng chí Nguyễn Quang Khê – Phó Chủ tịch ủy Ban nhân dân xã
Mỹ Yên, đồng thời là trưởng ban xóa đói giảm nghèo.
+ Đồng chí Nguyễn Thị Khoa – Cán bộ phòng chính sách xã hội.
+ Các đồng chí là Hội trưởng Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu
chiến binh.
- Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn đối với 30 hộ thuộc
diện gia đình nghèo ở 4 thôn trong xã.
5.2 Phương pháp quan sát
Bên cạnh phương pháp phỏng vấn sâu, khi tiếp xúc với các gia đình
thuộc diện nghèo trên địa bàn xã, chúng tôi đã hiểu được phần nào sự nghèo
khó và nguyện vọng của người dân nơi đây. Đặc biệt, để có thêm tư liệu
phục vụ cho nội dung của báo cáo, chúng tôi đã tìm đến xóm Thuận Yên,
một xóm xa nhất và nghèo nhất của xã Mỹ Yên (21/30 hộ nghèo) để điều tra,
nghiên cứu.
5.3 Phương pháp phân tích tài liệu
- Bên cạnh phương pháp quan sát và phỏng vấn sâu, nhóm chúng tôi
còn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu trong quá trình nghiên cứu. Sử
dụng phương pháp này, chúng tôi đã tiến hành phân tích, thống kê những tài
liệu đã thu thập được tại địa bàn nghiên cứu như: báo cáo tổng kết, danh
sách thống kê hộ nghèo, cận nghèo, danh sách hộ nghèo được vay vốn…)
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Việc tìm hiểu về “Công tác xóa đói giảm nghèo ở xã Mỹ Yên, huyện
Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” đã góp phần làm sáng tỏ và hệ thống hoá một số
khái niệm liên quan đến vấn đề xoá đói giảm nghèo như nghèo, đói, đói
nghèo, chuẩn nghèo, chính sách xóa đói giảm nghèo ở nước ta. Đồng thời,
làm rõ những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề xóa đói giảm
nghèo.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Với đề tài “Công tác xóa đói giảm nghèo ở xã Mỹ Yên huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên” đã giúp nhóm 5 chúng tôi hiểu được phần nào tình trạng
đói nghèo ở xã Mỹ Yên thông qua các số liệu cụ thể đã được thống kê tại
địa phương. Từ đó, được sự nỗ lực của Đảng, Nhà Nước trong việc đề ra các
giải pháp để ngăn chặn đói nghèo trên phạm vi cả nước.
Những phân tích, đánh giá của đề tài được rút ra từ thực tiễn quá trình
thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Mỹ Yên từ năm 2008 tới năm
2010 có thể là kênh thông tin hữu hiệu đối với cấp chính quyền xã Mỹ Yên
trong việc quản lý, thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng,
nhà nước. Đồng thời, những giải pháp này còn có thể được áp dụng vào
những địa phương có điều kiện tương tự trong phạm vi cả nước. Ở một
chừng mực nhất định, đề tài cũng có thể được dùng làm tài liệu tham khảo
cho những ai quan tâm tới vấn đề này.
7. Kết cấu báo cáo
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
phần nội dung báo cáo chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Mỹ Yên huyện
Đại Từ tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Những phương hướng và giải pháp nhằm thưc hiện tốt công tác
xóa đói giảm nghèo tại xã Mỹ Yên huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Một số khái niệm liên quan
Cùng với chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, lạm phát, khủng hoảng
kinh tế thì nghèo đói được coi là vấn nạn của toàn xã hội, là rào cản thực
hiện tiến bộ xã hội. Ở những quốc gia kém phát triển, đặc biệt ở các nước
thế giới thứ ba, người nghèo phải chấp nhận sống một cuộc sống dưới mức
tối thiểu của một con người. Và khi xã hội càng tiến bộ thì cộng đồng thế
giới càng dành sự quan tâm nhiều hơn tới những người nghèo. Trên thực tế,
hàng năm, thế giới có những hoạt động ủng hộ người nghèo như đấu giá từ
thiện vì người nghèo, nhắn tin ủng hộ người nghèo, thành lập quỹ vì người
nghèo… Trên bình diện lý luận, quan điểm và khái niệm về nghèo đói cũng
nhận được sự quan tâm của cộng đồng các quốc gia và giới khoa học. Ở
những quốc gia và nền kinh tế khác nhau thì quan niệm về nghèo đói cũng
có sự khác biệt, điều này tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế và trình độ phát
triển của những xã hội đặc thù.
* Khái niệm nghèo, đói.
- Theo Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
(ESCAP): Nghèo đói là trạng thái một bộ phận dân cư không được hưởng và
thão mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã
được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong
tục tập quán của địa phương.
- Khái niệm nghèo đói có thể chia thành hai loại: nghèo tuyệt đối và
nghèo tương đối.
+ Nghèo tuyệt đối là sự không thoã mãn những nhu cầu tối thiểu của
con người để duy trì cuộc sống như: Cơm ăn không đủ no, áo không đủ mặc,
nhà cửa không bảo đảm chống được mưa nắng, thiên tai bão lũ...không so
sánh với ai khác nhưng bản thân họ không đủ lượng calo cần thiết để duy tr ì
cuộc sống.
+ Nghèo tương đối là sự thõa mãn chưa đầy đủ nhu cầu cuộc sống của
con người như: cơm ăn chưa ngon, quần áo chưa mặc đẹp, nhà ở chưa khang
trang... hay nói cách khác là có sự so sánh về thoã mãn các nhu cầu cuộc
sống giữa người này với người khác, vùng này với vùng khác.
- Ở Việt Nam, Nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có
khả năng thõa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức
sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng động xét trên mọi phương
diện (Nguồn Chính phủ.vn)
- Theo Chương trình Quốc gia Xoá đói giảm nghèo và phương hướng từ
năm 2006-2010 của Thủ tướng Chính phủ, đói là tình trạng một bộ phận dân
cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất
để duy trì cuộc sống.
* Khái niệm “hộ nghèo”
- Hộ nghèo: Là những hộ có thu nhập bình quân đầu người trong hộ dưới
ngưỡng đói nghèo.
Căn cứ xác định chuẩn nghèo đói và chuẩn mực nghèo đói ở Việt Nam:
* Chuẩn mực nghèo đói giai đoạn 2006-2010 (Theo quyết định của thủ
tướng chính phủ 170/2005/QĐ-TTg ký ngày 08 Tháng 07 năm 2005)
Chuẩn nghèo chỉ áp dụng cho 2 khu vực là:
+ Khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân 200.000đồng/người/tháng,
được coi là nghèo.
+ Khu vực thành thị: Thu nhập bình quân 260.000đồng/người/tháng,
được coi là nghèo
* Chuẩn nghèo đói giai đoạn 2011-2015 (Theo quyết định của Thủ tướng
chính phủ 09/2011/QĐ-TTg ký ngày 21 Tháng 9 năm 2010):

+ Khu vực nông thôn : hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ
400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ
cận nghèo thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000
đồng/người/tháng.

+ Khu vực thành thị : Hộ nghèo có mức thu nhập bình quân từ
500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ
cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000
đồng/người/tháng.

Mức chuẩn nghèo quy định tại Điều 1 Quyết định này là căn cứ để
thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác.

Chuẩn nghèo không cố định mà luôn được điều chỉnh cho phù hợp với
từng giai đoạn phát triển của xã hội. Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế-
xã hội, địa phương nào có đủ điều kiện sau đây có thể nâng chuẩn nghèo lên
để phù hợp với thực tế của địa phương đó:
+ Thu nhập bình quân đầu người cao hơn thu nhập bình quân của cả
nước (năm 2008 960USD/người)
+ Có tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo trung bình của cả nước.
( năm 2009 là 11%)
+ Tự cân đối được ngân sách và tự giải quyết được các chính sách đói
nghèo theo chuẩn nâng lên.
* Khái niệm “hộ cận nghèo”
- Hộ cận nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người gần ngưỡng đói
nghèo.
- Ngày 21/9/2010 Thủ tướng ban hành Quyết định số 1752/CT – TTg
chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015. Hộ cận
nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 – 510.000
đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình
quân từ 510.000 – 650.000 đồng/người/tháng. Mức quy định nêu trên là căn
cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội
khác. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/ 2011.
* Khái niệm “hộ vượt nghèo”
- Hộ vượt nghèo hay hộ thoát nghèo: Là những hộ mà sau một qúa trình
thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo cuộc sống đã khá lên và mức thu
nhập đã ở trên chuẩn mực nghèo đói. Hiện nay, ở một số địa phương có s ử
dụng khái niệm hộ thoát (hoặc vượt) đói và hộ thoát nghèo. Hộ thoát nghèo
đương nhiên không còn là hộ đói nghèo nữa. Trong khi đó, hộ thoát nghèo
đói có thể đồng thời thoát hẳn nghèo(ở trên chuẩn nghèo), nhưng đa số
trường hợp thoát đói (rất nghèo) nhưng vẫn ở trong tình trạng nghèo.
- Số hộ nghèo giảm hay tăng trong một khoảng thời gian: Là hiệu số giữa
tổng số hộ nghèo ở thời điểm đầu và cuối. Như vậy, giảm số hộ đói nghèo
khác với khái niệm số hộ vượt nghèo và thoát nghèo. Số hộ thoát nghèo là số
hộ ở đầu kỳ nhưng đến cuối kỳ vượt ra khỏi ngưỡng nghèo. Trong khi đó, số
hộ nghèo giảm đi trong kỳ chỉ phản ánh đơn thuần chênh lệch về mặt số
lượng hộ nghèo, chưa phản ánh thật chính xác kết quả của việc thực hiện
chương trình.
* Khái niệm “xã nghèo”
- Xã nghèo: Theo Quyết định số 587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày
22/05/2002 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc
ban hành tiêu chí xã nghèo giai đoạn 2001-2005. Quy định xã nghèo là xã có
+ Tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên.
+ Chưa đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (đường giao
thông, trường học, trạm y tế, điện sinh hoạt, nước sạch, chợ). Cụ thể là:
+ Dưới 30% số hộ sử dụng nước sạch.
+ Dưới 50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt.
+Chưa có đường ô tô đến trung tâm xã hoặc ô tô không đi lại được cả
năm.
+ Số phòng học (theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo) chỉ đáp ứng
được dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng học tạm bợ bằng tranh tre,
nứa, lá.
+ Chưa có trạm y tế xã hoặc có nhưng là nhà tạm.
+ Chưa có chợ hoặc chợ tạm bợ.
*Khái niệm “xoá đói giảm nghèo”
Xoá đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của nhà nước
và xã hội hướng vào người nghèo hay là của chính những đối tượng thuộc
diện nghèo đói, nhằm taọ điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi
tình trạng thu nhập không đáp ứng những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn
nghèo được quy định.
1.2 Ý nghĩa của việc xóa đói giảm nghèo đối với sự phát triển kinh tế xã
hội
Xóa đói giảm nghèo là một trong những chương trình mục tiêu của
Đảng và nhà nước luôn được quan tâm hàng đầu, bởi nó mang ý nghĩa quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
- Đối với bản thân người nghèo: Xóa đói giảm nghèo giúp người
nghèo có điều kiện nâng cao thu nhập, từ đó cải thiện đời sống, tiếp cận
được với các dịch vụ xã hội (y tế, giáo dục…) thông qua các chương trình
chính sách cụ thể của nhà nước.Tăng cường tình đoàn kết, lòng tin của nhân
dân đối với đường lối lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ mới.

- Đối với xã hội: Xóa đói giảm nghèo góp phần thu hẹp khoảng cách
giàu nghèo giữa các khu vực trong phạm vi cả nước. Vượt qua rào cản để
xây dựng một xã hội tiến bộ, vì người nghèo.

Thực tế cho thấy tình trạng đói nghèo đã kéo theo nó những hậu quả
nghiêm trọng. Một trong nhưng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đói
nghèo đó là người dân thiếu đất sản xuất, ở những khu vực miền núi, hải đảo
do đó dẫn đến việc khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên làm cho nguồn
tài nguyên bị suy giảm và ô nhiễm môi trường, mất ổn định chính trị. Đói
nghèo dẫn đến người dân không có điều kiện nuôi con ăn học, đó chính là
nguyên nhân của nạn mù chữ. Từ đó làm giảm chất lượng về nguồn nhân lực
trong tương lai.

Do đó thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo không chỉ góp phần
ổn định đời sống nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội mà còn góp phần xây
dựng một đất nước phát triển bền vững về mọi mặt.

1.3. Quan điểm, mục tiêu của Đảng và nhà nước đối với công tác xóa đói
giảm nghèo

* Quan điểm
1. Xoá đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước và là sự
nghiệp của toàn dân. Phải huy động nguồn lực của nhà nước, xã hội và của
người dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương.
2. Công cuộc giảm nghèo nhanh đối với các huyện nghèo là nhiệm vụ
chính trị trọng tâm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và sự
phối hợp tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
3. Trung ương tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư, hỗ trợ giảm
nghèo nhanh và bền vững.
* Mục tiêu
Đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của
nhóm hộ nghèo, hạn chế khoảng cách chênh lệch giàu nghèo.
Để tiếp tục thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững, thực
hiện có hiệu quả chính sách xóa đói giảm nghèo, trong giai đoạn 2006 –
2010, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng nhiều chương trình, chính sách như:
- Nhóm chính sách, chương trình dự án tạo điều kiện cho người
nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập: Chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ
đất sản xuất cho hộ nghèo; Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành
nghề.
- Nhóm chính sách tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã
hội: Chính sách hỗ trợ về y tế, giáo dục..., trợ giúp pháp lý cho người nghèo.

- Nhóm dự án nâng cao năng lực và nhận thức.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ MỸ
YÊN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2008 - 2010
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội xã Mỹ
Yên huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên

2.1.1. Điều kiện tự nhiên




Ảnh 1: Bản đồ tự nhiên xã Mỹ Yên
Vị trí địa lí: Mỹ Yên là xã miền núi của huyện Đại Từ, nằm sát
chân dãy núi Tam Đảo, cách trung tâm huyện 10,7 km về phía Tây
Nam, xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 3400 ha. Phía Đông Nam
giáp với xã Văn Yên, phía Tây giáp với xã Hoàng Nông, phía Đông
Bắc giáp với xã Bình Thuận, xã Khôi Kỳ. Đây là điều kiện thuận lợi
để xã Mỹ Yên có thể giao lưu, trao đổi hàng hoá và phát triển kinh tế
với các xã trong địa bàn huyện và với những huyện lân cận của Tỉnh
Thái Nguyên.
Ảnh 2: Một góc quang cảnh xã Mỹ Yên, Đại Từ , Thái Nguyên
Địa hình: Địa hình xã Mỹ Yên phần lớn là đồi núi, thuận lợi để trồng
rừng và một số cây công nghiệp lâu năm như chè và một số cây ăn quả nhiệt
đới như Hồng Xiêm, Nhãn. Tuy nhiên, đặc điểm địa hình này cũng gây ảnh
hưởng không nhỏ tới hoạt động giao thông đi lại của người dân trong xã, đặc
biệt là về mùa mưa.
Đất đai: Khoảng 90% diện tích đất tự nhiên là đồi núi và rừng
thuộc vườn quốc gia Tam Đảo nên thuận lợi cho việc phát triển cây
chè – một loại cây đặc trưng của vùng, phát triển rừng trồng keo, cây
ăn quả nhiệt đới. Tuy nhiên diện tích đất nông nghiệp rất ít, chỉ chiếm
gần 10% diện tích đất tự nhiên của xã. Đất canh tác là những cánh
đồng nhỏ, hẹp chạy men theo chân dãy Tam Đảo, nên thuận lợi để
trồng lúa do có nguồn nước dồi dào từ các dòng suối, nhưng mặt khác
lại có nguy cơ bị ngập úng vào mùa mưa do lượng nước bị dồn từ trên
núi.
Nguồn nước: Hệ thống sông ngòi ít, nguồn nước phục vụ cho
sản xuất và sinh hoạt chủ yếu là dựa vào nguồn nước từ các khe, suối
dẫn về. Xã đã có hai công trình cung cấp nước sạch cho sinh hoạt là
Cao Chùa và La Tre được xây dựng dựa trên nguồn vốn đầu tư của
nhà nước cùng với vốn đóng góp cổ phần của xã viên và nhân dân vay
vốn ngân hàng. Số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 981
hộ, chiếm 67% số hộ toàn xã. Tuy nhiên, về mùa khô, nguồn nước ít,
không đủ phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.
Khí hậu: Cùng với đặc điểm về địa hình, những đặc điểm về khí
hậu cũng ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống và sinh hoạt của cư dân
trong vùng. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, tương đối thuận lợi cho
phát triển cây công nghiệp lâu năm (chè và một số loại cây ăn quả như
nhãn, hồng, na..). Tuy nhiên, về mùa đông nhiệt độ xuống thấp và kéo
dài, xuất hiện sương muối, gây hại cho sản xuất nông nghiệp và đàn
gia súc. Về mùa hạ, mưa nhiều, tập trung và độ ẩm không khí cao, tạo
thuận lợi cho trồng lúa, song khí hậu ẩm ướt lại là điều kiện thuận lợi
cho sâu bọ nảy nở.
Như vậy, bên cạnh những mặt thuận lợi, điều kiện tự nhiên của
xã Mỹ Yên cũng mang lại một số khó khăn trong phát triển kinh tế. Vì
vậy, đòi hỏi chính quyền và nhân dân trong xã phải có những biện
pháp thiết thực để phát huy thuận lợi và khắc phục những khó khăn
đó.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân cư và nguồn lao động: Xã Mỹ Yên gồm có 25 thôn với 1431 hộ,
tổng số nhân khẩu hiện nay là 5314 người, trong đó có 63,8% số người trong
độ tuổi lao động. Trong tổng số 1431 hộ, có 80 hộ là người dân tộc thiểu số,
chiếm 5,47%. Trên địa bàn xã hiện có 5 dân tộc anh em c ùng chung sống là
Kinh, Tày, Dao, Nùng, Thái. Điều đó, đã tạo nên một bức tranh văn hoá đa
dạng, muôn màu, muôn vẻ nhưng cũng gây khó khăn không nhỏ trong việc
quản lý và phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tới người
dân, đặc biệt là những hộ gia đình thuộc dân tộc thiểu số.
Mỹ Yên là một xã nghèo của huyện Đại Từ. Theo số liệu thống kê,
năm 2008 số hộ nghèo là 342 hộ ( chiếm 25,92% ) trong 1319 hộ , năm 2009
số hộ nghèo là 206 trong tổng số 1412 hộ dân của toàn xã ( chiếm 14,59% ).
Đến năm 2010, số hộ nghèo tăng lên là 385/1431 hộ, chiếm 26,90% (do quy
định mới về chuẩn nghèo của thủ tướng Chính Phủ, thu nhập b ình
quân\người\tháng là 400.000 đồng). Cho tới nay, nhìn chung, cuộc sống của
người dân nơi đây đã được cải thiện, nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn, thiếu
thốn.
Về nông nghiệp: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong xã chủ yếu
được trồng lúa với 280 ha (chiếm 8,24% diện tích tự nhiên của xã), diện tích
trồng chè là 130 ha (chiếm 3,82% diện tích tự nhiên của xã), diện tích trồng
ngô là 35 ha (chiếm 1,02% diện tích tự nhiên của xã). Ngoài ra, người dân
nơi đây còn chăn nuôi gia súc (Trâu, Bò), gia cầm (Lợn, Gà, Vịt). Người dân
có kinh nghiệm trong sản xuất nông – lâm nghiệp, nhưng do điều kiện thời
tiết khắc nghiệt, thiếu tư liệu sản xuất và cũng chưa áp dụng nhiều khoa học
kĩ thuật vào trong quá trình sản xuất nên hiệu quả đạt được chưa cao.
Về lâm nghiệp: Chính quyền và người dân địa phương đã chăm sóc tốt
48,58 ha rừng theo dự án AFAP do Úc tài trợ với tổng số vốn 1.2 tỉ đồng.
Bên cạnh đó, xã còn có những chính sách ưu đãi cho người nghèo trồng rừng
như hỗ trợ cây con giống, phân bón…và chăm sóc được 36,1ha diện tích
rừng trồng keo tại 5 xóm: Bắc Hà 1, Bắc Hà 2, Bắc Hà 3, Việt Yên, Đồng
Cháy (năm 2010). Triển khai mô hình thâm canh keo Tai tượng 25ha tại 6
xóm (Suồi Chì, Lò Gạch, Đồng Cạn, Trại Cọ, Đầm Pháng, Đầm Gành).
Về tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ: Do địa hình chủ yếu là đồi núi,
nên ở Mỹ Yên tiểu thủ công nghiệp không phát triển. Các ngành nghề dịch
vụ có quy mô nhỏ lẻ, chưa đa dạng về mặt hàng, chủ yếu là các dịch vụ về
nước giải khát, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, tập trung chủ yếu ở khu vực
gần trung tâm xã. Trên địa bàn xã đã có chợ, được họp theo phiên, cứ hai
ngày họp một lần với các sản phẩm chủ yếu là những mặt hàng phục vụ cho
nhu cầu hàng ngày của người dân như: thực phẩm, quần áo, hàng tiêu
dùng…nhìn chung chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân
trong xã.
Về cơ sở hạ tầng: Được sự quan tâm của Đảng, nhà nước và chính
quyền địa phương, một số tuyến đường giao thông liên thôn đã được bê tông
hoá, giúp bà con đi lại được dễ dàng hơn. Tuy nhiên, ở Mỹ Yên hiện nay,
hầu hết tuyến đường trong các thôn vẫn là đường đất, nên việc đi lại rất bất
tiện, nhất là vào mùa mưa. Toàn xã có một trường tiểu học, một trường trung
học cơ sở nằm gần trung tâm xã. Trường cấp 3 nằm ở trung tâm huyện Đại
Từ, cách xã 10,7 km, nên gây khó khăn không nhỏ cho việc đến trường của
các em. Các chính sách khuyến học giáo dục cũng được ưu tiên phát triển,
chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao. Toàn xã có một trạm y tế
nằm ở trung tâm xã. Công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của
người dân được quan tâm. Người dân có ý thức tham gia đóng bảo hiểm y
tế. Tuy nhiên, cũng như các trạm y tế thuộc tuyến xã ở nhiều địa phương
trong cả nước, trạm y tế xã Mỹ Yên còn thiếu thốn về thuốc men, cơ sở vật
chất và đội ngũ y bác sĩ nên đã hạn chế phần nào nhu cầu khám chữa bệnh
của người dân.
2.2.Tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Mỹ Yên,
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2.2.1.Tình trạng đói nghèo tại xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên
* Tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo
- Theo kết quả điều tra năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo trên địa
bàn xã Mỹ Yên được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 1: Tỉ lệ số hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn xã Mỹ Yên năm 2010
TT Tên xóm Tổng số Tổng số Tỉ lệ hộ Tổng số hộ Tỉ lệ hộ cận Ghi
hộ rà hộ nghèo nghèo sơ cận nghèo qua chú
nghèo sơ bộ
soát (hộ) qua bộ (%) (%)
điều tra sơ bộ
phiếu (hộ)
điều tra
sơ bộ
(hộ)

Kỳ Linh Ngoài
1 65 28 43,08 9 13,84
Kỳ Linh Trong
2 45 10 22,22 15 33,33
Đồng Khâm
3 75 13 17,30 17 22,66
4 Xóm Cao 49 13 26,53 24 48,97
5 Xóm Chùa 58 19 32,75 23 39,65
La Yến
6 65 12 18,46 10 15,38
7 Đồng Cháy 86 15 17,44 32 37,20
Đầm Gành
8 55 3 5,45 10 18,18
Đầm Pháng
9 58 13 22,41 4 6,89
Lò Gạch
10 63 10 15,87 15 23,80
Suối Chì
11 47 10 21,27 5 10,63
Trại Cọ
12 57 5 8,77 24 42,10
Đồng Cạn
13 60 9 15,00 15 25,0
Làng Lớn
14 75 24 32,00 0 0,0
15 La Tre 65 24 36,92 29 44,61
La Hồng
16 45 15 33,33 14 31,11
17 La Hang 61 13 21,31 9 14,75
La Vương
18 84 17 20,23 10 11,90
Đồng Phiêng
19 70 23 32,85 15 21,42
20 Tân Yên 70 29 41,42 27 38,57
Thuận Yên
21 31 24 77,41 6 19,35
Việt Yên
22 42 30 71,42 0 0,0
Bắc Hà 1
23 36 6 16,66 16 44,44
Bắc Hà 2
24 37 7 18,91 4 10,81
Bắc Hà 3
25 32 13 40,62 8 25,0
Tổng cộng 1431 385 26,90 341 23,83


(Nguồn UBND xã Mỹ Yên)


- Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy, Xã Mỹ Yên có tỉ lệ hộ nghèo và
cận nghèo khá cao, số hộ nghèo là 385/1431 hộ (chiếm 26,90% - số hộ có
thu nhập dưới 400.000 đồng/người/tháng). Số hộ cận nghèo là 341/1431
(chiếm 23,83%). Theo kết quả thống kê năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo và cận
nghèo có cả ở 25 thôn trong toàn xã, trong đó:

+ 01 thôn có tỉ lệ hộ nghèo trên 77% là thôn Thuận Yên.

+ 9 thôn có tỉ lệ hộ nghèo từ 30% - 77% là Kỳ Linh Ngoài; Xóm
Chùa; Làng Lớn; La Tre; La Hồng; Đồng Phiêng..và một số thôn khác.

+ 6 thôn có tỉ lệ hộ nghèo từ 20% – 29% là các thôn: Kỳ Linh Trong;
Xóm Cao; Đầm Pháng; La Hang…và môt số thôn khác.

+ Còn lại là các thôn có tỉ lệ hộ nghèo dưới 20%.

- Tỉ lệ hộ cận nghèo phân bố ở các thôn trên địa bàn xã cũng không
đồng đều, thôn không có hộ cận nghèo là các thôn: Làng Lớn, Việt Yên. Các
thôn có số hộ cận nghèo cao trên 30% là 9 thôn ( Kỳ Linh Trong, Xóm
Chùa, Xóm Cao, Đồng Cháy, Trại Cọ, Làng Lớn, La Tre, Tân Yên và Bắc
Hà 1). Hộ cận nghèo là những hộ rất dễ rơi vào tình trạng hộ tái nghèo. Vì
vậy, chính quyền xã cần có những biện pháp thiết thực giúp người nghèo
vươn lên thoát nghèo bền vững.

- Tình trạng nghèo đói ở Mỹ Yên được thể hiện trên nhiều mặt:

+ Hiện nay, ở Mỹ Yên, 100% dân cư sống trên địa bàn xã làm nông
nghiệp. Tuy nhiên, diện tích đất trồng lúa lại không đáng kể, phần lớn là
diện tích đất là đồi núi chỉ thích hợp cho việc trồng chè. Phương thức canh
tác lạc hậu, năng suất lao động thấp. Trong xã không có nhà máy hay doanh
nghiệp sản xuất, cơ sở chế biến mặt hàng công nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp. Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, nhất là về giao thông, chưa đáp ứng
được nhu cầu đi lại của người dân.

+ Toàn xã có một trường mầm non, một trường tiểu học và một
trường trung học cơ sở tập trung tại xã. Các trường đã có những cơ sở vật
chất thiết yếu cho việc giảng dạy và học tập. Tuy nhiên, chưa có các thiết bị
mang tính công nghệ cao giúp công việc giảng dạy đạt hiệu quả cao hơn.

+ Chợ được họp theo phiên, cứ hai ngày họp một lần. Tuy có nhiều
mặt hàng bày bán phục vụ nhu cầu của nhân dân, song quy mô còn nhỏ, chủ
yếu là các quán lều tạm bợ.

+ Cơ sở y tế còn hạn chế, chưa có trang thiết bị hiện đại để phục vụ
nhu cầu khám, chữa bệnh cho người dân. Toàn xã có 981 hộ(chiếm 67%)
sử dụng nước sạch.

* Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng đói nghèo tại xã Mỹ
Yên huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên
- Nghèo đói là hậu quả của nhiều vấn đề. Nhìn chung, sự đói nghèo
của người dân trên địa bàn xã Mỹ Yên bắt nguồn từ một số nguyên nhân cơ
bản như sau:

1. Mỹ Yên là một xã miền núi của huyện Đại Từ. Diện tích đất chủ
yếu là đồi núi và rừng thuộc vườn quốc gia Tam Đảo, diện tích đất nông
nghiệp chiếm tỉ lệ nhỏ, khoảng 280ha (8,2%), thiếu tư liệu sản xuất là một
điều hiển nhiên tại xã, việc trồng lúa hầu như chỉ có thể trồng một vụ, nên
chưa đáp ứng đủ nhu cầu lương thực tại chỗ, việc trồng chè năng suất còn
thấp.

2. Thời tiết khắc nghiệt, tình hình dịch bệnh ở đàn gia súc diễn biến
phức tạp. Thị trường hàng hóa không ổn định, giá vật tư phân bón, nguyên
liệu sản xuất tăng cao, đặc biệt là thiếu vốn đầu tư phát triển sản xuất.

3.Người dân có trình độ dân trí thấp, không có khả năng áp dụng
những khoa học kỹ thuật vào sản xuất hoặc chưa mạnh dạn trong quá trình
chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi mới.

4. Dân đông làm kìm hãm tới sự phát triển của nền kinh tế, dân không
có việc làm, tệ nạn xã hội xảy ra liên tiếp như: cờ bạc, trộm cắp…, xuất hiện
thêm những căn bệnh lạ không biết nguyên nhân. Mỹ Yên còn là một xã
nghèo truyền thống như: tài sản để lại cho con ít hoặc không có, các thế hệ
sau tự phải chủ động gây dựng cơ ngơi cho riêng gia đình mình, để đảm bảo
cho cuộc sống sau này.

Có thể thấy rằng người dân nghèo đang gặp phải rất nhiều khó khăn.
Nếu không có sự quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền địa phương
thì vấn đề nghèo đói ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Vấn đề đặt ra ở
đây là cần phải có sự chung tay, góp sức của cả cộng đồng thì tình trạng
nghèo đói mới có thể giảm dần được.




Ảnh 3: Một hộ nghèo tại xã Mỹ Yên – Đại Từ - Thái Nguyên


2.2.2. Một số chính sách, chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo
đã và đang được thực hiện tại xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên

* Chủ thể tham gia triển khai thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo
tại địa phương

- Được sự quan tâm sát sao, chỉ đạo kịp thời của Uỷ ban nhân dân tỉnh
Thái Nguyên và Uỷ ban nhân dân huyện Đại Từ, Ban công tác xóa đói giảm
nghèo tại xã Mỹ Yên - Đại Từ đã được thành lập từ năm 1999. Hiện nay
thành phần của Ban xoá đói giảm nghèo bao gồm: Đồng chí Nguyễn Quang
Khê, hiện nay là Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã M ỹ Yên làm trưởng ban,
đồng chí Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã làm phó ban. Bênh cạnh đó
còn có sự tham gia của các cán bộ chuyên trách và trưởng các tổ chức đoàn
thể, tổ chức chính trị xã hội xã. Tham gia vào hoạt động này, còn có 25 đồng
chí trưởng các thôn trên địa bàn xã. Ngoài ra, để việc thực hiện chính sách
xoá đói giảm nghèo mang lại hiệu quả cao, bản thân người nghèo cũng cần
phải tích cực, chủ động tham gia vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo cho
chính bản thân mình. Có như vậy, giảm nghèo mới thật sự mang tính bền
vững.

* Một số chủ trương, chính sách xoá đói, giảm nghèo được triển khai
tại địa phương

- Để nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác xóa đói giảm nghèo,
Ban lãnh đạo công tác xoá đói giảm nghèo xã Mỹ Yên đã tổ chức triển khai
thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước về xóa đói giảm nghèo.
Tổ chức tiến hành bình xét, lựa chọn các đối tượng thuộc diện nghèo hàng
năm theo đúng quy định của nhà nước. Từng bước xây dựng kế hoạch đầu tư
vào sản xuất, chăn nuôi và phát triển kinh tế. Tổ chức thực hiện các biện
pháp phát triển kinh tế xã hội , kiểm tra, giám sát hiệu quả phân bổ và sử
dụng các nguồn vốn của Ngân hàng chính sách xã hội huyện Đại Từ. Cụ thể
như:

+ Thực hiện chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở theo Quyết định
số 167/2008/ QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ.
+ Thực hiện cấp tiền cho học sinh mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở,
trung học phổ thông là con hộ nghèo đề nghị thụ hưởng chính sách hỗ trợ
theo quyết định 112/QĐ - TTg của Chính phủ.
+ Dự án hỗ trợ phương thức sản xuất theo chương trình 135 (hỗ trợ về
tôn quay chè, máy vò mô tơ, máy bơm 750W, máy gặt lúa 2 kỳ, bộ đảo chè,
bình phun ắc quy, máy phun thuốc sâu chạy động cơ xăng).
+ Hỗ trợ về nhà ở, nước sinh hoạt theo quyết định 134/QĐ - TTg của
thủ tướng chính phủ.
+ Thực hiện chính sách vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng
bào dân tộc thiểu số.
+ Thực hiện kế hoạch phân bổ nguồn vốn sản xuất – kinh doanh vùng
hai.
+ Dự án hỗ trợ người nghèo phát triển sản xuất theo chương trình 135.
Hỗ trợ gạo cứu đói giáp hạt, tặng quà tết cho các hộ nghèo, hỗ trợ tiền điện.
2.2.3 Quá trình và kết quả thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo ở xã
Mỹ Yên giai đoạn 2008 – 2010
Được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và sự lãnh đạo của
chính quyền địa phương, đặc biệt là của Ban chỉ đạo thực hiện công tác xóa
đói giảm nghèo, từ năm 2008 công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn xã
Mỹ Yên đã đạt được những kết quả to lớn trên nhiều mặt:
1. Về hoạt động hỗ trợ xây dựng nhà ở
- Nhà ở là nơi cư trú, nơi diễn ra mọi hoạt động thường ngày của các
thành viên trong gia đình. Đồng thời, một ngôi nhà ở kiên cố giúp người dân
yên tâm sản xuất, bởi vì, có an cư mới lạc nghiệp. Chính vì vậy, xây dựng
nhà ở cho người nghèo đã trở thành tâm điểm trong các chính sách về xóa
đói giảm nghèo. Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167
của Thủ tướng Chính phủ là chính sách lớn, thuộc chương trình mục tiêu
Quốc gia giả m nghèo giai đoạn 2006 – 2010, nhà nước trực tiếp hỗ trợ cho
các hộ nghèo để có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống,
góp phần xoá đói, giảm nghèo bền vững. Với nguyên tắc hỗ trợ trực tiếp,
đảm bảo công khai, công bằng, minh bạch đến từng hộ gia đ ình tham gia
đóng góp, để xây dựng một căn nhà có diện tích sử dụng tối thiểu 24m2 trở
lên. Niên hạn sử dụng của căn nhà từ 10 năm trở lên.

- Ngay sau khi nhận được các văn bản chỉ đạo của các cơ quan nhà
nước cấp trên về thực hiện nghị quyết 167. Uỷ Ban nhân dân xã Mỹ Yên đã
họp và ra quyết định thành lập ban chỉ đạo 167 cấp xã do đồng chí Phó Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân xã làm trưởng ban và các đồng chí lãnh đạo các phòng
ban chuyên môn có liên quan là thành viên. Ban chỉ đạo có nhiệm vụ thông
báo đến các thôn, xóm, để họp thông qua quy trình bình xét các hộ nghèo.
Đối tượng thuộc diện bình xét là hộ nghèo theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết
định số 170/2005/QĐ -TTg ngày 08 tháng 7 nă m 2005 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010, đang
cư trú tại địa phương ; Hộ chưa có nhà ở hoặc đã có nhà ở nhưng nhà ở quá
tạm bợ, hư hỏng, dột nát, có nguy cơ sập đổ và không có khả năng tự cải
thiện nhà ở. Việc bình xét hộ nghèo được xếp theo thứ tự ưu tiên như sau :

- Hộ gia đình có công với cách mạng

- Hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số

- Hộ gia đình trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai

- Hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật…)

- Hộ gia đình đang sinh sống trong vùng đặc biệt khó khăn

- Các hộ gia đình còn lại

Sau khi bình xét, Hội đồng chính sách xã hội xã duyệt và chốt danh
sách gửi phòng Lao động Thương binh và Xã hội thẩm định lại danh sách và
báo cáo Ban chỉ đạo huyện. Trong suốt quá trình triển khai thực hiện, Uỷ
ban nhân dân xã đã có nhiều văn bản chỉ đạo tổ chức thực hiện. Các ban
ngành đoàn thể như: Mặt trận Tổ quốc, Phụ nữ, Đoàn thanh niên…đã tham
gia tích cực hỗ trợ trong việc xây dựng nhà cho các hộ đặc biệt khó khăn (hỗ
trợ về ngày công). Thực hiện chương trình xây dựng nhà ở theo Quyết định
167 của Thủ tướng Chính phủ, trong giai đoạn từ năm 2008 – 2010 trên địa
bàn xã đã hoàn thành theo kế hoạch đề ra với tổng số hộ xây dựng nhà là
53/57 hộ, cụ thể năm 2008 là 31 hộ, năm 2009 là 26 hộ, năm 2010 là 26 hộ. \

* Về công tác giải ngân thực hiện chương trình xây dựng nhà ở : năm
2010, tổng số vốn thực hiện chương trình là 1.689,2 triệu đồng, trong đó vốn
hỗ trợ từ ngân sách nhà nước là 445,2 triệu đồng, vốn vay từ ngân hàng
chính sách xã hội 424 triệu đồng, vốn hỗ trợ của Uỷ ban mặt trận Tổ quốc 25
triệu đồng, ước giá trị vốn anh em dòng họ, ngày công và các nguồn vốn
khác 795 triệu đồng. Năm 2008 tổng số vốn giải ngân một đợt là 800 triệu,
năm 2009 là 2,5 tỉ chia làm 3 đợt. Hỗ trợ 8.4 triệu đồng cho mỗi hộ gia đình
nghèo xây dựng nhà cửa, với những hộ có nguyện vọng vay thêm vốn để
làm nhà được hỗ trợ cho vay vốn với lãi suất thấp từ 0,25% - 0,65%/năm.

* Về diện tích, chất lượng xây dựng nhà ở : 100% các hộ khi xây dựng
nhà đều đạt và vượt diện tích theo quy định trung bình của mỗi nhà từ 40m
trở lên (diện tích tối thiểu là 24m) chất lượng xây dựng đảm bảo theo yêu
cầu đề ra, đảm bảo 3 cứng (nền cứng, tường cứng, mái cứng). Khi xây dựng
xong phần nào Ban chỉ đạo xã tiến hành kiểm tra và nghiệm thu theo quy
định.




Ảnh 4: Ngôi nhà của ông Phạm Tiến Thức – xóm Thuận Yên

được xây dựng theo chương trình hỗ trợ của nhà nước

Với chính sách thiết thực trên đây, về cơ bản đã giảm được đáng kể tỉ
lệ hộ nghèo chưa có nhà ở hoặc nhà ở tạm bợ trên địa bàn xã, góp phần ổn
định đời sống nhân dân, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, góp phần ổn định
chính trị trên địa bàn. Đồng thời, nâng cao nhận thức của người dân về
quyền lợi và trách nhiệm của người dân trong công tác xoá đói giảm nghèo ở
địa phương.

2. Về hoạt động hỗ trợ phát triển sản xuất.

Phát triển sản xuất là một trong những quá trình thực hiện mục tiêu
xóa đói giảm nghèo. Chính vì vậy Đảng và nhà nước nói chung và chính
quyền xã Mỹ Yên nói riêng đã có những chính sách và dự án khác nhau để
hỗ trợ người dân sản xuất. Sự hỗ trợ chủ yếu là dự án hỗ trợ phát triển sản
xuất từ chương trình 135 bắt đầu triển khai từ năm 2009 :

 Năm 2009
Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc chương trình 135: đối tượng là
hộ nghèo thuộc 25 thôn trong xã với 102 hộ, trong đó các hộ được hỗ trợ tôn
quay là 51 chiếc, máy vò là 24 chiếc. Với tổng kinh phí là 143.900.000
đồng, Nhà nước hỗ trợ 99.000.000 đồng.
 Năm 2010
Tiếp tục dự án hỗ trợ sản xuất, năm 2010 có 173 hộ trong xã Mỹ Yên
đã được hỗ trợ 51 tôn quay chè, 27 máy vò mô tơ, 31 máy bơm 750, 15 máy
gặt lúa 2 kì, 49 bình phun ắc quy, 36 bộ đảo chè. Với tổng kinh phí là
299.950.000 đồng. Sự hỗ trợ của Nhà nước và cấp chính quyền tại địa
phương xã Mỹ Yên được phân bổ trên địa bàn 25 thôn trong xã. Điều này
được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2: Phân bổ nguồn vốn dể phát triển sản xuấtgiai đoạn 2009- 2010
NĂM 2009 NĂM 2010
STT THÔN
TÔN QUAY MÁY VÒ TÔN QUAY MÁY VÒ MÁY GẶT BÌNH PHUN BỘ ĐẢO MÁY BƠM
(chiếc) (chiếc) CHÈ LÚA 2 KÌ ẮC QU Y CHÈ 750w
MÔ TƠ
(chiếc) (chiếc) (chiếc) (chiếc) (chiếc) (chiếc)
Đồng Khâm 2 1 3 1 3 2
1
Đồng Cháy 1 1 3 1 1 3 2
2
Đồng Cạn 3 2 1 1
3
Đầm Pháng 3 2 4
4
Đồng Phiêng 3 1 3 2 2 2
5
La Hồng 2 2 1 2 3 1
6
Bắc Hà 1 1 1 5
7
Bắc Hà 2 2 2 1 1 2 1
8
Bắc Hà 3 1 1 1 1 4 2
9
Làng Lớn 4 2 2 10
10
La Vương 1 1 5 2 3 1
11
Kì Linh Trong 1 2 3 1 1 2
12
La Yến 1 3 1
13
Suối Trì 1 1 3 1 2
14
Đầm Gành 1 1 1 1
15
La Tre 4 3 2 2 1 1
16
Kì Linh Ngoài 6 2 5 1 2 7
17
Thuân Yên 3 2 6 3 1
18
Tân Yên 5 2 1 2 1 4
19
Trại Cọ 1 1 3
20
Lò Gạch 2 1 1 1 2 2
21
Xóm Cao 2 1 3 2 2
2
Việt Yên 11 8
23
Xóm Chùa 2 1 4 2
24
La Hang 1 3 1
25
Tổng 38 24 51 27 15 49 36 31


(Nguồn: UBND xã Mỹ Yên – Đại Từ)

Với sự hỗ trợ này các hộ nghèo trong xã đã có được những tư liệu cần
thiết phục vụ quá trình sản xuất của mình. Những hộ ít vốn có thể được nhà
nước hỗ trợ về vật nuôi như: tư liệu sản xuất tôn quay, máy vò… làm cho
người dân có thể quay vốn nhanh, hoàn trả số nợ trong thời gian ngắn nhất.
Nhờ sự hỗ trợ trên mà tình hình sản xuất đã có chuyển biến rõ rệt. Đời sống
của các hộ nghèo được cải thiện, cuộc sống khá giả hơn trước. Từ sự phát
triển sản xuất của các hộ gia đình đã làm tăng diện tích sản lượng và năng
suất đáng kể.

3. Về hoạt động hỗ trợ cho vay vốn

Đối với các hộ nghèo trên cả nước nói chung và ở Mỹ Yên nói riêng,
việc hỗ trợ vốn là một trong những chương trình quan trọng trong công tác
xóa đói giảm nghèo. Nhà nước ta đã có chủ chương thực hiện các khoản tín
dụng cho vay mở rộng tới hộ nông dân theo quyết định số 525/TTG ngày
31/08/1995 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Ngân hàng Chính sách Xã
hội (năm 2003) hỗ trợ nguồn vốn để phát triển sản xuất để phối hợp cùng
với các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội tạo ra việc làm cho
người lao động, giúp các hộ nghèo vươn lên làm giàu một cách chính đáng,
giải quyết những khó khăn của đời sống, góp phần thực hiện thành công mục
tiêu xóa đói giảm nghèo.
Trong những năm qua, ở xã Mỹ Yên đã áp dụng chương trình cho vay
vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội trên toàn xã. Theo quy định của nhà
nước, những hộ nghèo đủ điều kiện vay vốn mức cho vay bình quân từ 7 –
10 triệu VND/ hộ/ lượt vay. Trường hợp hộ vay chăn nuôi đàn gia súc sinh
sản, cây trồng lâu năm thì mức vay vốn tối đa không quá 30.000.000 VND/
năm. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện khó khăn được hỗ trợ
mức vay đến 5.000.000VND/ hộ và không phải trả lãi tiền vay. Thời hạn cho
vay áp dụng với các hộ gia đình nghèo là không quá 3 năm với lãi suất cho
vay từ 0,25% đến 0,6%.
Từ khi có chương trình hỗ trợ cho vay từ ngân hàng chính sách xã hội
các hộ gia đình nghèo trên địa bàn xã đã làm các thủ tục để Ngân hàng chính
sách giải ngân nguồn vốn.
Năm 2008, trên toàn xã có 18 hộ thuộc diện nghèo được vay vốn,
trong đó có 3 hộ gia đình thuộc các dân tộc thiểu số, với tổng số vốn vay là
90 triệu đồng. Trong năm 2009, số hộ gia đình trên toàn xã được vay vốn là
22 hộ với tổng số vốn là 110 triệu đồng. Năm 2010 trên toàn xã có 15 hộ
nghèo thuộc các dân tộc thiểu số được vay vốn với tổng số vốn 75 triệu
đồng.
Sau khi được vay vốn, các hộ gia đình đã sử dụng nguồn vốn một
cách hiệu quả, phần lớn là dùng vào mục đích phát triển sản xuất. Từ nguồn
vốn trong tay, các hộ gia đình đã mạnh dạn mở rộng diện tích đất mà trước
đây bỏ hoang, đào ao để thả cá và xây dựng chuồng trại chăn nuôi, mua
giống chăn nuôi gồm gia súc (Trâu, Bò) và gia cầm (Lợn, Gà, Vịt) và một số
loại giống cá (cá Trắm cỏ, cá Chép), mua giống cây trồng như Keo làm giấy,
Bạch Đàn. Ngoài ra các hộ còn sử dụng nguồn vốn đó để mua các loại phân
bón cho cây trồng.
Trong thời gian qua, nhờ sử dụng nguồn vốn từ ngân hàng chính sách
xã hội trên địa bàn xã đã có nhiều hộ gia đình vươn lên phát triển về kinh tế,
đơn cử như trường hợp gia đình anh Nguyễn Văn Hiếu ở thôn Đầm Gành
với số vốn được vay từ ngân hàng chính sách xã hội là 15 triệu đồng (năm
2009) gia đình anh đã sử dụng nguồn vốn để mua 1000 gốc cây keo làm giấy
với chi phí là 2 triệu đồng, mua phân bón hết 3,5 triệu đồng, mua 10 cân cá
giống (gồm cá Chép, cá Trắm cỏ) hết 1.200.000đồng. Ngoài ra, anh dùng 5
triệu đồng để tu sửa chuồng trại và mua 4 con lợn giống. Số vốn còn lại gia
đình dự tính sẽ để mua thức ăn chăn nuôi và phân bón. Việc sử dụng nguồn
vốn từ ngân hàng chính sách xã hội đã bước đầu mang lại hiệu quả cao cho
gia đình, giúp gia đình từng bước cải thiện cuộc sống, từng bước thoát
nghèo.
Ảnh 5 : Phát triển sản xuất nhờ hỗ trợ vay vốn của gia đình anh
Nguyễn Văn Hiếu
Ngoài nguồn vốn đã hỗ trợ cho vay, chủ yếu từ ngân hàng chính sách
xã hội, thì ở xã Mỹ Yên đã có những chương trình cho vay từ nguồn vốn
trích từ quỹ của các hội như: Hội phụ nữ, hội nông dân, hộ cựu chiến binh,
đoàn thanh niên. Trong toàn xã đã thành lập được quỹ Hội phụ nữ đóng từ
25 chi hội. Quỹ hội phụ nữ được đóng góp hàng năm phục vụ cho các hộ gia
đình thuộc diện nghèo có nhu cầu vay, với số tiền là từ 2 đến 3 triệu VND/
lượt.
Các chương trình dự án của hội phụ nữ được tài trợ hàng năm như:
Dự án AFAP của Úc với tổng số vốn là 1,2 tỷ đồng; dự án SNV do Hà Lan
tài trợ với tổng số vốn là 86 triệu VND (trong năm 2008- 2009) dành cho
các chị, em phụ nữ trên toàn xã đặc biệt là các chị, em thuộc diện nghèo.
Nguồn vốn từ hai dự án hỗ trợ trên được các hộ gia đình sử dụng vào mục
đích chăn nuôi (Trâu, Bò, Lợn, Gà, Vịt…), trồng chè mang lại hiệu quả cao.
Nhiều hộ gia đình thoát nghèo từ chương trình vay vốn thông qua tổ chức
hội phụ nữ như gia đình chị Dương Thị Khuyên thôn Đồng Khâm, Lưu Thị
Năng thôn Thuận Yên, Trần Thị Oanh xóm Chùa…
Bên cạnh những nguồn vốn cho vay từ Hội phụ nữ, thì nguồn vốn từ
quỹ Hội nông dân, Hội cựu chiến binh cũng đã góp phần đáng kể vào việc
hỗ trợ cho các hộ gia đình nghèo vươn lên thoát nghèo. Các hộ gia đình
nghèo có thành viên tham gia hội nông dân, hội cựu chiến binh được vay
vốn từ 2 - 3 triệu VNĐ/lượt với lãi suất thấp 0,1%. Trên cơ sở tinh thần tự
nguyện của các hộ gia đình nên số lượng người vay không giới hạn và trên
thực tế số hộ tham gia đăng kí vay từ các nguồn vốn này cũng không nhiều
trong năm 2008 có 11 hộ gia đình đăng kí vay vốn, năm 2009 có 8 hộ và
năm 2010 có 10 hộ đăng kí vay vốn. Việc hỗ trợ vốn cho những hộ nghèo đã
tạo điều kiện cho họ chủ động hơn trong quá trình sản xuất, người nghèo có
thể tự do đầu tư sản xuất mà họ cho là có hiệu quả nhất.

4. Về hỗ trợ cho hoạt động giáo dục

Thực tế cho thấy có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến nghèo đói
và một trong những nguyên nhân cơ bản đó là trình độ dân trí thấp. Nhận
thức được vấn đề đó, Đảng và nhà nước ta luôn có những chính sác h ưu tiên
hàng đầu trong phát triển giáo dục, đề ra những chương trình, chính sách hỗ
trợ cho học sinh, sinh viên nghèo trong cả nước như miễn giảm học phí, hỗ
trợ sách giáo khoa cho học sinh nghèo, có những xuất học bổng dành cho
những học sinh, sinh viên nghèo học giỏi vượt khó. Từ đó đã khuyến khích
các hộ gia đình có con em trong độ tuổi đi học đảm bảo điều kiện tốt nhất
cho con em mình tới trường.

Được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và nhà nước, các cấp chính
quyền, xã Mỹ Yên đã thực hiện tốt các chương trình, chính sách của Đảng
và nhà nước trong vấn đề hỗ trợ giáo dục cho những học sinh, sinh viên
thuộc diện nghèo.

Trong những năm 2008 – 2011 xã M ỹ Yên đã thực hiện hỗ trợ cho
những học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo trong xã cụ thể là : Miễn giảm học
phí gần như 100%, hỗ trợ mua sách vở, đồ dùng học tập. Theo quy định 112
của Chính phủ, mỗi học sinh, sinh viên được hỗ trợ 140.000 đồng/tháng.
Năm học 2008 – 2009 có 109 em thuộc 19 xóm trong toàn xã được hỗ trợ
với tổng số tiền là 65.100.000 đồng. Trong năm học 2010, có 16 em thuộc
12 xóm được trợ cấp với tổng số tiền trợ cấp là 10.850.000 đồng. Năm 2011,
trong 4 tháng đầu năm (từ tháng 1 – 5) có 39 em, thuộc 18 thôn được hỗ trợ
với tổng số tiền là 26.600.000 đồng (Nguồn UBND xã Mỹ Yên)

Những chính sách thiết thực trên đây đã giúp đỡ đáng kể đến cuộc
sống của các hộ gia đình có con em đang đi học, là nguồn động viên, khích
lệ con em đến trường để học tập, từ đó tỉ lệ học sinh, sinh viên đến trường đi
học được tăng lên. Thành công trong công tác nà y đã góp phần không nhỏ
vào thành công chung c ủa công tác xóa đói giảm nghèo ở xã Mỹ Yên, đồng
thời là giải pháp hiệu quả để xóa bỏ tình trạng nghèo đói ở nước ta nói
chung và ở Mỹ Yên nói riêng.

5. Hỗ trợ về y tế

Mỹ Yên là một xã có tỉ lệ nghèo khá cao của huyện Đại Từ, đời sống
của người dân vẫn chưa được đảm bảo về nhiều mặt, bên cạnh các nhu cầu
hỗ trợ về nhà ở, hỗ trợ về sản xuất, giáo dục…thì nhu cầu về sức khỏe con
người cũng luôn được coi trọng. Thực hiện những chính sách của Đảng và
nhà nước ta đề ra, trong những năm qua xã Mỹ Yên đã có những nỗ lực
trong phát triển y tế, hỗ trợ cho những hộ gia đình nghèo, góp phần thực
hiện hiệu quả trong công tác xóa đói giảm nghèo, người dân từng bước thoát
nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống. Hằng năm, xã tổ chức khám sức
khỏe định kỳ, cấp phát thuốc miễn phí cho người dân theo chương trình 135.
Trong các chính sách của nhà nước đề ra, có chính sách cấp thẻ bảo hiểm y
tế cho tất cả mọi người thuộc diện nghèo và được 100% các hộ nghèo tham
gia đầy đủ. Nhờ thực hiện các chính sách trên mà sức khỏe của người dân
được quan tâm, tỉ lệ bệnh tật, đau ốm giảm đáng kể, người dân yên tâm hơn
để chú trọng vào công việc sản xuất, đồng thời người dân tin tưởng vào các
cấp chính quyền.

6.Hỗ trợ trong vấn đề giải quyết việc làm

Do đặc thù là một xã miền núi, ngoài hoạt động sản xuất nông nghiệp
người dân nơi đây hầu như không biết cách phát triển các hoạt động dịch vụ
và tiểu thủ công nghiệp để tăng thu nhập. Trong khi đó do tính mùa vụ của
nghề nông nên tình trạng thiếu việc làm vào thời gian nông nhàn là rất
nhiều. Chính vì thế mà chính quyền xã đã mở các lớp đào tạo nghề như nghề
may, tin học, thú y. Đồng thời, chính quyền xã đã đề ra chiến lược để Hội
phụ nữ kết hợp với cán bộ khuyến nông, hội nông dân, các công ty cố vấn
việc làm xuất khẩu lao động tổ chức tập huấn khoa học kĩ thuật, hội thảo
chăn nuôi trồng trọt các loại giống cây mới, giúp một số người dân trong xã
đi học nghề làm việc trong nước và xuất khẩu lao động sang nước ngoài.
Được Đảng và nhà nước quan tâm, những đối tượng chính sách đi lao động
nước ngoài hoặc những gia đình sản xuất kinh doanh tại các vùng khó khăn
được hỗ trợ cho vay tối đa là 30 triệu/ 1 hộ. Thời gian cho vay tối đa là 60
tháng.
7.Một số hỗ trợ khác

Bên cạnh những chính sách hỗ trợ trên còn nhiều chính sách xoá đói
giảm nghèo của Nhà nước được xã Mỹ Yên áp dụng như: chính sách hỗ trợ
tiền điện ( theo quyết định số 268/QĐ - TTg ngày 23/2/2011 của Thủ Tướng
Chính Phủ) cho 385 hộ nghèo ( quý II năm 2011 ) với mức hỗ trợ 90 nghìn
đồng/hộ/quý.

Đối với các hộ nghèo, hộ chịu ảnh hưởng của lũ lụt được hỗ trợ gạo
cứu đói tháng giáp hạt. Tháng 6/2009 Ủy ban nhân dân xã Mỹ Yên ra quyết
định hỗ trợ 15kg/khẩu cho 76 hộ.

Ngoài ra Ủy ban nhân dân xã còn hỗ trợ phát chăn bông cho 388 hộ
nghèo của xã Mỹ Yên với số phân bổ 35 (22/12/2010). Tặng quà tết cho 387
hộ nghèo mỗi khẩu 200.000 đồng (2009).

Để thực hiện tốt hơn nữa công tác xoá đói giảm nghèo chính quyền
còn thực hiện một số dự án phát triển giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ
trợ người dân phát triển sản xuất.

2.2.4. Kết quả đạt được từ việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo
ở xã Mỹ Yên - Đại Từ - Thái Nguyên

Một số chính sách mà chính quyền xã Mỹ Yên thực hiện để hỗ trợ
người nghèo đã cải thiện đáng kể cuộc sống của người dân, nâng cao cuộc
sống cả về vật chất lẫn tinh thần. Kinh tế ngày càng phát triển, sức khoẻ,
giáo dục ngày càng được chú trọng và khuyến khích niềm tin của người dân
vào Đảng, nhà nước ngày càng bền chặt.
Nhờ triển khai tốt chính sách xóa đói giảm nghèo tại địa phương,
trong vòng 3 năm qua, từ năm 2008 – 2009 đã có 136 hộ gia đình ở Mỹ Yên
đã thoát nghèo. Tuy nhiên số hộ nghèo năm 2010 lại tăng lên 179 hộ do
chuẩn nghèo mới được áp dụng đối với hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức
thu nhập bình quân từ 400.000 trở xuống, so với năm 2008 và năm 2009
tăng lên 200.000 đồng. Điều này được thể hiện rõ ở biểu đồ sau :

Bảng 3: Số hộ nghèo trên địa bàn xã Mỹ Yên giai đoạn 2008 – 2010

Tổng số hộ Số hộ nghèo Số hộ thoát nghèo
Năm
(hộ) Tỉ lệ (%) (hộ) Tỉ lệ (%) (hộ)
2008 1319 100 342 25,92 -
2009 1412 100 206 14,59 136
2010 1431 100 385 26,90 - 179

(Nguồn: UBND xã Mỹ Yên – Đại Từ)

Vẽ biểu đồ. ??????????????????

* Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách xóa
đói giảm nghèo.
- Thuận lợi:
+ Mỹ Yên là một xã thuộc vùng 135 vì vậy mà được nhà nước quan
tâm ban hành nhiều chính sách về xóa đói giảm nghèo
+ Cán bộ xã thường xuyên được đi tập huấn nâng cao trình độ và năng
lực, nhiệt tình để thực hiện tốt các chính sách đồng thời có những chính sách
phù hợp.
+ Các chính sách được phổ biến tới dân thông qua các phương tiện
truyền thông như loa, đài để dân nắm rõ và tạo thuận lợi trong quá trình thực
hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo.
- Khó Khăn:
+ Địa hình ở xã chủ yếu là đồi núi nên diện tích đất canh tác còn thiếu
nhiều, vì vậy đây là khó khăn trong các chính sách hỗ trợ đất canh tác cho
dân.
+ Lao động trẻ tại địa phương ít hầu hết là đi làm ăn xa đây là một
khó khăn cho các chính sách cần những nguồn lao đông trẻ ví dụ như các
chính sách mở lớp dạy nghề, thực hiện các mô hình kinh tế như mô hình
VACR…
+ Người dân ở xã chưa năng động, rất ít các kiểu sản xuất hộ gia đình
để tăng thêm thu nhập mà chỉ dựa vào lúa và chè một phần do trình độ của
người dân chưa cao nên mức độ tiếp thu các chính sách mà xã ban hành của
người dân cũng hạn chế.
+ Dân cư sống không tập trung nên việc tuyên truyền các chủ trương,
chính sách gặp nhiều khó khăn.

* Những hạn chế và nguyên nhân trong quá trình thực hiện chính sách xóa
đói giảm nghèo.

Thực hiện những chính sách xóa đói giảm nghèo đã mang lại nhiều lợi
ích thiết thực, góp phần nâng cao đời sống của người dân. Tuy nhiên, bên
cạnh những mặt mà Ban công tác xóa đói giảm nghèo đã làm được trong
thời gian qua thì vẫn còn một số hạn chế sau:
- Hỗ trợ về nhà ở :
Chương trình 134, 167 giải quyết được phần nào nguyện vọng của
nhân dân về nhà ở tuy nhiên với số tiền hỗ trợ là 8,4 triệu đồng không thể đủ
để xây dựng một căn nhà kiên cố khi mà giá cả vật liệu xây dựng ngày càng
tăng cao. Họ phải vay thêm tiền ở bên ngoài gấp 2, 3 lần số tiền được Nhà
nước hỗ trợ thì mới đủ để hoàn thiện nhà. Tuy nhiên sau đó người dân không
có khả năng để trả nợ do số tiền vay quá lớn. Họ tiếp tục rơi vào vòng luẩn
quẩn không thoát nghèo được.
- Về hỗ trợ phát triển sản xuất:
Trong các chương trình hỗ trợ của nhà nước cho hộ người nghèo, thì
có chương trình hỗ trợ về phát triển sản xuất. Nhà nước hỗ trợ về giống vật
nuôi, cây trồng, phân bón và một số máy móc (tôn quay chè, máy vò, máy
hái che, bình phun thuốc sâu…), phục vụ cho sản xuất của các hộ gia đình.
Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình vẫn chưa phát huy được những hiệu quả cao từ
những chương trình hỗ trợ đó. Những hạn chế đó được thấy rõ qua những
vấn đề sau:
Các chương trình tập huấn cho người dân về mô hình phát triển V- A-
C-R (vườn – ao – chuồng – rừng), chưa được những cán bộ phụ trách hướng
dẫn cụ thể và đúng theo quy trình, mặt khác ý thức tham gia vào các lớp tập
huấn của người dân còn chưa cao, nhiều hộ dân chưa chú ý đến việc áp dụng
mô hình này vào trong phát triển kinh tế. Trong việc hỗ trợ giống vật nuôi
(Trâu, Bò) cho người dân cũng còn nhiều bất cập. Nguồn giống mua về chủ
yếu từ các trại chăn nuôi ở Tuyên Quang, cho ăn bằng thức ăn công nghiệp,
do đó không thích nghi được với điều kiện chăn nuôi của ở trên địa bàn xã,
nên đã dẫn đến tình trạng bò bị ốm, người dân phải bán bò với giá rẻ để hoàn
trả tiền cho trại cung cấp giống. Bên cạnh đó, các hộ gia đình đã gặp phải
nhiều rủi ro trong chăn nuôi do những diễn biến hết sức phức tạp của thời
tiết (rét đậm, rét hại…) gây ra. Trong vấn đề này, một phần là do ban khuyến
nông của xã chưa có biện pháp chỉ đạo kịp thời để đối phó với những điều
kiện thời tiết xấu như chưa đôn đốc người dân trong việc giữ ấm cho gia súc,
gia cầm trong mùa rét. Vì thế, nguồn giống vật nuôi được hỗ trợ đã không
mang lại hiệu quả cho các hộ gia đình. Việc hỗ trợ cây giống còn ồ ạt, không
kiểm soát được số lượng cũng như chất lượng, người dân chưa được hướng
dẫn cụ thể về các kỹ thuật canh tác, như việc trồng các loại cây keo làm
giấy, bạch đàn còn chưa đúng khoảng cách, tỉ lệ hố đào, tỉ lệ phân bón. Như
vậy, các hộ nghèo không có diện tích đất trồng lúa, chỉ dựa vào diện tích
trồng chè, diện tích trồng keo thì mức thu nhập sẽ không đáng kể nếu diện
tích cây trồng đó phát triển kém, không đồng đều đều. Nhà nước hỗ trợ về
máy móc phục vụ sản xuất cho các hộ nghèo, trong đó có máy hái chè, máy
tôn quay chè, máy vò chè nhưng các hộ dân chỉ sử dụng máy tôn quay chè,
máy vò chè, còn máy hái chè thì không được người dân sử dụng đến. Đo đó
đã gây lãng phí của nhà nước.
Trên địa bàn xã chưa xây dựng được xí nghiệp, nhà máy chế biến
nông sản, chế biến chè, thực phẩm vì thế sản phẩm làm ra chưa được tiêu
thụ tại chỗ, người dân phải mất chi phí vận chuyển đi tiêu thụ chỗ khác. Do
là một xã miền núi cho nên vấn đề giao thông gặp nhiều khó khăn trở ngại,
người mua phải mất nhiều chi phí hơn khi mua hàng, còn người bán thì phải
chấp nhận giá cả thấp hơn.
-Về hỗ trợ vay vốn:
Nhà nước hỗ trợ người dân vay vốn với lãi suất thấp từ ngân hàng
chính sách xã hội, tạo điều kiện cho người dân phát triển sản xuất. Nhưng
với nguồn vốn trong tay người dân còn chưa chủ động, mạnh dạn đầu tư và
phải trông chờ vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế của xã, một khi
các chương trình, dự án đó có khả quan thì họ mới dám sử dụng nguồn vốn
đó. Chính quyền xã luôn khuyến khích, ủng hộ người dân nhân rộng mô
hình kinh tế V – A – C - R (vườn – ao – chuồng – rừng), nhưng trên thực tế
người dân chưa được tham quan trực tế mô hình đó nên còn gặp những khó
khăn và không dám làm theo. Hơn nữa, số vốn được vay từ ngân hàng phần
lớn dưới 10 triệu đồng, do đó không đủ để họ đầu tư vào sản xuất với quy
mô lớn. Việc giám sát người dân sử dụng vốn của các cấp lãnh đạo xã chưa
thực sự chặt chẽ nên đã để xảy ra việc sử dụng vốn vay sai mục đích. Điển
hình trong xã còn có nhiều hộ nghèo dùng tiền được vay để phát triển sản
xuất mua các vật dụng trong nhà như tivi, giường, tủ, xe máy…Khi đến hạn
phải hoàn trả vốn thì người dân lại không còn tiền do đó bắt buộc họ phải đ i
vay ở ngoài với lãi suất cao.
- Về vấn đề y tế:
Chính quyền xã Mỹ Yên luôn quan tâm đến sức khỏe của người dân, đặc
biệt là các hộ nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Tuy nhiên trong
việc khám chữa bệnh còn có một số hạn như những người có thẻ bảo hiểm y
tế thì chỉ được khám bệnh và cấp thuốc một lần trong một tháng theo quy
định. Số lượng thuốc cấp phát miễn phí còn ít, cho nên nhiều khi người dân
đi khám nhưng trạm y tế không có thuốc để phát. Trạm y tế xã chưa có điều
kiện để đi đến khám sức khỏe miễn phí cho những người cao tuổi ở các thôn
cách xa trạm y tế của xã như Thuận Yên, Tân Yên.

CHƯƠNG 3

NHỮNG KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TÔT
CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ MỸ YÊN,
HUYỆNNĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

3.1. Khuyến nghị
3.1.1. Đối với chính quyền xã
Chính quyền xã là người tiếp xúc trực tiếp với dân, phổ biến và triển
khai thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo do đó:
- Đảng bộ và chính quyền xã cần xây dựng cho mình một bộ máy lãnh
đạo vững mạnh, có đầy đủ những năng lực, trình độ cần thiết, luôn luôn
nhiệt tình trong công việc, năng động sáng tạo.
- Khi có những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chính
quyền xã cần xây dựng những chương trình thực hiện một cách khoa học, cụ
thể, phân công công việc rõ ràng cho từng bộ phận thông qua một ban chỉ
đạo chung.
- Cần làm rõ nguyên nhân đói nghèo của các hộ thông qua việc điều
tra và tiếp xúc trực tiếp của ban chỉ đạo thực hiện công tác xóa đói giảm
nghèo để từ đó áp dụng những chính sách ưu đãi, biện pháp hỗ trợ cụ thể
phù hợp với từng gia đình.
- Các chính sách hỗ trợ cần thực hiện một cách toàn diện và triệt để,
các chủ trương chính sách thực hiện phải sát dân theo nguyên tắc: dân hiểu,
dân làm, dân bàn, dân kiểm tra. Thường xuyên tổ chức các cuộc họp giữa
ban chỉ đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo với những hộ nghèo để
lắng nghe những ý kiến và nguyện vọng của họ, từ đó đưa ra những giải
pháp hiệu quả nhất.
- Có cơ chế giám sát chặt chẽ các nguồn vốn hỗ trợ nhằm mục đích
đảm bảo rằng người nghèo ai cũng được tiếp cận và sử dụng đúng mục đích
nguồn vốn vay. Khi vay vốn, các hộ cần phải làm bản cam kết về việc sử
dụng đúng nguồn vốn vay vào mục đích gì. Ví dụ như nuôi con gì, trồng
giống cây gì, mua máy móc thiết bị sản xuất… với số tiền cụ thể là bao
nhiêu từ nguồn vốn được hỗ trợ, nếu còn dư vốn thì tiếp tục sử dụng vào
mục đích gì.
- Công tác khuyến nông cần xác thực hơn nữa đối với người nghèo để
những người có trình độ thấp cũng có thể tiếp thu một cách dễ dàng, tránh
tình trạng tham gia các lớp bồi dưỡng, các lớp tập huấn rồi mà vẫn không
tiếp thu học hỏi được kinh nghiệm.
- Uỷ ban nhân dân xã giao nhiệm vụ cho ban xóa đói giảm nghèo ở
các thôn xóm. Các tổ chức hội cấp xã, tổ tiết kiệm - vay vốn thường xuyên
phối hợp để kiểm tra, hướng dẫn sử dụng nguồn vốn, giải quyết khó khăn
cho những trường hợp các hộ gia đình gặp rủi ro, thiên tai, dịch bệnh…trong
quá trình sản xuất.
- Tiến hành bồi dưỡng nâng cấp nghiệp vụ cho cán bộ chủ chốt ở cơ
sở, trưởng – phó các ban ngành đoàn thể về công tác xóa đói giảm nghèo.
- Phải thường xuyên phát sóng rộng rãi những quan điểm, chủ trương,
tư tưởng của Đảng & Nhà nước có liên quan đến công tác xóa đói giảm
nghèo để nhân dân hiểu và từ đó sẽ chủ động, tích cực tham gia thoát nghèo.
3.1.2. Đối với hộ nghèo đói
- Cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước, các hộ đói nghèo phải nỗ lực
vươn lên để thoát khỏi đói nghèo, phải tự thân vận động, loại bỏ tâm lí chờ,
ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước.
- Chủ động trong việc nâng cao nhận thức, học hỏi kinh nghiệm của
các hộ đã thoát nghèo tại xã và các địa phương khác cũng như trên những
phương tiện thông tin đại chúng để áp dụng vào thực tiễn công việc của
mình.
- Chủ động, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, mô hình
sản xuất phù hợp, đạt hiệu quả kinh tế cao.
- Năng động, sáng tạo, linh hoạt trong quá trình sản xuất kinh doanh
(tìm thị trường, các nguồn cung cấp, nơi tiêu thụ sản phẩm…).
- Xây dựng mọi kế hoạch làm ăn một cách chi tiết, dựa trên cơ sở tổng
kết các kết quả đạt được của những kế hoạch đó để rút ra đ ược những kinh
nghiệm chống đói nghèo cho những lần sau.
3.2. Đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo
3.2.1. Tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất – tăng thu nhập
* Tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật góp phần phát triển kinh tế
- Tiếp tục bổ sung và nâng cấp hệ thống đường giao thông, mạng lưới
điện, các trung tâm thông tin trên địa bàn toàn xã. Xây dựng thêm các công
trình công cộng, phúc lợi, cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật hiện đại để làm bàn
đạp cho sự phát triển của kinh tế.
- Quy hoạch khu trung tâm xã để phát triển dịch vụ, khu vui chơi giải
trí, các hoạt động văn hóa nghệ thuật và thể dục thể thao.
- Có thêm các trường tiểu học, trung học cở sở để có thể đáp ứng nhu
cầu cho các gia đình có con em nơi xa xôi.
- Trạm y tế mở thêm ở các vùng dân cư xa nơi trung tâm để kịp thời
đáp ứng chăm sóc sức khỏe cho người dân nhất là vùng dân tộc thiểu số.
* Khuyến khích phát triển các nghành nghề khác ngoài nông nghiệp.
- Vì đặc điểm cơ cấu kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp
lại mang tinh mùa vụ, hơn nữa diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp
lại nhỏ nên khoảng thời gian nông nhàn là rất nhiều. Chính vì vậy để tăng
thêm thu nhập trong thời gian đó người dân có thể phát triển kinh tế hộ gia
đình như: sản xuất miến, bánh đa, đậu phụ…
- Phát triển thêm các ngành tiểu thủ công nghiệp phù hợp với người
dân trong xã như : mở các xưởng mây tre đan, đồ mỹ nghệ quy mô vừa và
nhỏ, gỗ…
- Mở các lớp học nghề cho lực lượng thanh niên phát triển kinh tế
ngay trong xã (sửa chữa xe máy, cơ khí, hàn xì, may….). Họ có thể làm
ngay tại xã hoặc tìm việc làm ở các khu công nghiệp.
* Chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo
- Cung cấp tín dụng ưu đãi, chủ yếu là tín dụng có quy mô nhỏ cho
các hộ gia đình nghèo có sức lao động, có nhu cầu vay vốn để phát triển sản
xuất với thủ tục cho vay và thu hồi vốn đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện,
phù hợp với người nghèo thông qua sự giúp đỡ của tổ tiết kiệm và vay vốn ở
trong thôn.
- Số tiền và thời hạn cho vay phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh
bằng nhiều hình thức khác nhau tùy vào từng vùng cụ thể, nếu vay nhiều thì
có thể tăng thời hạn phải trả nợ gốc (theo thực tế hiện nay thì nếu các hộ
nghèo vay với số vốn là 20 triệu đồng thì thời hạn trả nợ là 3 năm, có thể
tăng thời hạn trả nợ lên 4,5 năm), có thể cung cấp vay vốn bằng tiền hay
hiện vật cụ thể ( hỗ trợ trâu, bò giống…)
- Thực hiện cơ chế cho vay trực tiếp hay ủy thác qua các tổ chức đoàn
thể như hội Cựu chiến binh, hội Nông dân, hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên…
dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của lãnh đạo xã Mỹ Yên.
- Trong thủ tục vay vốn cần có thêm Bản cam kết sử dụng nguồn vốn
của người dân, trong đó họ phải ghi mục đích vay vốn và sử dụng vào việc
gì, để tránh tình trạng vay vốn về mà lại không phục vụ cho phát triển sản
xuất.
- Sau khi cho người dân vay vốn Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo
phải tổ chức các buổi hướng dẫn người dân sử dụng nguồn vốn thế nào cho
tốt và hiệu quả nhất.
* Khuyến nông, khuyến lâm
- Đưa các loại cây giống mới với năng suất cao hơn vào sản xuất, phù
hợp với thời tiết của địa phương như giống lúa IR.36 kháng rầy, giống lúa
QR1, QR2, TH3-3 có khả năng chống chịu sâu bệnh và các ngoại cảnh khác;
giống ngô lai đơn ngắn ngày năng suất cao LVN 25 và SB09-9... Nhà Nước
cần thường xuyên hỗ trợ phân bón cho cây trồng để không làm gián đoạn
quá trình sinh trưởng của cây. Triển khai áp dụng mô hình VACR ( vườn,
ao, chuồng, rừng) đối với các hộ có điều kiện áp dụng.
- Mở rộng dự án trồng rừng AFAP do Úc tài trợ, khuyến khích trồng
rừng xen canh cùng với cây chè tại những diện tích đồi núi nằm xa hộ gia
đình, đường xá đi lại khó khăn, tránh tình trạng đồi núi không có người
chăm sóc. Hỗ trợ về giống cây và vật tư cho người dân.
* Xây dựng và nhân rộng mô hình xóa đói giảm nghèo
- Nhân rộng mô hình xóa đói giảm nghèo cũng là một trong những
biện pháp giảm nghèo hiệu quả hiện nay. Mục tiêu của phương pháp này là
chọn ra những mô hình phát triển kinh tế điển hình của địa phương để nhân
rộng trên địa bàn. Hiện nay, ở xã Mỹ Yên đã có khá nhiều hộ nghèo nhờ
tranh thủ được sự hỗ trợ một phần về vốn đồng thời mạnh dạn vay vốn từ
Ngân hàng chính sách huyện để mua cây trồng, vật nuôi xây dựng mô hình
VAC; RVAC mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đơn của như mô hình VACR
của hộ gia đình anh Bế Văn Túc ở thôn Na Giai. Việc phối kết hợp loại hình
kinh tế này đã mang lại hiệu quả, năng suất chất lượng cao cho trồng trọt
cũng như chăn nuôi cho gia đình anh. Với số tiền vay chủ yếu từ Ngân hàng
chính sách xã hội huyện, gia đình anh đã có diện tích đầm: 6000m2, diện tích
chè: 7 sào; chăn nuôi lợn, gia cầm; diện tích đất nông nghiệp: 1,5 mẫu; ngoài
ra trên các đồi còn trồng xen cây Keo, mỗi năm gia đình nhà anh cho thu
nhập khoảng 150 triệu đồng.
Ảnh 6: Mô hình VACR của gia đình anh Bế Văn Túc đem lại hiệu quả kinh tế cao


3.2.2. Tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ
* Chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo
- Đảm bảo người nghèo được tiếp cận các dịch vụ y tế, khi ốm đau
đến khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế được thuận tiện hơn.
- Củng cố mạng lưới y tế cơ sở nhất là y tế ở xã, thôn. Đầu tư toàn
diện cơ sở vật chất kĩ thuật cho trạm y tế xã, đào tạo đội ngũ bác sĩ làm việc
ở cơ sở. Đẩy mạnh các hoạt động xã hội chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
* Chính sách hỗ trợ giáo dục cho học sinh nghèo
- Miễn giảm hoàn toàn học phí và các khoản đóng góp xây dựng
trường cho con em hộ nghèo.
- Hỗ trợ sách giáo khoa, vở viết và đồ dùng học tập.
- Củng cố mạng lưới trường lớp, đảm bảo nhu cầu học tập, không có
phòng học tạm.
* Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở và nước sinh hoạt
- Hỗ trợ xây nhà, sửa nhà để người nghèo không phải sống trong
những ngôi nhà tranh vách đất tạm bợ, không đảm bảo an toàn khi có mưa to
gió lớn, thông qua việc chính quyền xã và các hội tạo như vận động người
dân quyên góp…
- Tu sửa và nâng cấp hệ thống các công trình cung cấp nước sinh hoạt
đảm bảo an toàn vệ sinh để 100% ngưới dân trong thôn được sử dụng nước
sạch.
3.2.3. Đối với lãnh đạo chính quyền ở địa phương
- Chính quyền xã là người có vai trò quan trọng trước nhất trong công
tác xóa đói giảm nghèo tại địa phương do đó mỗi tổ chức cần thành lập
những ban thi đua công tác và tổ chức khen thưởng cho những tập thể, cá
nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ nhằm khích lệ và động viên tinh thần làm việc
của họ. Tạo động lực thúc đẩy bằng những cơ chế chính sách đãi ngộ phù
hợp. Tuyên dương khen thưởng để họ thấy được giá trị của bản thân khi
được mọi người thừa nhận và tôn trọng.
- Chính quyền xã cần có các Đơn đề nghị lên cấp trên để cấp kinh phí
phát triển cơ sở hạ tầng.


C. PHẦN KẾT LUẬN


Nghèo đói đang là một vấn đề được tất cả mọi người quan tâm, nó ảnh
hưởng đến nhiều mặt trong đời sống của người dân. Nhận thức được tầm
quan trọng của việc xóa đói giảm nghèo, chính quyền và nhân dân xã Mỹ
Yên đã luôn luôn tích cực chủ động trong việc thực hiện các chủ trương,
chính sách mà Đảng và nhà nước đã ban hành. Xóa đói giảm nghèo là một
nhiệm vụ quan trọng, là mục tiêu chiến lược không chỉ của Đảng và Nhà
nước mà còn của tất cả nhân dân xã Mỹ Yên trong quá trình xây dựng và
phát triển đất nước nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
xã hội công bằng, văn minh”.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Nguyễn Thị Hằng với “Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn
nước ta hiện nay” của– NXB Chính trị quốc gia, 1997.
2. Vũ Thị Ngọc Phùng với “ Vấn đề tăng trưởng kinh tế, công bằng xã
hội và vấn đề xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam”. Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia Hà Nội, 1993.
3. Hoàng Văn Bẩy với đề tài “Tìm hiểu chính sách xoá đói giảm
nghèo tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 – 2002” Niên khoá 1998 – 2002,
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
HỆ THỐNG CÂU HỎI SỬ DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA
A. Phỏng vấn sâu ( cho cán bộ)
Câu1: Trên địa bàn đã áp dụng chương trình gì để thực hiện xóa đói giảm
nghèo?
Câu 2: Việc xóa đói giảm nghèo ở địa phương được thực hiện như thế nào?
Thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện các chính sách? Cách khắc phục
những khó khăn?
Câu 3: Ông ̣(bà) đánh giá như thế nào về kết quả việc thực hiện chính sách xoá
đói giảm nghèo?
Câu 4: Dự án xây dựng và nhân rộng mô hình xóa đòi giảm nghèo? Xây dựng
mô hình nông thôn mới có được thực hiện hay không?
Câu 5: Định hướng thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo trong thời gian tới?
B. Câu hỏi cho người dân, hộ gia đình
-Thông tin chủ hộ:
+ Họ và tên: ................................ ...............
+ Dân tộc: ................................ ..................
+ Nghề nghiệp: ................................ ..........
+Trình độ văn hóa: ................................ .....
+ Nhà có bao nhiêu nhân khẩu: ..................
Câu 1: Gia đình ông̣(bà) có bao nhiêu lao động là chính ? Bao nhiêu lao động
là phụ thuộc?
Câu 2: Gia đình làm nghề gì là chủ yếu?
A. Nông nghiệp
B. Lâm nghiệp
C. Chăn nuôi
D. Nghề thủ công
E. Các nghề khác
Câu 3: Trước khi được vay hoặc được trợ cấp vốn gia đình ông (bà) thuộc
diện nào trong bảng dưới đây?
A. Thiếu đất sản xuất
B. Đông con
C. Thiếu kinh nghiệm làm ăn
D. Thiếu vốn
E. Dân tộc thiểu số
Câu 4: Ông (bà) có dự định sẽ vay vốn không?
A. Có
B. Không
Câu 5: Xin ông (bà) có thể cho biết gia đình vay vốn hoặc được hưởng nguồn
vốn ưu đãi nào dưới đây:
A. Chương trình 135 (chính sách vay vốn tín dụng, ưu đãi)
B. Chương trình 135 (Hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở cho hộ nghèo dân tộc
thiểu số )
C. Chương trình 167 (Hỗ trợ người nghèo, nhà ở và nơi sinh hoạt)
D. Hỗ trợ địa phương
Câu 6: Sau khi được vay vốn ông (bà) sử dụng vốn như thế nào? Vào mục
đích gì?
Câu 7: Theo ông (bà) chính sách xóa đói giảm ngèo của Đảng và Nhà nước
được thực hiện có cải thiện đời sống của ng ười dân không?
A. Có
B. Không
C. Chỉ 1 phần
Câu 9: Công tác xóa đói giảm nghèo được cán bộ xã thực hiện trong thời gian
qua như thế nào?
Câu 10: Tình trạng điện, đường, trường, trạm đã thực hiện tốt chưa?
A. Rất tốt
B. Khá tốt
C. Tốt
D. Chưa tốt
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản