Đề tài: Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng NN & PTNT huyện Cẩm Thuỷ

Chia sẻ: dinhthao00

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại, ở các nước có nền tài chính tự do hoá thì Ngân hàng thương mại được quan niệm là một doanh nghiệp đặc biệt, tiến hành hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận. Còn ở một số nước khác lại cho rằng Ngân hàng thương mại là một tổ chức hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi dựa trên nguyên tắc hoàn trả, cho vay, chiết khấu. Tuy nhiên để có một quan niệm chính xác nhất về Ngân hàng...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài: Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng NN & PTNT huyện Cẩm Thuỷ

 

  1. BÁO CÁO TỐT NGHIỆP Đề tài Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng NN & PTNT huyện Cẩm Thuỷ
  2. MỤ C LỤC LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................... 5 Em xin chân thành cảm ơn! ............................................................................. 6 CH ƯƠNG I: ...................................................................................................... 7 1.1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại ....................................................... 7 1.1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại .............................. 8 1.1.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại .................................. 10 1.1.2.1. Khái niệm: .......................................................................................... 10 1.1.2.2. Phân loại hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại................ 10 1.2.1.Khái niệm và đặc điểm của cho vay tiêu dùng ..................................... 12 1.2.1.1. Khái niệm ........................................................................................... 12 1.2.1.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng ........................................................ 13 1.2.3.1. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với khách hàng. ............................ 16 1.2.3.2. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với Ngân hàng .............................. 17 1.2.3.3. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với nền kinh tế .............................. 19 1.2.4.1. Căn cứ vào mục đích vay: ................................................................. 19 1.2.4.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả: ................................................... 20 1.2.4.3. Căn cứ vào nguồn gốc các khoản nợ ................................................. 23 1.2.5.1. Nhóm các nhân tố khách quan .......................................................... 27 1.2.5.2. Nhóm các nhân tố chủ quan ................................ .............................. 29 CH ƯƠNG II ................................................................................................... 32 2.1. Khái quát về Ngân hàng No & PTNT huyện Cẩm thuỷ ........................ 32 2.1.1. C ơ cấu tổ chức....................................................................................... 32 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY ......................................................................... 33 2.1.2. Một số hoạt động chính của Chi nhánh Ngân hàng No & PTNT huyện Cẩm thuỷ......................................................................................................... 33 2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn .................................................................... 34 2.1.2.2. Hoạt động cho vay: ............................................................................. 36 2.2. Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh Ngân hàng No & P TNT huyện Cẩm Thuỷ............................................................................. 38 2.2.1. C ơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động cho vay tiêu dùng của Chi nhánh: ......................................................................................................................... 38 2.2.2. Điều kiện cho vay ................................ .................................................. 39 2.2.3. Các hình thức cho vay tiêu dùng đang áp dụng .................................. 40
  3. 2.2.3.1. Giải ngân tiền vay trực tiếp cho khách hàng. ................................... 40 2.2.3.2. Tiền vay được chuyển vào tài khoản tiền gửi của khách hàng. ....... 40 2.2.3.3. Thấu chi. ............................................................................................. 40 2.2.3.4. Thẻ tín dụng ....................................................................................... 41 2.2.4. Quy trình cho vay tiêu dùng ................................................................. 41 2.2.4.1. Quy trình cho vay tiêu dùng trả góp không có bảo đảm tài sản đối với cán bộ công nhân viên .............................................................................. 45 2.2.4.2. Quy trình cho vay tiêu dùng có tài sản bảo đảm ............................. 47 2.2.5. Kết quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh Ngân hàng No & P TNT huyện Cẩm thuỷ. ................................................................................. 49 Bảng 4: Cơ cấu cho vay tiêu dùng của Ngân hàng qua các năm.................. 50 2.2.5.1. Doanh số cho vay ............................................................................... 51 2.2.5.2. Doanh số thu nợ ................................................................................. 54 2.2.5.3. Tình hình dư nợ ................................................................................. 55 2.3. Đánh giá khái quát thực trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng No & P TNT Cẩm thuỷ. ................................ ............................................................ 58 2.3.1. Thành tựu đạt được .............................................................................. 58 2.3.2. Những hạn chế trong cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng No & PTNT Cẩm Thủy. ................................ ...................................................................... 60 3.2.1. Ngân hàng cần coi cán bộ công nhân viên là khách hàng mục tiêu của mình................................. ................................................................................ 66 3.2.2. Cải tiến cách cho vay, hoàn thiện công tác giải ngân, nâng cao tăng trưởng dư nợ. .................................................................................................. 67 3.2.3. Mở rộng hoạt động Marketing. ............................................................ 67 3.2.4. Hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và các trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. .................................................................. 68 3.2.5. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ................................................. 69 3.3.1. Kiến nghị đối với Chính phủ: ............................................................... 71 3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam ............................. 73 3.3.3. Kiến nghị đối với Ngân hàng No & PTNT Việt Nam ....................... 74 Ngân hàng No & PTNT Việt Nam cần nâng mức phán quyết cho vay tiêu dùng cho Ngân hàng No & PTNT Cẩm Thuỷ để Ngân hàng có thế chủ động trong việc đáp ứng nhu cầu vay tiêu dùng của dân cư, đồng thời cũng tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng qui mô cho vay. Khi đựơc nâng mức phán quyết, Ngân hàng No & PTNT Cẩm Thuỷ có thể tận dụng tốt hơn các cơ hội trong kinh doanh, từ đó hoạt động hiệu
  4. quả và có sức cạnh tranh lớn hơn so với các Ngân hàng khác, đem lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng. ............................................................... 74 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 75 MỤC LỤC ....................................................................................................... 77 2.1. Khái quát về Ngân hàng No & PTNT huyện Cẩm Thuỷ ....................... 78 2.2. Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh Ngân hàng No & P TNT huyện Cẩm Thuỷ............................................................................. 79 2.3. Đánh giá khái quát thực trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng No & . ...... 79 P TNT Cẩm thuỷ 3.1. Mục tiêu và định hướng mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng No & PTNT Cẩm Thuỷ trong những năm tới ..................................... 79 3.2 Một số giải pháp nhằm mở rộng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng No & P TNT huyện Cẩm Thuỷ ................................................................................. 80 3.3. Một số kiến nghị...................................................................................... 80
  5. LỜI MỞ ĐẦU Bất kể một sản phẩm nào được sản xuất ra thì mục tiêu cuối cùng luôn là để tiêu dùng - đây là điều chắc chắn không một ai có thể phủ nhận. Do đó, chuỗi liên hoàn và khép kín của nền kinh tế luôn luôn là sản xuất - tiêu dùng. Sản xuất ra sản phẩm đ ể phục vụ nhu cầu tiêu dùng - tiêu dùng quay lại kích thích tăng trưởng sản xuất, cứ thế sản xuất - tiêu dùng hỗ trợ, kích thích nhau và luôn là hai phần không thể tách rời của một quá trình thống nhất. BDo đó, với một nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển thì nhu cầu về vốn sẽ ngày càng cao, không chỉ cần vốn cho sản xuất kinh doanh mà vốn phục vụ mục đích tiêu dùng cũng là một nhu cầu không thể thiếu. Vậy mà lâu nay, các Ngân hàng thương mại của chúng ta chủ yếu chỉ thích cho vay phần đầu - phần sản xuất mà chưa cho vay phần sau - phần tiêu dùng của chu trình kinh tế, vì thế mà chúng đã tạo ra hiện tượng nghẽn giữa đường. Thật vậy, khi Ngân hàng cho các nhà sản xuất vay vốn đ ể sản xuất ra các sản phẩm mà khả năng chi tiêu hiện thời của người tiêu dùng không thể đáp ứng thì các sản phẩm đó sẽ bị chất đầy kho, khả năng trả nợ cho Ngân hàng của các nhà sản xuất bị giảm xuống, mong muốn được tiêu dùng của dân cư sẽ không được đáp ứng và tình trạng thiểu phát của nền kinh tế sẽ xảy ra. Trước tình hình đó, để kích cầu nền kinh tế, đưa nền kinh tế thoát khỏi con đường hầm không lối thoát, Ngân hàng đ ã phát triển một loại hình cho vay mới, đó là cho vay tiêu dùng. Việc phát triển loại hình cho vay này không chỉ có tác dụng góp phần giải quyết bài toán về sản xuất và tiêu dùng cho nền kinh tế mà nó còn có tác dụng tích cực đối với chính bản thân Ngân hàng - một đơn vị kinh doanh luôn vì mục tiêu lợi nhuận Đồng thời, một hướng đi mới của các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay là chia mảng kinh doanh của Ngân hàng ra làm hai bộ phận: Bộ phận kinh doanh Ngân hàng Bán buôn (với các chiến lược về khách hàng là công ty lớn) - Bộ phận kinh doanh Ngân hàng Bán lẻ( với các chiến lược về khách hàng là thể nhân). Việc chuyển hướng này nhằm mục tiêu cơ cấu lại nguồn vốn kinh doanh của các Ngân hàng, tăng doanh số kinh doanh với các khách hàng là cá nhân - xây dựng một Ngân hàng hiện đại. Chính vì thế nên việc phát triển cho vay tiêu dùng nằm trong chiến lược phát triển tổng thể mảng kinh doanh Ngân
  6. hàng bán lẻ đang là xu thế tất yếu của các Ngân hàng thương mại trong các giai đoạn hiện nay. Đ ây là một hướng đi mới, một lĩnh vực kinh doanh đầy triển vọng cho các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Với những kiến thức đã học tại trường kết hợp với thời gian được nghiên cứu, học hỏi thực tế tại Ngân hàng No & PTNT Cẩm thuỷ đã khuyến khích em viết đề tài “ G iải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng No & PTNT huyện Cẩm Thuỷ”. Nội dung chuyên đề gồm 3 chương: Chương I: Cơ sở lý thuyết về hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại. Chương II: Thực trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng No & PTNT Cẩm thuỷ Chương III: Một số giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng No & PTNT Cẩm thuỷ Mong rằng, một số lý luận cũng như thực tiễn về hoạt động cho vay tiêu dùng trong bài viết có thể phần nào giúp cho các Ngân hàng thương mại mở rộng hơn nữa lĩnh vực cho vay tiêu dùng, đồng thời giúp cho người tiêu dùng có thể hình dung một cách tổng quát về nghiệp vụ mới này của Ngân hàng thương mại và có hướng sử dụng nó như một công cụ hỗ trợ cho cuộc sống của mình. Trong quá trình hoàn thiện đề tài, được sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Lê Đức Lữ cùng với sự chỉ bảo tận tình của phòng tín dụng tại Ngân hàng No & PTNT Cẩm thuỷ đ ã giúp em hoàn thành chuyên đề này. Em xin chân thành cảm ơn!
  7. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.Tổng quan về hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1.1.1Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 1.1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Có rất nhiều quan niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại, ở các nước có nền tài chính tự do hoá thì Ngân hàng thương mại được quan niệm là một doanh nghiệp đặc biệt, tiến hành ho ạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận. Còn ở một số nước khác lại cho rằng Ngân hàng thương mại là một tổ chức hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi dựa trên nguyên tắc hoàn trả, cho vay, chiết khấu. Tuy nhiên để có một quan niệm chính xác nhất về Ngân hàng thương m ại thì nên dựa vào những loại hình dịch vụ mà các Ngân hàng thương mại cung cấp, từ đó người ta có quan niệm: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì m ột tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế ”. Thật vậy, Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, đóng vai trò là thủ quỹ của toàn xã hội. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội đều gửi tiền tại Ngân hàng. Đồng thời, Ngân hàng cũng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần với chính phủ. Trong đó, đối với các doanh nghiệp, Ngân hàng thường cung cấp các khoản tín dụng phục vụ cho nhu cầu mua hàng hoá, dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị. Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hoá và dịch vụ họ thường sử dụng séc, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng và các tài
  8. kho ản điện tử... Và khi họ cần thông tin hay lập kế hoạch tài chính họ thường đến Ngân hàng để nhận được lời tư vấn. Như vậy, Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế. - Hoạt động của Ngân hàng thương mại bao gồm: nghiệp vụ nợ (huy động vốn), nghiệp vụ có (cung cấp tín dụng) và nghiệp vụ trung gian( dịch vụ thanh toán, dại lý, tư vấn...). Ba loại nghiệp vụ trên có mối liên hệ mật thiết với nhau, chúng thúc đẩy nhau cùng phát triển để từ đó tạo nên uy tín cho Ngân hàng. - Từ hình thức đầu tiên là Ngân hàng thợ vàng ở thế kỷ 15, đ ến nay Ngân hàng thương mại đã trở thành Ngân hàng hiện đ ại với các chức năng và dịch vụ đa dạng, và được coi là bách hoá tài chính. - Ngân hàng thương mại được tổ chức dưới các hình thức: + N gân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài, Ngân hàng thương mại liên doanh, Ngân hàng thương mại tư nhân. + Ngân hàng bán buôn và Ngân hàng bán lẻ, trong đó Ngân hàng bán buôn là Ngân hàng chủ yếu cung cấp các dịch vụ cho các Ngân hàng, các công ty tài chính, Nhà nước, các doanh nghiệp lớn. Còn Ngân hàng bán lẻ là Ngân hàng chủ yếu cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho hộ gia đ ình, các cá nhân, các doanh nghiệp nhỏ - với các khoản tín dụng nhỏ. Với xu thế phát triển hiện nay, rất ít Ngân hàng chỉ có bán buôn hoặc chỉ có bán lẻ mà chủ yếu là kết hợp cả hai. 1.1.1.2. Các ho ạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại - Hoạt động kinh doanh ngoại hối: Đây là ho ạt động đầu tiên mà Ngân hàng thực hiện với nội dung là Ngân hàng đứng ra mua hoặc bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và thu đ ược lợi nhuận nhờ chênh lệch giá và phí dịch vụ. Ngày nay hoạt động này đã mở rộng ra với rất nhiều các hình thức dịch vụ phong phú: mua bán, trao đổi, gửi vay các loại ngoại tệ với các nghiệp vụ như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn và tương lai. Các Ngân hàng thương mại tham gia giao dịch ngoại hối với hai mục đích. Thứ nhất, Ngân hàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng, chủ yếu là
  9. mua hộ và bán hộ cho nhóm khách hàng riêng lẻ, và Ngân hàng thu một khoản phí. Mục đích thứ hai là Ngân hàng kinh doanh ngo ại hối nhằm kiếm lời khi tỷ giá thay đổi.§ - Hoạt động huy động vốn: Các Ngân hàng cũng giống như bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế để duy trì hoạt đ ộng và phát triền cần vốn. Nguồn vốn của Ngân hàng gồm có vốn tiền gửi, vốn tiền vay, vốn chủ sử hữu và vốn uỷ thác đầu tư. Đ ể thực hiện hoạt động này Ngân hàng nhận tiền gửi, phát hành các giấy nợ hoặc cổ phiếu với cam kết sẽ hoàn trả khách hàng đúng hẹn kèm theo một khoản tiền gọi là tiền lãi. Việc huy động được càng nhiều vốn sẽ càng tạo đ iều kiện cho Ngân hàng mở rộng kinh doanh do đó các Ngân hàng luôn tìm kiếm các nguồn vốn với chi phí thấp và ổn định, đ a dạng hoá các hình thức và lãi suất tiền gửi, giấy nợ nhằm thu hút được nhiều vốn trong nền kinh tế. - Hoạt động sử dụng vốn: Đây là hoạt động Ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để đ ầu tư hoặc cấp tín dụng. Hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của Ngân hàng và là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng. Bên cạnh hoạt động tín dụng Ngân hàng cũng mở rộng danh mục tài sản bằng cách đ ầu tư vào các giấy tờ có giá như trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty ... Các hoạt động đầu tư và tín d ụng mang lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng nhưng lại chứa đựng nhiều rủi ro nên các Ngân hàng thường rất thận trọng khi thực hiện hoạt động này. - Các hoạt động khác: Các hoạt động Ngân hàng khác có thể kể ra ở đây như là ho ạt động bảo quản vật có giá, cung cấp các khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, quản lý ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, cho thuê thiết bị trung và dài hạn, cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, b ảo hiểm, dịch vụ đại lý ... Các hoạt động này mang lại nguồn thu nhập cho Ngân hàng thông qua viêc thu phí và chứa đựng ít rủi ro. Do vậy các Ngân hàng hiện đại ngày nay đ ang mở rộng hoạt động dịch vụ này nhằm tăng nguồn thu giảm bớt rủi ro.C
  10. 1.1.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1.1.2.1. Khái niệm: Cho vay là hoạt động mang tính truyền thống và là chức năng kinh tế hàng đầu của các Ngân hàng giúp Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiết kiệm thành đầu tư. Ngân hàng thương m ại có thể cho các tổ chức, cá nhân vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản suất, kinh doanh, đ ời sống và cũng có thể cho các tổ chức, cá nhân vay trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án đ ầu tư phát triển sản suất kinh doanh Nhiều người vẫn đồng nghĩa hoạt động cho vay và hoạt động tín dụng của Ngân hàng là một nhưng thực ra không phải vậy. Tín dụng rộng hơn cho vay, nó bao gồm cho vay và các hoạt động khác như chiết khấu thương phiếu, cho thuê tài chính... Có thể hiểu rằng: Cho vay là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa b ên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô đ iều kiện vốn gốc và lãi cho bên đi vay khi đến hạn thanh toán. Đố i với hầu hết các Ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 1/3 thu nhập của Ngân hàng. Đồng thời, rủi ro trong các hoạt động Ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục các khoản cho vay. V ậy thực ra Ngân hàng đã thực hiện những khoản cho vay nào? 1.1.2.2. Phân loại hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại Có rất nhiều tiêu thức khác nhau để Ngân h àng phân loại cho vay như: theo thời gian, theo tài sản đảm bảo, theo đối tượng cho vay, theo phương thức cho vay, theo nguồn cho vay... Cụ thể như: - Theo đối tượng tham gia vào quy trình cho vay:- + Cho vay trực tiếp: là loại hình cho vay mà Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp ho àn trả nợ cho Ngân hàng.
  11. + Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay qua các tổ chức trung gian. Tổ chức trung gian ở đây có thể là các tổ, hội, đội nhóm như nhóm sản suất, hội nông dân, hội phụ nữ.. hoặc các công ty bán lẻ. Đối với các công ty bán lẻ, Ngân hàng sẽ mua lại các khế ước hoặc các chứng từ nợ phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. - Theo mức độ tín nhiệm khách hàng: + Cho vay có bảo đảm: l à loại hình cấp tín dụng dựa trên các bảo đảm như thế chấp hay cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với các khách hàng không có uy tín cao đối với Ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có đ ảm bảo. Sự đ ảm bảo này là căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêm nguồn thu thứ hai, bổ xung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. + Cho vay không có đảm bảo: là loại hình cho vay không có tài sản thế chấp. cầm cố hoặc sự đảm bảo của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đ ối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thì Ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung. - Theo mục đích sử dụng vốn: + Cho vay nhằm mục đích sản suất kinh doanh: N gân hàng cho các tổ chức, doanh nghiệp hay các công ty vay để kinh doanh dịch vụ hay thực hiện các dự án đầu tư, các phương án sản suất. + Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng cho các cá nhân hay hộ gia đ ình vay để đáp ứng nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như nhà cửa, phương tiện vận chuyển... Cho vay tiêu dùng là một trong những dịch vụ Ngân hàng mới phát triển gần đây nhưng đã tỏ rõ đ ược ưu thế của nó so với các khoản cho vay khác của Ngân hàng. Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng đã trở thành xu hướng tất yếu để các Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường tài chính.
  12. 1.2. Hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại 1.2.1.Khái niệm và đặc điểm của cho vay tiêu dùng 1.2.1.1. Khái niệm Hoạt dộng cho vay tiêu dùng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng (người cho vay) và các cá nhân, người tiêu dùng (người đi vay) nhằm tài trợ cho các phương án phục vụ đời sống, tiêu dùng các sản phẩm hàng hoá d ịch vụ khi người tiêu dùng chưa có khả năng thanh toán trên nguyên tắc người tiêu dùng sẽ hoàn trả cả gốc lẫn lãi tại một thời điểm xác định trong tương lai. N ếu như cho vay sản xuất kinh doanh là một hình thức tín dụng mà các Ngân hàng thương mại cấp cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh... thì cho vay tiêu dùng lại là một sản phẩm tín dụng rất hữu ích nhằm tài trợ cho những nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình hoặc để mua cổ phiếu hay trái phiếu. Như vậy, khác với các khoản cho vay sản xuất kinh doanh - các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế sử dụng vốn vay để tài trợ cho vốn lưu động, xây dựng nhà x ưởng, mua sắm trang thiết bị..., các khoản cho vay tiêu dùng giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá d ịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có thể hướng tới một cuộc sống cao hơn như mua xe, các dụng cụ dân dụng, chi phí nghỉ ngơi, du lịch... Đối tượng của tín dụng tiêu dùng rất nhiều dạng, nhiều trường hợp nhưng có thể khái quát thông qua các trường hợp phổ biến sau: - Các đối tượng có thu nhập thấp: có nhu cầu tín dụng không cao, việc vay vốn nhằm tạo ra cân đối giữa thu nhập và chi tiêu. - Các đối tượng có thu nhập trung bình: nhu cầu tín dụng có xu hướng tăng mạnh, đối tượng này muốn vay tiêu dùng hơn là dùng chính tiền tích luỹ, dự phòng của mình để tiêu pha. - Các đối tượng có thu nhập cao: vay tiêu dùng nhằm tăng khả năng thanh toán và coi nó như một khoản linh hoạt để chi tiêu khi mà tiền vốn tích luỹ của
  13. mình chưa cao hay lợi nhuận do đầu tư mang lại chưa thu được. Trường hợp này tương đối phổ biến và phát triển. Các đối tượng trên có thể đại diện cho các đối tượng khác như cán bộ công nhân viên thuộc khu vực Nhà nước, liên doanh, tiểu thương và các cán bộ Ngân hàng.- 1.2.1.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng Nhìn chung, tín dụng tiêu dùng có những đặc điểm sau: - Giá trị món vay thường nhỏ lẻ, phân tán nhưng số lượng các món vay thì lại rất lớn Các khách hàng thường tìm đến Ngân hàng nhằm mục đích vay tiêu dùng thông thường có nhu cầu vay vốn không lớn, thậm chí còn khá nhỏ. Điều này là do giá của hàng hoá dịch vụ tiêu dùng không quá đắt đỏ, hoặc khách hàng vay vốn đã có được sự tích luỹ từ trước đối với các tài sản có trị lớn. Chính đ iều này đã dẫn đến giá trị món vay tiêu dùng thường rất nhỏ, phân tán nên chi phí quản lý cao. Tuy vậy, trên thực tế tổng quy mô vay tiêu dùng của Ngân hàng lại rất lớn, đó là vì tuy mỗi món vay tiêu dùng có quy mô nhỏ nhưng do đây là nhu cầu vay vốn khá phổ biến, đa dạng và thường xuyên đ ối với mọi tầng lớp dân cư nên số lượng khách hàng tìm đ ến Ngân hàng vay vốn là rất đô ng, khiến cho tổng quy mô vay tiêu dùng lại trở nên khá lớn. - Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao Loại hình cho vay tiêu dùng luôn chứa đựng những nguy cơ rủi ro khá lớn, cao hơn loại hình cho vay tài trợ sản xuất kinh doanh dưới cả ba góc độ: + Thứ nhất: Luôn tồn tại nhóm khách hàng chây ì, lừa đảo. + Thứ hai: Các rủi ro khách quan như suy thoái kinh tế, mất mùa, thất nghiệp, bệnh tật, tâm lý tiêu dùng của dân cư, mức độ ổn đ ịnh x ã hội... + Thứ ba: Các rủi ro chủ quan như là tình trạng công việc hay sức khoẻ của khách hàng, diễn biến tâm lý của khách hàng... ảnh hưởng đ ến tài chính và khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình. Hoặc là do sự ảnh hưởng của các tổ chức trung gian (đơn vị, tổ chức có cán bộ công nhân viên vay vốn, các đơn vị chủ quản...), đặc biệt là hình thức cho vay tiêu dùng không có tài sản bảo đ ảm cũng mang lại rủi ro rất nhiều đối với loại hình cho vay này.
  14. Tóm lại, khả năng trả nợ sẽ thay đ ổi nhanh chóng khi khách hàng thay đổi điều kiện làm việc hoặc sức khoẻ, đồng thời, khả năng bù đắp từ các nguồn khác trong trường hợp có rủi ro hầu như không có. - Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất cao và cứng nhắc Không như hầu hết các khoản cho vay kinh doanh hiện nay với lãi suất thay đổi theo đ iều kiện thị trường, lãi suất cho vay tiêu dùng thường được cố định ở một mức nhất định, và đ ặc biệt phổ biến trong cho vay tiêu dùng trả góp. Việc chia các khoản vay thành nhiều kỳ hạn trả nợ (đối với cho vay tiêu dùng trả góp) hoặc quá trình vay và trả nợ đ ược thực hiện nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng (đ ối với cho vay tiêu dùng tuần hoàn như thẻ tín d ụng, thấu chi) ngay từ khi bắt đầu thời kỳ tín dụng khiến lãi suất cho vay mang tính cố định, hầu như không thay đổi trong suốt quy trình tín dụng. Ngoài ra, do độ rủi ro cao của các khoản vay tiêu dùng nên lãi suất trong cho vay tiêu dùng thường được ấn định khá cao để bao gồm cả phần bù rủi ro. V à các khoản cho vay tiêu dùng càng nhiều rủi ro thì lãi suất càng cao. - Cho vay tiêu dùng th ường có tính nhạy cảm theo chu kỳ Thật vậy, số lượng các khoản cho vay tiêu dùng phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu tiêu dùng của dân cư và cầu có khả năng thanh toán của họ, do đó nó có tính nhạy cảm theo chu kỳ. Cho vay tiêu dùng sẽ tăng lên trong thời kỳ kinh tế phát triển - khi mà người dân có mức thu nhập tương đối cao và ổn định, tình hình kinh tế xã hội đầy lạc quan. V à ngược lại, trong thời kỳ nền kinh tế rơi vào suy thoái, rất nhiều cá nhân và hộ gia đ ình sẽ cảm thấy không mấy tin tưởng vào tương lai, nhất là khi họ thấy thu nhập của họ giảm xuống và xu hướng thất nghiệp ngày càng tăng thì việc vay mượn Ngân hàng sẽ được hạn chế, đặc biệt là việc vay mượn dành cho chi tiêu. - Chi phí cho một khoản vay tiêu dùng là khá lớn Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục có chi phí lớn nhất trong danh mục tín dụng của Ngân hàng. Thực tế là quy mô mỗi món vay tiêu dùng thường rất nhỏ, thời gian vay không kéo dài lâu, trong khi đó số lượng các món vay tiêu dùng lại rất lớn. H ơn nữa, các thông tin về cá nhân thường không đ ầy
  15. đủ và chính xác hoàn toàn. Đ iều này khiến cho Ngân hàng rất vất vả trong quá trình cho vay, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng đến khâu giải ngân thu nợ. Những điều kiện trên khiến cho việc thực hiện một khoản cho vay tiêu dùng của Ngân hàng là khá tốn kém, mất rất nhiều chi phí cho các khoản vay này. - Lợi nhuận thu được từ các khoản cho vay tiêu dùng là đáng kể Tương ứng với mức rủi ro cao như vậy thì các khoản tín dụng tiêu dùng có được một mức lợi nhuận rất lớn trong các nguồn thu của Ngân hàng. Bên cạnh đó, số lượng các khoản vay tiêu dùng khá nhiều khiến cho tổng quy mô cho vay tiêu dùng rất lớn, và cùng với mức lợi nhuận trên mỗi khoản vay tiêu dùng sẽ khiến cho lợi nhuận thu về từ hoạt đ ộng cho vay là rất đáng kể trong tổng lợi nhuận của Ngân hàng. Chính vì triển vọng về lợi nhuận cũng như phạm vi về đối tượng khách hàng trong lĩnh vực này mà đối với hầu hết các nước phát triển hiện nay, cho vay tiêu dùng đã trở thành một trong những nguồn thu chủ chốt của các Ngân hàng thương mại, đó ng vai trò chủ đạo trong dịch vụ Ngân hàng cũng như quản lý Ngân hàng và vẫn còn tiếp tục hứa hẹn nhiều triển vọng trong việc phát triển loại hình tín dụng này trong tương lai. Tại các nước đang phát triển, loại hình cho vay này cũng đ ang dần khẳng định được vai trò của mình, đ em lại những lợi nhuận không nhỏ trong hoạt động cho vay của Ngân hàng. 1.2.2. Đối tượng của cho vay tiêu dùng Do cho vay tiêu dùng là một hướng cho vay cụ thể của Ngân hàng bán lẻ nên cách phân loại khách hàng cá nhân cũng tương tự như cách phân loại khách hàng cá nhân theo nhóm thu nhập của Ngân hàng bán lẻ. Cụ thể là khách hàng cá nhân của cho vay tiêu dùng cũng được chia làm ba nhóm như sau: - Nhóm I: Những cá nhân có thu nhập cao. Những người này thường cần đến tín dụng với tư cách là những khoản phụ trợ linh hoạt, trợ giúp thêm khả năng thanh toán, đặc biệt khi tiền của họ đã bị trói chặt vào những khoản đầu tư dài hạn. Mặc dù sự vay m ượn nhằm mục đ ích tiêu dùng chỉ thể hiện một tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản mà họ đang sở hữu,
  16. song họ lại thường xuyên cần chi tiêu trong mục đích tiêu dùng với những món tiền lớn. Và chính vì lý do này mà các Ngân hàng tỏ ra đ ặc biệt quan tâm đ ến nhóm khách hàng đi vay này. - Nhóm II: Những cá nhân có thu nhập trung bình.NNhu cầu về tín dụng của nhóm này có xu hướng tăng trưởng ngày càng mạnh. Việc mong muốn chi tiêu ngay lập tức các nguồn tài chính trong tương lai hoặc việc không thể điều tiết nhu cầu của mình mà chạy theo những chi tiêu có tính chất phô trương d ẫn đến quá khả năng thu nhập là những nguyên nhân có thể làm nảy sinh các nhu cầu về tín dụng của nhóm khách hàng này. - Nhóm III: Nhóm cá nhân có thu nhập thấp.NNhu cầu về tín dụng của nhóm người này thường rất hạn chế do thu nhập của họ thường không đủ để thoả mãn những nhu cầu chi tiêu đa dạng của họ. Tuy nhiên, những người này cũng có các mong muốn chi tiêu không khác mấy so với những người có thu nhập cao hơn. Vì vậy, nếu có những chính sách và biện pháp phù hợp cũng có thể hình thành đ ược các món tín dụng hợp lý đ ến nhóm khách hàng này. Nói chung, nhu cầu về tiêu dùng của hai nhóm đ ầu là rất cao, thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức cầu tiêu dùng của cá nhân. Vì lẽ đó, nhu cầu cho vay tiêu dùng chủ yếu đến từ những người có thu nhập trung bình và thu nhập cao, nhưng không vì thế mà các nhà quản trị Ngân hàng, các nhà kinh doanh lại bỏ ngỏ nhu cầu tín dụng tiêu dùng của nhóm khách hàng có thu nhập thấp mà phải có những chính sách và sản phẩm phù hợp đ ể phục vụ mọi nhu cầu của mọi nhóm đối tượng khách hàng. 1.2.3. Vai trò của hoạt động cho vay tiêu dùng 1.2.3.1. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với khách hàng. Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng. Do vậy, khách hàng của cho vay tiêu dùng cũng chính là người tiêu dùng, đặc biệt là những người có thu nhập trung bình. Nhờ những kho ản cho vay tiêu dùng, họ có thể mua sắm những hàng hoá cần thiết có giá trị cao, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và cải thiện cuộc sống ngay cả khi khả năng tài chính hiện tại của họ chưa cho phép.
  17. Trên thực tế, ta thấy rằng có nhiều nhu cầu mang tính tự nhiên, thiết yếu, có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống đối với các cá nhân và hộ gia đình. Những nhu cầu này không sớm thì muộn người tiêu dùng cũng phải thoả mãn. Ví dụ như nhu cầu về mua sắm, sửa chữa nhà cửa, mua các đồ dùng tiện nghi sinh hoạt, mua sắm các phương tiện như xe máy, ô tô, du lịch, học hành... Tuy rằng những nhu cầu thiết yếu nhưng c ủa cải thì được tích luỹ theo thời gian, do vậy khả năng tài chính thường bị giới hạn. Vì vậy, mà làm nảy sinh sự thật là người ta thường mua sắm nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt khi lớn tuổi. Khi lợi ích cảm thụ được từ sự hưởng thụ đ ều có xu hướng giảm xuống. Do đó, người tiêu dùng sẽ tìm cách đ ể phối hợp khéo léo giữa việc thoả mãn các nhu cầu là yếu tố thời gian và khả năng thanh toán của hiện tại và tương lai. Đ iều này có nghĩa là người tiêu dùng sẽ tìm cách để hưởng thụ trước số tiền sẽ có trong tương lai. Nếu phân tích theo khía cạnh tài chính, việc mượn tiền trước của Ngân hàng để tiêu dùng khiến chúng ta phải trả lãi thực chất cũng chỉ là cách quy đổi luồng tiền ta sẽ có tại một thời đ iểm nào đó trong tương lai về thời đ iểm hiện tại. Chính những nguyên nhân trên, việc Ngân hàng thực hiện và mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ đem đến cho người tiêu dùng những lợi ích tốt nhất. Ta có thể khẳng đ ịnh rằng người tiêu dùng là những người được hưởng trực tiếp và đều nhất những lợi ích do hình thức cho vay tiêu dùng mang lại. 1.2.3.2. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với Ngân hàng - T ạo điều kiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập, phân tán rủi ro. Vai trò của các Ngân hàng thương mại đối với xã hội ngày càng đ ược khẳng đ ịnh hơn qua sự phát triển ngày càng hoàn thiện của hệ thống Ngân hàng nói chung và của Ngân hàng thương mại nói riêng. Nhưng không vì thế mà các Ngân hàng có thể thoát khỏi sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ khác. Ngày càng có nhiều tổ chức muốn cung cấp các dịch vụ mà Ngân hàng đã và đ ang cung cấp. Và ngay cả giữa các Ngân hàng thương mại với nhau sự cạnh tranh giành giật thị trường và khách hàng
  18. ngày càng khốc liệt hơn. Chính vì vậy, muốn tồn tại và phát triển các Ngân hàng phải không ngừng đổi mới, tìm tòi và đưa ra những dịch vụ mới ngày càng có nhiều tiện ích cho khách hàng, từ đó nâng cao thu nhập cho Ngân hàng. Thực tế đã chứng minh, có những Ngân hàng thương m ại lớn trên thế giới đã thu về những khoản lợi nhuận kếch xù từ việc cung cấp các khoản cho vay tiêu dùng. Ngoài ra, nếu xét riêng từng khoản tín dụng tiêu dùng thì ta thấy cho vay tiêu dùng có rủi ro lớn. Nhưng vì mỗi khoản tín dụng tiêu dùng có giá trị tương đối nhỏ, đặc biệt lại có nhiều sản phẩm tín dụng tiêu dùng nên xét trên toàn cục của các khoản cho vay tiêu dùng thì rủi ro cũng không còn là một vấn đề lớn. Trên thực tế, các khoản cho vay tiêu dùng thường có lợi nhuận cao do mức lãi suất tính trên các khoản cho vay tiêu dùng cao. Vì vậy, các Ngân hàng thương mại cũng có thể kỳ vọng tăng lợi nhuận thu được từ các khoản cho vay tiêu dùng. - Giúp mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho Ngân hàng. Thị trường cho vay tiêu dùng là một lĩnh vực mới được phát hiện, chỉ đ ến sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, hoạt động cho vay tiêu dùng mới đ ược phát triển và lớn mạnh. Ho ạt động này giúp Ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng ,từ đó giúp Ngân hàng có những thuận lợi trong hoạt động huy động vốn, đ ặc biệt là huy động vốn từ dân cư. H ơn nữa tính lan truyền trong dân cư là rất cao nên các Ngân hàng có thể thông qua các khoản cho vay tiêu dùng mà quảng cáo về mình, từ đó thu hút các khách hàng đến với các dịch vụ khác của Ngân hàng. Trong khi đó các khoản tín dụng tiêu dùng tuy là những khoản tín dụng nhỏ nhưng nhu cầu về chúng lại rất lớn nên nếu khai thác được thị trường này thì các Ngân hàng thương mại có thể sử dụng đ ược một số lượng vốn lớn. Hơn nữa, dân cư là khách hàng tiềm năng lớn của Ngân hàng, Ngân hàng muốn phát triển bền vững thì nên dựa vào đối tượng khách hàng này. Trong khi cấp các khoản tín dụng tiêu dùng thì các Ngân hàng cũng góp phần đẩy mạnh tiêu dùng, từ đó tạo đ iều kiện cho sản xuất phát triển và các ngân hàng có thêm những khoản cho vay mới phục vụ cho các nhà sản xuất. Sản xuất
  19. phát triển lại cung cấp ra thị trường những sản phẩm mới làm nảy nở nhu cầu tiêu dùng. Quá trình này được lặp đi lặp lại không ngừng làm cho thị trường tiêu dùng ngày càng phát triển. 1.2.3.3. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với nền kinh tế Cho vay tiêu dùng có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, tạo đ iều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế, nhu cầu là vô hạn song “nhu cầu có khả năng thanh toán” mới đáng quan tâm. Cho vay tiêu dùng giúp người tiêu dùng được hưởng các tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn, nó rất cần thiết cho những trường hợp khi cá nhân có các chi tiêu có tính cấp bách như nhu cầu chi tiêu cho gia đình và y tế. Chính vì vậy, cho vay tiêu dùng là đòn bẩy hữu hiệu để tránh kích cầu tiêu dùng. Để thoả mãn được nhu cầu đó, các nhà sản xuất sẽ gia tăng sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường, tạo ra nhiều công ăn việc làm. Đồng thời, tạo ra sự cạnh tranh giữa các hãng sản xuất, các nhà kinh doanh về sản phẩm, mẫu mã, chủng loại và các nhà sản xuất sẽ tìm cách để có thể đáp ứng mọi thị hiếu người tiêu dùng. Một mặt thúc đ ẩy sản xuất phát triển, một mặt người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn, qua đó tạo sự năng đ ộng cho nền kinh tế. Các nhà sản xuất muốn tồn tại thì cũng phải không ngừng cải tiến, tự hoàn thiện mình, làm cho nền sản xuất ngày càng phát triển và phồn thịnh. 1.2.4. Phân loại các khoản cho vay tiêu dùng Việc phân loại tín dụng tiêu dùng được lựa chọn trên nhiều tiêu thức khác nhau để có một cái nhìn toàn diện về cho vay tiêu dùng ở những góc độ khác nhau. 1.2.4.1. Căn cứ vào mục đích vay: Căn cứ vào mục đích vay thì cho vay tiêu dùng bao gồm: + Cho vay tiêu dùng cư trú: Đây là các kho ản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm xây dựng hay cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình. + Cho vay tiêu dùng phi cư trú:
  20. Cho vay tiêu dùng phi cư trú là kho ản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí du lịch, chữa bệnh hay thanh toán tiền viện phí... 1.2.4.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả: + Cho vay tiêu dùng trả góp Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ( gồm cả số tiền gốc lẫn lãi) cho Ngân hàng theo nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Phương thức này được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập từng định kì của người đ i vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay.§ Đối với loại cho vay tiêu dùng này, các Ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề cơ bản sau: - Thứ nhất: Loại tài sản được tài trợ. Thông thường thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hình thành từ tiền vay đáp ứng được nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trong tương lai. Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, Ngân hàng thường chú ý đ ến điều này vì Ngân hàng thường chỉ muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm những tài sản có thời hạn sử dụng lâu bền hoặc có giá trị lớn. Bởi vì có như vậy thì người tiêu dùng mới được hưởng những tiện ích do tài sản đem lại trong một khoản thời gian dài. - Thứ hai: Số tiền phải trả trước. Nói chung thì các Ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm - số tiền này được gọi là số tiền trả trước. Phần còn lại, Ngân hàng sẽ cho vay. Số tiền trả trước cần phải đủ lớn để một mặt làm cho người đ i vay nghĩ rằng chính họ là chủ sở hữu tài sản, mặt khác lại có tác dụng hạn chế rủi ro cho Ngân hàng. Một khi không cảm nhận được rằng mình là chủ sở hữu của tài sản được hình thành từ tiền vay thì người đi vay sẽ có thái độ miễn cưỡng trong việc trả nợ. Ngoài ra, khi khách hàng không trả nợ, trong nhiều trường hợp, Ngân hàng đành phải tiếp nhận và phát mại tài sản để thu hồi nợ. Hầu hết các tài sản đ ã qua sử dụng đ ều đã bị giảm giá trị, tức là giá thị trường nhỏ hơn giá trị hạch toán của tài sản, cho nên số tiền trả trước có
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản