Đề tài "Đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp để hạn chế thất thoát trong chi NSNN Việt Nam hiện nay"

Chia sẻ: Lê Trung Hiếu | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:22

0
376
lượt xem
206
download

Đề tài "Đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp để hạn chế thất thoát trong chi NSNN Việt Nam hiện nay"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo tài liệu 'đề tài "đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp để hạn chế thất thoát trong chi nsnn việt nam hiện nay"', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài "Đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp để hạn chế thất thoát trong chi NSNN Việt Nam hiện nay"

  1. Lời nói đầu M ột quốc gia muốn có nền kinh tế phát triển thì đòi hỏi nền kinh tế của quốc gia đó phải có nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Do đó, hệ thống tài chính quốc gia phải thực sự quán lý chặc chẽ, trong đó phải nói đến Tài Chính Công càng phải vững chắc hơn vì Tài Chính Công chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, nó là một công cụ quản lý vĩ mô gắn liền với hoạt động nhà nước về các tài chính của nhà nước nhưng được thực thi theo khuông khổ của pháp luật nhằm ổn định kinh tế và sự hài hòa xã hội, nó luôn tác động đến các khâu tài chính khác trong hệ thống tài chính quốc dân, nó ảnh hưởng đến sự phát triển của các khu vực kinh tế và thị trường tái chính. Trong điều kiện nền kinh tế hỗn hợp sức nặng và vai trò của các hoạt động kinh tế khu vực Nhà nước rất quan trọng. Mặc dù hàng hoá và dịch vụ cần thiết để duy trì cuộc sống được cung cấp bởi các hoạt động kinh tế của khu vực tư nhân thông qua thị trường, nhưng khu vực tư nhân không thể đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của công chúng cho rất nhiều hàng hoá và dịch vụ trên nhiều lĩnh vự như: Bảo vệ an ninh quốc gia, ngoại giao, luật pháp, phòng cháy chữa cháy, giáo dục và các phương tiện công cộng của cơ sở hạ tầng như: đường xá, công viên, điện nước,… Do đó, Nhà nước phải sử dụng các nguồn thu thông qua các hình thức thu như: Thuế, phát hành trái phiếu,… để thực hiện các chức năng chính trị, quản lý kinh tế và cung cấp các hàng hoá, dịch vụ công cộng. Căn cứ vào mục đích sử dụng các quỹ tiền tệ tài chính công bao gồm: 1. Ngân sách Nhà nước. 2. Quỹ tín dụng Nhà nước. 3. Quỹ dự trữ quốc gia ( vàng, tiền nước ngoài, tiền tệ quốc tế, các mặt hàng chiến lược ), quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia. Thực chất các quỹ này có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, nhưng được trích thành các quỹ độc lập nhằm thực hiện các mục đích riêng. 4. Các quỹ doanh nghiệp nhà nước. 5. .v.v… Và bây giờ chúng ta cũng tìm hiểu kỹ hơn về Ngân sách nhà nước - vận dụng nguyên tắc chi ngân sách nhà nước trong hoạt động chi ngân 1
  2. sách nhà nước của Việt Nam - thực trạng và giảp pháp để hạn chế thất thoát. Tổng quan về chi ngân sách nhà nước N gân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia. Luật Ngân sách Nhà nước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua năm 1996 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của quốc gia trong dự toán đã được cơ quan chính phủ có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của chính phủ. Hay chúng ta còn có thể hiểu Ngân sách nhà nước theo cách khác là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thế trong xã hội, phát sinh trong quá trình nhà nước huy động, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước ( quỹ ngân sách ) nhằm đảm bảo việc thực hiện các chức năng của nhà nước về mọi mặt. 2
  3. Sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước đã tạo ra hoạt động chi ngân sách nhà nước. Như vậy, chi ngân sách nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ lớn nhất của nhà nước - quỹ ngân sách, nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước về mọi mặt theo những nguyên tắc nhất định. Trong mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn lịch sử, chi ngân sách nhà nước mang những nội dung cơ cấu khác nhau, song chúng đều có cùng những đặc điểm sau: Thứ nhất, chi ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị , xã hội mà nhà nước phải đảm đương trong thời kỳ. Nhà nước với bộ máy càng lớn thì phải đảm đương càng nhiều nhiệm vụ thì mức độ và phạm vi chi của ngân sách nhà nước càng lớn. Thứ hai là, các khoản chi của ngân sách nhà nước được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô. Điều đó có nghĩa là các khoản chi của ngân sách nhà nước phải được xem xét một cách toàn diện dựa trên cơ sở của việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra . Thứ ba là, các khoản chi của ngân sách nhà nước mang tính không hoàn trả trực tiếp. Điều này được thể hiện qua việc các tổ chức hoặc cá 3
  4. nhân nhận được vốn, kinh phí từ ngân sách nhà nước không phải ghi nợ, và cũng không phải hoàn trả lại một cách trực tiêp cho ngân sách. Mặt khác, không phải mọi khoản thu với mức độ, số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới các khoản chi của ngân sách nhà nước. Thứ tư, các khoản chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sự vận động của các cặp phạm trù giá trị khác như giá cả, tiền lương, lãi suất, tỷ giá hối đoái … Nhận thức rõ mối quan hệ này, có ý nghĩa quan trọng trong việc kết hợp chặt chẽ giữa chính sách ngân sách với chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập trong quá tình thực hiện các mục tiêu của kinh tế vĩ mô ( như tăng trưởng, việc làm, ổn định giá cả, cân bằng cán cân thanh toán,…) Nội dung, cơ cấu chi ngân sách nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử, chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: _ Nhân tố chế dộ xã hội. _ Sự phát triển của lực lượng sản xuất. _ Khả năng tích luỹ của nền kinh tế. _ Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước. _ Các nhân tố khác như: biến động kinh tế, chính trị, xã hội, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái… Căn cứ vào nội dung kinh tế của các lĩnh vực chi, các khoản chi ngân sách nhà nước bao gồm: 1. Chi đầu tư phát triển kinh tế Một trong các chức năng quan trọng của nhà nước là chức năng tổ chức kinh tế. Chức năng này trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay được thể hiện bằng vai trò của nhà nước trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Ngân sách nhà nước với các vai trò của nó được coi là một công cụ quan trọng trong việc thực hiện chức năng nói trên của nhà nước. Chi đầu tư phát triển là những khoản chi mang tính chất tích lũy phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng gắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào các lĩnh vực cần thiết, phù hợp với mục tiêu của nền kinh tế. Nói khác đi, việc chi cho đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước nhằm mục đích tạo ra một sự khởi động ban đầu, kích thích qúa trình vận đông các nguồn vốn trong xã hội để hướng tới sự tăng trưởng. 4
  5. Chi đầu tư phát triển được cấp phát chủ yếu từ ngân sách trung ương và một bộ phận đáng kể của ngân sách địa phương và bao gồm các khoản chi cơ bản sau đây: _ Chi đầu tư xây dựng cơ bản _ Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhà nước. _Chi góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước. _ Chi cho các quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển. _ Chi dự trữ nhà nước. 2. Chi tiêu dùng thường xuyên Bao gồm các khoản chi cho tiêu dùng xã hội gắn liền với chức năng quản lý xã hội của nhà nước, khoản chi này được phân thành hai bộ phận: một bộ phận vốn được sử dụng để đáp ứng nhu cầu của dân cư về phát triển văn hóa xã hội, nó có mối quan hệ trực tiếp đến thu nhập và nâng cao mức sống của dân cư và một bộ phận phục vụ cho nhu cầu quản lý kinh tế xã hội chung của nhà nước. Bằng vào các khoản chi tiêu dùng thường xuyên nhà nước thể hiện sự quan tâm của mình đến nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế, đồng thời với các khoản chi này nhà nước thực hiện chức năng văn hóa, giáo dục, quản lý, an ninh quốc phòng. Chi tiêu dùng thường xuyên bao gồm các khoản chi sau đây: _ Chi quản lý nhà nước (quản lý hành chính). _ Chi An ninh quốc phòng. _ Chi sự nghiệp. _ Chi sự nghiệp kinh tế. _ Chi sự nghiệp nghiên cứu khoa học và công nghệ. _ Chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo. _ Chi sự nghiệp y tế. _ Chi sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, thể thao. _ Chi sự nghiệp xã hội. _ Chi trả nợ gốc tiền chính phủ vay. 5
  6. Nguyên tắc tổ chức chi ngân sách nhà nước. Thực trạng chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay. C hi ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay của nước ta, nhiều vấn đề kinh tế xã hội của đất nước đang đặt ra thách thức đối với các khoản chi của ngân sách nhà nước. Trong bối cảnh đó, nếu bố trí các khoản chi ngân sách một cách tuỳ tiện, ngẫu hứng, thiếu sự phân tích hoàn cảnh cụ thể sẽ có ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Do đó, việc tổ chức chi ngân sách nhà nước phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Nguyên tắc thứ nhất: dựa trên khả năng các nguồn thu để hoạch định chi tiêu. Theo nguyên tắc nay thì mức độ chi và cơ cấu các khoản chi phải hoạch định dựa trên cơ sở các nguồn thu. Nếu nguồn thu hạn hẹp, thì ngân sách phải cắt giảm. Vi phạm nguyên tắc sẽ dẫn đến tình trạng 6
  7. bội chi ngân sách quá lớn và sẽ dẫn đến khả năng bùng nổ lạm phát kinh tế. Tuân thủ đúng theo nguyên tắc này thì sẽ tránh được tình trạng mắc nợ trong nước và nợ nước ngoài. Dự kiến tổng thu ngân sách Nhà nước Việt Nam năm 2008 đạt 399 nghìn tỷ đồng, vượt 23,5% so với dự toán và tăng 26,3% so với kết quả thực hiện năm ngoái. Tuy nhiên, theo ủy ban Tài chính và Ngân sách Quốc hội, thu ngân sách chứa đựng nhiều yếu tố đột biến, không ổn định. Trong 76 nghìn tỷ đồng vượt dự toán, có tới 35, 4 nghìn tỷ đồng từ chênh lệch giá dầu thô (giá dự tính là 64 USD mỗi thùng, song giá bình quân thực tế 9 tháng xấp xỉ 105 USD). Thu từ xuất khẩu vượt 23.500 tỷ đồng và thu từ đất vượt 5.500 tỷ đồng so với dự toán đầu năm. Cả ba yếu tố này đều rất bấp bênh, đặc biệt trong bối cảnh giá dầu thô tiếp tục giảm mạnh, xuất khẩu bị đe dọa khi thế giới đối mặt với nguy cơ suy thoái. Thu ngân sách 2008 gặp khó khăn do biến động giá dầu . Theo giải trình của Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh, do xuất khẩu dầu thô chiếm một tỷ trọng rất lớn trong nguồn thu ngân sách của ta nên diễn biến tụt giảm giá dầu trên thị trường thế giới sẽ có tác động lớn đến cân đối ngân sách. So với mức được chọn làm căn cứ xây dựng kế hoạch ngân sách (90 USD/thùng), giá thực tế đã giảm quá sâu. Để chủ động trong điều hành dự toán NSNN năm 2009, Bộ Tài chính đang chuẩn bị để báo cáo với Chính phủ để trình với Quốc hội giá dầu thô bình quân để tính cho 3 tháng cuối năm 2008 và dự toán NSNN năm 2009 ở mức khoảng 70 đôla /thùng, tức là điều chỉnh từ 90 đôla /thùng xuống 70 đôla /thùng. Việc điều chỉnh này sẽ tác động trực tiếp đến dự toán NSNN năm 2009 và có khả năng sẽ giảm thu ngân sách khoảng 36 nghìn tỉ. Theo Bộ trưởng Vũ Văn Ninh, để nguồn thu không bị giảm quá mức, phải điều chỉnh giảm chi lớn, đặc biệt là cân đối ngân sách của các địa phương. Bộ Tài chính kiến nghị 4 phương án. Thứ nhất là áp thuế nhập khẩu xăng dầu ở mức hợp lý. Thứ hai, phấn đấu tăng thu thêm, trên cơ sở chống thất thu, rà soát nợ đọng, làm thế nào để thu cho được mức đã báo cáo với Quốc hội của năm 2008 và giảm bớt thu của năm 2009. Thứ ba, tăng thêm các khoản thu khác để bù vào các khoản giảm thu, phần còn lại sẽ phải rà soát để giảm chi đầu tư xây dựng cơ bản, xây dựng một số chính sách, dự kiến ban hành trong năm 2009 để giảm chi thường xuyên, đảm bảo cân đối ngân sách theo biến động của giá dầu thô... Năm 2009, Tổng số chi cân đối ngân sách Nhà nước là 582.200 tỷ đồng; mức bội chi ngân sách nhà Nước là 119.700 tỷ đồng, bằng 6,2% 7
  8. GDP. Theo giải trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nếu điều chỉnh tăng thu nhiều (khoảng 10.400 tỷ đồng) và cắt giảm chi tiêu một số lĩnh vực để đạt được mức bội chi bằng 6% GDP và phương án điều chỉnh dự toán thu, chi, bội chi ngân sách năm 2010 không quá 6,2%GDP, theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội được dựa trên cơ sở tăng thêm thu ngân sách Nhà nước 6.100 tỷ đồng. Bao gồm: tăng thêm thu từ dầu thô: 2.600 tỷ đồng, tương ứng với giá dầu thô tăng từ 65 USD/thùng lên 68 USD/thùng; tăng thu thêm từ hoạt động xuất nhập khẩu 2.500 tỷ đồng; tăng số thu chuyển nguồn từ năm 2009 sang năm 2010 so với số đã báo cáo Quốc hội 1.000 tỷ đồng và được tính vào cân đối ngân sách Nhà nước năm 2010. Đồng thời, tăng chi Chương trình Biển Đông hải đảo 38 tỷ đồng tương ứng với số giảm chi của Tập đoàn công nghiệp, than và khoáng sản Việt Nam (28 tỷ đồng); Tập đoàn dệt may Việt Nam (10 tỷ đồng); tăng chi cho Chương trình giảm nghèo 300 tỷ đồng. Nguyên tắc thứ hai : tiết kiệm và hiệu quả. Nguyên tắc này đòi hỏi cá tổ chức, các đơn vị sử dụng nguồn kinh phí hay nguồn vốn của ngân sách cấp phát phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, sử dụng một cách có hiệu quả nhất và tiết kiệm nhất. Tức là chi tiêu một số tiền nhỏ hơn số tiền đã đề ra mà vẫn đạt hiệu quả cao. Quán triệt nguyên tắc này trong việc bố trí các khoản chi của ngân sách nhà nước cần phải dựa trên những định mức chi tích cực có căn cứ khoa học và thực tiễn, tổ chức các khoản chi theo chương trình có mục tiêu. Khi chi phải xem xét các chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách. Khi thực hiện theo đúng nguyên tắc này thì sẽ giúp tiết kiệm cho ngân sách nhà nước, tránh thất thoát, lãng phí. Nhưng thực trạng thu chi ngân sách nhà nước của Việt Nam còn nhiều điều đáng nói: Thu thiếu ổn đinh, trong khi đó lại chi lãng phí. Theo dự ước, năm 2008 tổng số thu ngân sách Nhà nước vượt dự toán 76.000 tỷ đồng, tăng 26,3% so với thực hiện năm 2007. Theo đánh giá của nhiều đại biểu, trong bối cảnh khủng hoảng của nền kinh tế trên thế giới, kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn thì kết quả này là rất có ý nghĩa, góp phần quan trọng đảm bảo sự ổn định của đất nước. Tuy nhiên có một sự thật là nguồn thu ngân sách nhà nước của Việt Nam hiện đang thiếu tính ổn định và bền vững. Số vượt thu chủ yếu nhờ tăng giá từ dầu thô và từ nhà đất. Nếu tính cả yếu tố trượt giá do lạm phát thì xem như không tăng thu trong năm 2008. Nếu trừ nguồn thu từ thu tiền sử dụng đất khoảng 22 nghìn tỷ theo ước thực hiện năm 2008 thì nguồn thu nội địa từ bản thân nền kinh tế chỉ chiếm 46% là qúa thấp. Trong khi đó, những nguồn thu bấp bênh lại quá cao, chiếm tới 54% như 8
  9. mua bán dầu thô, bán than, thu tiền sử dụng đất, thuế xuất nhập khẩu, thu vay, thu viện trợ... Đã vậy, thực hiện dự toán chi ngân sách chưa nghiêm, hiệu quả chưa cao, tiết kiệm chưa triệt để. Năm 2008 đã cắt giảm 20% chi tiêu công nhưng trên thực tế lại tăng 10%, chi quản lý hành chính tăng 13,3% dự toán và tăng 26,6% so với năm 2007. Tình trạng hội nghị còn nhiều, việc thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí hiệu quả còn thấp.Bên cạnh đó, 6 tháng đầu năm 2008, hệ thống kho bạc đã phát hiện gần 12.500 khoản chi của 4.600 lượt đơn vị chưa đúng thủ tục, chế độ quy định; gần 2.000 công trình, dự án chưa thực sự cần thiết chưa đủ thủ tục đã lọt qua nhiều vòng thẩm định để được bố trí trong kế hoạch ngân sách. Ở nhiều địa phương có nhiều vị một năm đi công tác nước ngoài rất nhiều lần. Trong khi Chính phủ cho phép gọi là cấp thiết lắm, đặc biệt lắm thì nên đi hai lần thôi. Trong số khoản chi vượt dự toán theo báo cáo của Chính phủ có 4 khoản vượt lớn: Thứ nhất, chi đầu tư phát triển vượt 20,1% (tăng 22.700 tỷ đồng), tuy nhiên, tốc độ và kết quả giải ngân còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ giải ngân vốn xây dựng cơ bản tập trung 9 tháng đạt trên 60% dự toán; giải ngân vốn trái phiếu chính phủ, bằng 52% kế hoạch đầu năm (36.000 tỷ đồng), nếu tính cả kế hoạch bổ sung 20.000 tỷ đồng thì tỷ lệ giải ngân còn thấp hơn nhiều. Thứ 2, chi khác ngân sách vượt kế hoạch 1.660%, trong báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Tài chính . Thứ 3 là về chi trả nợ, nhiều ý kiến đề nghị xem xét việc bố trí tăng chi trả nợ khoảng 6.000 tỷ đồng và sử dụng khoảng 11.000 tỷ đồng để thực hiện chính sách an sinh xã hội như làm nhà ở cho người nghèo, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các huyện nghèo..., đây là các khoản chi không có trong dự toán được Quốc hội quyết định, làm thay đổi dự toán chi. Thứ 4 là về xử lý, thu hồi số vốn ứng trước dự toán: hiện nay, số vốn ứng trước dự toán là rất lớn và khả năng thu hồi rất khó khăn. Theo Uỷ ban Tài chính – Ngân sách, qua giám sát cho thấy, số vốn đã ứng lũy kế đến hết năm 2009 chưa có nguồn thu hồi khoảng trên 50.000 tỷ đồng; số vốn đến hạn năm 2010 khoảng 30.600 tỷ đồng. Trong số này, một số Bộ, ngành, địa phương không có khả năng hoàn ứng kéo dài nhiều năm, tạo nên bức tranh thiếu lành mạnh trong cân đối ngân sách Nhà nước. 9
  10. Có thể thấy, bài toán tiết kiệm và hiệu quả trong chi ngân sách ở Việt Nam vẫn còn đang chờ lời giải . Nguyên tắc thứ ba : trọng tâm trọng điểm. Chi ngân sách nhà nước ưu tiên những chương trình trọng điểm nhà nước tránh đầu tư tràn lan mà phải đầu tư giải quyết dứt điểm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của nhà nước hoạch định trong thời kỳ đó. Thực hiện đúng nguyên tắc đảm bảo được tính mục đích và khả năng tiết kiệm được các khoản chi của ngân sách, chi cho những việc cần thiết, giảm chi cho những việc chưa cần thiết. Trong việc đối phó với khủng hoảng và đảm bảo an sinh xã hội vừa qua, nếu thang điểm là 10 thì với những động thái trong suốt thời gian qua Chính phủ đạt 7 điểm. Tiếp xúc với một số cơ quan có trách nhiệm về vấn đề này, có thể thấy rõ Chính phủ đã dành nhiều quan tâm và đã có những chỉ đạo tích cực. Chiều 8/11, Quốc hội đã thông qua về dự toán ngân sách Nhà nước năm 2009 Một trong những giải pháp quan trọng được Quốc hội thông qua là cơ cấu lại chi ngân sách Nhà nước theo hướng ưu tiên chi cho an sinh xã hội; tăng chi có trọng điểm cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và những vùng khó khăn, nhất là 61 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất. Đồng thời, mục tiêu chống ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm cũng sẽ được ưu tiên trong chi tiêu ngân sách. Quốc hội quyết nghị: cần rà soát kỹ nguồn vốn nhà nước bố trí cho các dự án, công trình thuộc trách nhiệm đầu tư của ngân sách nhà nước giao cho các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước thực hiện. Không bố trí vốn ngân sách Nhà nước cho các dự án, công trình không thuộc lĩnh vực ngân sách Nhà nước đầu tư. Quốc hội xác định, năm 2009 nằm trong thời kỳ ổn định ngân sách địa phương 2007 -2010, ngân sách Trung ương phải bảo đảm chủ động xử lý những vấn đề lớn, quan trọng của quốc gia. Năm 2009, phát hành trái phiếu Chính phủ không quá 36.000 tỷ đồng để tiếp tục tập trung đầu tư các dự án, công trình giao thông, thủy lợi, kiên cố hoá trường lớp học, xây dựng nhà công vụ cho giáo viên vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nâng cấp bệnh viện huyện. Tăng ngân sách cho ngành Y tế để đạt khoảng 10 - 12% tổng chi ngân sách Nhà nước đến năm 2010. Ngân sách tăng thêm để đầu tư cho các địa phương vùng khó khăn và lĩnh vực y tế dự phòng, chương trình 10
  11. mục tiêu quốc gia...hỗ trợ các đối tượng cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, thực hiện chính sách, chế độ cho cán bộ y tế cơ sở, vùng núi, vùng sâu, vùng xa...Bộ Y tế cũng đề nghị sửa Pháp lệnh Phí và Lệ phí theo hướng không đưa viện phí vào danh mục phí, lệ phí thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh. Lý do "viện phí" là cách gọi thông thường của chi phí khám chữa bệnh, bao gồm tiền thuốc, máu, dịch truyền, vật tư mà người bệnh trực tiếp sử dụng và chi phí của các dịch vụ y tế (khám bệnh, chiếu chụp, chẩn đoán...). Các chi phí này không có yếu tố phí vì không phải do Nhà nước đầu tư mà bệnh viên thu hộ, chi hộ cho người bệnh, vả lại nó phụ thuộc nhiều vào giá cả đầu vào của các dịch vụ. Thực tế có hàng ngàn loại thuốc, vật tư và dịch vụ khác nhau, nếu quy định số thu này là phí thì Chính phủ phải ban hành mức thu của hàng ngàn loại phí để thực hiện thống nhất trong cả nước. Trong thời gian vừa qua, cả thế giới phải đối mặt với tình trạng khủng hoảng kinh tế làm cho nền kinh tế của các quốc gia suy sụp. Và Việt Nam cũng đang trải qua tình trạng đó. Nước ta vừa phải đối mặt với khủng hoảng kinh tế, vừa phải đối mặt với tình trạng lạm phát tăng cao. Khi kiểm soát được phần nào lạm phát thì lại phải đối mặt với giảm phát. Để kích thích tăng trưởng kinh tế, chính phủ đã sử dụng gói kích cầu lần 1 với giá trị là 1 tỷ Đôla. Đến hết ngày 2/7, số vốn toàn hệ thống ngân hàng cho vay theo chương trình hỗ trợ lãi suất của Chính phủ đạt hơn 372.000 tỷ đồng, tương đương 75% quy mô tổng gói kích cầu. Cuối tháng 1, Chính phủ quyết định dùng 17.000 tỷ đồng (tương đương 1 tỷ USD) để hỗ trợ 4% lãi suất cho các doanh nghiệp vay vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh. Hai tháng sau, Chính phủ mở rộng đối tượng và điều kiện hỗ trợ vốn vay. Trao đổi với báo chí mới đây, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết với 17.000 tỷ đồng hỗ trợ của Chính phủ, sẽ cho ra lượng tín dụng khoảng 490.000 tỷ, nếu làm kỹ có thể lên đến trên 580.000 tỷ. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước dự kiến đến hết năm cho vay hỗ trợ có thể đạt 480.000 tỷ đồng. Tính hiệu quả của gói kích cầu của Chính phủ đã thu hút sự tập trung thảo luận và cho ý kiến của nhiều thành viên Chính phủ tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10/2009. Theo các thành viên Chính phủ, gói kích cầu của Chính phủ đã góp phần thực hiện được mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô; các cân đối thu chi ngân sách Nhà nước, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế… được đảm bảo; lạm phát được kiềm chế ở mức thấp nhất; tốc độ tăng trưởng được duy trì hợp lý và bền vững. 11
  12. Quy mô của gói kích thích kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội này khoảng 122 nghìn tỷ đồng ( khoảng 6,9 tỷ USD). Ước thực hiện trong năm 2009 khoảng 100,6 nghìn tỷ đồng ( tương ứng với khoảng 5,7 tỷ USD). Viêc lam cho công nhân Viêt Nam là vân đề nhay cam trong cơn suy ̣ ̀ ̣ ́ ̣ ̉ thoai. Trên thực tê, Bộ Kế hoach và Đâu tư chinh thức công bố nôi dung goi ́ ̣ ̀ ́ ̣ ́ kich câu lần 1 cua chinh phu, có giá trị lên đên 143.000 tỷ đông, tức khoang ́ ̀ ̉ ́ ̉ ́ ̀ ̉ 8 tỷ USD. Đây là môt phân bao cao được bộ trưởng Võ Hông Phuc trinh bay ̣ ̀ ́ ́ ̀ ́ ̀ ̀ trước Uy ban thường vụ quôc hôi khoa XII, trong phiên hop thứ 20 vừa ̉ ́ ̣ ́ ̣ ̣ ̀ khai mac vao hôm qua 12.5.2009. Được biêt, chinh phủ con chuân bị 17.000 tỷ đông, tức khoang 1 tỷ ́ ́ ̀ ̉ ̀ ̉ USD tiên vay có bao lanh. ̀ ̉ ̃ Tuy nhiên, có ý kiên lo ngai hiên tượng đao nợ và sợ răng "chinh ́ ̣ ̣ ̉ ̀ ́ sach bù lai suât mang tinh binh quân không tao cơ hôi để tai câu truc lai nên ́ ̃ ́ ́ ̀ ̣ ̣ ́ ́ ́ ̣ ̀ kinh tê, giam bớt những doanh nghiêp lam ăn kem hiêu qua" theo binh luân ́ ̉ ̣ ̀ ́ ̣ ̉ ̀ ̣ ́ trên bao Lao Đông.̣ Bên canh cac biên phap thường găp như hỗ trợ về nguôn vôn và bao ̣ ́ ̣ ́ ̣ ̀ ́ ̉ lanh tin dung, kế hoach cua chinh phủ Viêt nam con chuyên môt khoan tiên ̃ ́ ̣ ̣ ̉ ́ ̣ ̀ ̉ ̣ ̉ ̀ trị giá trên 30.000 tỷ đông từ "nguôn vôn đâu tư kế hoach 2008 sang năm ̀ ̀ ́ ̀ ̣ ̉ 2009"( theo ban tin trên VnExpress.) Cung theo môt bai viêt trên bao nay thì "tiên độ giai ngân vôn hỗ trợ ̃ ̣ ̀ ́ ́ ̀ ́ ̉ ́ lai suât đang châm dân", và cho đên đâu thang Năm thì "chưa băng môt nửa ̃ ́ ̣ ̀ ́ ̀ ́ ̀ ̣ tông mức cho phep". ̉ ́ Theo ông Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban tài chính-ngân sách của Quốc hội: Quy mô ước tính gói tiếp theo ( gói kích cầu lần 2 ) khoảng gần 200 ngàn tỉ đồng, trong đó 56 ngàn tỉ đồng từ phát hành trái phiếu, bù lãi suất sẽ khoảng 7 ngàn tỉ đồng (tổng bù lãi suất năm 2009 là 17 ngàn tỉ đồng, mới dùng hết 10 ngàn tỉ đồng) và phần đầu tư phát triển ước tính là 125 ngàn tỉ đồng. Có thể thấy Nhà nước đang rất tập trung cho việc khôi phục nền kinh tế trong thời kì suy thoái qua việc tung ra hai gói kích cầu với giá trị khá lớn. Nếu biết sử dụng một cách hợp lý thì nền kinh tế nước ta sẽ được phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Nguyên tắc thứ tư : Nhà nước và nhân dân cùng làm trong việc bố trí các khoản chi của ngân sách nhà nước nhất là các khoản chi mang tinh phúc lợi xã hội. Nguyên tắc này đòi hỏi khi quyết định các khoản chi ngân 12
  13. sách cho một lĩnh vực nhất định thì cần phải cân nhắc khả năng huy động các nguồn vốn khác để giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Khi quán triệt nguyên tắc này không những giúp giảm nhẹ các khoản chi tiêu cho ngân sách nhà nước mà còn nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi công dân trong xã hội, đảm bảo được yêu cầu kiểm soát của quần chúng trong chi tiêu của ngân sách nhà nước. Tại phiên họp chiều 20/10, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội đề nghị Chính phủ rà soát và làm rõ một số khoản chi, trong đó có 5.038 tỷ đồng bố trí cho các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước trong năm 2010. Dự toán ngân sách Nhà nước và phương án phân bổ ngân sách Trung ương được Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh báo cáo Quốc hội trong phiên họp buổi chiều. Theo đó, về tổng thu cân đối ngân sách Nhà nước năm 2010, Chính phủ dự kiến là 456.400 tỷ đồng, tăng 16,8% so với ước thực hiện năm 2009, tăng 65.750 tỷ đồng; đạt tỷ lệ động viên 23,6% GDP (từ thuế và phí là 22,2% GDP). Tại báo cáo thẩm tra, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội cho rằng, đây là mức tăng chưa thật tích cực, vì năm 2010 tình hình kinh tế thế giới phục hồi, nền kinh tế trong nước tăng trưởng mạnh hơn, các chính sách miễn, giảm và giãn thuế không còn. Do vậy thu ngân sách Nhà nước sẽ tăng, nhất là thu nội địa và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu… Vì vậy, Chính phủ tiếp tục rà soát để xây dựng phương án thu ngân sách năm 2010 tích cực hơn. Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc đề nghị Chính phủ làm rõ một số khoản chi, trong đó có 5.038 tỷ đồng bố trí cho các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước trong năm 2010. Cơ quan này cho rằng ngoại trừ 3.500 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế để lại cho tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam chỉ bố trí vốn cho một số nhiệm vụ mà Chính phủ giao cho các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước thực hiện. Các nhiệm vụ chi khác, các tập đoàn, tổng công ty phải tự bố trí kinh phí từ kết quả sản xuất kinh doanh của mình từ lợi nhuận sau thuế hàng năm để lại tái đầu tư, kể cả việc bảo đảm phúc lợi xã hội cho một số lĩnh vực. Để đảm bảo vốn cho những dự án trọng điểm của ngành công nghiệp tàu thủy, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã đồng ý về nguyên tắc cho phép Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) phát hành 3.000 tỷ đồng trái phiếu, vay 10.000 tỷ đồng từ các ngân hàng trong nước và vay 400 triệu USD từ nguồn vốn nước ngoài. 13
  14. Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại có trách nhiệm thực hiện các cam kết với Vinashin, đặc biệt là bảo đảm lượng vốn cần thiết cho Vinashin. Cụ thể, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển cho vay 2.700 tỷ đồng, Ngân hàng Công thương 2.000 tỷ đồng, Ngân hàng Phát triển Việt Nam 3.000 tỷ đồng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2.000 tỷ đồng, các ngân hàng thương mại khác 300 tỷ đồng. Khi thông qua dự toán ngân sách nhà nước năm 2010 hôm 13-6, Quốc hội đã bác đề nghị của Chính phủ, không bố trí 10 tỉ đồng cho dự án đầu tư nâng cấp hệ thống thiết bị và phòng thí nghiệm sinh thái môi trường dệt may giai đoạn 2008-2010 của Tập đoàn Dệt may; 28 tỉ đồng khác cho hai dự án của TKV là trung tâm nghiên cứu thực nghiệm công nghệ chế tạo máy năng lượng và mỏ và dự án đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm hiệu suất năng lượng cho thiết bị điều hòa không khí và tủ lạnh. Quốc hội yêu cầu các tập đoàn này sử dụng vốn từ nguồn lợi nhuận sau thuế để đầu tư. Số kinh phí cắt giảm từ các dự án trên được đầu tư bổ sung cho Chương trình Biển Đông, hải đảo. Tuy Quốc hội vẫn bố trí vốn ngân sách cho một số tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng thương mại nhà nước nhưng không hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động sản xuất-kinh doanh của các doanh nghiệp này, mà theo giải trình của Thường vụ Quốc hội, là nguồn vốn để các đơn vị này tiếp tục thực hiện xong nhiệm vụ nhà nước đã giao những năm trước đây. Ví dụ như Tập đoàn Dầu khí được bố trí 3.500 tỉ đồng để đầu tư một số dự án trọng điểm dầu khí và bổ sung quỹ tìm kiếm thăm dò dầu khí (đã được Quốc hội cho phép từ mấy năm gần đây), hay Tổng công ty đường sắt Việt Nam được giao 1.190 tỉ đồng để đầu tư hạ tầng nâng cao an toàn đường sắt trên tuyến đường sắt Bắc-Nam, hiện đại hóa hệ thống thông tin tín hiệu đường sắt quốc gia hay 54 tỉ đồng khác cho Tổng công ty Hàng hải để hoàn thiện nâng cấp cảng Hải Phòng giai đoạn 2. Nguyên tắc thứ 5 : Phân biệt rõ các nhiệm vụ kinh tế - xã hội các cấp theo luật định để bố trí các khoản chi cho phù hợp. Quán triệt nguyên tắc này sẽ tránh được việc bố trí các khoản chi chồng chéo, khó kiểm tra, giám sát đồng thời nâng cao trách nhiệm và tính chủ động của các cấp. Ngày 13/11/2009, kỳ họp thứ sáu Quốc hội khóa XII đã thông qua nghị quyết về phân bổ ngân sách Trung ương năm 2010, tiếp tục bố trí ngân sách nhà nước để hoàn thành các dự án trọng điểm. 14
  15. Theo đó, tổng số thu cân đối ngân sách trung ương năm 2010 là 303.472 tỉ đồng; tổng số thu cân đối ngân sách địa phương là 265.219 tỉ đồng; tổng số chi cân đối ngân sách trung ương năm 2010 là 370.436 tỉ đồng, tính cả 52.736 tỉ đồng bổ sung cân đối, bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương để điều chỉnh tiền lương tối thiểu năm 2007, 2008, 2009 theo quy định thì tổng chi ngân sách trung ương là 423.172 tỉ đồng. Trong dự toán ngân sách nhà nước năm 2010 có bố trí ngân sách nhà nước cho một số tập đoàn, tổng công ty và các ngân hàng thương mại nhà nước để hoàn thành nhiệm vụ của nhà nước đã giao trong những năm trước đây; không phải là các khoản chi ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của đơn vị. Tập đoàn Dầu khí Việt Nam: 3.500 tỉ đồng để đầu tư một số dự án trọng điểm dầu khí và bổ sung quỹ tìm kiếm thăm dò dầu khí từ nguồn lãi dầu, khí được chia cho nước chủ nhà theo nghị quyết của Bộ Chính trị và đã được Quốc hội cho phép trong mấy năm gần đây. Tổng công ty Đường sắt Việt Nam: 1.190 tỉ đồng (trong đó vốn trong nước là 240 tỉ đồng, vốn ngoài nước là 950 tỉ đồng) để đầu tư hạ tầng nâng cao an toàn đường sắt trên đường sắt Bắc- Nam; đường sắt đô thị Hà Nội tuyến số 1; hiện đại hóa hệ thống thông tin tín hiệu đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Thái Nguyên và khu đầu mối Hà Nội... Tổng công ty Hàng hải Việt Nam 54 tỉ đồng để nâng cấp cảng Hải Phòng giai đoạn 2, dự án kết thúc năm 2010; Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam 60 tỉ đồng để thực hiện 02 dự án mạng truyền dữ liệu của các cơ quan Đảng và Nhà nước, dự án hệ thống thông tin phòng, chống thiên tai trên biển; Tập đoàn Điện lực Việt Nam 141 tỉ đồng để thanh toán phần vốn ngân sách nhà nước phải đóng góp để xây dựng thủy điện Rào Quán (Quảng Trị) và thực hiện dự án cung cấp điện cho đồng bào vùng Tây Nguyên, đồng bào Khmer và phục vụ mục đích an ninh và quốc phòng. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đề nghị không bố trí vốn đầu tư cho Tập đoàn Dệt may Việt Nam số tiền 10 tỉ đồng để đầu tư dự án nâng cấp hệ thống thiết bị và phòng thí nghiệm sinh thái môi trường dệt may giai đoạn 2008-2010; Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản 28 tỉ đồng để thực hiện 2 dự án là trung tâm nghiên cứu thực nghiệm công nghệ chế tạo máy năng lượng và mỏ; đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm hiệu suất năng lượng cho thiết bị điều hòa không khí và tủ lạnh. Các tập đoàn này sẽ sử dụng từ nguồn lợi nhuận sau thuế để đầu tư. Số kinh phí cắt giảm trên bổ sung đầu tư cho chương trình biển Đông, hải đảo. 15
  16. Nguyên tắc thứ 6 : Kết hợp chặt chẽ các khoản chi của ngân sách nhà nước với khối lượng tiền tệ có măt trong lưu thông, với các phạm trù giá trị (giá cả, lãi suất, tỉ giá hối đoái) tạo nên công cụ tổng hợp cùng tác động đến các vấn đề của kinh tế vĩ mô. Nguyên tắc này đòi hỏi khi bố trí một khoản chi của ngân sách nhà nước phải phân tích diễn biến của khối lượng tiền tệ, lãi suất, tỷ giá hối đoái trong các chu kỳ kinh doanh làm sao tạo nên một tổng lực để giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô. Năm 2009 là một năm đầy thử thách đối với kinh tế - xã hội nước ta. Suy thoái kinh tế toàn cầu tác động trực tiếp tới triển vọng xuất khẩu. Khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài sẽ gặp không ít khó khăn. Thị trường trong nước được dự báo sẽ phát triển chậm do sức mua của người tiêu dùng khó có thể cải thiện so với năm 2008. Hàng loạt doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt với nhiều thách thức... Trong nhóm giải pháp chính sách tiền tệ, tín dụng, hiện nay Việt Nam cần tiếp tục duy trì giải pháp tiền tệ linh hoạt thông qua giảm lãi suất cơ bản phù hợp với diễn biến của giá cả và lạm phát, cũng như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ngân hàng trong bối cảnh giá cả có xu hướng giảm. Trong khi các ngân hàng thương mại cần tiếp tục thực hiện chính sách giảm mức độ thắt chặt tiền tệ, quản lý chặt chẽ rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng, đưa dần tỷ lệ nợ quá hạn về ngưỡng an toàn, thì vẫn phải duy trì cung cấp tín dụng cho các dự án tốt, có hiệu quả. Thống kê cho thất, tổng mức động viên vào ngân sách nhà nước năm 2009 - 2010 không quá 22% GDP, đồng thời giảm mức bội chi ngân sách nhà nước xuống 4% GDP. Theo đó, quy mô chi ngân sách nhà nước năm 2009 - 2010 khoảng 25 - 26% GDP. Vì vậy, chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước cần cơ cấu lại theo hướng tăng chi tiền lương đảm bảo thu nhập cho cán bộ, công chức gắn liền với cải cách bộ máy hành chính, tăng hiệu quả và hiệu suất hoạt động của bộ máy hành chính. Chi ngân sách nhà nước năm 2009 - 2010 còn phải tập trung tạo dựng nền tảng cho thực hiện mục tiêu an sinh xã hội. Chính sách tỷ giá cũng cần có những điều chỉnh thích hợp trong năm 2009-2010. Dường như chính sách cơ bản giữ ổn định tỷ giá hối đoái dựa trên "neo" vào USD đã không còn phù hợp. "Chúng ta cần xác định tỷ giá hối đoái dựa trên một rổ tiền tệ với đại diện là những đồng tiền của các thị trường xuất nhập khẩu và của các nhà đầu tư quan trọng nhất. Mặt khác, kích cầu đầu tư và tiêu dùng trong nước chỉ có hiệu quả thật sự khi giá trị của VND được nâng cao". Nói cách khác, tỷ giá hối đoái cần được 16
  17. nghiên cứu điều chỉnh theo hướng có tăng, có giảm phù hợp với trạng thái nền kinh tế và mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của nước ta. Tuy nhiên, chính sách tỷ giá hối đoái cần kết hợp với biện pháp phân phối lại thu nhập, nhằm giảm dần mức độ chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Nếu không khi VND lên giá, thì khoảng cách giàu nghèo có thể còn giãn rộng hơn và nảy sinh những mâu thuẫn xã hội khó giải quyết. Để chặn đà suy giảm của nền kinh tế cần sử dụng biện pháp kích cầu đầu tư và kích cầu tiêu dùng. Trong đó, hướng thúc đẩy đầu tư trong nước là chú trọng nới lỏng gánh nặng cho doanh nghiệp bằng cách giảm thuế. Giảm thuế là biện pháp trọng tâm để kích cầu đầu tư, cũng như kích cầu tiêu dùng thông qua giảm chi phí sản xuất kinh doanh, giảm giá tương xứng đảm bảo tăng tiêu dùng thực tế của người dân. Nội hàm chủ yếu của gói giải pháp kích cầu của Chính phủ nên là giá trị của các biện pháp giảm thuế. Giảm giá các hàng hóa dịch vụ, đưa chúng về giá trị thật, phù hợp với thu nhập và sức mua của đại bộ phận người dân. Cần linh hoạt vận dụng chính sách thuế quan và thuế tiêu thụ đặc biệt để thúc ép các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh. Điều tiết thu nhập của nhóm người có thu nhập cao, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ cao cấp, đắt tiền và phần lớn là nhập khẩu. Không nên quá cứng nhắc trong áp dụng các biện pháp cấm đoán đối với nhập khẩu hay tiêu dùng các hàng hóa đắt tiền cao cấp, mà nên tăng cường thu từ nhập khẩu các mặt hàng này vào ngân sách nhà nước, để phục vụ cho các mục tiêu an sinh xã hội. Tóm lại, chi ngân sách là công cụ quan trọng không chỉ đáp ứng những khoản chi phí của nhà nước mà còn có ảnh hưởng to lớn đến điều tiết vĩ mô của nhà nước. Vì thế khi bố trí các khoản chi ngân sách nhà nước cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng, nghiên cứu cẩn thận dựa trên các nguyên tắc vừa nêu trên. Thất thoát chi ngân sách nhà nước Thực trạng và giải pháp 17
  18. M ột thực tế trong việc chi ngân sách Việt Nam hiện nay đó là tình trạng thất thoát trong việc chi ngân sách nhà nước. Một điều đáng nói ở đây là mặc dù chính phủ luôn tìm mọi cách để sử dụng có hiệu quả ngân sách nhưng tình trạng này vẫn xảy ra hàng năm. Đến hẹn lại lên, mỗi năm một lần vào khoảng cuối tháng 6 đầu tháng 7, Kiểm toán Nhà nước lại công bố những số liệu liên quan đến việc sử dụng đồng tiền công quỹ, mà lần nào kết quả cũng khiến nhiều người phải giật mình, lo lắng, ngân sách nhà nước năm 2007 lại thêm một lần gồng mình gánh chịu cho những chi tiêu tùy tiện, thậm chí có trường hợp vượt ra ngoài khuôn khổ luật pháp. Nghiêm trọng hơn cả là trong việc sử dụng, quản lý ngân sách, có đến hơn phân nửa địa phương được kiểm toán tiếp tục tình trạng - từng diễn ra nhiều năm trước - là một mặt đem tiền công quỹ cho vay, tạm ứng vượt quy định, mặt khác lại vay hoặc xin Trung ương bổ sung ngân sách. Khoản này hoàn toàn không nhỏ, chỉ riêng tiền chưa thu hồi được đã lên đến 3.216 tỉ đồng mà “khách hàng” phần lớn là các doanh nghiệp quốc doanh. Căn cứ vào số liệu của Kiểm toán Nhà nước thì TP. Hồ Chí Minh là nơi hào phóng hơn cả với khoản cho vay và tạm ứng từ ngân sách lên tới 2.400 tỉ đồng. Điều đáng nói ở đây, theo Phó tổng Kiểm toán Lê Minh Khải trả lời báo Pháp luật TP.HCM, là “hành động ấy ẩn chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ cơ quan quản lý địa phương không có bộ máy chuyên nghiệp thẩm định dự án”. Đó là chưa kể chiếc bánh ngân sách không lớn dễ dẫn đến tình trạng xin - cho, tiêu cực. Qua kiểm toán mới thấy, ở hầu hết các bộ, ngành, địa phương đều có hiện tượng sử dụng kinh phí sai đối tượng và mục đích. Điều này ảnh hưởng đến trật tự kỷ cương trong quản lý, sử dụng ngân sách quốc gia. Đâu là nguyên nhân của tình trạng trên? Câu trả lời là: chủ yếu do ý thức chấp hành pháp luật, Luật ngân sách còn kém. Lãng phí là bức tranh màu xám vẫn tồn tại qua kết quả kiểm toán mới đây, mặc dù tiết kiệm luôn là quốc sách mà Chính phủ vẫn kêu gọi hàng chục năm nay. Căn bệnh lãng phí được cụ thể qua các khoản chi tiêu thường xuyên như mua sắm, tổ chức hội nghị, lễ lạc ở hầu hết các địa phương được kiểm toán đều vượt 30%. Tình trạng mua tài sản lớn không qua đấu thầu vẫn còn phổ biến. Có tới 29/29 địa phương được kiểm toán đều bố trí vượt dự toán Trung ương giao. Tình trạng vung tay quá trán khiến cho riêng chi phí 18
  19. quản lý hành chính đã tăng tới 9,4%, vượt dự toán 1.590 tỉ đồng và đẩy số tiền chi tiêu hành chính năm 2007 lên đến 18.515 tỉ đồng. Bên cạnh căn bệnh mãn tính này thì việc sai phạm chi tiêu cũng rất đáng nói khi có tới 16 tỉnh chi không đúng chế độ số tiền lên tới 182,8 tỉ đồng. Cá biệt Lạng Sơn mua ôtô vượt định mức, mua bán không qua đấu thầu 37 xe, Bộ Nội vụ 8 xe... Đáng lưu ý hơn là căn bệnh lãng phí đã lan đến tận cấp cơ sở. Một mặt khác của lãng phí là chi tiêu không hiệu quả. Chẳng hạn như Đắc Nông đầu tư 3,6 tỉ đồng mua thiết bị dạy nghề rồi bỏ mặc ngoài trời; hay Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch cho nông thôn đạt thấp hơn 18%; còn TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Hà Tây... lại để tồn đọng tới 425 tỉ đồng nguồn vốn nhà nước dành cho giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học công nghệ, trong khi trường học thiếu, bệnh viện quá tải, nghiên cứu khoa học và đào tạo vẫn còn lèo tèo. Bên cạnh đó, hàng loạt căn bệnh cũ vẫn tiếp tục làm nhức nhối các cơ quan quản lý ngân sách, bao gồm sai phạm trong xây dựng cơ bản (giảm thanh toán 723 tỉ đồng), 21 tỉnh báo cáo gian dối về nợ xây dựng cơ bản (với số tiền không trung thực lên tới 3.369 tỉ đồng), chi sai mục đích hàng ngàn tỉ đồng... Đã có 23 doanh nghiệp được kiểm toán cho kết quả bị thua lỗ nặng từ 15 tỉ đồng cho đến 136 tỉ đồng/năm. Số đông doanh nghiệp còn lại thì năng lực tài chính cũng có vấn đề. Cụ thể, hiện số nợ phải trả của các doanh nghiệp rất lớn, mà theo số liệu kiểm toán lên đến hơn 65.000 tỉ đồng, chiếm tới 62% tổng vốn và tới 171% vốn sở hữu của các doanh nghiệp. Bên cạnh yếu kém năng lực quản lý tài chính là yếu kém trong quản lý thu - chi và quản lý rủi ro doanh nghiệp. Chính vì thế mà nhiều doanh nghiệp cho đến nay không thể xác định nổi đối tượng nợ phải thu và phải trả, số liệu sổ sách mỗi nơi mỗi khác, dẫn đến khoản chênh lệch nhau lên đến vài chục tỉ đồng và hàng trăm tấn nguyên liệu. 19
  20. Từ kết quả trên, Kiểm toán Nhà nước đã đề nghị xử lý 2.947 tỉ đồng, đồng thời kiến nghị Chính phủ cần chỉ đạo các cơ quan xử lý dứt điểm các vấn đề tài chính, nhất là các khoản chi sai, chi vượt và nợ đọng. Đến hiện nay, năm 2009, 143.000 tỷ đồng nếu so với GDP thì gói kích cầu của Việt Nam chiếm tới 8,9% GDP thuộc hàng cao nhất thế giới, chỉ sau Trung Quốc 13,3% và Malaysia 9%, cao hơn con số 6% của Mỹ hay 8% của Singapore. Do khủng hoảng, suy thoái nặng nề, “nhu cầu cứu giúp” nền kinh tế một cách khẩn trương, quyết liệt có thể làm “sao nhãng” bài toán hạn chế lãng phí, thất thoát trong chi tiêu công. Người ta dễ tạm thời bỏ qua những sai sót trong quá trình thực thi. Tham nhũng, đi kèm thất thoát, có thể có thêm đất nảy nở. Tồn tại chủ yếu trong công tác quản lý chi tiêu công vẫn còn bức xúc ở một số điểm như thẩm quyền ban hành chính sách chế độ chi tiêu chưa rõ ràng, Luật ngân sách nhà nước quy định cụ thể cơ quan được ban hành các chính sách chế độ về định mức phân bổ ngân sách, chế độ chi tiêu ngân sách. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số bộ ngành vẫn thực hiện hướng dẫn các định mức phân bổ, chế độ chi tiêu trái với quy định của Luật ngân sách nhà nước, dẫn đến việc thực hiện ở các địa phương gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc thiếu quy định về trách nhiệm giải trình của các đơn vị được trực tiếp giao và sử dụng ngân sách: Hiện nay, trách nhiệm giải trình dự toán, phân bổ dự toán chi ngân sách nhà nước và quyết toán ngân sách trước Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan của hội đồng nhân dân các cấp mới chỉ tập trung vào các cơ quan tổng hợp các cấp (cơ quan tài chính, cơ quan kế hoạch và đầu tư các cấp); chưa có quy định cụ thể về chế độ trách nhiệm thuyết minh, giải trình của các bộ, cơ quan Trung ương và các cơ quan, đơn vị dự toán cấp I ở địa phương trước Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan của hội đồng nhân dân trong khâu lập, phân bổ dự toán chi ngân sách, sử dụng ngân sách và quyết toán ngân sách dẫn đến các cơ quan dự toán cấp I của các cấp ngân sách, trách nhiệm của các đơn vị này chưa cao. Việc quản lý vốn đầu tư phát triển dàn trải: Chưa quy định đầy đủ về quản lý vốn đầu tư phát triển (lập dự toán, phân bổ vốn, thanh toán và quyết toán vốn, dự án đầu tư), trong tổ chức thực hiện còn tình trạng bố trí vốn cho nhiều dự án chưa đúng với quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chưa đủ thủ tục, chưa căn cứ vào nguồn lực và còn dàn trải, làm cho dự án đầu tư triển khai chậm, kéo dài thời gian thực hiện, giảm hiệu quả vốn đầu tư ngân sách nhà nước. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản