Đề tài “ Giải pháp chủ yếu tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty cổ phần May Thăng Long”

Chia sẻ: Ho Tan | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:96

0
156
lượt xem
61
download

Đề tài “ Giải pháp chủ yếu tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty cổ phần May Thăng Long”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển là vấn đề sống còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Bởi ở đó là một môi trường cạnh tranh mạnh mẽ mà sự tham gia của các thành phần kinh tế, nếu như có sức mạnh và đôi chân vững chắc thì mới thoát khỏi cơn bão thị trường. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự thất bại của doanh nghiệp, trong đó nguyên nhân cơ bản là không có được nguồn tài trợ đúng lúc và đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Công...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài “ Giải pháp chủ yếu tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty cổ phần May Thăng Long”

  1. ---------- BÀI TIỂU LUẬN Đề tài : Giải pháp chủ yếu tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty cổ phần May Thăng Long
  2. Chuyên đề tốt nghiệp LỜI MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển là vấn đề sống còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Bởi ở đó là một môi trường cạnh tranh mạnh mẽ mà sự tham gia của các thành phần kinh tế, nếu như có sức mạnh và đôi chân vững chắc thì mới thoát khỏi cơn bão thị trường. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự thất bại của doanh nghiệp, trong đó nguyên nhân cơ bản là không có được nguồn tài trợ đúng lúc và đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Công tác tạo lập vốn có ảnh hưởng rất lớn tới mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo lập vốn là bước đi đầu tiên quan trọng làm cơ sở cho các hoạt động tiếp theo của doanh nghiệp. Trong tiến trình phát triển chúng ta đã và đang có sự tập trung rất lớn vào các ngành nghề trọng tâm của đất nước, ở đó ngành may mặc là một trong những ngành trọng điểm. Công ty cổ phần may Thăng Long là một doanh nghiệp có bề dày trưởng thành và phát triển đi cùng với sự phát triển của ngành may mặc nói chung. Chiến lược phát triển của công ty là trở thành một trong các doanh nghiệp phát triển ngành may mặc hàng đầu của việt nam và vươn xa rộng hơn đến các mảnh đất khác. Để làm được điều đó công ty cần có sự đầu tư nhiều hơn cho cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị công nghệ, dây chuyền sản xuất…nhằm mở rộng và nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tuy nhiên cũng như các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế công ty may Thăng Long cũng gặp không ít khó khăn trong công tác tạo lập vốn. Nguồn vốn chủ sở hữu của công ty hiện nay chưa thể đáp ứng nhu cầu đứng vững và phát triển của công ty trong môi trường cạnh tranh ngày càng trở lên khốc liệt. Vì vậy tạo lập vốn luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp của công ty. 1
  3. Chuyên đề tốt nghiệp Trên cơ sở nhận thức về mặt lý luận và quá trình thực tập ở công ty cổ phần may Thăng Long, em đã lựa chọn đề tài “ Giải pháp chủ yếu tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty cổ phần May Thăng Long” làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề này. Trong chuyên đề em đã tập trung tìm hiểu các hình thức tạo lập vốn của doanh nghiệp và dựa trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tạo lập vốn ở công ty để đưa ra một số giải pháp tạo lập cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Nội dung của chuyên đề gồm 3 phần: Chương I: Tổng quan về vốn và tạo lập vốn trong công ty cổ phần (CTCP) Chương II: Thực trạng tạo lập vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở CTCP may Thăng Long Chương III: Giải pháp chủ yếu tạo lập vốn ở CTCP may Thăng Long. Do còn nhiều hạn chế về lý luận và nguồn dữ liệu nên các kết quả phân tích thống kế chưa mang tính tổng quát cao. Em rất mong có sự góp ý kiến của cô và các bạn nhằm hoàn thiện hơn nữa bản chuyên đề này. Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thảo cùng các anh chị trong phòng kế toán CTCP may Thăng Long đã giúp em hoàn thành chuyên đề này. Sinh viên thực hiện Mai Thị Thu Hằng 2
  4. Chuyên đề tốt nghiệp NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VỐN VÀ TẠO LẬP VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh 1.1.1 Khái niệm về vốn Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về vốn, tuỳ theo góc độ nhìn nhận vốn là một trong những nhân tố có tầm quan trọng quyết định tới mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Vốn trong sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp luôn luôn tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là hình thái giá trị và hình thái hiện vật. Dưới dạng hình thái giá trị vốn tồn tại dưới dạng hình thái tiền. Đây là hình thái ban đầu và cũng là hình thái cuối cùng của vốn, bởi vì sau một chu kỳ kinh doanh vốn kinh doanh lại được thu hồi về dưới dạng ban đầu là tiền theo vòng chu chuyển T- H- T’. Dưới dạng hình thái hiện vật: vốn tồn tại dưới dạng hình thái tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, nhà xưởng,… Đối với sự phát triển của một quốc gia vốn được coi là một trong bốn nguồn lực của nền kinh tế quốc dân. Đó là nhân lực, vốn, kỹ thuật công nghệ, và tài nguyên. Như vậy xét trong một quốc gia muốn phát triển nên kinh tế quốc dân ngoài nhân lực, kỹ thuật công nghệ và tài nguyên thì cần phải có vốn. Vốn kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản dùng cho kinh doanh: 3
  5. Chuyên đề tốt nghiệp Về phương diện vật chất vốn bao gồm các loại máy móc, thiết bị, nhà cửa, kho tàng, vật kiện trúc, vật tư hàng hoá…là các phạm trù gắn với nền sản xuất hàng hoá. Vốn có thề là tiền như tiền Việt nam, ngoại tệ, vàng bạc đá quý…Nhưng tiền chỉ có thể trở thành hàng hoá khi nó được đưa vào lưu thông, sản xuất kinh doanh. tiền có sự luân chuyển từ hình thái vật chất sang tiền tệ với một lượng lớn hơn và ngày càng mở rộng. Ngoài sự tồn tại dưới dạng vật chất nó còn tồn tại dưới dạng là những tài sản vô hình như quyền sở hữu công nghệ, uy tín của doanh nghiệp, nhãn mác độc quyền, kinh nghiệm tay nghề, nguồn nhân lực, nguồn chất xám…Những yếu tố này cũng được coi là vốn.  Đặc trưng của vốn Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước can thiệp và kiểm soát trực tiếp mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội. Đồng tiền về mặt lý thuyết mang đầy đủ năm chức năng như lý luận của Mác ( trao đổi, cất trữ, lưu thông, thanh toán, quốc tế) nhưng thực tế không đúng như vậy. Nhà nước thâu tóm tất cả hoạt động của nền kinh tế, quyết định đến các vấn đề trong kinh tế từ kế hoạch đến các bước thực hiện, nhu cầu về vốn hầu như không tồn tại. Chuyển sang cơ chế thị trường mọi hoạt động đều thay đổi, nhà nước chỉ đóng vai trò điều tiết ở tàm vĩ mô, các doanh nghiệp tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Trong quá trình hoạt động ấy đồng tiền thực hiện được đúng chức năng vai trò nhiệm vụ vốn có, khi đó vốn ngày càng trở thành nhu cầu bức xúc quan trọng đối với các doanh nghiệp. Vốn có các đặc trưng sau: 4
  6. Chuyên đề tốt nghiệp Một là: Vốn phải đại diện cho một lượng gía trị tài sản, điều đó có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng gía trị của những tài sản hữu hình. Những tài sản hữu hình như nhà xưởng, máy móc, đất đai, nguyên liệu,… được sử dụng vào sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm mới. Nhưng tài sản hiện vật sử dụng cá nhân không đưa vào sản xuất không được gọi là vốn, chính từ đặc điểm này mà ta có thể huy động được một nguồn vốn khá lớn từ những tài sản xã hội còn đang cất trữ chưa được sử dụng. Hai là: Vốn phải vận động và sinh lợi. Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn, để biến thành vốn thì tiền đó phải được vận động và sinh lời. Trong quá trình vận động tiền thay đổi hình thái biểu hiện: Đầu tiên tiền được đưa vào sản xuất nó trở thành vốn, sau một chu kỳ hoạt động vốn trở thành điểm xuất phát ban đầu với lượng giá trị lớn hơn. Phần dôi ra đó chính là lợi nhuận, là khả năng sinh lời của vốn. Tuy nhiên để đảm bảo chức năng sinh lời thì người sử dụng vốn phải biết qui luật vận động của vốn, nắm bắt được thời cơ để vốn hoạt động một cách có hiệu quả. Ba là: Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới phát huy được tác dụng. Để đầu tư vào sản xuất kinh doanh vốn phải được tích tụ thành món lớn. Do đó các doanh nghiệp không những chỉ khai thác tiềm năng về vốn của doanh nghiệp mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn như nhận vốn liên doanh, phát hành cổ phần, vay vốn… Bốn là: Vốn có giá trị mặt thời gian - điều này cũng có nghĩa là phải xem xét giá trị thời gian của đồng vốn. Có nhiều yếu tố tác động từ lạm phát, sự biến động của giá cả… Năm là: Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định. Mỗi một đồng vốn đều có chủ sở hữu nhất định . Trong nền kinh tế thị trường không thể có những đồng vốn vô chủ, ở đâu có những đồng vốn vô chủ thì ở đó sẽ chi tiêu lãng phí, kém hiệu quả. Ngược lại chỉ khi xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn 5
  7. Chuyên đề tốt nghiệp mới hiệu quả. Cũng tuy theo hình thức đầu tư mà người sở hữu vốn có thể đồng nhất với người sử dụng vốn, hoặc người sở hữu vốn tách khỏi người sử dụng vốn. Song dù trong trường hợp nào thì người sở hữu vốn vẫn phải được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và được tôn trọng quyền sở hữu vốn của mình. Đây là nguyên tắc huy động và quản lý vốn. Sáu là: Trong nền kinh tế thị trường vốn phải được quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt. Những người sẵn có thể đưa vốn vào thị trường còn có những người khác cần có vốn lại tới thị trường này. Quyền sở hữu vốn không di chyển nhưng quyền sử dụng vốn được chuyển nhượng qua sự vay, nợ. Người vay phải trả một tỷ lệ lãi xuất tức là họ phải trả gía cho quyền sử dụng vốn. Như vậy khác với các hàng hoá thông thường khác hàng hoá vốn khi bị bán đi sẽ không mất quyền sở hữu mà người sở hữu của nó chỉ mất quyền sử dụng. Người mua được quyền sử dụng vốn trong thời gian nhất định và phải trả cho người sở hữu vốn một khoản tiền được gọi là lãi suất. Bẩy là: trong nền kinh tế thị trường vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền các tài sản hữu hình mà nó còn được biểu hiện bằng giá trị những tài sản vô hình khác: vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền phát minh sang chế, bí quyết công nghệ…Cùng với sự phát triển kinh tế hàng hóa với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ thì những tài sản vô hình ngày càng phong phú, đa dạng và chúng ngày càng có vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Vì vậy tất cả những tài sản vô hình này đều phải được lượng hóa để qui về gía trị. Vấn đề này rất cần thiết khi góp vốn đầu tư liên doanh, khi đánh giá doanh nghiệp, khi xác định giá trị cổ phần phát hành, khi bán hoặc thanh lý tài sản… Trên đây là các đặc trưng cơ bản của vốn, có thể khái quát lại: vốn là biểu hiện bằng tiền giá trị của toàn bộ tài sản đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Nắm được các đặc trưng của vốn và 6
  8. Chuyên đề tốt nghiệp hiểu được quy luật vận động của nó sẽ là điều kiện tiên quyết để các tổ chức, cá nhân khai thác và sử dụng vốn có hiệu quả 1.1.2 Phân loại vốn Vốn được phân loại theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo mục đích quản lý mà doanh nghiệp sử dụng hình thức phân loại phù hợp. Vốn được phân thành vốn vay, vốn ngắn hạn, vốn dài hạn, vốn tự bổ sung, vốn do ngân sách nhà nước cấp, vốn liên doanh liên kết…nhưng về cơ bản vốn được phân loại trên một số tiêu thức chính:  Trên giác độ phương thức chu chuyển vốn. Đây là tiêu thức phân loại vốn chủ yếu nhất, có hiệu quả nhất trong việc quản lý vốn, căn cứ theo tiêu thức này thì vốn được phân thành 2 loại vốn cố định và vốn lưu động  Vốn cố định Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản cố định. Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu như máy móc, thiết bị , nhà xưởng, công trình kiến trúc, chi phí mua phát minh sáng chế … tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh. Tài sản cố định có hai thuộc tính như mọi hàng hoá khác là giá trị và giá trị sử dụng , nó được mua bán, trao đổi trên thị trường Đối với các doanh nghiệp khi bước vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải ứng trước một lượng tiền tệ nhất định để mua sắm tài sản cố định, vốn đầu tư để mua sắm tài sản cố định này được goi là vốn cố định của doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó mà sự tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định lại được giải quyết bởi đặc điểm của tài sản cố định. Quy mô vốn cố định quyết định quy mô của tài sản cố định. Tài sản cố định có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất cùng với mức độ hao mòn tài sản cố định sẽ có một phần vốn cố định thể 7
  9. Chuyên đề tốt nghiệp hiện qua các chu kỳ sản xuất tương ứng với giá trị hao mòn tài sản cố định. Đến khi tài sản cố định hết giá trị sử dụng thì vốn cố định cũng hoàn thành một vòng luân chuyển của nó. Tài sản cố định còn được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, cũng tuỳ thuộc vào phương thức quản lý mà doanh nghiệp ứng dụng hợp lý: Theo hình thái thể hiện: tài sản cố định bao gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. Tài sản cố định hữu hình là những tài sản biểu hiện bằng các hình thái vật chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc thiết bị, đất đai… Tài sản cố định vô hình là những tài sản không biểu hiện bằng các hình thái hiện vật cụ thể. Đó là những khoản chi cho phát minh sáng chế, nhãn hiệu thương mại, các chi phí đầu tư ban đầu cho việc khảo sát thăm dò, chi phí cho việc đào tạo cán bộ… Do tài sản cố định có chu kỳ vận động dài do đó sau nhiều năm mới có thể thu hồi đủ vốn ban đầu đã đầu tư nên đồng vốn luôn bị đe doạ bởi những rủi ro những nguyên nhân khách quan làm thất thoát vốn. Phân loại tài sản cố định theo hình thái này giúp doanh nghiệp trong việc quản lý và tính toán khấu hao chính xác và hợp lý. Ngoài ra tài sản cố định còn phân loại theo hiện trạng sử dụng: tài sản cố định chia thành tài sản cố định đang dùng, tài sản cố định chưa dùng và tài sản cố định chờ thanh lý. Theo sự phân chia này doanh nghiệp sẽ nắm bắt được tình hình sử dụng vốn cố định hiện tài cũng như khả năng sử dụng tiềm tàng để có thể điều chỉnh lại cơ cấu vốn cố định một cách hợp lý tránh tình trạng lãng phí do sự tồn đọng vốn chưa sử dụng một cách có hiệu quả. 8
  10. Chuyên đề tốt nghiệp Như vậy: vốn cố định là một bộ phận của vốn sản xuất là biểu hiện bằng tiển giá trị của tài sản cố định. Nó có thể tham gia toàn bộ hoặc một phần vào quá trình sản xuất nhưng chỉ luân chuyển giá trị từng phần vào giá trị sản phẩm, phần giá trị luân chuyển này sẽ trở về doanh nghiệp sau khi quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá kết thúc.  vốn lưu động Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiển toàn bộ tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên liên tục. Tài sản lưu động là loại tài sản mà thời gian thu hồi luân chuyển thường trong vòng 1 năm hoặc không quá 1 chu kỳ kinh doanh. Tài sản lưu động có đặc điểm gồm nhiều loại tồn tại ở nhiều khâu của quá trình sản xuất kinh doanh và biến động rất nhanh, do đó việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động như thế nào ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sự vận động của tài sản lưu động được diễn ra theo một qui trình nhất định : T – H - Sx ….H’ - T’ Giai đoạn 1: T – H: doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư mua sắm nguyên nhiên liệu, các loại đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh Giai đoạn 2: Sx …: đây là giai đoạn các vật tư nguyên nhiên liệu đầu vào được đưa vào quá trình sản xuất, cùng với lao động con người và các loại máy móc thiết bị cần thiết các đối tượng lao động chuyển sang hình thái thể hiện vật chất khác là thành phẩm hoặc sản phẩm dở dang hoặc sản phẩm đã hoàn thành. Giai đoạn 3: T’ – H’: giai đoạn hàng hoá được kiểm dịch và tung ra thị trường. Toàn bộ đối tượng lao động ở giai đoạn 1 và 2 được gọi là tài sản lưu động. Như vậy vốn lưu động tham gia vào quá trình sản xuất và chuyển qua 9
  11. Chuyên đề tốt nghiệp nhiều hình thái khác nhau. Lúc đầu là tiền tệ, sau đó là hình thái dự trữ hàng hóa rồi cuối cùng quay về hình thái tiền tệ ban đầu nhưng với số lượng lớn hơn. Vốn lưu động gắn chặt với từng bước thực hiện của hoạt động sản xuất kinh doanh, như vậy để sử dụngvốn lưu động có hiệu quả thì phải căn cứ vào thực tế hoạt động sản xuất kinh doan, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp để xây dựng một cơ cấu vốn hợp lý, tránh tình trạng ứ đọng vốn, hay thiếu vốn.  Trên giác độ nguồn hình thành của vốn: Vốn được phân chia thành vốn tự có và vốn vay:  vốn tự có( vốn chủ sở hữu): Vốn tự có là nguồn vốn thuộc sở hữu của các chủ sở hữu doanh nghiệp mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. doanh nghiệp về mặt pháp lý là người sở hữu nguồn vốn này có toàn quyền sử dụng chúng, tỷ trọng vốn chủ sở hữu so với tổng nguồn vốn phản ảnh mức độ sở hữu và chủ động của doanh nghiệp trong kinh doanh. Ở mỗi loại hình sở hữu doanh nghiệp khác nhau thì nguồn vốn này cũng có nguồn khác nhau: - Đối với doanh nghiệp nhà nước: thì nguồn vốn này là vốn ngân sách, ngân sách nhà nước cấp một phần vốn ban đầu thì doanh nghiệp bắt đầu hoạt động trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp sau đó, doanh nghiệp có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn của ngân sách nhà nước cấp. Bên cạnh đó trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cũng có thể có được nguồn tài trợ của nhà nước thông qua việc cấp tài sản như nhà xưởng, máy móc thiết bị… 10
  12. Chuyên đề tốt nghiệp - Đối với các doanh nghiệp cổ phần: nguồn vốn tự có hình thành từ đóng góp của các cổ đông bằng việc phát hành và bán cổ phiếu công ty trên thị trường khi sáng lập công ty. Trong quá trình hoạt động của mình doanh nghiệp cũng có thể tăng lượng vốn này bằng cách phát hành thêm cổ phiếu ra thị trường… - Đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn…: nguồn vốn tự có là phần vốn góp của các chủ doanh nghiệp chủ đầu tư bỏ ra để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh khi mới thành lập hoặc đầu tư dự án, theo qui định của pháp luật, số vốn pháp định đối với các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc không thấp hơn tổng vốn đầu tư các dự án nếu dùng để đầu tư thực hiện dự án.  Vốn nợ( nợ phải trả): Nếu như với vốn chủ sở hữu chủ doanh nghiệp có thể sử dụng mà không có sự ràng buộc nào thì vốn nợ là khoản vốn mà doanh nghiệp phải cam kết thanh toán, doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng vốn trong phạm vi những ràng buộc nhất định mà không có quyền sở hữu. trong mối quan hệ với vốn nợ thì doanh nghiệp là con nợ, có nghĩa vụ trả lãi số vốn vay và hoàn trả gốc vay. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tuỳ thuộc vào nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tiến hành vay vốn từ nhiều nguồn khác nhau như vay các tổ chức tín dụng ( ngân hàng, công ty tài chính…), từ dân cư trong và ngoài nước, từ các tổ chức kinh tế xã hội dưới các hình thức như tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại , …Sử dụng vốn nợ doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí nhờ thuế, nhưng cũng không phải có lợi hoàn toàn, vì bên cạnh đó còn các yếu tố về khả năng kinh doanh, khả năng trả nợ, tỷ lệ lãi vay… 11
  13. Chuyên đề tốt nghiệp Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong ràng buộc tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp… song tất cả các mục tiêu đó đều nhằm mục đích tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. Do đó mỗi doanh nghiệp phải có cơ cấu vốn hợp lý, cân nhắc các yếu tố bên trong và bên ngoài để đưa ra các quyết định nhằm tối thiểu hóa chi phí, tăng gía trị tài sản của chủ sở hữu.  Theo quá trình tuần hoàn vốn: Vốn của doanh nghiệp được chia thành 3 loại: - Vốn dự trữ: là hiện thân bằng tiền toàn bộ giá trị của các loại tài sản dự trữ trong doanh nghiệp. Tài sản dự trữ là các loại tài sản chưa được đưa vào quá trình sản xuất hoặc lưu thông như giá trị còn lại của tài sản cố định, nguyên vật liệu tồn kho, tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng. - Vốn sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ giá trị sản xuất như sản phẩm dở dang đang nằm trên dây chuyền sản xuất, các loại chi phí tiền lương chi phí quản lý… - Vốn lưu thông là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các tài sản lưu thông của doanh nghiệp. Tài sản lưu thông của doanh nghiệp là loại tài sản đang tồn tại trên kĩnh vực lưu thông như hàng hoá gửi bán chi phí bán hàng các khoản phải thu. Sau quá trình lưu thông giá trị sản phẩm được thực hiện vốn của doanh nghiệp được thu về với hình thái tiền tệ như ban đầu nhưng với số lượng thường là lớn hơn và vòng chu chuyển của vốn đã hoàn thành. Trên đây là các cách phân loại vốn cơ bản của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều hình thức phân loại khác nhau tuỳ thuộc vào mục tiêu quản lý vốn sao cho hợp lý và dễ quản lý nhất. 1.1.3 Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh 12
  14. Chuyên đề tốt nghiệp Bất kể một hoạt động nào muốn thực hiện được đều phải có những tiền đề cơ bản. ví dụ như để nấu được cơm thì trước hết phải có gạo và nước. Và để hoạt động sản xuất kinh doanh có thể được thực hiện thì trước hết phải cần có vốn. Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp có thể thuộc sở hữu nhà nước, cá nhân, tập thể. Sở hữu cá nhân nếu số vốn đó nằm trong công ty tư nhân. sở hữu tập thể nếu số vốn đó nằm trong công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần. Vốn trong các doanh nghiệp nhà nước hình thành từ nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp thuộc sở hữu nhà nước. Nhưng dù ở hình thức sở hữu nào thì vai trò của vốn cũng không thay đổi. Với mọi doanh nghiệp dù ở hình thức nào thì muốn hoạt động sản xuất kinh doanh được đều phải có lượng vốn nhất đinh. Đây là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tuỳ theo loại hình kinh doanh mà luật qui định doanh nghiệp phải có số vốn pháp định nhất định. Tuỳ theo nguồn vốn kinh doanh cũng như phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp có các tên gọi khác nhau như: doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…Có vốn doanh nghiệp mới có điều kiện để trang bị các thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh như văn phòng, phương tiện hoạt động, … cùng với việc ứng dụng khoa học vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn cũng quyết định đến khả năng đổi mới thiết bị, công nghệ, phương pháp quản lý,…của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động. Số lượng vốn của doanh nghiệp lớn hay nhỏ là một trong những tiêu thức quan trọng để xếp doanh nghiệp vào qui mô lớn, hay nhỏ và nó cũng là điều kiện để sử dụng các tiềm năng hiện có cũng như các yếu tố đầu vào doanh nghiệp. ví dụ khi doanh nghiệp có ít vốn thì chỉ có thể sử dụng các loại máy móc có công nghệ trung bình và sử dụng nhiều nhân công. Ngược 13
  15. Chuyên đề tốt nghiệp lại doanh nghiệp có lượng vốn lớn thì có khả năng sử dụng công nghệ hiện đại, tiết kiệm được nhiều chi phí và nhân công. Ngoài ra vốn của doanh nghiệp lớn hay nhỏ còn quyết định đến qui mô thị trường và khả năng mở rộng thị trường của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp vốn còn đóng vai trò thể hiện ở chức năng giám đốc tài chính đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể đánh giá có hiệu quả kinh doanh hay không thông qua các chỉ tiêu sinh lời. Vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục từ khoản mua sắm vật tư, sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm. Hơn nữa trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có các bí quyết công nghệ tiên tiến để nâng cao năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tiêu thụ sản phẩm. Để thực hiện được cả quá trình trên thì doanh nghiệp phải có vốn để đầu tư. Bên cạnh đó vốn còn ảnh hưởng đén phạm vi hoạt động đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp bởi tất cả nhũng hoạt động xây dựng phương án kinh doanh đầu tư máy móc sản xuất, dây chuyền công nghệ, xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm, phân tích thị trường… đều phụ thuộc vào quy mô vốn nhất định. Việc đảm bảo tốt nguồn vốn kinh doanh còn giúp doanh nghiệp trong việc chống đỡ được những tổn thất, rủi ro, biến động thị trường, khủng hoảng tài chính…trong quá trình hoạt động, đặc biệt là những ngành kinh doanh nhiều rủi ro như ngân hàng. Trong cơ chế thị trường cùng với việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, việc có vốn và tập trung vốn nhiều hay ít vào doanh nghiệp có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đẩy mạnh kinh doanh. Đồng thời nó cũng là nguồn lực để phát huy tài năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp, là điều kiện để thực hiện các chiến lược, sách lược, 14
  16. Chuyên đề tốt nghiệp kinh doanh, và nó cũng là chất keo để chắp nối, kết dính các quá trình kinh tế là dầu nhớt để bôi trơn cỗ máy kinh tế vận động. Như vậy vai trò của vốn rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, thực tiễn nền kinh tế trong những năm qua cũng chi thấy doanh nghiệp nào có lượng vốn càng lớn thì càng có thể chủ động trong kinh doanh. Ngược lại doanh nghiệp nào thiếu vốn kinh doanh không có chiến lược tài trợ trước mắt cũng như lâu dài thường đánh mất cơ hội kinh doanh, cũng như vai trò của mình trên thị trường mất bạn hàng thường xuyên ổn định không tạo ra sức mạnh và hiệu quả tổng hợp trong kinh doanh. Nhận biết được vai trò của vốn trong kinh doanh, nhưng để có được lượng vốn cần thiết thì nhất thiết doanh nghiệp phải có các biện pháp tạo lập hữu hiệu và phù hợp, đồng thời phải có chính sách sử dụng hiệu quả và hợp lý. Tuy nhiên sử dụng hình thức tạo lập nào, thời hạn dài hay ngắn, chi phí huy động cao hay thấp… bắt buộc doanh nghiệp phải luôn có sự cân nhắc, vừa đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa tối thiểu hoá chi phí, hạn chế thấp nhất rủi ro nhằm thực hiện được các mục tiêu của mình. Mặt khác mỗi doanh nghiệp đều có các đặc điểm riêng, có những lợi thế riêng và những hạn chế nhất định. Chính vì vậy mỗi doanh nghiệp phải tự đánh giá phân tích những ưu và nhược điểm của mình để tìm ra những phương thức tạo lập vốn phù hợp nhất hiệu quả nhất phát huy khả năng tiểm ẩn và hạn chế những nhược điểm. 1.2 Tạo lập vốn, các hình thức tạo lập và các nhân tố ảnh hưởng đến việc tạo lập vốn 1.2.1 Khái niệm tạo lập vốn Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp và đặc điểm kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp có các phương thức tạo lập vốn khác nhau. Nhưng sử 15
  17. Chuyên đề tốt nghiệp dụng hình thức nào phù hợp nhất mang lại hiệu quả cao nhất còn là vấn đề khó khăn của mỗi doanh nghiệp. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt không chỉ ở thị trường tiêu thụ mà cả ở thị trường vốn, thì vấn đề tạo lập vốn và phương thức tạo lập vốn trở nên hết sức cấp thiết, luôn được các nhà quản lý đặt lên hàng đầu. Để giải quyết nó thì trước hết doanh nghiệp phải chủ động, tích cực tìm kiếm các nguồn để thu hút được một lượng vốn đáng kể cho sản xuất kinh doanh. Đó chính là cách hiểu về tạo lập vốn. Tạo lập vốn được hiểu là các phương thức huy động mà doanh nghiệp sử dụng để nhằm thiết lập nguồn tài chính để đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh. Quá trình tạo lập vốn được bắt đầu từ khâu xác định nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển, sau đó là việc lập các kế hoạch huy động vốn, có gắn với thời gian và phương thức huy động. Cuối cùng tiến hành huy động vốn. Để công tác tạo lập vốn thành công thì trong mỗi giai đoạn của quá trình tạo lập vốn phải được phân tích và lựa chọn cho phù hợp với điều kiện từng môi trường hoạt động và lĩnh vực mà mình kinh doanh. 1.2.2Các hình thức tạo lập vốn mà doanh nghiệp có thể sử dụng 1.2.2.1 Tạo lập từ nguồn vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp thuộc bất kể loại hình doanh nghiệp nào tổng hợp chung gồm các bộ phận sau: - vốn góp ban đầu ( vốn tự có) - Nguồn tích luỹ từ lợi nhuận không chia - Vốn tăng thêm từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp liên doanh  Vốn góp ban đầu ( vốn tự có) 16
  18. Chuyên đề tốt nghiệp Đây là vốn ban đầu do các chủ sở hữu đóng góp khi thành lập doanh nghiệp. Lượng vốn này được tạo lập từ nhiều phương thức khác nhau tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp. - Đối với doanh nghiệp nhà nước: Vốn tự có là vốn do nhà nước cấp phát và bổ sung. Việc giao vốn cho các doanh nghiệp nhà nước do cục quản lý vốn và tài sản tại doanh nghiệp trước đây và hiện nay là cục tài chính doanh nghiệp trực thuộc bộ tài chính đảm nhận có sự chứng kiến của các đại diện cơ quan ra quyết định thành lập doanh nghiệp. Trong thời kỳ bao cấp nhà nước tài trợ hầu như toàn bộ vốn kinh doanh cho các xí nghiệp quốc doanh trong nền kinh tế, nên có hiện tượng ỉ lại vào sự bao cấp của nhà nước. Hậu quả là làm giảm tính năng động của các xí nghiệp trong việc chủ động khai thác các nguồn vốn cũng như tìm kiếm các giải pháp để bảo toàn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả. Khi bước sang cơ chế thị trường đi đôi với việc mở rộng và khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển, chính phủ đã xúc tiến các biện pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với khu vực kinh tế quốc doanh nhằm giảm bớt gánh nặng cho Ngân sách nhà nước. Các doanh nghiệp chủ động bổ sung phần thiếu hụt bằng các nguồn tài trợ khác. - Đối với công ty cổ phần: vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp thông qua việc mua cổ phần. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty cổ phần, việc phân chia quyền kiểm soát và lợi nhuận sau thuế căn cứ vào tỉ lệ vốn góp. Trong công ty cổ phần có nhiều loại cổ phần khác nhau, qui định quyền và nghĩa vụ của các cổ đông. - Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn: vốn góp ban đầu do các bên tham gia đóng góp theo tỉ lệ thoả thuận và đây là căn cứ để phân chia lợi nhuận. - Đối với công ty hợp danh: các thành viên cũng tiến hành góp vốn để thành lập công ty nhưng được phân chia thành hai loại đối tượng: vốn 17
  19. Chuyên đề tốt nghiệp do thành viên hợp danh đóng góp là yếu tố chính để thành lập doanh nghiệp và trong quá trình hoạt động, các thành viên này tham gia quản lý điều hành hoạt động của công ty; còn thành viên góp vốn tham gia vào công ty hợp danh chỉ được phân chia lợi nhuận theo qui định của điều lệ công ty. - Đối với doanh nghiệp liên doanh thì nguồn vốn của doanh nghiệp không đơn thuần là vốn góp của các tổ chức hoặc cá nhân trong nước hay vốn ngân sách nhà nước cấp, nó còn có sự tham gia góp vốn của các bên nước ngoài hay doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là vốn do nhà đầu tư nước ngoài mang sang để kinh doanh. Tỷ lệ góp vốn của các doanh nghiệp này tối thiểu phải bằng một tỉ lệ nào đó so với vốn pháp định do pháp luật qui định. Vốn góp ban đầu này có qui mô phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mà quan trọng hàng đầu là luật pháp. Nhà nước qui định mức vốn ban đầu tối thiểu là vốn pháp định hay vốn điều lệ để thành lập doanh nghiệp. Vốn này phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn góp ban đầu là một trong những nguồn tạo lập nên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động nếu doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì vốn chủ sở hữu còn được bổ sung từ lợi nhuận.  Nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại Lợi nhuận để lại là một bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và hấp dẫn của các doanh nghiệp vì nó giúp cho doanh nghiệp giảm thiểu được chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên 18
  20. Chuyên đề tốt nghiệp ngoài. Tuy nhiên nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu như doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư. Ngoài ra còn phụ thuộc vào các yếu tố khác. Chẳng hạn đối với doanh nghiệp nhà nước việc tái đầu tư không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách khuyến khích tái đầu tư của nhà nước. Mặt khác đối với công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liện quan đến một số yếu tố rất nhạy cảm. Khi công ty để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không được nhận số lợi nhuận đó nhưng bù lại họ có quyền sở hữu số cổ phần tăng lên của công ty. Như vậy giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ. Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài nhưng mặt khác dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt (ngắn hạn) do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì cổ phiếu có thể bị giảm sút. Do đó để đảm bảo mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu mà không làm giảm giá cổ phiếu trên thị trường, chính sách phân phối cổ tức của công ty cổ phần phải lưu ý đến một số vấn đề liên quan như: - Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ - Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước - Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của công ty tâm lý và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó. - Hiệu quả của việc tái đầu tư  Nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu mới Phương thức tạo lập này chỉ thực hiện ở công ty cổ phần vì chỉ ở công ty cổ phần mới có hình thức cổ đông, quyền sở hữu tập thể. Cổ phiếu là một loại 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản