Đề tài "Giải quyết các tranh chấp trong thương mại Quốc tế ở Việt Nam hiện nay"

Chia sẻ: thu_nguyet

Trong kinh doanh, tranh chấp tồn tại như một tất yếu: có thể ở dạng tranh chấp hiện tại, cần phải giải quyết hoặc tranh chấp tương lại. Các mối quan hệ càng nhiều, càng phức tạp thì khả năng xảy ra tranh chấp càng lớn, bất chấp một khung pháp lý có hoàn chỉnh đến đâu - bởi không phải lúc nào các bên cũng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh. Đặc biệt trong thương mại Quốc tế, lĩnh vực mà các bên tham gia có những đặc điểm về tập quán kinh doanh, ngôn ngữ và...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Đề tài "Giải quyết các tranh chấp trong thương mại Quốc tế ở Việt Nam hiện nay"

Luận văn

Đề Tài:

Giải quyết các tranh chấp
trong thương mại Quốc tế ở Việt Nam
hiện nay
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 1

MỞ ĐẦU

T rong kinh doanh, tranh chấp tồn tại như một tất yếu: có thể ở dạng
tranh chấp hiện tại, cần phải giải quyết hoặc tranh chấp tương lại. Các
mối quan hệ càng nhiều, càng phức tạp thì khả năng xảy ra tranh chấp càng lớn, bất
chấp một khung pháp lý có hoàn chỉnh đến đâu - bởi không phải lúc nào các bên
cũng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh. Đặc biệt trong thương mại Quốc
tế, lĩnh vực mà các bên tham gia có những đặc điểm về tập quán kinh doanh, ngôn
ngữ và cả các đặc điểm văn hoá rất khác nhau, thì tranh chấp lại càng lớn, cả về mặt
quy mô và khả năng xảy ra tranh chấp. Chỉ cần một sự sai lệnh nhỏ trong cách hiểu,
xuất phát từ bất đồng ngôn ngữ là đã có thể dẫn đến tranh chấp. Đây là chưa nói đến
vấn đề phức tạm hơn là văn hoá và tập quán kinh doanh. Chẳng hạn như hàng nhập
khẩu vào Trung Quốc bắt buộc phải có mã số, mã vạch, và điều này được coi là
đương nhiên đối với các nhà nhập khẩu Trung Quốc và do đó có thể gây thiệt hại
cho nhà xuất khẩu nếu không chú ý đến điều đó trong thoả thuận hợp đồng. Hay
như quy định về điều kiện cơ sở giao hàng của Hoa Kỳ không hoàn toàn giống với
các điều kiện cơ sở giao hàng của Phòng Thương mại quốc tế (Incoterm) mà nếu
không nghiên cứu kỹ các bên có thể dẫn đến tranh chấp về các khoản chi phí giao
hàng,…
Trước khi bắt đầu một thương vụ, các chủ thể không bao giờ muốn có
tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, nó vẫn có thể xảy ra do những nguyên nhân chủ
quan và khách quan. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để hạn chế đến mức thấp
nhất khả năng xảy ra tranh chấp là điều luôn được quan tâm. Nhưng một khi
tranh chấp đã xảy ra, hoặc để đảm bảo lợi ích cho bản thân trong trường hợp
xảy ra tranh chấp, thì vấn đề lựa chọn một phương pháp giải quyết tranh chấp
cũng cần được quan tâm thích đáng, sao cho tranh chấp được giải quyết thoả
đáng với chi phí về thời gian, công sức và tiền bạc là ít nhất.
Một trong những biện pháp giải quyết tranh chấp hay được áp dụng
hiện nay là thông qua trọng tài kinh tế. Có nhiều ưu điểm của phương pháp
này so với các phương pháp khác: như tính bảo mật, độ tin cậy cao…. khiến
nó trở thành một biện pháp giải quyết tranh chấp phổ biến nhất trên thế giới.
Và vì vậy có thể nói hoạt động của các trung tâm trong tài đã và đang từng
bước góp phần vào việc hoàn thiện môi trường kinh doanh, đảm bảo cho việc
kinh doanh được ổn đinh.
Được sự đồng ý của trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, của khoa
Thương mại và dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy Nguyễn Anh Tuấn, em
đã về thực tập tốt nghiệp tại TTTTQuốc tế bên cạnh phòng TM & CN Việt
nam, để học hỏi nghiên cứu và tìm hiểu sâu thêm về vấn đề "Giải quyết các
tranh chấp trong thương mại Quốc tế ở Việt Nam hiện nay". Sau đây là bản
báo cáo tổng hợp về TTTTQuốc tế: một số nét chính của Trung tâm, kết quả
hoạt động trong thời gian qua và phương hướng hoạt động sắp tới. Em cũng
xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các chú, các anh chị ở


1
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 2

TTTTtrong thời gian em đến thực tập ở Trung tâm và mong rằng em sẽ tiếp
tục được các anh, chị hướng dẫn chỉ bảo trong thời gian tới.




2
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 3

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG
THỦ TỤC TRỌNG TÀI

1.1. TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI

1.1.1. Tranh chấp kinh tế
1.1.1.1. Khái niệm
Ngay từ xa xưa, khi Nhà nước còn chưa hình thành thì mọi người đã
tiến hành các hoạt động sản xuất và trao đổi sản phẩm hàng hoá theo các
phương thức giản đơn khác nhau. Hay nói một cách khác, lịch sử ra đời và
phát triển của kinh tế có từ rất lâu trước khi Nhà nước xuất hiện và đưa ra nx
chế định để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, xã hội cùng với sự ra đời và phát
triển của các quan hệ kinh tế xã hội, tranh chấp cũng phát sinh và đặt ra nhu
cầu được giải quyết sao cho công bằng và hợp lý nhất trong bối cảnh kinh tế -
chính trị - xã hội đó.
Thuật ngữ "tranh chấp" nói chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn
về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan. Những bất đồng,
mâu thuẫn này có thể phát sinh từ những quan hệ xã hội do nhiều ngành luật
điều chỉnh nên chúng được gọi theo ngành luật đó. Ví dụ: Tranh chấp về tiền
lương giữa người lao động và người sử dụng lao động được gọi là tranh chấp
lao động. Tương tự như vậy, tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai ... những
tranh chấp rõ là có liên quan đến lợi ích kinh tế của các bên. Do đó chúng có
thể được gọi là tranh chấp kinh tế theo nghĩa rộng. Một đặc trưng của các
tranh chấp kinh tế theo nghĩa rộng đó là các chủ thể tham gia vào quan hệ này
không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Trong phạm vi hẹp, quan hệ kinh tế là quan hệ giã các chủ thể kinh
doanh trong lĩnh vực kinh tế. Kể từ khi nước ta có pháp luật về hợp đồng kinh
tế, những tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng kinh tế gọi là tranh chấp

3
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 4

kinh tế, đó là sự bất đồng quan điểm của các bên về việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợp đồng kinh tế. Song trong nền kinh tế thị
trường mở cửa và nhiều thành phần kinh tế hiện nay, tranh chấp kinh tế không
chỉ đơn thuần là tranh chấp hợp đồng kinh tế, mà còn nhiều loại tranh chấp
khác, phát sinh trong quá trình sản xuất - kinh doanh như: tranh chấp giã công
ty và các thành viên công ty; giữa các thành viên công ty với nhau, các tranh
chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu...
Tóm lại: "tranh chấp kinh tế là tranh chấp trong quan hệ kinh doanh "
Kinh doanh như quy định tại Khoản 2 - Điều 3 - Luật doanh nghiệp "Là việc
thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lời" Chủ thể của các hoạt động kinh doanh là các doanh nghiệp, các
đơn vị kinh tế, vì thế có thể có một khái niệm về tranh chấp kinh tế như sau:
"Tranh chấp kinh tế là những bất đồng, xung đột, mâu thuẫn xảy ra ở các
doanh nghiệp, đơn vị kinh tế trong quá trình thành lập, tổ chức hoạt động và
giải thể doanh nghiệp".
1.1.1.2. Phân loại tranh chấp kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường mở, nhiều thành phần các quan hệ kinh
doanh rất đa dạng và phức tạp. Tranh chấp kinh tế cũng vì vậy mà phức tạp
không kém. Việc phân loại tranh chấp kinh tế giúp chúng ta đơn giản hoá
được chúng và có cách xa phù hợp.
* Theo mối quan hệ giữa các chủ thể thì tranh chấp kinh tế có thể là:
- Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa
pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh.
- Tranh chấp giữa các công ty với các thành viên công ty hoặc giữa các
thành viên công ty liên quan đến việc thành lập, tổ chức hoạt động và giải thể
công ty.
- Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
- Các tranh chấp khác theo quy định của pháp luật

4
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 5

* Tranh chấp trong hợp đồng kinh tế và tranh chấp ngoài hợp đồng kinh tế.
* Tranh chấp kinh tế trong nước và tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài.
* Theo lĩnh vực kinh doanh thì gồm: tranh chấp thương mại, tranh chấp
về tài chính, tranh chấp đầu tư, tranh chấp về bảo hiểm, tranh chấp về vận
chuyển hàng hoá...
* Theo thẩm quyền giải quyền thì gồm có tranh chấp do Toà án giải
quyết và tranh chấp do các tổ chức khác giải quyết.
* Theo số lượng đương sự trong tranh chấp gồm có tranh chấp liên quan
đến hai bên và tranh chấp liên quan đến nhiều bên.

1.1.2. Tranh chấp thương mại
1.1.2.1. Khái niệm
Một cách đơn giản có thể hiểu tranh chấp thương mại là tranh chấp phát
sinh trong lĩnh vực thương mại. Điều 238 Luật thương mại Việt Nam nêu ra
khái niệm về tranh chấp thương mại "là tranh chấp phát sinh do việc không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt đồng thương mại".
Tại Khoản 2 - Điều 5 cũng quy định "hoạt động thương mại là việc thực
hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua
bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương
mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế xã
hội".
Tuy nhiên, hành vi thương mại gồm những hành vi nào là điều đáng
quan tâm hơn cả. Hiện nay trên thế giới có nhiều quy định khác nhau về hành
vi thương mại:
Ở Việt Nam, Điều 45 Luật thương mại quy định các loại hành vi
thương mại gồm:
1. Mua bán hàng hoá
2. Đại diện cho thương nhân
3. Môi giới thương mại


5
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 6

4. Uỷ thác mua bán hàng hoá
5. Đại lý mua bán hàng hoá
6. Gia công trong thương mại
7. Đấu giá hàng hoá
8. Dịch vụ giao nhận hàng hoá
9. Đấu thầu hàng hoá
10. Dịch vụ giám định hàng hoá
11. Khuyến mại
12. Quảng cáo thương mại
13. Trưng bày giới thiệu hàng hoá
14. Hội chợ, triển lãm thương mại
Tuy vậy, ngoại diên của khái niệm hành vi thương mại ở các nước có
nền kinh tế thị trường phát triển có phạm vi rộng hơn nhiều. Ở Anh nói riêng
và cộng đồng Anh ngữ nói chung thuật ngữ "Commerce" không đồng nhất
với "trade", mà nó bao gồm cả "trade", "bank", "insurrance" , "transport", ...
hay nói một cách khác thương mại bao gồm cả việc mua, bán, các sản phẩm
vô hình có tính chất đặc thù khác. Tác động thương mại là hoạt động "thường
xuyên, độc lập và mưu cầu lợi nhuận", và theo luật thương mại của Pháp, hoạt
động thương mại bao gồm:
1. Mua bán động sản với mục đích bán lại để kiếm lời
2. Hoạt động trung gian trong việc mua bán động sản và bất động sản.
3. Cho thuê động sản và bất động sản.
4. Chế tạo và chuyên chở
5. Hoạt động đổi tiền và ngân hàng
6. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Và tranh chấp thương mại là tranh chấp trong các hoạt động trên. Trong
giới hạn của bài viết ở đây chỉ làm rõ tranh chấp trong hoạt động thương mại
đã được quy định tại luật thương mại Việt Nam có hiệu lực từ ngày
01/01/1998.

6
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 7

1.1.2.2. Phân loại tranh chấp thương mại
Tranh chấp thương mại cũng là một tranh chấp kinh tế, do đó tranh chấp
thương mại có thể là:
* Theo phạm vi lãnh thổ: Tranh chấp thương mại trong nước và tranh
chấp thương mại quốc tế.
* Tranh chấp hai bên và tranh chấp nhiều bên
* Tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của các bên
- Tranh chấp do người mua không thực hiện hay thực hiện không đúng
theo quy định của hợp đồng.
- Tranh chấp do người bán không thực hiện hay thực hiện không đúng
theo quy định hợp đồng.
* Tranh chấp hiện tại và tranh chấp tương lai. Tranh chấp hiện tại là
tranh chấp đã xảy ra đang cần được giải quyết. Tranh chấp tương lai được
hiểu là tranh chấp có thể xảy ra và việc giải quyết được dự liệu trong một điều
khoản của hợp đồng.
* Theo nghiệp vụ giao dịch
- Tranh chấp liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá
- Tranh chấp liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá
- Tranh chấp liên quan đến viêc thanh toán
* Theo tính pháp lý của hợp đồng (gồm có giá trị pháp lý và hiệu lực
của hợp đồng)
- Tranh chấp liên quan đến việc áp dụng sai chế độ ký kết hợp đồng
Vi phạm nguyên tắc ký kết
Căn cứ ký kết không hợp pháp
Chủ thể ký kết hợp đồng không hợp pháp, hợp lệ
- Tranh chấp liên quan đến nội dung của hợp đồng
- Tranh chấp liên quan đến cách thức ký kết hợp đồng
* Theo tiến trình thực hiện hợp đồng
- Tranh chấp trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng

7
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 8

- Tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng
+ Do người bán không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ của mình như đã thoả thuận trong hợp đồng (liên quan đến nghĩa vụ
giao hàng, cung cấp chứng từ hàng hoá, thông qua kiểm định...).
+ Do người mua không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ của mình trong hợp đồng (không mở L/C đúng hạn, thanh toán chậm hay
không thanh toán, không hoặc trì hoãn việc nhận hàng).
1.1.2.3. Tranh chấp thương mại.
* Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh từ những quan hệ có
do ngành luật thương mại điều chỉnh, vì vậy nó có những đặc trưng khác biệt
so với tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động.
Thứ nhất, tranh chấp thương mại thường là nguyên nhân phát sinh thiệt
hại về vật chất đối với các bên khi các bên có sự thoả thuận thông nhất một
cách giải quyết có lợi nhất cho cả hai bên. Khác với các tranh chấp khác,
tranh chấp thương mại thường có giá trị lớn được phát sinh trong việc đầu tư
vốn, tài sản nhằm thu lợi nhuận. Tranh chấp nảy sinh sẽ ảnh hưởng đến hoạt
động kinh tế của không những các đương sự mà còn ảnh hưởng đến các chủ
thể kinh doanh khác.
Thứ hai, quan hệ thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ
thương mại là điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh. Hoạt động thương
mại của doanh nghiệp là hoạt động thiết lập một mạng lưới các hành vi
thương mại, mà mục tiêu của các bên khi tham gia vào các quan hệ này là lợi
nhuận. Các bên tuy hợp tác, song vẫn canh tranh nhau để thu về được lợi ích
nhiều nhất. Chính vì thế sẽ không tránh khỏi những mâu thuẫn bất đồng trong
việc giải thích về quyền và nghĩa vụ, cũng như quá trình thực hiện quyền và
nghĩa vụ đó của các bên - đó chính là những tranh chấp thương mại.
Thứ ba, tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể
được Nhà nước thừa nhận quyền doanh nghiệp có chức năng kinh doanh đó là
các doanh nghiệp. Vì vậy không phải tranh chấp nào phát sinh từ hoạt động

8
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 9

kinh doanh cũng là tranh chấp thương mại. Là tranh chấp thương mại khi các
đơn vị kinh tế có đăng ký kinh doanh thuộc tất cả các thành phần kinh tế (các
doanh nghiệp Nhà nước, Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tư
nhân, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hộ kinh doanh cá thể ).
Thứ tư, tranh chấp thương mại có tính chất đa dạng, phức tạp, từ tranh
chấp này có thể dẫn đến tranh chấp khác. Đó là tính phức tạp và đa dạng của
các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể có lợi ích khác nhau trong nền kinh tế thị
trường. Mặt khác, mua bán trao đổi là hoạt động diễn ra thường xuyên, liên
tục, các chủ thể cùng một lúc có thể thiết lập nhiều mối quan hệ kinh tế khiến
cho những mối quan hệ này tạo thành một chuỗi quan hệ có liên quan đến nhau
khiến cho nếu tranh chấp phát sinh ở quan hệ này sẽ rất có thể dẫn đến tranh
chấp trong mối quan hệ khác. Chẳng hạn doanh nghiệp A vay tiền của ngân
hàng để mua nguyên vật liệu của doanh nghiệp B và bán sản phẩm cho doanh
nghiệp C theo các hợp đồng đã ký. Nếu doanh nghiệp B không cung cấp đúng
nguyên vật liệu như đã thoả thuận thì doanh nghiệp A cũng sẽ không giao được
hàng cho bên C như trong hợp đồng và không thu hồi được vốn đầu tư để trả
cho ngân hàng. Tranh chấp phát sinh giữa doanh nghiệp A và doanh nghiệp
B; doanh nghiệp A và doanh nghiệp C; doanh nghiệp A và ngân hàng.
1.1.2.4. Tính tất yếu tồn tại tranh chấp thương mại trong nền kinh tế thị
trường.
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội, sản phẩm được sản
xuất ra để bán, trao đổi trên thị trường, mọi yếu tố đầu vào và đầu ra đều là
đối tượng tự do mua bán trên thị trường kể cả sản phẩm chất xám. Kinh tế thị
trường là nền kinh tế tiền tệ hoá rất cao, mục đích của các chủ thể khi tham
gia vào kinh tế thị trường là lợi nhuận, lợi nhuận càng cao càng tốt.
Trong cơ chế thị trường, các chủ thể kinh tế có quyền tự chủ rất cao và
họ có toàn quyền quyết định việc thiết lập các quan hệ kinh tế - thương mại
của mình miễn là không trái với quy định của pháp luật. Chính vì vậy các
quan hệ thương mại trong nền kinh tế rất đa dạng và phức tạp. Tính phức tạp

9
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 10

và chồng chéo đan xen của các quan hệ thương mại ẩn chứa một nguy cơ cao
phát sinh tranh chấp. Chỉ một trục trặc nhỏ trong "mắt xích" sẽ làm kéo theo
hàng loạt các trục trặc khác và làm nảy sinh tranh chấp.
Các chủ thể kinh kế khi tham gia vào những quan hệ thương mại mà họ
cho là có lợi, có thể là lợi ích vật chất hoặc phi vật chất và khi mà mục đích
có nguy cơ không đạt được cũng sẽ làm phát sinh tranh chấp. Trong quan hệ
thương mại, quyền lợi của bên này cũng tương ứng với một nghĩa vụ của bên
kia, điều đó khiến cho xung đột lợi ích sẽ phát sinh nếu các bên không đi đến
một thoả thuận thống nhất dung hoà được quyền lợi và nghĩa vụ của họ. Đảm
bảo nguyền tắc cùng có lợi trong quan hệ thương mại.
Đặc biệt trong thương mại quốc thế sự khác nhau về tập quán kinh
doanh cũng là một lý do quan trọng dẫn đến tranh chấp. Tập quán kinh doanh
ở đây được hiểu là toàn bộ các quyết định luật pháp, quy tắc thực hành, thông
lệ... trong hoạt động thương mại ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực kinh tế. Một
hành vi được coi là hợp pháp ở quốc gia này nhưng rất có thể là hành vi vi
phạm pháp luật ở nước khác. Chẳng hạn theo quy định nhập khẩu của Trung
Quốc, hàng hoá nhập khẩu vào Trung Quốc bắt buộc phải in mã số mã vạch
trên bao bì, nhãn hiệu hàng hoá. Các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường
Trung Quốc nếu không tìm hiểu rõ quy định này và xuất hàng chưa đăng ký
và in mã số, mã vạch thì sẽ không được thông qua nhập khẩu và thế là tranh
chấp phát sinh. Hay như quy định về hạn ngạch dệt may của Mỹ khác với quy
định của EU là ở loại hạn ngạch tính theo số lượng nhập khẩu....
Các rủi ro khách quan như: sự thay đổi pháp luật, cấm vận, chiến tranh,
bạo loạt, đình công... ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng của các bên làm
phát sinh tranh chấp. Mặc dù đó có thể là những trường hợp bất khả kháng,
song việc giải quyết hậu quả, phân định mức thiệt hại cho mỗi bên cũng có thể
phát sinh tranh chấp. Tranh chấp còn phát sinh khi một bên cho rằng rủi ro
không nằm trong các trường hợp được miễn trách.



10
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 11

Trong nền kinh tế thị trường đạo đức kinh doanh không phải lúc nào
cũng được các bên tôn trong, đặc biệt là việc giữ chữ tín với bạn hàng. Vì lợi
nhuận họ sẵn sàng có những hành động cố tình vi phạm hợp đồng, hoặc lừa
đào khách hàng... làm thiệt hại cho đối tác. Bản thân mục tiêu lợi nhuận
không mang tính đạo đức nhưng cách thức để đạt được lợi nhuận thì có và
tranh chấp phát sinh, trong trường hợp này thuộc về lý do chủ quan. Rõ ràng
trong nền kinh tế thị trường quan hệ kinh tế trở lên sống động, đa dạng và
phức tạp. Mục đích nhằm tối đa hoá lợi nhuận trở thành động lực trực tiếp của
các bên tham gia quan hệ kinh tế thương mại. Trong điều kiện đó, tranh chấp
là một vấn đề tất yếu, không thể tránh khỏi, đòi hỏi phải có sự quan tâm giải
quyết một cách thoả đáng. Điều này vừa là một yêu cầu nghiêm ngặt của
nguyên tắc pháp chế vừa là một đòi hỏi bức xúc của quan hệ kinh tế nói
chung và quan hệ thương mại nói riêng.

1.1.3. Giải quyết tranh chấp thương mại trong nền kinh tế thị trường
Cùng với sự phát triển của kinh tế, tính đa dạng và phức tạp trong quan
hệ thương mại làm cho tranh chấp thương mại cũng trở lên phức tạp về nội
dung, gay gắt về mức độ tranh chấp và phong phú hơn nhiều về chủng loại
xuất phát từ lợi nhuận của các bên và sự hấp dẫn của nền kinh tế, việc giải
quyết tranh chấp là hết sức quan trong và cần thiết.
1.1.3.1. ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp kịp thời và hiệu quả.
Khi bắt đầu một thương vụ, các chủ thể không bao giờ muốn tranh chấp
xảy ra bởi tranh chấp đồng nghĩa với sự ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của họ, làm gián đoạn quá trình kinh doanh, tốn thời gian chi phí và công sức
để giải quyết tranh chấp. Không những thế còn liên quan đến chủ thể khác có
quan hệ với các bên tranh chấp, uy tín của chủ thể trên thương trường có thể
bị ảnh hưởng, cũng như các yếu tố khác thuộc về bí mật kinh doanh có thể bị
tiết lộ hoặc bị lợi dụng...



11
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 12

Giải quyết tranh chấp kịp thời và hiệu quả các tranh chấp cho phép hạn
chế đến mức tối thiểu sự gián đoạn của sản xuất kinh doanh cũng như đặt ở
mức chi phí thấp nhất. Song, quan trọng đó là phải bảo vệ một cách có hiệu
quả lợi ích hợp pháp và chính đáng của các bên khi tham gia vào kinh tế
thương mại.
Giải quyết tốt tranh chấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh
tế. Muốn có một nền kinh tế phát triển thì các quan hệ xã hội nói chung và
quan hệ kinh tế thương mại nói riêng phải được điều chỉnh bằng pháp luật,
phải đảm bảo bằng pháp luật. Việc đầu tiên là hạn chế các tranh chấp có thể
xảy ra bằng cách đặt ra các chế định và chế tài tạo thành một "sân chơi" lành
mạnh và công bằng. Khi tranh chấp xảy ra phải có các thủ tục, biện pháp để
giải quyết, nếu không giải quyết kịp thời thì hậu quả sẽ dây dưa kéo dài và
thiệt hại rất lớn. Điều đó không những làm thiệt hại, kìm hãm phát triển nền
kinh tế mà còn gây nên một khuyết điểm lớn của môi trường kinh doanh, các
chủ thể sau tranh chấp có thể "quay lưng" lại với nhau đố kỵ và không tin
tưởng lẫn nhau. Một tâm lý yên tâm làm ăn kinh tế, mạnh dạn đầu tư sẽ góp
phần cải thiện nền kinh tế.
Giải quyết hậu quả kịp thời tranh chấp còn có ý nghĩa cực kỳ quan trong
việc quản lý xã hội bằng pháp luật, vừa tháo gỡ khó khăn cho các doanh
nghiập, vừa góp phần tạo môi trường pháp lý có kỷ cương. Trong sản xuất
kinh doanh tạo niềm tin, thực hiện công bằng và bình đẳng cho các doanh
nghiệp trong nước và ngoài nước. Thực hiện sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Tính hiệu quả được xét ở hai góc độ hiệu quả chuyên môn và hiệu quả
kinh tế. Muốn vậy trong khi tiến hành một hình thức giải quyết tranh chấp
nào cũng phải tuân thủ một số nguyên tắc.
1.1.3.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp.
Dựa trên cơ sở tự do và tự chủ trong kinh doanh, bình đẳng trước pháp
luật, việc giải quyết tranh chấp phải đảm bảo các nguyên tắc sau:



12
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 13

- Nguyên tắc tự định đoạt: Theo nguyên tắc này thể hiện trước hết là ở
chỗ các bên có quyền thoả thuận phương thức giải quyết tranh chấp có lợi
nhật có thể là tự thương lượng, hoặc thông qua trung gian hoà giải, hoặc
thông qua một hình thức tài phán. Sau đó các bên có thể không nhất thiết phải
tham gia tố tụng mà có thể uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng, có
quyền nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Cuối
cùng khi đã đưa tranh chấp ra trọng tài hoặc toà án các bên có quyền hoà giải
hoặc thay đổi nội dung đơn kiện hoặc rút đơn kiện.

- Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật: Pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của các bên không phân biệt thành phần kinh tế, số vốn, tài sản.
- Nguyên tắc hoà giải: Trước hết các bên phải tiến hành tự hoà giải, chỉ
khi nào không hoà giải được mới nhờ đến các cơ quan tài phán giải quyết.
Khi thụ lý vụ án các cơ quan tài phán cũng tiến hành các biện pháp hoà giải
và công nhận hoà giải trước khi xét xử. (Quy định tại Điều 35 pháp lệnh giải
quyết vụ án tranh chấp kinh tế, Điều 35 quy tắc tố tụng trọng tài trong nước
và Điều 35 quy tắc tố tụng của trung tâm trong tài quốc tế Việt Nam).
- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp nhanh chóng và kịp thời, đảm bảo
hạn chế gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh. Hoạt động kinh doanh được
thực hiện theo chu trình sản xuất khép kín, vì vậy ở bất kỳ một công đoạn nào
xảy ra trục trặc đều dẫn đến ảnh hưởng toàn bộ quá trình kinh doanh. Giải
quyết tranh chấp không được tiến hành một cách nhanh chóng kịp thời sẽ ảnh
hưởng tới sự tồn tại và phát triển vững mạnh của chủ thể kinh doanh. Nhanh
chóng, kịp thời nhưng phải dứt điểm, đạt hiệu quả thi hành cao nhằm bảo vệ
lợi ích hợp pháp của các bên.
Ngoài ra, xuất phát từ mức độ lợi ích của doanh nghiệp, việc giải quyết
tranh chấp phải quan tâm đến một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, là giải quyết đước tranh chấp với chi phí thấp nhất về tiền bạc và
thời gian chi phí để bỏ ra giải quyết tranh chấp cũng là chi phí kinh doanh, vì vậy


13
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 14

khi phát sinh tranh chấp là nảy sinh thêm chi phí. Đặt ra yêu cầu phải hạn chế ở
mức thấp nhất các chi phí không mang lại hiệu quả kinh doanh này. Các bên nên
lựa chọn giải quyết với chi phí thấp nhất, đồng thời các cơ quan giải quyết tranh
chấp cũng phải tính đến yêu cầu này để đặt ra nhưng quy định phù hợp, tạo
niềm tin cho người kinh doanh.
Thứ hai, phải bảo vệ được uy tín của các bên trong thương trường.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, không bên nào được đưa ra bất kỳ một
thông tin nào ngoài phạm vi giải quyết tranh chấp, nhằm hạ uy tín hay ảnh
hưởng tiêu cực đến hình ảnh của đối phương trên thương trường, trước công
luận, hay trước tổ chức giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, giải quyết tranh chấp phải bảo đảm các yếu tố bí mật trong kinh
doanh trong hoạt động kinh doanh để có được thành công thì các chủ thể đều
có những bí quyết riêng của mình vì vậy họ không muốn đề người khác biết.
Khi mà quyền kinh doanh được coi là hợp pháp thì quyền giữ bí mật trong
kinh doanh cũng được pháp luật bảo hộ.
Trong các phương thức giải quyết tranh chấp chỉ có thông qua toà án là
xét xử công khai nhưng ngay cả trong trường hợp các bên kiện ra toà, thì yêu
cầu về tính bảo mật và uy tín cũng được tôn trọng như quy định ở Điều 7
pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế: "Các vụ án kinh tế được xét
xử công khai trừ trường hợp cần giữ bí mật Nhà nước hoặc giữ bí mật của
đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ".
Trong nền kinh tế, có nhiều phương thức và loại hình giải quyết tranh
chấp khác nhau, tất cả đều nhằm giải quyết một cách có hiệu quả nhất, quyền
và lợi ích của các bên đều được bảo đảm. Các khả năng, hình thức và biện
pháp giải quyết tranh chấp được quy định trong pháp luật của mỗi quốc gia
thích ứng với điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia đó. Đó là việc giải quyết
tranh chấp thông qua một cơ quan tài phán có đơn kiện, hoặc giải quyết tranh
chấp thông qua thủ tục đơn kiện.



14
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 15

1.1.3.3. Các biện pháp giải quyết tranh chấp.
a. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng.
Đây là biện pháp các bên áp dụng trước khi đi kiện khi pháp sinh tranh
chấp. Các bên sẽ đưa ra trao đổi bàn bạc các biện pháp để đi đến thống nhất
chung cho việc giải quyết tranh chấp. Các bên có thể trực tiếp hoặc thông qua
đại diện gặp nhau đàm phán để giải quyết những vấn đề phát sinh. Đại diện
củ7a mỗi bên có thể là giám đốc, là người được giám đốc uỷ quyền hoặc luật
sư thay mặt doanh nghiệp đó tham gia vào quá trình thương lượng. Việc
thương lượng có thể tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các hình thức trao đổi
thông tin.
Trong hình thức thương lượng, các bên có quyền tự do ý trí, bình đẳng,
cùng nhau xem xét vấn đề trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện
hành. Nếu các bên đạt được sự thoả thuận thì coi như tranh chấp được giải
quyết.
Biện pháp thương lượng là biện pháp giải quyết đơn giản, tiết kiệm
được thời gian và chi phí đối với mỗi bên. Việc thương lượng còn thể hiện sự
thiện chí thương lượng của các bên trong việc giải quyết tranh chấp, sau khi đã
thoả thuận thống nhất các bên vẫn giữ được mối quan hệ tốt với nhau trong các
thương vụ sau này, cũng như giữ được uy tín và bảo vệ được bí mất kinh
doanh.
Tuy vậy biện pháp này thường chỉ thành công khi các bên cùng có thiện
chí trong việc giải quyết tranh chấp, nếu một trong các bên tỏ ra quá nóng vội,
khiêu khích thì quá trình thương lượng coi như thất bại. Mặt khác, nếu mâu
thuẫn quá phức tạp các bên không giữ được cách đánh giá khách quan thì rất
khó thoả hiệp. Hoặc nếu tranh chấp liên quan đến nhiều bên, tranh chấp mà
việc giải quyết nó nằm ngoài khả năng của các bên thì phải có một bên thứ ba
hoặc một cơ quan hoà giải mới giải quyết được chứ thương lượng không giúp
ích gì nhiều.
b. Giải quyết tranh chấp bằng trung gian hoà giải.

15
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 16

Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp giữa các bên thông qua một
người thứ ba gọi là hoà giải viên. Hoà giải viên được các đương sự chọn có
nghĩa vụ "trung lập" tạo điều kiện giúp đỡ các bên tranh chấp đạt được một
giải pháp để điều hoà lợi ích khắc phục mâu thuẫn bất đồng đã phát sinh.
Hoà giải viên sẽ tiến hành họp kín với riêng từng bên hoặc họp chung
với cả hai bên để tìm hiểu kỹ nội dung tranh chấp, đưa ra những lý giải, phân
tích cho các bên thấy rõ lợi ích của mình và của bên kia để cùng tìm ra một
giải pháp thống nhất giải quyết tranh chấp hợp tình hợp lý. Hoà giải viên
không có quyền hạn gì để ra quyết định hoặc áp đặt một giải pháp nào đối với
các bên, cũng như không thể đưa ra các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp mang tính chất tự nguyện, nó
mang đầy đủ những ưu điểm của thương lượng. Ngoài ra, hoà giải còn có
những ưu điểm khiến không giải quyết tranh chấp dễ dàng hơn. Chẳng hạn
hoà giải viên thường là những chuyên gia am hiểu về vấn đề đang tranh chấp,
họ lại có một đánh giá sự việc khách quan hơn, hoà giải viên có thể đưa ra
giải quyết cho cả hai bên cùng tham khảo, họ thường có những phân tích
chính xác, rõ ràng các vấn đề thực tế trong tranh chấp, từng bước gỡ từng
bước "mút" bất đồng.
Hoà giải cũng chỉ thành công khi hai bên có thiện chí giải quyết tranh
chấp và nhìn chung thể thức này không có giá trị bắt buộc trừ khi các bên đạt
được sự thoả thuận. Nếu các bên cứ khăng khăng bảo thủ thì tranh chấp cũng
không giải quyết được vì hoà giải viên không đưa ra những quyết định buộc
các bên phải thi hành.
Người trung gian hoà giải được chọn thông qua sự thống nhất thoả
thuận của các bên. Đó có thể là các tranh chấp trong lĩnh vực chuyên môn của
họ. Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt trong thương mại quốc tế
trung gian hoà giải có thể là một tổ chức Chính phủ như đại sứ quán các trung
tâm xúc tiến thương mại... hoặc là các tổ chức phi Chính phủ .



16
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 17

Hai phương thức trên có giải quyết tranh chấp thành công hay không
đều phụ thuộc rất lớn vào sự tự nguyện và thiện ý của các bên. Thiếu những
yếu tố đó việc giải quyết tranh chấp sẽ thất bại. Do đó cần giải quyết bằng
những phương thức khác, quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp phải
được tuân thủ. Người có quyền lợi bị vi phạm sau khi không thành công trong
việc áp dụng của các biện pháp trên (hoặc bỏ qua) có thể kiện ra toà án hoặc
trọng tài để bảo vệ quyền lợi của mình.
c. Giải quyết tranh chấp theo thủ tục toà án.
Điều 1 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã quy định về quyền
yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp như sau "cá nhân, pháp nhân,
theo thủ tục do pháp luật quy định, có quyền khởi kiện vụ án kinh tếư để yêu cầu
toàn án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình''.
Tranh chấp kinh tế nói chung và tranh chấp thương mại nói riêng được
kiện đối và xét xử ở toà kinh tế. Toà án có thẩm quyền xét xử các tranh chấp
pháp sinh từ tất cả các mối quan hệ kinh tếư trong nước kể cả thủ tục giải
quyết phá sản doanh nghiệp.
Thẩm quyền giải quyết của toà án được phân cấp, theo lãnh thổ và theo
sự lựa chọn của nguyên đơn.


+ Thẩm quyền theo cấp:
Toà án nhân dân cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh
chấp hợp đồng kinh tế mà giá trị thấp dưới 50 triệu, trừ những tranh chấp có
yếu tố nước ngoài.
Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ án kinh
tếư thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện.
Toà án kinh tế Toà án nhân dân tối cao chỉ xét xử giám đốc thẩm và tái
thẩm các vụ án kinh tế.
Toà án phúc thẩm Toà án nhân dân tối cac xét xử phúc thẩm các bản án
sơ thẩm của toà án kinh tế Toà án nhân dân cấp huyện.


17
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 18

+ Thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ: Toà án cấp có thẩm quyền xét
xử sơ thẩm là Toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú. Nếu vụ án chỉ liên quan
đến bất động sản thì toà án có nơi có bất động sản giải quyết.
+ Theo yêu cầu giải quyết của nguyên đơn: Nguyên đơn có quyền lựa
chọn Toà án để yêu cầu giải quyết trong các trường hợp sau: Toà án an có tài
sản, nơi có trụ sở hoặc nơi cư trú của bị đơn hoặc chi nhánh của bị đơn.
Toà án nơi thực hiện hợp đồng kinh tế nếu các bị đơn có trụ sở hoặc nơi
cư trú khác nhau, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi cư trú hoặc có trụ
sở của một trong các bị đơn giải quyết vụ án.
Nếu vụ án có liên quan đến bất động sản thì nguyên đơn có thể yêu cầu
Toà án nơi có bất động sản hoặc nơi cư trú của bị đơn giải quyết, hoặc chọn
một trong các nơi nếu liên quan đến bất động sản ở nhiều nơi.
Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài xảy ra ở Việt Nam, Toà án
cũng có thẩm quyền xét xử, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Muốn đưa tranh chấp ra kiện ở Toà án nguyên đơn phải có đơn và tài
liệu chứng minh cho yêu cầu của mình, đồng thời phải tạm ứng án phí. Trước
khi xét xử Toà sẽ tiến hành hoà giải. Nếu hoà giải thành thì thẩm phán lập
biên bản hòa giải thành và coi đây như là quyết định của Toà án, bằng không
cũng lập biên bản hoà giải không thành và tiếp tục xét xử. Việc xét xử gồm xét
xử sơ thẩm và phúc thẩm (nếu có). Sau phiên sơ thẩm, nếu không nhất trí với
quyết định của Toà thì các đương sự vẫn có quyền kháng cáo theo thủ tục phúc
thẩm, trong thời gian 10 ngày, lên Toà án trên một cấp. Bản án phúc thẩm sau
khi tuyên thì có hiệu lực pháp luật ngay và không được quyền kháng cáo.
Trong một số trường hợp đặc biệt sau khi thi hành án, có thể có những
phiên giám đốc thẩm và tái thẩm.
Giải quyết tranh chấp theo thủ tục tố tụng tại Toà án thường là giải pháp
cuối cùng của các bên bởi quyết định của Toà án có tính cưỡng chế rất cao vì
được đảm bảo bằng bộ máy thi hành và giám sát thi hành án của Nhà nước.

18
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 19

Ngoài ra trong quá trình thụ lý và xét xử , Toà án có thể đưa ra những "biện
pháp khẩn cấp tạm thời" như tạm giữ tài sản, phong toả tài khoản... để bảo vệ
bằng chứng, bảo đảm việc thi hành án.
Tuy nhiên, tranh chấp kinh tế trên thế giới thường ít được kiện ra Toà
án vị nhiều lý do. Trước hết đó là trong thủ tục Toà án, quyền tự quyết của
các đương sự ở mức thấp nhất so với các phương thức khác, pháp luật can
thiệp trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp. Các bên sẽ phải tuân thủ
theo những thủ tục cứng nhắc, bắt buộc, phức tạp và kéo dài, án phí lại
thường cao. Thứ hai, một khi đã đưa tranh chấp ra Toà thì những bí mật kinh
doanh cũng như uy tín của doanh nghiệp sẽ không được bảo toàn, cho dù
doanh nghiệp là bên thắng kiện. Thứ ba, khi đã kiện tụng trước Toàn thì quan
hệ hợp tác giữa hai bên khó có thể duy trì, doanh nghiệp sẽ mất một đối tác,
một bạn hàng nghĩa là mất nguồn lợi do quan hệ kinh tế đem lại.
d. Giải quyết tranh chấp thông qua thủ tục trọng tài
Tranh chấp thương mại có thể được giải quyết thông qua trọng tài kinh
tế. Đây là một phương thức giải quyết tranh chấp do các bên tự thoả thuận lập
ra nhằm giải quyết dứt điểm các vụ tranh chấp. Trọng tài kinh tế tồn tại từ rất
lâu và phát triển mạnh mẽ trên thế giới như ngày nay vì tố tụng của nó đã
mang lại những lợi ích thiết thực cho các nhà doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở Việt
Nam trọng tài phi Chính phủ vẫn còn chưa quen thuộc với đa số các nhà
doanh nghiệp. Phần tiềp theo, người viết sẽ tập trung vào phương pháp giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại quốc tế.




19
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 20


1.2. TRONG TÀI KINH TẾ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG THỦ TỤC
TRONG TÀI.

1.2.1. Trọng tài.
1.2.1.1. Khái niệm.
Theo từ điển luật học của Black's "Trọng tài là cơ quan xét xử do các
bên đương sự thoả thuận thành lập để giải quyết tranh chấp giữa chính các
bên đương sự đó. Thành phần của trong tài do các bên đương sự thoả thuận
giải quyết định "
Theo Điều 1, Nghị định 116/CP về tổ chức và hoạt động của trọng tài
kinh tế quy đinh: "Trọng tài kinh tế là tổ chức xã hội nghề nghiệp có thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế; các tranh chấp giữa
công ty và các thành viên công ty; giữa các thành viên của công ty với nhau;
các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
Ở Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây còn có hệ thống
trọng tài kinh tế của Nhà nước, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Hội đồng Bộ
trưởng hoặc Uỷ ban nhân dân cùng cấp và chịu sự chỉ đạo, giám sát của trọng
tài kinh tế cấp trên. Các cơ quan trọng tài này hoạt động như một cơ quan Nhà
nước có chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế và xử lý các vi phạm
hợp đồng kinh tế.
1.2.1.2. Các hình thức trọng tài kinh tế.
Đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp vốn đa dạng và phức tạp, tạo
điều kiện cho các bên tranh chấp thực hiện quyền lựa chọn của mình đối với
các hình thức trọng tài kinh tế trong nền kinh tế thị trường có thể được phần
ra theo những tiêu thức sau:
a. Căn cứ vào quy chế tổ chức gồm trọng tài vụ việc (trọng tài AD -HOC) và
trọng tài thường trực
Trọng tài AD-HOC: Là loại hình trọng tài không có cơ quan thường
trực do các bên tranh chấp lập ra để giải quyết vấn đề mà họ yêu cầu. Trọng




20
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 21

tài AD - HOC không có quy chế hoạt động riêng và chỉ giải quyết vấn đề
xong thì giải tán.
Khi áp dụng hình thức trọng tài AD - HOC, các bên phải tự thoả
thuận và lập ra quy tắc tố tụng, lựa chọn trọng tài viên và địa điểm xét xử.
Về cơ bản các bên không bị ràng buộc bởi các quy định pháp lý về tố tụng
khi mà họ vẫn đảm bảo được nguyên tắc khách quan trong quá trình xét
xử trường hợp của họ.
Giải quyết bằng trọng tài AD - HOC khá đơn giản, nhanh chóng và tiết
kiệm được chi phí do không phải trả phí cho bộ máy hành chính. Đây là biện
pháp giải quyết tranh chấp mềm dẻo, linh hoạt, phán quyết của trọng tài AD -
HOC vẫn được công nhận có giá trị chung thẩm và được thi hành.
Để thuận lợi hơn trong quá trình giải quyết tranh chấp thì khi lựa chọn
trọng tài vụ việc, các bên nên thoả thuận quy tắc tố tụng trong hợp đồng để khi
muốn áp dụng thì chỉ cần dẫn chiếu. Trong trường hợp cần thiết, các bên có thể
sửa đổi, bổ sung một số chi tiết cho phù hợp với tính chất từng vụ việc. Việc áp
dụng các quy tắc này không đòi hỏi các bên phải trả thêm bất kỳ một khoản lệ
phí nào mà lại có thể mang lại cho các bên một cách thức giải quyết nhanh.
Tuy nhiên trọng tài vụ việc còn có nhược điểm là tính hiệu quả của nó
phụ thuộc vào tinh thần hợp tác toàn diện của các bên tranh chấp và cần có sự
hỗ trợ của một hệ thống pháp luật kinh tế hoàn chỉnh. Nguyên tắc "tự do lựa
chọn" sẽ chỉ là hình thức nếu các bên không có thiện chí với nhau. Trình tự
xét xử dễ bị trì hoãn nếu các bên không thống nhất được thủ tục giải quyết
hoặc trở ngại trong việc lựa chọn trong tài viên.
Trọng tài vụ việc trên thực tế chỉ thích hợp với những tranh chấp nhỏ,
khi các đương sự có sự am hiểu về pháp luật, dày dạn trên thương trường và
có kinh nghiệp tranh tụng.
Trọng tài thường trực: bên cạnh loại hình trọng tài AD - HOC, còn có
loại hình trọng tài hoạt động thường xuyên, theo thông lệ quốc tế được gọi là
trọng tài thường trực hay trọng tài quy chế. Trọng tài thường trực có điều lệ

21
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 22

riêng và quy chế hoạt động cụ thể. Mỗi tổ chức trọng tài quy chế đều đưa ra
một bản quy tắc tố tụng hướng dẫn trình tự tiến hành thủ tục giải quyết tranh
chấp. Các trung tâm trọng tài này đươc gọi dưới các tên như Toà án trọng tài
(Ví dụ Toà án trọng tài quốc tế, Toà án trọng tài Luân Đôn); Trung tâm trọng
tài (Ví dụ Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, Trung tâm trọng tài quốc tế
Hông kông...); hay Hiệp hội trọng tài (Hiệp hội trọng tài Mỹ...). Các Trung
tâm trọng tài được tổ chức dưới dạng công ty hoặc Hiệp hội.
Về cơ cấu tổ chức, mỗi tổ chức trọng tài quy chế gồm một bộ phận
thường trực hoặc ban thư ký nhằm cung cấp các dịch vụ hành chính và giám
sát việc áp dụng các quy tắc trọng tài. Thành phần thứ hai không thể thiếu ở
các tổ chức trọng tài qui chế là các trọng tài viên, họ là các luật sư, các
chuyên gia giỏi, giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực thương mại, hàng hải, bảo
hiểm...
Trọng tài thường trực là hình thức trung gian giữa Toà án và Trọng tài
vụ việc, Trọng tài thường trực giống trọng tài AD - HOC ở khả năng lựa chọn
trọng tài viên, tuy có hạn chế hơn (vì phải chọn một hoặc tất cả trọng tài viên
trong danh sách trọng tài viên có sẵn của Trung tâm trọng tài). Mặt khác,
trong tố tụng trọng tài thường trực, các bên đương sự buộc phải tuân theo các
quy chế xét xử của từng Trung tâm trọng tài, bất luận nó có phức tạp hoặc
không hợp lý đến mức nào. Tuy nhiên, trên thực tế điều này là rất hãn hữu, vì
để tồn tại và phát triển, bên cạnh chất lượng của đội ngũ trọng tài viên thì quy
chế tố tụng của từng Trung tâm trọng tài phải rất linh hoạt, có khả năng đáp
ứng đòi hỏi của các nhà kinh doanh trong việc giải quyết tranh chấp.
Lợi thế lớn nhất của trọng tài thường trực là có sẵn các bộ quy tắc tố
tụng trọng tài và các bên đương sự chỉ cần thoả thuận áp dụng quy tắc là đủ
mà không cần phải tốn công tạo ra một bộ quy tắc mới. Các bản quy tắc trọng
tài cũng được bổ sung thường xuyên, điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi
của môi trường kinh doanh. Những điều này rất thuận lợi cho các doanh
nghiệp mới bước vào nghề, hoặc không am hiểu nhiều về luật pháp, về thủ tục

22
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 23

kiện tụng. Nếu họ không muốn có điều gì bất lợi cho mình thì họ chọn trọng
tài thường trực với bộ quy tắc có sẵn để giải quyết tranh chấp. Hơn nữa trọng
tài quy chế hoạt động thường xuyên, có tổ chức chặt chẽ tạo điều kiện cho các
bên dễ dàng quy định một thoả thuận trọng tài riêng. Một ưu điểm khác của
trọng tài quy chế là vấn đề lựa chọn trọng tài viên. Trong trường hợp vụ việc
tranh chấp bị một bên gây căng thẳng làm cản trở việc lựa chọn trọng tài viên
thì sự chỉ định của Chủ tịch Trung tâm trọng tài là hết sức cần thiết. Các trọng
tài Trung tâm là những người được tuyển chọn kỹ càng, và các bên hoàn toàn
có thể đặt niềm tin vào trình độ chuyền môn cũng như sự khách quan của họ.
Ngoài ra còn phải kể đến vai trò của ban thư ký đối với quá trình giải quyết
tranh chấp, họ có nhiệmvụ theo dõi, giám sát việc giải quyết tranh chấp làm
cho quá trình thụ lý và xét xử không bị gián đoạn.
Bên cạnh những ưu điểm trên thì trọng tài quy chế cũng có những hạn
chế nhất định như chi phí trọng tài cao hơn so với trọng tài AD - HOC. Ngoài
chi phí trọng tài, các tổ chức trọng tài còn thu thêm phí hành chính. Và cũng
do bộ máy hành chính nên đôi khi quá trình tố tụng trọng tài quy chế kéo dài
vì phải tuân thủ những thủ tục trong quy tắc tố tụng một cách tuần tự và
nghiêm chỉnh. Nguyên tắc "tự do lựa chọn" của các bên thực chất đã bị hạn
chế trong quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài.
Theo kinh nghiệm, khi phải giải quyết những vụ tranh chấp phức tạp, có
giá trị kinh tế cao thì nên kiện ra trong trọng tài quy chế.
b. Căn cứ theo vị trí trọng tì trong hệ thống tổ chức gồm:
Trọng tài Nhà nước: (hay còn gọi là trọng tài Chính phủ): Là cơ quan
thuộc hệ thống cơ quan chấp hành và điều hành Nhà nước, có chức năng quản
lý Nhà nước đối với công tác hợp đồng kinh tế. Hoạt động giải quyết tranh
chấp, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế cũng chính là phương tiện để đạt được
mục đích là trực tiếp tham gia việc điều hành, tổ chức các quan hệ kinh tế.
Trọng tài kinh tế Nhà nước tồn tại ở các nước có nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung như ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và ở Việt Nam trước

23
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 24

đây (từ những năm 1960 cho đến tận đầu thập kỷ 90). Và hiện nay khi chuyển
sang cơ chế thị trường, các quốc gia này cũng tiến hành đổi mới cách thức tổ
chức giải quyết tranh chấp.
Trọng tài phi Chính phủ: là một tổ chức độc lập, không phụ thuộc hệ thống
các cơ quan Nhà nước. Nó có thể được thành lập ở dạng công ty hoặc Hiệp hội
trọng tài. Mô hình này phổ biến ở nước có nền kinh tế thị trường.


c. Căn cứ vào mô hình tổ chức:
- Trọng tài độc lập: ví dụ như: Hiệp hội trọng tài Mỹ, Hiệp hội trọng tài
Nhật Bản, Toà án trọng tài quốc tế Luân Đôn.
- Trọng tài bên cạnh phòng thương mại: ví dụ: Trung tâm trọng tài quốc
tế bên cạnh phòng thương mại quốc tế, Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
bên cạnh phòng thương mại và chủ nghĩa Việt Nam, Trung tâm trọng tài quốc
tế Singapore.
d. Căn cứ vào thẩm quyền giải quyết vụ việc: gồm trọng tài chuyên ngành
và trọng tài tổng hợp.
e. Căn cứ theo đặc điểm thành lập: Trọng tài quốc tế, trọng tài quốc gia.

1.2.2. Thẩm quyền giải quyết của trọng tài.
Theo pháp luật và thực tiễn trọng tài của các nước trọng tài thì có thẩm
quyền xét xử khi các bên đương sự thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài. Nếu các bên trước và sau khi phát sinh tranh chấp không thống nhất
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì tranh chấp được giải quyết bằng Toà
án. Tuy nhiên, việc thoả thuận giải quyết tranh chấp phải được thực hiện trong
khuôn khổ do pháp luật quy đinh.
Theo mục một, Thông tư 02 - PLDSKT ngày 03/01/1995 hướng dẫn thi
hành về thẩm quyền của trọng tài kinh tế được quy định tại Nghị định 116/CP về
tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế, "trọng tài có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp sau đây, không phụ thuộc vào quốc tịch của các bên tranh chấp.


24
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 25

Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa
pháp nhân với doanh nghiệp tư nhân, giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh
nghiệp tư nhân và giữa pháp nhân, doanh nghiệp tư nhân với cá nhân kinh
doanh...
Vấn đề thoả thuận chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp còn được quy
định trong nhiều văn bản pháp luật khác của Việt Nam. Ví dụ Mục 3 Điều
239 Luật Thương mại quy định: "Trong trường hợp thương lượng hoặc hoà giải
không đạt kết quả thì tranh chấp thương mại tại trọng tài, Toà án được tiến hành
theo các thủ tục tố tụng của trọng tài, Toà án mà các bên lựa chọn". Điều 21b
Điều lệ mua bán licent, Điều 241 Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Khoản 2 Điều 30
Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Điều 38 Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế, Điều 24 Luật đầu tư nước ngoài... cũng có những quy định tương tự.

1.2.3. Nguyên tắc của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Quy tắc tố tụng là khung pháp lý mà Uỷ ban trọng tài và các bên đương
sự phải tuân theo. Do trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp được hình thành
trên cơ sở tự nguyện của các trọng tài viên, theo quy định của Pháp luật; hoặc
trên cơ sở lựa chọn của các đương sự (trọng tài AD - HOC), nên không tồn tại
một tố tụng thống nhất. Tuy vậy, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
của tất cả các tổ chức, hình thức trọng tài phải đảm bảo các nguyên tắc sau mà
nếu vi phạm các nguyên tắc này sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý rất phức tạp.
+ Nguyên tắc tự nguyện: Là nguyên tắc cốt lõi trong vấn đề trọng tài vì
trọng tài được hình thành là do ý chí tự nguyện của các bên đương sự và trong
quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài đều nhân danh ý chí tối cao của các
bên đương sự. Họ có thể thoả thuận chọn hình thức trọng tài, tổ chức trọng
tài, trọng tài viên, địa điểm mà họ thấy thuận tiện và thậm chí là cả quy tắc tố
tụng áp dụng trong vụ kiện. Trong quá trình tranh tụng, nếu các bên đạt được
sự thống nhất trên cơ sở thương lượng hoặc hoà giải thì trọng tài phải tôn
trọng sự thoả thuận đó và chấm dứt việc giải quyết vụ việc.


25
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 26

+ Nguyên tắc bình đẳng giữa các bên tranh chấp: Trong mọi việc: từ lựa
chọn hay bãi miễn trọng tài viên, lựa chọn địa điểm tố tụng, trong việc đưa
đơn yêu cầu hay đơn biện minh trong việc nhận thông tin từ trọng tài và phía
bên kia. Mọi tài liệu thông tin cho trọng tài đều phải thông báo cho bên kia,
mọi biện pháp, quyết định của trọng tài đều phải đảm bảo sự bình đẳng giữa
các bên tranh chấp.
+ Nguyên tắc độc lập của các trọng tài viên trong khi giải quyết tranh
chấp trong quá trình giải quyết tranh chấp, không ai có quyền can thiệp vào
hoạt động của trọng tài viên. Các trọng tài viên bình đẳng với nhau và xét xử
độc lập căn cứ vào những Điều khoản của hợp đồng và pháp luật hiện hành.
Tuy nhiên, với tư cách là những người hoàn toàn độc lập trong xét xử tranh
chấp, trọng tài phải đảm bảo thái độ khách quan, vô tư nếu không muốn bị các
bên khước từ hoặc phải tự khước từ.
+ Nguyên tắc giữ bí mật trong giải quyết tranh chấp: đây là nguyên tắc
xuất phát từ mong muốn và lợi ích của các doanh nghiệp. Theo đó, các buổi
họp xét xử của trọng tài trên cơ sở sự thoả thuận của các trọng tài viên sẽ
được tiến hành tại nơi mà ngoài trọng tài viên và các đương sự thì những
người không có trách nhiệm hoặc không liên quan thì không được có mặt.
Trọng tài viên có trách nhiệm phải đảm bảo bí mật mọi vấn đề mà mình biết
khi tiến hành giải quyết vụ việc, kể cả phán quyết cuối cùng trừ khi được sự
đồng ý của các đương sự.
+ Quyết định của trọng tài có giá trị bắt buộc với các bên và không thể
bị kháng cáo.

1.2.4. Các vấn đề khi đưa tranh chấp ra giải quyết bằng thủ tục trọng tài.
1.2.4.1. Thoả thuận trọng tài.
Như trên đã đề cập, để giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng
trọng tài thì điều kiện cần là phải có tranh chấp phát sinh và điều kiện đủ là



26
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 27

phải có một thoả thuận giữa các bên thống nhất đưa ra tranh chấp ra giải
quyết ở trọng tài.
Thoả thuận trọng tài là thoả thuận của các bên có liên quan đưa ra tranh
chấp đã xảy ra hoặc có thể xảy ra để giải quyết thông qua thủ tục trọng tài.
Thoả thuận trọng tài có giữa các bên đồng nghĩa với việc các bên đã
gián tiếp thoả thuận khước từ thẩm quyền xét xử của Toà án quốc gia. Nếu
không có thoả thuận sẽ không có trọng tài, hoặc nếu trọng tài không được tiến
hành dựa trên cơ sở thoả thuận thì trọng tài này bị pháp luật coi là vô hiệu khi
đã thoả thuận, các bên phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ thoả thuận này.
Nếu một bên vi phạm thoả thuận trọng tài, bên kia có quyền yêu cầu Toà án
can thiệp buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ thoả thuận trọng tài
không dẫn đến các chế tài phạt như trong chế tài phát hợp đồng. Thay cho chế
tài buộc thực hiện hợp đồng phạt hoặc bồi thường thiệt hại trong hợp đồng,
thông thường là quy định của pháp luật đảm bảo cho thoả thuận trọng tài được
thực hiện mà không phụ thuộc vào ý chí của các bên liên quan.
Thoả thuận trọng tài có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài. Đó chính là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt toàn bộ hoạt
động của trong tài: từ lúc đưa tranh chấp ra trọng tài nào, chọn trọng tài viên
ra sao... cho đến cách thức thủ tục giải quyết tranh chấp.
Thoả thuận trọng tài tồn tại dưới hai dạng đó là Điều khoản trọng tài
trong hợp đồng và thoả thuận trong tài riêng biệt. Điều khoản trọng tài trong
hợp đồng là thoả thuận giữa cá bên hợp đồng chon trọng tài để giải quyết
tranh chấp có thể xảy ra trong tương lai. Điều khoản này nằm ở phần cuối hợp
đồng, không phải là do nó không quan trọng bằng các điều khoản khác mà là
do trình tự đàm phán. Sau khi các bên đã thoả thuận xong phần lớn điều
khoản chủ yếu khác rồi mới thoả thuận điều khoản này. Nó còn được gọi một
cách hình ảnh là "Điều khoản nửa đêm" (midnight clause). Do tranh chấp hợp
đồng chưa xảy ra và có thể không bao giờ xảy ra nên Điều khoản trọng tài
thường rất ngắn gọn, đôi khi quá đơn giản, ví dụ "trọng tài: theo quy tắc của

27
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 28

ICC; Luật áp dụng; Luật Việt Nam; nơi xét xử Singapore". Tuy vậy, việc giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài vẫn có thể tiến hành được. Thoả thuận trọng
tài riêng biệt được lập khi giữa các bên đã có tranh chấp xảy ra. Do các bên đã
biết rõ về loại tranh chấp nên thoả thuận trọng tài trong trường hợp này
thường được các bên soạn thảo một cách chi tiết, cụ thể và do vậy thường
hiệu quả hơn. Tuy vậy, đàm phán cho thoả thuận trọng tài riêng biệt thường
khó khăn và phức tạp hơn rất nhiều so với điều khoản trọng tài vì không phải
lúc nào bên vi phạp cũng có thiện ý giải quyết tranh chấp, họ thường lảng
tránh hoặc cố tình kéo dài thời gian đàm phán để chiếm dụng vốn hoặc làm
mất thời hiệu khởi kiện.
Theo pháp luật trọng tài của phần lớn các nước trên thế giới thì thoả
thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản. Văn bản có thể là điều khoản
trọng tài trong hợp đồng thoả thuận trọng tài riêng biệt hoặc thoả thuận trọng
tài được lập thông qua các hình thức trao đổi thư từ, công văn, qua các
phương tiện thông tin điện tử như Telex, Fax...
Trong thoả thuận trọng tài, một trong những nội dung cơ bản là các bên
phải thoả thuận đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết. Tên cơ quan trọng tài có
thẩm quyền giải quyết, luật áp dụng cho hợp đồng, luật áp dụng cho thủ thục tố
tụng, giá trị của phán quyết, chi phí trọng tài, địa điểm trọng tài, ngôn ngữ xét
xử, thời hiệu khởi kiện, nội dung tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài.
Chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài cũng là một vấn đề quan trọng.
Những người có quyền ký kết hợp đồng thì cũng có nghĩa là họ có quyền ký
thoả thuận trọng tài. Năng lực chủ thể ký kết hợp đồng được pháp luật các
quốc gia quy định khác nhau. Nếu là cá nhân thì phụ thuộc vào quốc tịch hoặc
nơi cá nhân này thường trú. Nếu là doanh nghiệp thì phụ thuộc vào nơi tiến
hành hợp đồng kinh doanh hoặc là nơi thành lập. Vì không đủ năng lực chủ
thể ký kết thoả thuận trọng tài, phán quyết trọng tài có thể bị từ chối công
nhận và thi hành theo quy định tại Mục a, Khoản 1 Điều V Công ước
NewYork 1958.

28
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 29

Thoả thuận trọng tài hoàn chỉnh sẽ giúp các bên hạn chế tổn thất khi xảy
ra tranh chấp. Sự chặt chẽ, cụ thể của thoả thuận trọng tài sẽ phần nào hạn chế
vi phạm thoả thuận trọng tài của các bên.
1.2.4.2. Luật áp dụng trong hợp đồng - cơ sở pháp lý để giải quyết
tranh chấp.
Luật áp dụng để xét xử tranh chấp là luật mà trọng tài dùng để xem xét
việc thực hiện nghĩa vụ của các bên tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp
đồng. Luật này được gọi là luật áp dụng cho hợp đồng.
Đối với các tranh chấp thương mại nội địa, đương nhiên, luật áp dụng
trong hợp đồng là luật quốc gia, chẳng hạn như ở Việt Nam thì căn cứ vào
luật thương mại, pháp lênh hợp đồng kinh tế, luật đất đai...Vấn đề chọn luật
áp dụng trong hợp đồng không đặt ra với các hợp đồng nội.
Trong thương mại quốc tế, luật của rất nhiều nước liên quan đến quan
hệ của các bên trong hợp đồng và cùng có khả năng điều chỉnh hợp đồng
ngang nhau. Giữa các nguồn luật đó luôn tồn tài hiện tượng xung đột luật, vì
thế khi đưa tranh chấp ra trong tài, các bên đương sự phải thoả thuận thống
nhất về luật áp dụng trong hợp đồng. Các nguồn luật áp dụng trong thương
mại quốc tế bao gồm: Các điều ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế
và luật quốc gia.
+ Điều ước quốc tế: là những văn bản có chứa những quy phạm pháp
luật được các quốc gia và các chủ thể khác xây dựng, ký kết, công nhận và có
hiệu lực pháp lý đối với chủ thể của các quốc gia thành viên. Nó có thể là:
Hiệp ước, Hiệp định, Nghị định thư, công hàm trao đổi... khi có tranh chấp
phát sinh từ hợp đồng nhưng không được quy định hoặc quy định không đầy
đủ thì các bên có thể đưa điều ước quốc tế vào để xử lý vấn đề đó. Các điều
ước này không có giá trị bắt buộc đối với các quan hệ thương mại quốc tế nếu
như nó chưa được quốc gia đó phê chuẩn. Khi quốc gia đã phê chuẩn, tất cả
những trường hợp mà hợp đồng không dẫn chiếu thì điều ước đó vẫn đương
nhiên được áp dụng.

29
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 30

Có hai loại điều ước quốc tế trong lĩnh vực mua bán hàng hoá: Thứ
nhất, loại điều ước quốc tế đề ra những nguyên tắc pháp lý chung làm cơ sở
cho hoạt động thương mại, nó không điều chỉnh trực tiếp các vấn đề quyền và
nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của các bên tham gia hợp đồng mà chỉ đề ra các
nguyên tắc pháp lý có tính chất định hướng, chỉ đạo: ví dụ như Hiệp định
buôn bán hàng dệt may Việt Nam - EU, Hiệp định thương mại Việt Nam -
Mỹ; Hiệp định cắt giảm thuế quan với ASEAN... Thứ hai, là loại điều ước
quốc tế trực tiếp điều chỉnh đến các vấn đề có liên quan đến quyền hạn, trách
nhiệm và nghĩa vụ của các bên trong ký kết và thực hiện hợp đồng. Đây chính
là nguồn quy phạm pháp luật dùng để giải quyết tranh chấp, thường được các
bên và cơ quan tiến hành tố tụng viện dẫn trong quá trình giải quyết tranh
chấp. Loại điều ước này điển hình có Công ước Brussel 1964 về chuyên chở
hàng hoá, Công ước viên 1980 về mua bán hàng hoá quốc tế.
+ Tập quán thương mại: là những quy tắc xử sự có hệ thống, những thói
quen thương mại phổ biến được áp dụng một cách thường xuyên, liên tục
trong một thời gian dài và phải có nội dung rõ ràng mà qua đó có thể xác định
được quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Các tập quán thương mại quốc tế chỉ có
giá trị pháp lý và có hiệu lực bắt buộc đối với các chủ thể ký kết khi nó được
quy định hoặc dẫn chiếu vào hợp đồng. Điều 135 quy tắc ICC về trọng tài quy
định "Các trọng tài không chỉ áp dụng luật áp dụng mà còn phải dùng tới các điều
khoản trong hợp đồng và những "Tập quán thương mại" thích hợp để giải quyết
vụ việc". Trong những luật trọng tài của các quốc gia cũng quy định như vậy.
Một ví dụ về tập quán thương mại quốc tế thông dụng được phòng
thương mại quốc tế soạn thảo và ban hành đó là các bản Incoterm: quy định
về điều kiện cơ sở giao hàng. Hay là quy tắc thống nhất và thực hành tín dụng
chứng từ - UCP cũng tỏ ra rất hữu dụng trong việc hướng dẫn đến một chuẩn
mực quốc tế duy nhất cho quyền và nghĩa vụ của các bên.




30
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 31

Ngoài ra, đối với các quốc gia theo hệ thống "common low" còn có các án
lệ là các quy tắc xét xử được hình thành từ thực tiễn xét xử. Khi lựa chọn luật
của các quốc gia này, các chủ thể cần để ý đến những án lệ này.
+ Luật quốc gia: trong thực tiễn và thực hiện hợp đồng mua bán hàng
hoá quốc tê, bên cạnh các điều ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế
và án lệ, luật quốc gia cũng đóng một vai trò khá quan trọng và trong nhiều
trường hợp là nguồn luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên luật
quốc gia chỉ trở thành luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
trong các trường hợp sau:
- Khi các bên ký kết hợp đồng thoả thuận trong điều khoản luật áp dụng
của hợp đồng việc chọn luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng.
- Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc
tế không được quy định trong các điều ước quốc tế liên quan, luật quốc gia
đương nhiên trở thành luật áp dụng cho hợp đồng đó.
Nói đến luật quốc gia như một nguồn luật của thương mại quốc tế
không có nghĩa là tất cả các luật đều được áp dụng mà chỉ có một số luật, văn
bản pháp luật có liên quan đến thương mại quốc tế được áp dụng, bởi vì luật
quốc gia không chỉ điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế mà nó còn
điều chỉnh rất nhiều mối quan hệ khác.
Luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường là
luật của nước nào có quan hệ gần nhất với hợp đồng, tuy theo cách xác định,
nhưng phải là luật đặc trưng, thường là luật của nước bên bán, luật của nước
nơi hợp đồng được ký kết, nhưng cũng có thể là luật của bên mua, có thể là
luật của nước thứ ba, luật quốc tịch, luật nơi nghĩa vụ của hợp đồng được thực
hiện...
Trong quá trình đàm phán hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế điều
khoản luật áp dụng thường được ghi một cách rõ ràng trong hợp đồng để
tránh tình trạng khó xác đinh luật quốc gia điều chỉnh các quan hệ hợp đồng.
Việc thoả thuận luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc

31
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 32

tế là một vấn đề phức tạp, cho nên các chủ thể ký kết không những phải thông
thạo luật của nước mình mà còn phải tìm hiểu kỹ luật của nước khác quan hệ
với hợp đồng để đảm bảo quyền lợi của mình, tránh được những thiệt thòi do
sự thiếu hiểu biết pháp luật gây ra.
Tuy nhiên việc áp dụng luật của quốc gia nào để giải quyết tranh chấp
trong hợp đồng đôi khi không chỉ phụ thuộc vào ý chỉ chủ quan của một chủ
thể mà thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác như: tương quan lực lượn
giữa các bên tham gia hợp đồng, do điều kiện đặc thù khi triển khai hợp đồng
đó... Trường hợp phải áp dụng luật của nước thứ ba, ít nhất phải hiểu được
luật của nước đó có tiện cho người mua hay người bán, liên quan đến hợp
đồng đã ký kết như thế nào, những điểm gì kiêng kị cần tránh...
Đôi khi các bên thoả thuận lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng sau khi
hợp đồng đã được ký kết. Trường hợp này thường xảy ra khi ký kết hợp đồng,
vì một lý do khách quan nào đó, các bên tiến hành rất nhanh chóng (để chớp
thời cơ...) nên chưa kịp nêu điều khoản luật áp dụng trong hợp đồng.
Tại Việt Nam, Luật thương mại đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ
01/01/1998. Đây là nguồn luật quan trọng để các thương nhân Việt Nam nắm
vững, áp dụng trong đàm phán ký kế hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Luật thương mại Việt Nam ra đời đã tạo một trường pháp lý vô cùng thuận lợi
cho các thương nhân Việt Nam, đó là công cụ pháp lý quan trọng, là chỗ dựa
pháp lý rất tin cậy cho các thương nhân Việt Nam tiến hành các hoạt động
thương mại trong kinh doanh quốc tế. Do đó, trong trường hợp mặc dù hợp
đồng thương mại đã được thực hiện hoặc bị vi phạm, thậm chí bị vô hiệu thì
điều khoản về thoả thuận trọng tài của hợp đồng vẫn giữ nguyên giá trị pháp
lý.




32
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 33

1.2.4.3. Luật tố tụng của trọng tài.
Việc xác định luật áp dụng trong tố tụng trọng tài thương mại quốc tế bị
chi phối bởi nguyên tắc tự do thoả thuận của các bên và nguyên tắc nơi toạ lạc
của trọng tài.
Thứ nhất, tôn trọng nguyên tắc tự do thoả thuận của các bên. Nguyên tắc
thoả thuận của các bên chủ thể trong hợp đồng thương mại quốc tế không những
chi phối việc chọn luật để điều chỉnh nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực
hiện hợp đồng mà nó còn chi phố cả việc thành lập hoặc chọn trọng tài trong đó
bao gồm cả việc đưa ra các nguyên tắc xét xử hoặc chọn luật tố tụng cho quá
trình xét xử của trọng tài.
Trên thực tế, khi thoả thuận về trọng tài để xét xử tranh chấp, các bên có
thể chỉ định một hội đồng trọng tài thường trực (trọng tài thiết chế) hoặc cũng
có thể thoả thuận thành lập trọng tài AD - HOC (trọng tài vụ việc). Trong mỗi
trường hợp chọn hình thức trọng tài thì việc chọn luật áp dụng cho tố tụng
trọng tài cũng khác nhau đó là: Trong trường hợp các bên thoả thuận chọn
trọng tài thường trực cụ thể để xét xử tranh chấp của mình thì đã đồng nghĩa
với viẹc các bên thoả thuận chọn luật tố tụng để áp dụng cho trọng tài đó. Bởi
vì cơ quan trọng tài sẽ áp dụng thủ tục tố tụng của mình để tiến hành xét xử .
Theo Bản quy tắc trọng tài UNCITRAL thì các tranh chấp này sẽ được giải
quyết bằng bản quy tắc đó. Điều 15 của Bản quy tắc này chỉ rõ: "Trọng tài có
thể tiến hành thủ tục tố tụng trọng tài theo cách thức mà trọng tài cho là thích
hợp nhưng phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên và đảm bảo cho mỗi bên
có đủ cơ hội trình bày vụ việc của mình ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình
tố tụng". Tương tự như vậy, Điều 8 quy định về hoà giải và trọng tài của
Phòng thương mại quốc tế (ICC) đã được sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực từ
ngày 01/01/1988 ghi nhận: "Khi các bên thoả thuận nhờ đến trọng tài cảu
phòng thương mại quốc tế thì họ qua đó phục tùng quy đinh này." hoặc Điều
22 quy định này ghi nhận: "Các nguyên tắc áp dụng trong tố tụng trước trong
tài viên là các nguyên tắc xuất phát từ quy định này và trong trường hợp quy

33
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 34

định này không đề cấp thì áp dụng các nguyên tắc mà các bên đã xác định và
trong trường hợp các bên không xác định thì trọng tài viên xác định bằng cách
dựa bào hoặc không dựa vào một luật quốc gia về tố tụng áp dụng cho trọng
tài". Trong trường hợp các bên thoả thuận thành lập trọng tài AD - HOC thì
việc xác định luật áp dụng cho tố tụng trọng tài sẽ do các bên tự quyết định.
Các bên có thể thoả thuận xây dựng nên các nguyên tắc một cách độc lập và
cũng có thể chọn các quy định về tố tụng của một tổ chức trọngt ài quy định
về tố tụng của một tổ chức trọng tài thường trực nào đó để áp dụng cho trọng
tài mà các bên đã lập ra. Trong trường hợp các bên lựa chọn các quy định của
tổ chức trọng tài thường trực nào đó thì các quy định này có thể được các bên
thoả thuận giữ nguyên hoặc sửa đổi, bổ sung trước khi áp dụng cơ chế giám
sát thực hiện hoạt động tố tụng của trọng tài AD - HOC không chặt chẽ bằng
trọng tài thường trực.
Thứ hai, áp dụng nguyên tắc nơi toạ lạc của trọng tài theo học thuyết
nơi toạ lạc thì trọng tài tiến hành xét xử ở đâu thì sẽ áp dụng luật tố tụng trọng
tài ở nơi đó. Thuyết này được áp dụng để xác định luật tố tụng cho trọng tài
trong trường hợp nếu các bên không thoả thuận chọn luật tố tụng việc áp dụng
thuyết này để xác định luật áp dụng cho tố tụng trọng tài quốc tế thường xảy
ra trong trường hợp các bên thànhlập trọng tài AD - HOC. Thuyết "nơi toạ lạc
của trọng tài" không những được áp dụng trên thực tế mà nội dung của thuyết
này còn được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như:
Công ước NewYork năm 1958 về việc công nhận và thi hành các phán quyết
trọng tài nước ngoài tại Điều 3 và Điều 6 (1.d) và tại Điều 16 của Bản quy tắc
trọng tài UNCITRAL.
Cách thức chọn trọng tài viên là khác nhau tại các tổ chức trọng tài khác
nhau trên thế giới. Chẳng hạn theo quy chế của Trung tâm trọng tài quốc tế
Việt Nam thì trọng tài viên phải có tên trong danh sách. Trong khi tại nhiều tổ
chức trọng tài (như Toà án trọng tài quốc tế bên cạnh phòng thương mại quốc
tế hay Toà án trọng tài LuânĐôn) danh sách các trọng tài viên chỉ mang tính

34
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 35

chất khuyến nghị mà không bắt buộc. Hoặc quy định người có thẩm quyền chỉ
định trọng tài viên trong trường hợp các bên không chỉ định hoặc thống nhất
chỉ định ở Toà án trọng tài quốc tế là Toà án trọng tài, đối Trung tâm trọng tài
quốc tế Việt Nam là Chủ tịch Trung tâm trọng tài; đối với Toà án trọng tài
Luân Đôn là Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch toà... trong quy chế chỉ định trọng tài
viên của Toà án trọng tài quốc tế bên cạnh phòng thương mại quốc tế còn có
các uỷ ban quốc gia hỗ trợ việc chỉ định trọng tài viên của Toà.
Số lượng trọng tài viên thông thường là một số lẻ gồm một hoặc ba
trọng tài viên tuỳ theo sự thoả thuận trước của các bên. Trong trường hợp
gồm nhiều trọng tài viên, được gọi là Uỷ ban trọng tài, sẽ có một trọng tài
viên là Chủ tịch Uỷ ban trọng tài. Chủ tịch Uỷ ban trọng tài do hai trọng tài
viên thống nhất chỉ định, bằng không cũng sẽ do cơ quan người có thẩm
quyền chỉ định. Theo thông lệ quốc tế, trọng tài viên duy nhất hoặc Chủ tịch
Uỷ ban trọng tài không được cùng một quốc tịch của một bên nào, trừ khi các
bên có thoả thuận khác.
Các trọng tài viên không nhất thiết phải là luật sư mà có thể là một
chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau trong thương mại quốc tế, tinh thông
nghề nghiệp chuyên môn. Song phẩm chất bắt buộc đối với trọng tài viên là phải
vô tư khách quan khi xét xử và không có những quan hệ nhất định (quan hệ gia
đình, quan hệ vật chất...) với các bên trong vụ kiện.
Các đương sự có quyền khước từ trọng tài viên do mình chỉ định, Chủ tịch
Uỷ ban trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất nếu nghi ngờ về sự vô tư của trọng
tài viên nhất là khi họ cho rằng trọng tài viên có liên quan trực tiếp hay gián tiếp
đến vụ tranh chấp các trọng tài viên, trong tài viên duy nhất hay Chủ tịch Uỷ ban
trọng tài cũng có quyền khước từ vai trò của mình. Các yêu cầu bãi miễn, khước
từ trọng tài viên phải làm thành văn bản và Toà án hoặc Chủ tịch Trung tâm
trọng tài sẽ quyết định chung thẩm về việc chỉ định, xác nhận, bãi miễn hoặc
thay thế các trọng tài viên.




35
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 36

Quy tắc về chỉ định trọng tài viên được quy định tại Điều 2 quy tắc
trọng tài của Toà án trọng tài quốc tế; Điều 8 - Điều 12 quy tắc tố tụng của
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam; Điều 3 trong quy tắc của Toà án quốc
tế Luân Đôn; Điều 6,7 quy tắc trọng tài Uncitral...
1.2.4.5. Địa điểm và ngôn ngữ trọng tài.
* Địa điểm trọng tài là nơi công việc giải quyết tranh chấp được tiến
hành là địa điểm tiến hành phiên họp xét xử và tiến hành các thủ tục tố tụng
khác có sự tham gia của một hoặc các bên nhân chứng.
* Ngôn ngữ trọng tài là tiếng nói, chữ viết được sử dụng trong quá trình
tố tụng. Trong đơn yêu cầu, đơn biên minh và bất kỳ vấn đề nào trình bày
bằng văn bản hoặc bằng lời trong phiên họp xét xử, các buổi nghe trình bày.
Về nguyên tắc, ngôn ngữ trọng tài và địa điểm trọng tài do các bên thoả
thuận Uỷ ban trọng tài, trọng tài viên chỉ định quyết định khi các bên không
có thoả thuận hoặc không thoả thuận được.
Ở nước ta, theo quy định tài Khoản 1 Điều 24, Nghị định 116/CP quy định
tiếng nói, chữ viết dùng trong quá trình giải quyết tranh chấp là tiếng Việt - là
một hạn chế khi các đương sự không mang quốc tịch Việt Nam.
Địa điểm trọng tài là một vấn đề quan trọng đối với các bên vì nó ảnh
hưởng đến chi phí theo đuổi việc giải quyết tranh chấp. Ngôn ngữ trọng tài
ảnh hưởng đến khả năng các bên đưa ra những lý lẽ để biện minh hoặc các
buộc cũng như việc theo dõi quá trình xét xử vụ việc của đương sự. Chính vì
vậy, các bên cần xác định một cách cụ thể, càng cụ thể càng tốt.
1.2.4.6. Giới thiệu sơ bộ về trình tự chung của thủ tục trọng tài trên thế
giới.
Phương pháp giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài theo
thông lệ quốc tế thường được tiến hành theo trình tự như sau:
a. Đưa đơn kiện.
b. Thành lập Uỷ ban trọng tài.



36
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 37

Căn cứ vào thoả thuận trọng tài vên nguyên đơn gửi đơn kiện tới tổ
chức trọng tài có thẩm quyền, trong đó nêu tóm tắt nội dung vụ việc, tên, địa
chỉ của các bên tranh chấp. Cách thức thành lập Uỷ ban trọng tài được tiến
hành như sau:
1. Hai bên nhất trí chọn một trọng tài viên duy nhất
2. Mỗi bên chọn một trọng tài viên và trọng tài viên của các bên chọn ra
trọng tài viên thứ ba làm Chủ tịch ban trọng tài là người ra quyết định cuối
cùng của phiên họp phân xử. Nếu trọng tài việ của các bên không thống nhất
trọn được trọng tài viên thứ ba thì Chủ tịch Trung tâm trọng tài sẽ chỉ định
(đối với trọng tài thường trực) hoặc Toà án chỉ định (đối với AD - HOC).
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong việc lựa chọn trọng tài viên
các tổ chức trọng tài quy chế thường đưa ra bản danh sách các trọng tài viên
có thể tham gia xét xử. Ban thư ký của tổ chức trọng tài có chức năng hướng
dẫn, tư vấn cho các bên trong việc lựa chọn trong tài viên nếu các bên yêu
cầu.
Sau khi đã lựa chọn được các trọng tài viên để thành lập Uỷ ban trọng tài
trong qúa trình tố tụng, nếu các bên có sự nghi ngờ về tính vô tư và độc lập của
trọng tài viên thì có quyền bãi miễn trọng tài viên. Các quy tắc tố tụng của các tổ
chức trọng tài, nói chung, đều quy định vấn đề này.
Như vậy, thủ tục tố tụng trọng tài về cơ bản tạo điều kiện cho các nhà
kinh doanh có thể tự do lựa chọn trọng tài viên theo yêu cầu của mình. Khi
lựa chọn các viên có điều kiện cần nhắc các yếu tố như trình độ chuyên môn,
khả năng xét xử và đạo đức của trọng tài viên để lựa chọn được trọng tài viên
mà mình tin cậy nhất để trao cho họ quyền quyết định cuối cùng về vấn đề
đang tranh chấp.
c. Hoà giải trước Uỷ ban trọng tài .
Sau khi các bên lựa chọn được các trọng tài viên đê thành lập Uỷ ban
trọng tài, các trọng tài viên sẽ tiến hành nghiên cứu hồ sơ, thu thập và xác
minh chứng cứ trên cơ sở chứng từ, tài liệu các bên tự nguyện cung cấp.

37
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 38

Trong những trường hợp cần thiết, Uỷ ban trọng tài có thể nhờ Toà án giúp
đỡ trong việc thu thập chứng cứ.
Luật trọng tài các nước quy định rằng trước khi mở phiên họp xét xử,
các trọng tài viên được lựa chọn trước hết phải đề xuất, vận động các bên giải
quyết tranh chấp bằng con đường hoà giải. Tuy vậy, Uỷ ban trọng tài chỉ có
thể thực hiện vai trò là hoà giải viên khi các bên đồng ý. Thực tiễn giải quyết
tranh chấp của các tổ chức trọng tài quốc tế, đặc biệt ở khu vực Châu á cho
thấy các trọng tài viên trên cơ sở phân tích hồ sơ vụ việc có thể đề nghị các
bên tiến hành hoà giải. Nếu các bên đồng ý hoà giải thành công trước khi
công bố phán quyết hoặc ngay tại phiên họp xét xử đầu tiên thì Uỷ ban trong
tài sẽ kết thúc vụ việc. Theo yêu cầu của các bên, Uỷ ban trọng tài sẽ ghi nhận
thoả thuận hoà giải thành phán quyết trọng tài. Khi đó, các bên tranh chấp sẽ
tiết kiệm thời gian đi kiện và chi phí trọng tài. Nếu các bên không chấp nhận
hoà giải hoặc hoà giải không thành thì Uỷ ban trọng tài sẽ tiến hành tổ chức
xét xử.
d. Tổ chức xét xử.
Sau khi các bên không hoà giải được thì Uỷ ban trọng tài quyết định
tiến hành phiên họp xét xử vụ tranh chấp. Uỷ ban trọng tài sẽ thông báo cho
các bên biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp xét xử. Thông thường
phiên họp xét xử được tiến hành theo nguyên tắc xét xử kín, không công khai.
Tham gia phiên xét xử ngoài các trọng tài viên là thành viên của Uỷ ban trọng
tài, đại diện của các bên tranh chấp, các luật sư của các bên, thư ký phiên họp.
Những người ngoài cuộc chỉ có mặt khi các bên đồng ý. Thủ tục xét xử được
Uỷ ban trọng tài tuân thủ quy tăcss tố tụng trọng tài, còn nội dung vụ việc sẽ
được phân xử theo luật thực chất áp dụng cho hợp đồng.
Trong phiên họp xét xử Uỷ ban trọng tài sẽ dành cơ hội cho các bên
trình bày quan điểm của minh về nội dung tranh chấp, đồng thời khuyến khích
các bên bổ sung các chứng cứ đã có.
e. Ra phán quyết.

38
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 39

Sau khi các bên trình bày quan điểm của mình, trên cơ sở luật thực chất
áp dụng cho vụ việc Uỷ ban trọng tài sẽ phân tích những điểm đúng sai của
mỗi bên và đưa ra quyết định cuối cùng về vụ tranh chấp gọi là phán quyết
trọng tài. Việc ra phán quyết dựa trên các căn cứ luật áp dụng, các điều khoản
hợp đồng, tập quán và thông lệ thương mại quốc tế. Phán quyết được hoàn
thành trong một thời hạn nhất định và được gởi cho các bên để đảm bảo tính
nhanh chóng, dứt điểm của thủ tục trọng tài.
1.2.4.7. Công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài.
Phán quyết của trọng tài là quyết định cuối cùng của Uỷ ban trọng tài
hoặc của trọng tài viên duy nhất. Nếu là phán quyết của Uỷ ban trọng tài thì
phán quyết đó phải được biểu quyết theo đa số. Quyết định của trọng tài phải
được lập thành văn bản và phải có chữ ký của tất cả các trọng tài viên.
Các bên có trách nhiệm thực hiện ngay các quyết định của trọng tài
phán quyết của trọng tài là chung thẩm.
Tuy nhiên, do trọng tài không nằm trong hệ thống các cơ quan Nhà
nước, không nhằm thực hiện quyền lực của Nhà nước nên không có những
biện pháp cưỡng chế Nhà nước. Vì vậy khi bên thua kiện không tự nguyện
thực hiện phán quyết của trọng tài thì theo thông lệ quốc tế, bên thắng kiện có
quyền yêu cầu Toà án ra quyết định công nhận làm căn cứ cho việc cưỡng chế
thi hành. Sau khi Toà án kiểm tra tính hợp pháp của quyết định trọng tài, Toà
sẽ ra quyết định cưỡng chế thi hành án và lúc đó phán quyết của trọng tài có
hiệu lực thi hành như một quyết định hoặc bản án của Toà án.
Chỉ trong trường hợp Toà án xem xét việc ra quyết định cũng như quá
trình tố tụng vi phạm các quy định có tính nguyên tắc của tố tụng trọng tài và
khi đó các bên có quyền yêu cầu một Uỷ ban trọng tài khác hoặc mở lại thủ
tục tại toà án từ đầu.
Trên đây là những vấn đề cơ bản của việc giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài trên thế giới. Song ở Việt Nam, với những đặc thù của một nước
XHCN, bước đầu mở cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tranh chấp

39
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 40

thương mại cũng như thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có nhiều
tính riêng biệt




40
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 41

CHƯƠNG 2
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
Ở TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ VIỆT NAM

2.1. TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ VIỆT NAM.


2.1.1. Vài nét về Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.

2.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển.
a. Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải:
Vào những năm đầu của thập kỷ 60, ngoài toà án, thì Hội đồng trọng
tài Ngoại thương (30/4/1963) và Hội đồng trọng tài Hàng Hải (5/10/1964) là
những tổ chức chính trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh Quốc tế
ở nước ta. Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải
được gia nhập vào phòng TM & CN Việt Nam. Phòng TM & CN Việt Nam là
một tổ chức phi Chính phủ bao gồm các thành viên ở các thành phần kinh tế
của Việt Nam. Nhưng Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài
Hàng Hải lại hoạt động theo những điều lệ do Nhà nước phê chuẩn và chịu sự
giám sát của Nhà nước.
Hội đồng trọng tài Ngoại thương giải quyết tranh chấp thông qua trọng
tài đối với những tranh chấp pháp sinh từ các hợp động kinh tế, thương mại
giữa các tổ chức Việt Nam và pháp nhân, thể nhân nước ngoài.
Hội đồng trọng tài Hàng Hải giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan
đến vận chuyển bằng đường biển như: thuê tàu chuyến, vận chuyển hàng hoá
Quốc tế, giao nhận hàng hoá, cứu hộ, đâm va tàu biển hoặc giữa tầu biển và
tầu sông ở các quốc gia khác nhau và bảo hiểm hàng hoá.
Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải không
giải quyết các tranh chấp dân sự hay các tranh chấp kinh tế trong nước.
Các Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng
trọng tài Hàng Hải do phòng Công nghiệp chọn và phải là công dân Việt
Nam. Các Trọng tài viên được chọn là những người thông hiểu về pháp luật
Việt Nam và Quốc tế cũng như hiểu biết về kinh nghiệm về các lĩnh vực như
thương mại, vận chuyển hàng hoá, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và quan hệ
kinh tế đối ngoại.
Trong thời gian đó, vì nhiều lý do khác nhau, mà các tranh chấp đưa
đến trọng tài giải quyết còn hạn chế, số vụ được giải quyết ra phán quyết còn

41
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 42

ít hơn. Các hoạt động khác nói chung và hoạt động hoà giải nói riêng, cho đến
tận giữa những năm 1980 chủ yếu vẫn là với các nước Xã Hội Chủ Nghĩa giới
hạn trong lĩnh vực viện trợ thương mại và viện trợ phát triển.
Từ giữa thập kỷ 80, số vụ tranh chấp đưa ra trọng tài tăng nhanh, trung
bình là 20 vụ/năm trong giai đoạn 1988 - 1992 với khoảng 85% tranh chấp
liên quan đến các hợp đồng thương mại Quốc tế, bảo hiểm và các vấn đề liên
quan đến vận tải Quốc tế.
Cả Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải
đều rất ít tham gia và liên hệ với các cuộc hội thảo với các tổ chức trọng tài
nước ngoài, chẳng hạn như Toà án Trung tâm Quốc tế bên cạnh phòng
Thương mại Quốc tế hay TTTT Quốc tế Singapore.
Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải là hai
tổ chức tiền thân của TTTT quốc tế Việt Nam bên cạnh phòng TM & CN Việt
Nam. Những hạn chế trên dần trở thành những trở ngại và phát sinh những
mặt bất cập trong việc giải quyết các tranh chấp Quốc tế. Chính vì thế sự tồn
tại duy nhất một TTTT Quốc tế ở Việt Nam với quy chế hoạt động mới là
điều cần thiết.
b. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam:
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam là một tổ chức phi Chính phủ
được thành lập bên cạnh phòng TM & CN Việt Nam theo Quyết định số
204/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/4/1993 trên cơ sở hợp nhất Hội
đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải.
Sự tồn tại một Trung tâm trọng tài quốc tế duy nhất ở Việt Nam nhằm
tránh những vấn đề mâu thuẫn rắc rối trong xét xử thỉng thoảng xảy ra giữa
Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng Hải cũng như để
thống nhất điều hành bổ sung đội ngũ trọng tài Quốc tế của Việt Nam.
Trong tình hình mới của nền kinh tế đất nước mở cửa và hội nhập với
thế giới, Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam đã được phép mở rộng và cập
nhật quy tắc hoạt động trọng tài cho phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam và các
quy tắc trọng tài Quốc tế đang phổ biến trên thế giới. Hoạt động xét xử của
TTTT Quốc tế Việt Nam không chỉ giới hạn những tranh chấp trong lĩnh vực
thương mại và vận tải quốc tế mà được mở rộng sang cả các lĩnh vực khác
như: đầu tư nước ngoài, du lịch, tín dụng, ngân hàng, chuyển giao công nghệ,
bảo hiểm, các vấn đề kinh doanh quốc tế và thương mại quốc tế khác
Khác với Hội đồng trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng
Hải, TTTT quốc tế Việt Nam có quan hệ khá rộng rãi với các hiệp hội, tổ

42
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 43

chức kinh tế trên thế giới, đẩy mạnh một bước trong hợp tác quốc tế. TTTT
quốc tế Việt Nam tham gia vào nhiều hội thảo quốc tế về trọng tài như hội
thảo thường niên của đoàn luật sư Châu Á Thái Bình Dương ở Singapore năm
1994, ở Hoa Kỳ năm 1995, hội thảo Quốc tế của Trung tâm giải quyết tranh
chấp về đầu tư- thương mại Quốc tế, hội thảo của Toà án trọng tài Quốc tế
bên cạnh phòng Thương mại Quốc tế, và hội thảo của Hiệp hội trọng tài Hoa
Kỳ. Đặc biệt TTTT quốc tế Việt Nam còn thiết lập quan hệ được với một số
luật sư hàng đầu về lĩnh vực trọng tài trên thế giới.
Sự phát triển trên đã đem lại một thế giới mới cho TTTT quốc tế Việt
Nam có thêm kiến thức và kinh nghiệm trong thực tế từ các tổ chức trọng tài
Quốc tế khác nhằm tạo khả năng cho Trung tâm trong việc giải quyết những
tranh chấp ngày một phức tạp khi nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển
mạnh.
Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh đến tiềm lực nội bộ của Trung
tâm: đó là đội ngũ trọng tài viên trong nước và cả Quốc tế cùng với một cơ
cấu tổ chức hiệu quả.
2.1.1.2. Cơ cấu tổ chức của TTTT quốc tế Việt Nam.
TTTT quốc tế Việt Nam có Chủ tịch và hai Phó chủ tịch do các trọng
tài viên của Trung tâm bầu ra. Chủ tịch và Phó chủ tịch Trung tâm có nhiệm
kỳ 4 năm.
Thư ký thường trực của Trung tâm (do Chủ tịch chỉ định).
Các trọng tài viên trong danh sách trọng tài viên của Trung tâm. Các
trọng tài viên cũng có nhiệm kỳ 4 năm và sau đó có thể được bầu lại. Các
trọng tài viên do Uỷ ban thường trực của Phòng TM & CN Việt Nam lựa
chọn,họ là những người có kiến thức và kinh nghiệm trong các lĩnh vực pháp
luật, ngoại thương , đầu tư, tài chính, ngân hàng, vận tải, bảo hiểm... Các
trọng tài viên cũng có nhiệm kỳ 4 năm, và sau đó cũng có thể được bầu lại.
Các trọng tài viên nước ngoài cũng có thể được chọn vào là trọng tài viên của
trung tâm. Hiện nay Trung tâm đã có 30 trọng tài viên và chưa có trọng tài
viên nước ngoài.
2.1.1.3. Các hoạt động của TTTT quốc tế Việt Nam.
TTTT Quốc tế Việt Nam là một tổ chức phi Chính phủ hoạt động với
những nhiệm vụ chính là tiến hành hoà giải các tranh chấp thuộc thẩm quyền
theo quy chế riêng của Trung tâm. Song, TTTT Quốc tế Việt Nam - một tổ
chức tập hợp những chuyên gia hàng đầu về kinh tế và thương mại Quốc tế


43
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 44

của Việt Nam đã không dừng lại ở đây, mà đã tham gia tích cực vào nhiều
hoạt động khác. Mục đích là dần nâng cao được chất lượng xét xử, đóng góp
vào việc cải thiện môi trường pháp luật và hành lang pháp lý của nước ta, hỗ
trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào kinh doanh Quốc tế….
Để thực hiện mục đích đó, TTTT quốc tế Việt Nam đã và đang tham gia vào
những hoạt động sau:
a. Hoạt động góp ý xây dựng chính sách và pháp luật :
TTTT quốc tế Việt Nam với tư cách là tổ chức trọng tài đầu tiên và
trong một thời gian dài là tổ chức trọng tài phi Chính phủ duy nhất ở Việt
Nam đã tham gia tích cực vào hoạt động xây dựng chính sách và pháp luật
kinh tế thông qua hai hình thức là: trực tiếp góp ý trực tiếp và góp ý gián tiếp
thông qua phòng TM & CN Việt Nam, hoặc bằng các hoạt động độc lập của
các trọng tài viên.
Mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa TTTT Quốc tế Việt Nam với các tổ
chức, cơ quan nghiên cứu và hoạch định chính sách, các luật sư trong và
ngoài nước cũng như xuất phát từ hoạt động kinh tế của TTTT quốc tế Việt
Nam đã góp phần không nhỏ vào chất lượng những ý kiến của TTTT quốc tế
Việt Nam đưa ra. TTTT quốc tế Việt Nam có một hồi đồng nghiên cứu khoa
học pháp lý luôn tích cực nghiên cứu nhằm nâng cao kiên thức, chất lượng
các góp ý của Trung tâm.
Trung tâm đã góp ý, kiến nghị về môi trường hoạt động của trọng tài
như nghiên cứu kiến nghị với các cơ quan Nhà nước để Việt Nam tham gia
Công ước New York - 1958, Pháp lệnh công nhận và thi hành quyết định của
trọng tài nước ngoài tại Việt Nam; Nghị định 116/CP của Chính phủ qui định
hoạt động của các TTTT kinh tế; tham gia góp ý vào những dự án luật liên
quan đến hoạt động kinh doanh. Và sắp tới, TTTT quốc tế Việt Nam sẽ tham
gia với tư cách là thành viên của Ban soạn thảo liên ngành pháp lệnh trọng
tài do Hội luật gia Việt Nam chủ trì.
b. Hoạt động hợp tác với các tổ chức trong nước và Quốc tế.
Trung tâm có sự hợp tác chặt chẽ với các Bộ, ngành, các trường đại học
và các Viện nghiên cứu, không chỉ trong hoạt động chuyên ngành mà còn cả
trong hoạt động nghiên cứu khoa học và trao đổi thông tin: đặc biệt với các cơ
quan như Bộ Tư Pháp, Toà án nhân dân tối cao, Hội luật gia Việt Nam,

44
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 45

Trường đại học Tổng hợp Hà Nội (khoa Luật).. Qua đó đã từng bước tạo được
sự kết hợp hoạt động thực tiễn với hoạt động xây dựng chính sách pháp luật.
Hợp tác Quốc tế của TTTT quốc tế Việt Nam đã và đang giúp hoạt
động trọng tài ở Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới. Trung tâm đã ký
ba thoả thuận hợp tác với các tổ chức trọng tài của hợp Hàn Quốc, Singapore,
Verssaile (Pháp) cùng phối hợp với đoàn luật sự Châu á Thái Bình Dương để
tổ chức hội thảo Quốc tế lớn về trọng tài tại thành phố Hồ Chí Minh, tham gia
nhiều hội thảo chuyên ngành của các nước và Quốc tế; nhiều khóa học về
trọng tài trong và ngoài nước.
c. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến thông tin pháp lý:
Các trọng tài viên và các chuyên gia của Trung tâm đã tham gia và làm
diễn giải tại nhiều hội thảo, qua đó cung cấp thông tin cho hàng ngàn đối
tượng khác nhau từ sinh viên, các nhà kinh doanh đến các nhà nghiên cứu về
hoạt động của Trung tâm cũng như các bài học rút ra từ thực tiễn. Một số
chuyên viên, trọng tài viên của Trung tâm còn tham gia viết giáo trình và các
bài giảng cho các doanh nghiệp; viết bài đăng báo cho các tạp chí trong và
ngoài nước, qua đó giới thiệu về sự phát triển của pháp luật Việt Nam, về hoạt
động của Trung tâm, đồng thời chỉ ra những bất cập hiện hành, kiến nghị với
Nhà nước để có những sửa đổi bổ sung. Điều này đã góp phần hạn chế những
sơ xuất trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng, hạn chế những tổn thất
hoặc giúp cho việc giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng.
Khả năng chuyên môn cao của các trọng tài viên, cộng tác viên của các
trung tâm còn được sử dụng vào việc tư vấn pháp lý, giúp cho các doanh
nghiệp trong và ngoài nước thực hiện đúng pháp luật, bảo vệ được quyền lợi
và lợi ích của họ; giúp họ giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm khi phát sinh
tranh chấp.
d. Về hoạt động giải quyết tranh chấp của TTTT Quốc tế Việt Nam:
Vì đây là hoạt động quan trọng nhất của Trung tâm, đó cũng làm nhiệm
vụ cơ bản nhất của TTTT Quốc tế Việt Nam, nên sẽ được đề cập chi tiết hơn
ngay trong phần sau về quy chế, các trọng tài viên, phí trọng tài…. là những
yếu tố cần thiết để trung tâm thực hiện nhiệm vụ này.




45
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 46

2.1.1.4. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng tài
quốc tế Việt Nam .
Điều 3, Điều lệ của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam quy định
thẩm quyền của trung tâm là giải quyết bất kỳ tranh chấp nào khi:
* Một trong các bên tranh chấp là thể nhất hoặc pháp nhân nước ngoài
hoặc tất cả các bên là thể nhân hoặc pháp nhân nước ngoài và:
* Khi trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh các bên thoả thuận đưa
tranh chấp ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, hoặc khi theo một Hiệp
định quốc tế họ có nghĩa vụ phải làm như vậy.
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam không chỉ giải quyết các tranh
chấp về hợp đồng ngoại thương và hàng hải thương mại quốc tê như Hội đồng
trọng tài hàng hải và Hội đồng trọng tài ngoại thương trước đây, mà còn các
tranh chấp pháp sinh từ các hợp đồng về đầu tư, du lịch, vận tải quốc tế, bảo
hiểm, chuyển giao công nghệ, tín dụng và thanh toán quốc tế.
Trong quá trình hoạt động đã phát sinh nhu cầu của các doanh nghiệp
trong nước muốn đưa tranh chấp từ các hợp đồng nội ra yêu cầu Trung tâm
trọng tài quốc tế Việt Nam giải quyết. Để đáp ứng nhu cầu đó, Thủ tướng
Chính phủ ra Quyết định số 114/TTg ngày 16/02/1996 cho phép mở rộng
thẩm quyền giải quyết của Trung tâm giải quyết các tranh chấp phát sinh từ
các quan hệ kinh doanh trong nước.
Trên đây là những cơ sở pháp lý để Trung tâm xây dựng quy tắc tố tụng
trọng tài trong nước và quy tắc tố tụng trọng tài quốc tế. Nhìn chung, hai bộ
quy tắc này là tương tự nhau, chỉ khác nhau ở một vài điểm do tính đặc thù
của các quan hệ quốc tế.
Là một nhà kinh doanh khi đưa tranh chấp ra giải quyết ở một Trung
tâm trọng tài nào đó, nhất thiết phải quan tâm, tìm hiểu về quy tắc giải quyết
tranh chấp của Trung tâm đó. Nguyên tắc thoả thuận trong giải quyết tranh chấp
thông qua thủ tục trọng tài đảm bảo cho các bên quyền tự do lựa chọn Trung tâm
trọng tài cũng như thủ tục giải quyết tranh chấp.
2.1.2. Quy chế giải quyết tranh chấp ở Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam

46
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 47

2.1.2.1. Đơn yêu cầu trọng tài
Theo Điều 4 của quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế
Việt Nam, thủ tục tố tụng trọng tài bắt đầu bằng một đơn kiện do nguyên đơn
nộp cho Trung tâm. đơn phải bao hàm các nội dung dưới đây:
a. Họ tên và địa chỉ của nguyên đơn và bị đơn.
b. Các yêu cầu của nguyên đơn, có trình bày sự việc kèm theo bằng chứng.
c. Những căn cứ pháp lý mà nguyên đơn dựa vào đó để đi kiện.
d. Trị giá vụ kiện.
e. Trọng tài viên mà nguyên đơn chọn trong danh sách trọng tài viên của
Trung tâm hoặc đề nghị của nguyên đơn với Chủ tịch Trung tâm chỉ định
trọng tài viên cho mình.
Đơn kiện và các giấy tờ kèm theo phải nộp bải chính và một số bản sao
đủ để gửi cho các trọng tài viên và cho bị đơn, mỗi người một bản. Đơn kiện
trong một vụ tranh chấp quốc tế bằng tiếng nước ngoài thì viết bằng một thứ
tiếng nước ngoài thì viết bằng một thứ tiếng được sử dụng rộng rãi trong giao
dịch quốc tế như tiếng Anh, Pháp, Nga.
Khi gửi đơn kiện nguyên đơn phải ứng trước toàn bộ dự phí trọng tài
tính theo biểu phí trọng tài, phí tổn trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế
Việt Nam.
Khi nguyên đơn đã nộp dự phí, vụ kiện sẽ được đưa ra giải quyết.
2.1.2.2. Bản tự bào chữa của bị đơn.
Sau khi nhận được đơn yêu cầu trọng tài, thư ký của Trung tâm phải
thông báo cho bị đơn và gửi cho bị đơn bản sao đơnkiện và các tài liệu kèm
theo cùng với bản quy tắc tố tụng, biểu phí trọng tài và danh sách trọng tài
viên của Trung tâm. Đồng thời, bị đơn được yêu cầu gửi cho Trung tâm bản
tự bào chữa của mình kèm theo các bằng chứng trong vòng 45 ngày đối với
tranh chấp trong nước và 60 ngày đối với tranh chấp quốc tế kể từ ngày nhận
được bản sao đơn kiện của nguyên đơn.



47
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 48

2.1.2.3. Lựa chọn và chỉ định của trọng tài viên.
Khi tranh chấp đưa ra Trung tâm, tranh chấp có thể do một trọng tài
viên duy nhất hoặc một hội đồng gồm ba trọng tài viên giải quyết tuỳ theo
thoả thuận của các bên.
Trường hợp tranh chấp do một trọng tài viên giải quyết, thì các bên có
thể cùng nhau chọn trọng tài viên duy nhất đó. Nếu không nhất trí được với
nhau thì các bên tranh chấp có thể yêu cầu Chủ tịch Trung tâm chỉ định một
trọng tài viên trong danh sách trọng tài viên của Trung tâm.
Trường hợp tranh chấp do một Hội đòng trọng tài gồm ba trọng tài viên
giải quyết, mỗi bên tranh chấp có quyền chọn hoặc yêu cầu Chủ tịch Trung
tâm chỉ định cho minh một trọng tài viên trong danh sách các trọng tài viên
của Trung tâm. Khi vụ kiện có nhiều nguyên đơn hoặc bị đơn, các nguyên
đơn hay các bị đơn này phải thoả thuận với nhau và thống nhất chọn một
trọng tài viên trong danh sách trọng tài viên của Trung tâm hoặc yêu cầu Chủ
tịch trung tâm chon trọng tài viên cho họ. Hai trọng tài viên đã được bên
nguyên và bên bị chỉ định sẽ chọn một trọng tài viên thứ ba làm Chủ tịch hội
đồng trọng tài giải quyết vụ kiện. Nếu hai trọng tài viên đã được chọn không
nhất trí với nhau về việc chọn trọng tài viên thứ ba thì Chủ tịch Trung tâm sẽ
chỉ định trọng tài viên thứ ba đó trong bản danh sách trọng tài viên của Trung
tâm. Điều tương tự cũng được áp dụng đối với trường hợp khi một bên hoặc
các bên không chọn được cho mình một trọng tài viên, thì Chủ tịch Trung tâm
cũng sẽ chỉ định trọng tài viên đó theo yêu cầu của một bên hoặc các bên.
Theo Điều 11, quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt
Nam, mỗi bên tranh chấp tham gia trọng tài có quyền yêu cầu thay đổi trọng
tài viên hoặc Chủ tịch Hội đồng trọng tài nếu xét thấy có sự nghi ngờ về việc
thiên vị, nhất là khi trọng tài viên đó có thể trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan
đến tranh chấp. Mỗi bên tranh chấp tham gia trọng tài chỉ có quyền khước từ t
rọng tài viên do chính mình chỉ định trên cơ sở có những lý do biết được sau
khi chỉ định. Tuy nhiên, hiện nay có một vài quan điểm có xu hướng để cho các

48
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 49

bên có khả năng có quyền khước từ không chỉ chính trọng tài viên do bên đó
chỉ định mà có thể bất kỳ trọng tài viên nào. Chủ tịch Uỷ ban trọng tài hoặc
trọng tài viên duy nhất cũng có quyền tự khước từ với những lý do trên. Việc
khước từ này sẽ do những trọng tài viên khác trong Uỷ ban trọng tài xem xét và
quyết định. Trường hợp, các trọng tài viên không nhất trí với nhau hoặc trọng
tài viên duy nhất bị khước từ thì Chủ tịch Trung tâm sẽ xem xét và quyết định.
Trường hợp việc khước từ được công nhận, trọng tài viên, Chủ tịch Uỷ
ban trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất mới sẽ được chỉ định lại theo thủ
tục giống như việc chỉ định lần trước.
Nếu trong quá trình trọng tài, Chủ tịch Uỷ ban trọng tài, trọng tài viên
hoặc trọng tài viên duy nhất vì lý do nào đó mà không thể tiếp tục tham gia
trọng tài thì Chủ tịch Uỷ ban trọng tài, trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy
nhất mới thay thế sẽ hoặc do các bên lựa chọn hoặc do Chủ tịch Trung tâm
chỉ định theo thủ tục quy định tại Điều 12. Đó là các trường hợp khi các trọng
tài viên không có đủ khả năng thực hiện chức năng của mình hoặc vì các lý do
khác mà không thể làm trọng tài viên được. Trong trường hợp đó, Uỷ ban
trọng tài mới sau khi đã tham khảo ý kiến các bên, có thể tiến hành xem xét
lại các vấn đề đã được đặt ra trong các phiên họp giải quyết trước đây.
2.1.2.4. Đơn kiện ngược.
Điều 13 quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam quy
định rằng trong thời hạn không quá 60 ngày kể từ ngày nhận được bản sao
đơn kiện đối với tranh chấp trong nước và trước khi Uỷ ban trọng tài họp
phiên xét xử đầu tiên đối với tranh chấp quốc tế bị đơn có thể kiện lại. Đơn
kiện lại phải theo thể thức quy định của quy tắc tố tụng của Trung tâm. Trong
vòng 30 ngày đối với tranh chấp trong nước và 60 ngày đối với tranh chấp
nước ngoài kể từ ngày nhận được bản sao đơn kiện lại, bị đơn hay nguyên
đơn của vụ kiện chính phải giử văn bản cho biết ý kiến của mình cho Uỷ ban
trọng tài. Vụ kiện lại sẽ được xét xử cùng với vụ kiện chính và do cùng Uỷ
ban trọng tài giải quyết.

49
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 50

2.1.2.5. Điều tra trước khi tiến hành trọng tài.
Trước hết cần phải lưu ý rằng Việt Nam chịu ảnh hưởng của truyền
thống của hệ thống pháp luật dân sự "nặng" về công tác điều tra, theo đó thẩm
phán cũng như trọng tài viên đóng vai trò chủ động trong quá trình xét xử,
nhất là trong quá trình điều tra và thu thập chứng cứ.
Theo Điều 13 của quy tắc trọng tài của Trung tâm sau khi đã được chọn
hoặc chỉ định một cách hợp pháp trọng tài viên tiến hành nghiên cứu hồ sơ và
công tác điều tra bằng mọi biện pháp thích hợp. Trọng tài viên có thể trực tiếp
gặp các bên tham gia trọng tài để nghe trình bày ý kiến, dù là thể theo yêu cầu
của một hoặc các bên hoặc theo ý kiến của mình. Tiếp đó trọng tài viên có
quyền gặp những người khác để tìm hiểu sự việc trước mặt các bên đương sự
hoặc sau khi đã thông báo cho các bên biết. Ngoài ra, trọng tài viên có quyền
mời một hoặc một số giám định viên giúp để làm sáng tổ vụ việc. Khi xét
thấy cần thiết, trọng tài viên cũng có thể tiến hành các biện pháp như yêu cầu
các bên cung cấp thêm chứng cú bổ sung, các văn bản tài liệu có liên quan
(Điều 15, Điều 16 quy tắc giải quyết tranh chấp trong nước) . Sau khi mọi
biện pháp chuẩn bị liên quan đến việc trọng tài đựoc cọi là đã xong, trọng tài
viên duy nhất hoặc Uỷ ban trọng tài sẽ quyết định trong nước thời hạn tiến
hành trọng tài (Điều 17).

2.1.2.6. Phiên họp trọng tài.
Chủ tịch Uỷ ban trọng tài quyết định ngày tiến hành trọng tài. Phiên họp
xét xử sẽ được tổ chức ở Hà Nội hoặc ở thành phố Hồ Chí Minh hoặc ở một
địa điểm khác thể theo yêu cầu của các bên (Điều 18). Hiện nay, Trung tâm
trọng tài quốc tế Việt Nam có văn phòng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh. Văn phòng tại Hà Nội có quyền quyết định liệu tranh chấp sẽ được giải
quyết ở Hà Nội hay ở một địa điểm khác. Trên thực tế, hầu hết các tranh chấp
được giải quyết ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.




50
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 51

Các bên tranh chấp sẽ được triệu tập đến phiên họp ít nhất là 15 đối vơi
tranh chấp trong nước và 30 ngày đối với tranh chấp quốc tế ngày trước ngày
mở phiên họp giải quyết. Các bên có thể trực tiếp tham gia vào quá trình trong
tài hoặc có thể uỷ quyền cho người đại diện để bảo vệ quyền lợi cho người đại
diện bảo vệ quyền lợi cho mình. Người đại diện có thể có thể là người Việt
Nam hoặc người nước ngoài. Trường hợp, một bên hoặc các bên vắng mặt mà
không có lý do chính đáng, thì Uỷ ban trong tài hoặc Trọng tài viên duy nhất
có thể mở phiên họp giải quyết trên cơ sở những tài liệu và chứng cứ đã có.
Theo yêu cầu hoặc được sự nhất trí của các bên, trọng tài viên duy nhất hoặc
Uỷ ban trọng tài cũng có thể quyết định vụ việc mà không cần sự có mặt của
các bên (Điều 19, Điều 20).
Trọng tài viên duy nhất hoặc Uỷ ban trọng tài giải quyết tranh chấp trên
cơ sơ các điều khoản của hợp đồng nếu vụ việc phát sinh từ quan hệ hợp đồng
vào luật áp dụng trong tranh chấp là luật Việt Nam nếu là tranh chấp trong
nước và luật do các bên thoả thuận nếu là tranh chấp quốc tế vào các điều ước
quốc tế có liên quan và có tính đến tập quán thương mại và thông lệ quốc tế
(Điều 23).
Các bên tranh chấp cũng có thể thoả thuận việc lựa chọn luật áp dụng để
giải quyết tranh chấp quốc tế. Nếu tranh chấp xuất phát từ hợp đồng thì theo
yêu cầu của quy tắc của Trung tâm trọng tài viên duy nhất hoặc Uỷ ban trọng
tài phải giải quyết tranh chấp theo luật áp dụng vào hợp đồng đã được ký kết
và với bất kỳ Hiệp định quốc tế nào có liên quán có tính đến tập quán thương
mại và thông lệ quốc tế.
Trừ khi các bên có thoả thuận khác, còn thì tất cả các tranh chấp sẽ
được giải quyết kín đáo bảo đảm bí mật cho các bên đương sự. Tiếng Việt là
ngôn ngữ chính thức được dùng trong quá trình trọng tài. Các bên có thể yêu
cầu Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam mời phiên dịch nhưng phải trả chi
phí phiên dịch (Điều 22).



51
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 52

2.1.2.7. Quyết định trọng tài.
Thủ tục trọng tài kết thúc bằng việc ra một quyết định gọi là quyết định
hay phán quyết của trọng tài viên duy nhất hoặc của Uỷ ban trọng tài (sau đây
gọi chung là trọng tài viên). Trọng tài viên có thể ra quyết định bổ sung nếu
thấy rằng một số điểm của quyết định bổ sung nếu thấy rằng một số điểm của
quyết định chính chưa rõ hoặc chưa được giải quyết. Quyết định trọng tài
hoặc quyết định bổ sung được đưa ra theo nguyên tắc đa số. Nếu không đạt
được đa số, Chủ tịch Uỷ ban trọng tài sẽ quyết định với tư cách là trọng tài
viên duy nhất. Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
không quy định thời hạn để cho trọng tài viên ra quyết định giải quyết.
Nội dung của quyết định trọng tài bao gồm các vấn đề sau:
- TênTrung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
- Địa điểm và ngày ra quyết định
- Họ và tên trọng tài viên
- Tóm tắt nội dung tranh chấp
- Quyết định về việc giải quyết tranh chấp và phí trọng tài cũng như các
chi phí khác có liên quan.
- Lý do của quyết định
- Chữ ký của tất cả trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp và của
thư ký phiên họp.
Nếu một trọng tài viên không có điều kiện ký vào biên bản Chủ tịch Uỷ
ban trọng tài sẽ xác nhận việc này bằng cách ký vào quyết định và nêu rõ
nguyên nhân (Điều 28).
Quyết định trọng tài phải được gửi cho các bên trong vòng 30 ngày kể
từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng. Trong trường hợp ngoại lệ, thời gian đó
có thể kéo dài hơn.
Quyết định trọng tài là cuối cùng và không thể kháng cáo trước bất kỳ
toà án hoặc tổ chức nào. Các bên đương sự phải tự nguyện thi hành quyết
định trọng tài trong phạm vi một thời hạn được xác định ở trong quyết định

52
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 53

trọng tài. Nếu trong vòng thời hạn đó, quyết định trọng tài không được tự
nguyện thi hành thì sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế theo luật pháp của nước
nơi được yêu cầu thi hành quyết định và theo Hiệp định quốc tế áp dụng đối
với vụ kiện (Điều 31 quy tắc tố tụng trong quốc tế,và Điều 31 quy tắc tố tụng
trong nước).
Trong qúa trình trọng tài, trọng tài viên duy nhất hoặc Uỷ ban trọng tài
có thể kết thúc thủ tục trọng tài.
- Khi nguyên đơn rút đơn kịên
- Khi các bên đạt được thoả thuận hoà giải thông qua thương lượng trực tiếp
- Khi thiếu những điều kiện cần thiết để xem xét và giải quyết vụ kiện,
kể cả trường hợp nguyên đơn không làm gì để cho vụ kiện tiến triển trong
thời hạn 6 tháng.
Cũng giống như thủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế trong
nước, quy tắc của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có quy định về hoà
giải là một trong những biện pháp giải quyết tranh chấp đã trở thành truyền
thống ở Việt Nam. Theo Điều 31, trong qúa trình trọng tài của Trung tâm nếu
các bên đạt được thoả thuận bằng thương lượng trực tiếp, thì Uỷ ban trọng tài
sẽ ngưng việc trọng tài. Thể theo yêu cầu của các bên. Chủ tịch Trung tâm
công nhận sự thoả thuận bằng văn bản. Văn bản này có hiệu lực thi hành
giống như quyết định trọng tài.
Lệ phí trọng tài và các chi phí khác phải giải được các bên thanh toán
ngay sau khi nhận được quyết định trọng tài. Các chi phí này gồm phí trọng
tài, phí tổn của Trung tâm và chi phí của các bên sẽ được tính trên cơ sở biểu
phí của Trung tâm.
Phí trọng tài để trang trải chi phí hành chính và nghiệp vụ của Trung
tâm. Phí tổn của Trung tâm bao gồm chi phí liên quan đến việc trọng tài như
thù lao cho giám định viên, nhân chứng, chi phí ăn ở, đi lại của trọng tài viên
và nhân viên của Trung tâm...



53
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 54

Chi phí của các bên chỉ hạn chế trong các chi phí để các bên bảo vệ
quyền lợi của họ trước Trung tâm như chi phí đi lại, tiền thuê luật sư, phiên
dịch...
Các chi phí trên sẽ do bên thua kiện trả nếu các bên không có thoả thuận
gì khác.

2.2. THỰC TRẠNG TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP THƯƠNG MẠI Ở TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ VIỆT NAM.


2.2.1. Các yếu tố chi phối đến tranh chấp và giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài ở Việt Nam.
Tranh chấp là một tất yếu trong nền kinh tế và giải quyết tranh chấp
trong nền kinh tế là hoạt động có ảnh hưởng đến sự phát triển của các quan hệ
kinh tế, đến sự ổn định của nền kinh tế. Ngược lại, chính các cơ chế của nền
kinh tế, các chính sách của Nhà nước cũng sẽ tác động mạnh mẽ nên việc phát
sinh tranh chấp, cũng như cách thức giải quyết tranh chấp. Chính vì vậy,
không thể không quan tâm đến những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội trong
và ngoài nước ảnh hưởng đến tình hình tranh chấp và giải quyết tranh chấp.
Nền kinh tế thế giới hiện nay đang là một nền kinh tế mở, hình thành
nhiều khu vực kinh tế nhiều trục kinh tế, với lượng giao dịch khổng lồ. Các tổ
chức kinh tế và thương mại gồm nhiều quốc gia thành viên tham gia ICC,
APEC, OPEC, WTO... tạo nên một thị trường toàn cầu trong đó các chủ thể
kinh doanh đa dạng hơn bao giờ hết. Toàn cầu hoá hội nhập vào nền kinh tế
thế giới đang là xu hướng phát triển hiện nay, kéo theo đó là việc thống nhất
tạo ra những quy tắc chung, quy định chung điều chỉnh các quan hệ kinh tế.
Châu Á - Thái Bình Dương trong đó có các nước Đông Nam Á được coi
là khu vực kinh tế năng động nhất, có sức tăng trưởng cao. Các quan hệ kinh
tế với các quốc gia trong khu vực này, và giữa khu vực này với các khu vực
khác sẽ phát triển rất mạnh.



54
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 55

Việt Nam đã và đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thừa nhận
và đảm bảo quyền tự do kinh doanh; thực hiện chính sách mở cửa, sẽ là một
bộ phận không tách rời của nền kinh tế khu vực và quốc tế. Trong cơ chế thị
trường có một lượng lớn doanh nghiệp giao dịch thương mại dựa trên lợi ích
kinh tế, lợi nhuận là thước đo là sự sống của doanh nghiệp thì bất đồng và
tranh chấp cũng có bản chất khác so với trong cơ chế cũ đặc biệt là số lượng
tranh chấp sẽ tăng một cách đáng kể. Các chủ thể tranh chấp thuộc tất cả các
thành phần kinh tế không chỉ ở trong nước mà còn ở nước ngoài, các tranh
chấp không đơn lẻ mà liên quan đến nhiều bên, nhiều mối quan hệ khác...
Quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm cả quyền lựa chọn
hình thức giải quyết tranh chấp. Xuất phát từ lợi ích của chính doanh nghiệp,
toà án không còn là nơi thu hút các bên giải quyết tranh chấp, mà các doanh
nghiệp thường sử dụng các hình thức như hoà giải hay trọng tài. Cơ chế thị
trường đã làm nảy sinh các tranh chấp, nhưng chính nó cũng đặt ra yêu cầu về
những hình thức giải quyết tranh chấp mềm dẻo linh động, đảm bảo lợi ích
của các bên.
Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa, và có một hệ thống pháp luật
xã hội chủ nghĩa. Nó khác nhiều so với hệ thống pháp luật án lệ (common
law) hay dân sự truyền thống (civil law); và nó cũng khác so với các nước xã
hội chủ nghĩa trước đây. Quá trình toàn cầu hoá đòi hỏi hệ thống pháp luật
này không những phải phù hợp với đặc điểm chính trị trong nước mà việc
hoàn thiện phải tính đến sự tương thích ở một mức độ nào đó với các hệ thống
luật pháp khác; trong đó có các chế định về tranh chấp. Hệ thống pháp luật ở
Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và bổ sung còn nhiều bất cập
chồng chéo ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh nói chung đến
tranh chấp và giải quyết tranh chấp nói riêng. Chẳng hạn, trên thế giới hình
thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đã rất phát triển, đặc biệt là ở các nước
Phương Tây, chính vì thế trong xu hướn hội nhập Việt Nam cần điều chỉnh trọng
tài theo xu hướn chung của trọng tài quốc tế quá trình thành lập, quy tắc tố tụng,

55
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 56

luật điều chỉnh cần được dựa trên sự tham khảo kinh nghiệm của các nước đi
trước.
Là một nước Châu Á Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng
của khổng giáo đề cao quyền lực tuyệt đối của nhà vua đối với toàn xã hội, sự
thống trị của quyền lợi cộng đồng đối với quyền lợi cá nhân... tạo nên sự lãnh
đạm đối với việc giải quyết tranh chấp bằng con đường tranh tụng. Biện pháp
thông thường hơn cả mà các thương gia chấp nhận là tích cực thương lượng
hoặc hoà giải qua trung gian. Mặt khác trình độ dân trí ở nước ta chưa cao, sự
hiểu biết pháp luật còn chưa thấu đáo, thói quan liêu cửa quyền của thời kỳ
bao cấp cũng như trong một số ít cán bộ hiện nay... phần nào khiến cho các
doanh nghiệp có tâm lý e ngại khi tham gia vào thủ thục kiện cáo nói chung
và kiện trước trọng tài nói riêng.
Tóm lại, cơ chế thị trường mở đã và đang tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh tăng lợi nhuận. Song cũng chính sự
phức tạp trong quan hệ kinh tế, cũng như mặt trái của việc chạy theo lợi
nhuận đã làm tranh chấp phát sinh ngày càng phức tạp, giá trị tranh chấp ...
làm thiệt hại đến hoạt động sản xuất kinh doanh không những của doanh
nghiệp mà còn của các doanh nghiệp khác, của công chúng, của quốc gia.
Điều đó đặt ra vấn dề phải làm sao để hạn chế tranh chấp xảy ra, cũng như
làm sao để giải quyết tranh chấp thật hiệu quả, phù hợp với đặc điểm, tập
quán kinh doanh trong nước và quốc tế. Để làm được điều đó các biện pháp
đề ra phải dựa trên thực tiễn tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong thời
gian qua. Phần tiếp theo người viết xin đề cầp đến những tranh chấp và hoạt
động giải quyết tranh chấp ở Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam một địa
điểm tập trung để giải quyết tranh chấp đặc biệt là tranh chấp thương mại
quốc tế ở Việt Nam.




56
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 57

2.2.2. Các tranh chấp thương mại kiện tới trung tâm trọng tài quốc tế
Việt Nam
2.2.2.1. TTTT quốc tế Việt Nam là tổ chức trọng tài được biết đến nhiều
nhất ở nước ta.
Tại Việt Nam, trọng tài phi chính phủ đã có lịch sử gần 40 năm (1963-
2001), song do nhiều nguyên nhân, trọng tài phi chính phủi vẫn chưa phát
triển rộng rãi. Cả nước hiện có 6 trung tâm trọng tìa, nhưng số vụ tập trung
chủ yếu ở TTTT quốc tế Việt Nam, và có đến 90% số vụ là những tranh chấp
quốc tế. Điều này chứng tỏ, trọng tài vẫn còn rất mới mẻ đối với các doanh
nghiệp Việt Nam. Đồng thời cũng cho thấy Trung tâm trọng tài quốc tế Việt
Nam là tổ chức trọng tài được tín nhiệm hơn cả.
Bảng 1: Số vụ tranh chấp kiện ra các TTTT của Việt Nam
(Tính đến hết năm 2000)

Năm Số Số vụ giải quyết Tỷ lệ thành
Tên trung tâm
thành lập vụ thành công công (%)
1.TTTT quốc tế Việt Nam 1993 134 117 87.3
2.TTTT kinh tế Hà Nội 1997 11 9 81.8
3.TTTT kinh tế Bắc Giang 1997 2 0 0
4.TTTT kinh tế Sài Gòn 1997 4 2 50
5.TTTT kinh tế Cần Thơ 1999 15 13 86.7
(Nguồn: báo cáo tình hình hoạt động của các TTTT- Bộ Tư pháp)

Rõ ràng, đối với số vụ tranh chấp kiện ra trọng tài như trên, thật khó có
thể thu được một cái nhìn tổng thể về tranh chấp thương mại ở Việt Nam.Số
vụ tranh chấp kiện ra TTTT quốc tế Việt Nam vượt trội hơn hẳn so với các
trung tâm trọng taìa quốc tế khác vì nhiều lí do. Trước hết đó là vì vị trí đoọc
quyền của TTTT quốc tế Việt Nam trong việc giải quyết các tranh chấp có
yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Thứ hai, hiện nay trong các văn bản pháp
luật ở nước ta , chỉ có qui tắc tố tụng của TTTT quốc tế Việt Nam là ghi rõ
“quyết định của trọng tài là chung thẩm”. Cuối cùng phải kể đến ưu thế của
TTTT quốc tế về đội ngũ trọng tài viên giỏi, qui tắc tố tụng linh hoạt, và sự hỗ
trợ về tài chinh của phòng TM & CN Việt Nam.

57
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 58

Qua 8 năm hoạt động, số vụ kiện và tổng giá trị của từng năm được
thống kê như sau:
Bảng 2: Tranh chấp kiện đến TTTT quốc tế Việt Nam

Năm Tổng Tổng tr ị Trị giá trung Số vụ tranh Tổng trị Trị giá trung
số vụ giá bình (US D) chấp quốc tế giá (US D) bình (USD)
(USD)
199 3 6 4 79000 79800 6 479000 79800
199 4 14 1250000 89300 14 1250000 89300
199 5 17 3250000 191 200 17 3250000 191200
199 6 25 3894000 155 800 25 3894000 155800
199 7 24 7530000 313 800 23 7465000 324600
199 8 18 2099000 116 600 16 2040000 127500
199 9 20 3870000 193 500 17 3329000 195800
200 0 21 2639000 85200 19 2538000 133600

Tổng 145 25011000 153 150 137 24245000 162200
Nguồn: (Sổ theo dõi các vụ kiện của TTTT quốc tế Việt Nam)

Đối với Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam số vụ trung bình mỗi năm
là 21 vụ và giá trị tranh chấp được chia làm 4 mức như trên. Theo đó các vụ
có giá trị tranh chấp được chia nhỏ, vừa, lớn và rất lớn.
Nhìn vào bảng trên ta thấy nhóm tranh chấp có giá trị nhỏ dưới 10.000
USD (tương đương với khoảng 100 triệu đồng Việt Nam) chiếm một lượng
rất nhỏ, trung bình mỗi năm chỉ từ 1-2 vụ, chiếm 7,6%.
Nhóm có số vụ tranh chấp tập trung nhiều nhất là nhóm vừa (10.000
USD - 100.000 USD) với số vụ trung bình hàng năm là 10 vụ, chiếm 50%
tổng số vụ đưa ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam mỗi năm. Giá trị
trung bình của tranh chấp này là 393.400 USD/năm và 38.600 USD/ vụ.
Thứ ba, là nhóm có giá trị tranh chấp rất lớn - trên 200.000 USD với
trung bình 5vụ/năm - chiếm 24,4% giá trị trung bình của tranh chấp này là




58
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 59

2.953.900 USD/năm và 590.780 USD/vụ. Tuy nhiên, mức độ đồng đều trong
nhóm này không cao, có những vụ tranh chấp lên tới 2 triệu USD, song cũng có
những vụ chỉ 200.000 USD có xu hướng ngày càng cao.
Cuối cùng là nhóm lớn (100.000 USD đến 200.000 USD) với trung bình
4,8 vụ/năm chiếm 28% giá trị trung bình 134.900 USD/vụ và mỗi năm tổng
giá trị là 690.800 USD.
Nhìn vào số liệu giá trị trung bình của các vụ tranh chấp qua 5 năm ở
hai nhóm chiếm tỷ lệ cao trong tổng số vụ án (nhóm vừa và nhóm rất lớn) ta
thấy chúng có xu hướng tăng lên, đặc biệt là ở nhóm rất lớn: từ 349.500 USD/
vụ năm 1996 đến 408.300; 527.300; 560.900 USD tương ứng với các năm
1998, 1999, 2000. Điều này càng chứng tỏ các tranh chấp thương mại kiện ra
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có giá trị tăng dần lên trong thời gian
qua. Nó phản ánh và phù hợp với một thực tế là hoạt động thương mại quốc tế
của nước ta trong giai đoạn này rất phát triển, trị giá các thương vụ tăng lên
kéo theo trị giá tranh chấp cũng tăng nhanh. Mật độ tranh chấp tập trung vào
những vụ có giá trị vừa từ 10.000 đến 100.000 USD. Đối với nước ta, doanh
nghiệp vừa và nhỏ vẫn chiếm một lượng rất lớn trong cơ cấu doanh nghiệp
của nền kinh tế, các thương vụ vì vậy cũng chỉ ở quy mô vừa. Mặt khác, ở
nước ta, các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng dễ dàng tìm được một
nguồn tín dụng lớn để đầu tư vào các thương vụ. Chẳng hạn, một hợp đồng trị
giá 100.000 USD, đã là 1,4 tỷ VND thì cơ chế tín dụng ở nước ta chưa đủ độ
linh hoạt, mềm dẻo để đáp ứng một nhu cầu cục bộ và lớn như vậy. Cuối
cùng, nguyên tắc đa dạng hoá để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh khiến
các doanh nghiệp ưa chuộng các thương vụ trung bình để có thể thu được một
khoản lợi khá và nếu có và rủi ro cũng không phải là "tay trắng".
2.2.2.2. Các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp của các vụ việc kiện ra
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.
Thống kê các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là một công việc không
đơn giản, lý do chính là trong kinh doanh tranh chấp xảy ra do rất nhiều
nguyên nhân, hơn nữa, trong giai đoạn quan hệ thương mại phức tạp như hiện


59
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 60

nay thì thật khó khăn để tìm ra nguyên nhân gốc, nguyên nhân cơ bản của
tranh chấp. Sau đây ta sẽ xem xét một số nguyên nhân chính dẫn đến tranh
chấp theo nghĩa vụ bên bán và bên mua qua 3 năm 1998,1999 và 2000.
Bảng 4: Một số nguyên nhân tranh chấp
1998 1999 2000
Nguyên nhân tranh chấp
Số vụ Tỷ lệ % Số vụ Tỷ lệ % Số vụ Tỷ lệ %
1. Do người bán không
thực hiện đúng nghĩa 8 44,4 10 50,0 9 42,9
vụ giao hàng
2. Do người mua không
thực hiện đúng nghĩa 5 27,8 6 30% 7 33,9
vụ thanh toán
3. Người mua không nhận hàng 1 5,6 1 5% 1 4,8
4. Do sai sót trong bộ
0 0 1 5 1 4,8
chứng từ
5. Nguyên nhân khác 4 22,2 2 10 3 14,3
20 100 20 21 100
(Nguồn: sổ theo dõi các vụ án của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam)
Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp chủ yếu liên quan đến nghĩa vụ giao
hàng của bên bán, chiếm khoảng 45% số vụ. Bên bán thường giao hàng
không đủ phẩm chất, không đúng quy cách chủng loại, không thực hiện dịch
vụ sau bán; không giao hàng hoặc chậm giao hàng. Nguyên nhân chính thứ
hai liên quan đến nghĩa vụ chính của người mua; nghĩa vụ thanh toán tiền
hàng, với khoảng từ 28% đến 33% tổng số vụ việc. Người mua có thể trả
thiếu tiền trì hoãn việc trả tiền, không trả tiền hàng. Các nguyên nhân khác
gồm có các bên không thanh toán tiền phạt vi phạm hợp đồng, không thực
hiện nghĩa vụ thuê tàu, không cung cấp dịch vụ như đã cam kết...
2.2.2.3. Đương sự trong tranh chấp.
Có một thực tế đáng lưu ý, đó là tỷ lệ bên Việt Nam là nguyên đơn
trong các vụ kiện Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam chiếm khá cao: Từ
60%; 63%; 50%; 71% và 53% tương ứng với các năm 1996, 1997 ... 2000.


60
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 61

Điều này phải chăng đã phản ánh rằng các doanh nghiệp Việt Nam đã không
tìm hiểu kỹ đối tác khi ký kết hợp đồng, hoặc hợp đồng soạn thảo không chặt
chẽ tạo kẽ hở cho bên kia từ chối thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết.
Các bên tranh chấp còn lại gồm một số nước chính lần lượt là Hàn
Quốc, Hông kông, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Trung Quốc, Malaixia,
Đài Loan, Anh, Áo, Pháp, Thuỵ Điển, Canada, Bahama, Mỹ, Ukraina,
Liechtenstein...
2.2.3. Thực trạng giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài quốc tế
Việt Nam.
Trên đây vừa đề cập đến các tranh chấp kiện ra Trung tâm trọng tài
quốc tế Việt Nam trong vài năm gần đây nhưng không phải toàn bộ số vụ việc
trên đều giải quyết. Lý do có thể là do bên nguyên đơn tự nguyện rút đơn
kiện, do hai bên hoà giải được trước khi Uỷ ban trọng tài được thành lập hay
đơn giản vì họ đã không nộp phí trọng tài.
Tình hình giải quyết tranh chấp ở Trung tâm được phản ánh qua bảng sau:
Bảng 5: Số lượng vụ việc được giải quyết ở Trung tâm trọng tài
quốc tế Việt Nam
Khổng đủ điều
Xét xử ra phán
Tổng Hoà giải Rút đơn kiện kiện thụ lý hồ
Năm quyết
số vụ sơ
Lượng Tỷ lệ % Lượng Tỷ lệ % Lượng Tỷ lệ % Lượng Tỷ lệ %
1996 15 17 68,0 4 16,0 2 8 2 8
1997 24 16 66,7 1 4,2 4 16 3 12,5
1998 18 11 61,1 1 5,6 1 5,6 5 27,8
1999 20 11 55,0 2 10 3 15,0 4 20
2000 21 14 66,7 3 14,3 1 4,8 3 14,3
 108 69 63,9 11 10,2 11 10,2 17 15,7
(Nguồn: sổ theo dõi các vụ kiện của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam)
Theo báo cáo của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, hiện nay số vụ
kiện đến Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam nhưng không đủ điều kiện thụ
lý hồ sơ còn khá nhiều. Tỷ lệ trung bình của số vụ loại này là 15,7% trong

61
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 62

giai đoạn 1996 - 2000. Năm thấp nhất như năm 1996, tỷ lệ này là 8%, trong
khi năm cao lên tới 27,8% không đủ điều kiện thụ lý hồ sơ là vị đương sự
không nộp đủ phí hoặc thoả thuận trọng tài không hợp lệ vì thiếu sự thống
nhất thoả thuận của các bên.
Do đó, số vụ giải quyết trình gồm cả tổ chức xét xử và hoà giải trước
xét xử - trung bình chỉ đạt 74,1% (xét xử ra phán quyết 63,9%/năm và hoà
giải: 10,2%/năm). Việc tranh chấp không được giải quyết do nguyên đơn
không ứng trước dư phí là điều trung bình hoàn toàn có thể tự động khắc phục
được nhằm tăng hiệu qủa kinh tế xã hội của hoạt động giải quyết tranh chấp.
Tỷ lệ hoà giải trước xét xử đạt 10,2% - là tỷ lệ cao đáng khích lệ của
Trung tâm - điều đó thể hiện Trung tâm luôn coi trọng lợi ích kinh tế của
đương sự - để nâng cao uy tín của Trung tâm và phù hợp với cơ chế mới. Tỷ
lệ hoà giải không ổn định qua các năm phản ánh một thực tế là sự thành công
của hoà giải đòi hỏi không ổn định cao qua các năm phản ánh một thực tế là
sự thành công của hoà giải đòi hỏi, phụ thuộc rất lớn vào thiện ý và tinh thần
hợp tác của các bên đương sự, bên cạnh sự nỗ lực của Uỷ ban trọng tài. Tỷ lệ
hoà giải cao còn là thể hiện của hiệu qủa giải quyết tranh chấp cao - xét về
khía cạnh chuyên môn.
Thời gian kể từ khi nhận hồ sơ cho đến khi ra phán quyết về cơ bản là
tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của các bên. Song về phía Trung tâm, luôn đảm
bảo các thủ tục về tố tụng được tiến hành nhanh chóng, kịp thời nhờ sự hoạt
động tích cực, mẫn cán của ban thư ký và các trọng tài viên. Trong thủ tục tố
tụng của Trung tâm có quy định một số thời hạn nhằm đảm bảo thời gian xét
xử là hiệu qủa. Đó là quy định tại Điều 8 bị đơn phải gửi bản tự bào chữa
trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản sao đơn kiện, thời hạn dài
nhất không qúa 2 tháng. Quy định đối với đơn kiện lại thì trong vòng 30 ngày
kể từ khi nhận được đợn kiện lại nguyên đơn phải cho biết ý kiến của mình.
Quy định thời hạn chọn và chỉ định trọng tài viên cũng là trong thời hạn bị



62
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 63

đơn phải trả lời. Quy định toàn văn bản phán quyết gửi các bên đương sự
chậm nhất là 30 ngày sau phiên xét xử cuối cùng.
Nhìn chung, các phán quyết của trọng tài ở Trung tâm được đánh giá là
chất lượng cao bảo vệ được quyền lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các
bên không phân biệt quốc tịch, thành phần kinh tế. Tuy vậy, vẫn còn một số ít
trường hợp chưa thực được xét xử kịp thời, một vài vụ khác phải ra những
phán quyết sửa đổi, bổ sung.

2.2.3. Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động giải quyết tranh chấp ở
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
2.2.3.1. Đối với bản thân Trung tâm
a. Thuận lợi:
Những thuận lợi mà Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có
được trước hết phải nói đến sự độc lập của Trung tâm trong việc hình
thành quy tắc tố tụng, biểu phí trọng tài, quy định về việc lựa chọn các
chuyên gia làm trọng tài viên.
Khi giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, nguyên tắc
tự do thoả thuận của các bên bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu.
Nhưng khi các bên đã đồng ý đưa vụ kiện ra Trung tâm trọng tài quốc
tế Việt Nam rất nhất thiết phải tuân thủ theo quy tắc tố tụng của Trung
tâm. Theo quy tắc tố tụng của Trung tâm, ngày xét xử do Chủ tịch Uỷ
ban trọng tài quyết định.
Ngôn ngữ xét xử là tiếng Việt Nam. Cùng với việc gửi đơn kiện,
nguyên đơn phải ứng trước toàn bộ phí trọng tài. Như vậy, Trung tâm
luôn dành quyền chủ động trong việc tiến hành xét xử.
Thuận lợi thứ hai mà Trung tâm có được so với Toà án kinh tế là
những kinh nghiệm kế thừa từ hai hội đồng trọng tài tiền thân và nguồn
nhân lực giỏi về chuyên môn.
Xét về khía cạnh giá trị của phán quyết trọng tài, Trung tâm trọng
tài quốc tế Việt Nam có ưu thế hẳn so với Trung tâm trọng tài kinh tế
khác, cũng là một tổ chức xã hội nghề nghiệp được thành lập theo Nghị
định 116/Chính phủ (5/9/1994), phán quyết của trọng tài kinh tế không
có giá trị chung thẩm. Một bên đương sự có quyền yêu cầu Toà án nhân
dân có thẩm quyền xét xử lại nếu phán quyết đó không được bên kia

63
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 64

chấp hành (Điều 31). Chính điều này đã làm cho Trung tâm trọng tài
kinh tế không thu hút được đơn kiện cũng như các chuyên gia giỏi làm
việc cho Trung tâm trong tài kinh tế. Ngược lại, phán quyết của trọng
tài thuộc Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có giá trị chung thẩm
(Điều 31- Quy tắc tố tụng của Trung tâm) khiến cho bên nguyên đơn
yên tâm khi kiện ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Namvà cũng khích
lệ các trọng tài viên làm việc có hiệu quả vì kết quả lao động của họ
còn có ý nghĩa.
Một thuận lợi khác của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
nhận được sự hỗ trợ về cơ sở vật chất cũng như giúp Trung tâm thúc
đẩy quan hệ Quốc tế của Phòng TM & CN Việt Nam.
Không thể không đề cập đến bối cảnh kinh tế Việt Nam nói chung
và tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam với các nước trên thế giới,
đặc biệt là các nước trong khu vực tạo điều kiện tốt cho Trung tâm phát
triển tốt trong tương lai.
b. Khó khăn:
Trung tâm gặp phải rất nhiều khó khăn so với những thuận lợi có
được.
Khó khăn thứ nhất cũng bắt nguồn từ bối cảnh kinh tế chung. Khi
Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào việc tiến trình hội nhập kinh
tế thì Trung tâm cũng phải đứng trước nhiều thử thách. Đó là các tranh
chấp thương mại ngày càng đa dạng, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh
vực hoặc những ngành mới phát triển ở Việt Nam hoặc ở trên thế giới
như chuyển giao công nghệ, thương mại điện tử, buôn bán phần mềm
tin học. Trung tâm trong tài Quốc tế Việt Nam phải hiện đại hoá cơ sở
vật chất đòi hỏi chi phí cao để cập nhật thông tin như máy tính nối
mạng, các tài liệu khoa học. Các trọng tài viên không phải chỉ nâng cao
kiến thức về pháp luật trong nước, pháp luật các nước khác mà còn phải
nghiêm túc nghiên cứu các lĩnh vực chuyên môn khác. Một thách thức
khác mà Trung tâm phải đối mặt là sự cạnh tranh của các tổ chức trọng
tài nước ngoài, hoạt động rộng khắp trên toàn cầu. Các nước, lãnh thổ
trong khu vực như Đài Loan, Trung Quốc, Singapor, Thái Lan, Mỹ,
Anh, Thuỵ Điển.. . có các tổ chức trọng tài lớn về quy mô tổ chức cũng
như cơ sở vật chất luôn muốn mở rộng hoạt động đến các nước khác.
Và sự thực là họ đã đến Việt Nam để "tiếp thị" dịch vụ của họ. Họ có
thể xét xử bằng nhiều thứ tiếng và tiến hành xét xử thông qua mạng

64
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 65

Internet. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam luôn phải chuẩn bị gấp
gáp để đương đầu với các đối thủ cạnh tranh trên thế giới để đến một
lúc nào đó cũng xâm nhập vào "thị trường dịch vụ trọng tài Quốc tế".
Khó khăn thứ hai đồng thời là khó khăn chủ yếu Trung tâm đã và
đang gặp phải là pháp luật Việt Nam nói chung và khung pháp lý về
hoạt động của trọng tài chưa được hoàn thiện.
Chúng ta đang ở trong một nền kinh tế chuyển đổi và đương
nhiên pháp luật cũng phải chuyển đổi theo. Có thể nói hệ thống pháp luật
của chúng ta chuyển đổi khá nhanh, nhưng lại không để cập được mọi vấn
đề phát sinh trong thực tế và với nhiều cấp phức tạp như Luật, Nghị định,
Thông tư và các văn bản pháp luật hay có hiện tượng chồng chéo nhau,
không thống nhất mà vẫn thiếu. Chẳng hạn, Luật thương mại năm 1997 của
Việt Nam không đưa ra một cách hiểu thống nhất về giao dịch thương mại
mà liệt kê cụ thể các loại giao dịch thương mại. Khi có hợp đồng dẫn chiếu
đến nguồn Luật điều chỉnh là Luật thương mại Việt Nam 1997 nhưng hoạt
động giao dịch thông qua hợp đồng này lại không được liệt kê trong Luật
thương mại trên. Điều này gây khó khăn lớn cho hoạt động giải quyết
tranh chấp của Trung tâm. Đồng thời xác định nguồn luật áp dụng là
một khó khăn đáng kể.
Cập nhật văn bản đã khó khăn nhưng hệ thống hoá lại để tra cứu
cho thuận lợi còn khó khăn hơn rất nhiều. Điều này không chỉ làm cho
Trung tâm tốn kém về mặt thời gian mà cả chi phí.
Khó khăn thứ ba mà Trung tâm thường gặp phải là sự bất cập về
kiến thức luật của doanh nghiệp Việt Nam do trong những năm gần
đây mới được tự do kinh doanh nên họ không có ý thức rằng những
kiến thức về luật pháp liên quan đến quyền lợi thiết yếu của họ. Điều
này tưởng chừng không liên quan đến Trung tâm nhưng thực ra lại là
một trở ngại cho thủ tục tố tụng và tiến hành xét xử của trọng tài.
Các doanh nghiệp thường ký hợp đồng với điều khoản trọng tài sơ
sài, không rõ ràng. Cho nên nhiều điều khoản trọng tài bị coi là điều
khoản trọng tài "khuyết tật" và Trung tâm không thụ lý được vụ kiện.
Để có thể tiếp tục giải quyết, các bên phải có một thoả thuận trọng tài
khác. Song việc này là hoàn toàn khó khăn bởi vì sau khi xảy ra tranh
chấp, bên vi phạm thường trốn tránh việc đưa tranh chấp ra xét xử.


65
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 66

Việc không tuân thủ đúng quy tắc tố tụng của Trung tâm của các
doanh nghiệp Việt Nam, thường chậm trễ trong việc cung cấp các tài
liệu cần thiết làm quá trình xét xử phải kéo dài.
Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng ít khi được các doanh nghiệp Việt
Nam nghiên cứu kỹ nên nhiều khi họ bị đối tác nước ngoài lừa. Trọng
tài viên của Trung tâm không thể tìm cách cứu vãn được các doanh
nghiệp trong nước trong những trường họp tình ngay lý gian.
Khó khăn thứ tư nằm trong sự hạn chế về nguồn nhân lực và cơ
sở vật chất. Mặc dù nhân lực được sự hỗ trợ của Phòng TM & CN nhưng
để trở thành một TTTT mạnh mang tầm Quốc tế thì Trung tâm thiếu rất
nhiều. Các trọng tài viên đều là những người có kiến thức sâu và kinh
nghiệm lâu năm nhưng vấn đề ở đây là họ đã nhiều tuổi. Cần có một lực
lượng trọng tài viên kế tiếp đông đảo hơn. Nếu không, Trung tâm sẽ bị tụt
hậu so với khu vực và thế giới.
Một khó khăn nữa cản trở rất nhiều hoạt động của Trung tâm và làm
các trọng tài viên phải trăn trở nhiều là Việt Nam đã có Pháp lệnh công
nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước người (1995)
nhưng quyết định của trong tài trong nước thì không có sự cưỡng chế thi
hành nào cả. Nếu bên Việt Nam thua, họ cũng chưa chắc nhận được tiền
bồi thường mà lại bị mất một khoản phí trọng tài. Vì vậy, bên nước ngoài
không muốn gửi đơn kiện tới Trung tâm.
Tất cả những khó khăn trên cản trở hoạt động và sự phát triển của
Trung tâm. Khắc phục được tất cả các khó khăn đó không phải là điều dễ
dàng nhưng vẫn là điều mà Trung tâm phải làm. Điều quan trọng là Trung
tâm phải có được sự hỗ trợ từ nhiều phía.
2.2.3.2. Đối với doanh nghiệp.
a. Thuận lợi:
Thứ nhất, trong bối cảnh nước ta còn thiếu một cơ chế giải quyết tranh
chấp có hiệu qủa, Trung tâm đã đề cao và cố gắng để các bên tự đạt được thoả
thuận hoà giải khá cao của Trung tâm (10,2%). Việc giải quyết tranh chấp
bằng hoà giải giúp các bên giảm bớt chi phí trọng tài Trung tâm hoàn 25% số
phí nếu hoà giải thành ở phiên xét xử đầu tiên và 75% trước khi thanh lập Uỷ


66
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 67

ban trọng tài và 50% trước khi tiến hành phiên xét xử đầu tiên và chi phí theo
đuổi vụ kiện, tiếp tục duy trì mối quan hệ trong kinh doanh vì các bên đều tự
nguyện thi hành kết quả hoà giải.
Thứ hai, lệ phí trọng tài và các chi phí khác phải trả cho Trung tâm thấp
hơn so với một số Trung tâm trọng tài quốc tế ở các nước khác. Lệ phí trọng
tài mà Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam đưa ra trong biểu phí trọng tài
mức phí tối thiểu là 500 USD/vụ, trong khi mức này ở Hiệp hội trọng tài Hoa
kỳ là 600 USD - 2000 USD ở Trung tâm trọng tài quốc tế là 2500 USD. Đối
với vụ có giá trị tranh chấp là 10.000 USD đến 20.000 USD mức tối đa là
4250 và cộng thêm 0,5% trị giá tranh chấp vượt quá 200.000 USD đối với các
tranh chấp trên 200.000 USD là khá dễ chịu đối với các bên tranh chấp.
Thứ ba, thủ tục trọng tài tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam đơn
giản và thích hợp cho việc giải quyết các tranh chấp nhỏ cần phải được giải
quyết nhanh và không cần thiết chi phí cao.
Thứ tư, Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam tiến hành xét xử bằng
tiếng Việt Nam đó là một thuận lợi rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam vì
hiện nay trình độ ngoại ngữ của cán bộ kinh doanh của ta không phải ai cũng
đạt yêu cầu. Địa điểm xét xử là tại Việt Nam nên cũng tiết kiệm được chi phí
đi lại.
b. Hạn chế:
Hầu hết các hạn chế mà doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khi đưa tranh
chấp ra giải quyết ở Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam đều xuất phát từ
khung pháp lý chưa hoàn thiện tại Việt Nam.
Thật vậy, hạn chế đầu tiên là những quy định của pháp luật Việt Nam về
công nhận và cưỡng chế thi hành phán quyết của Trung tâm trọng tài quốc tế
Việt Nam. Thủ tục trọng tài bản thân nó đã không mang tính cưỡng chế thi
hành cao như Toà án, vì thế trong trường hợp một bên không tự nguyện thi
hành một bên có quyền yêu cầu Toà án công nhận bản án và cưỡng chế thi
hành. Song nó ở nước ta chưa hề có một quy định nào như vậy.

67
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 68

Thứ hai, đó là một số điểm chưa hợp lý trong quy tắc tố tụng như buộc
nguyên đơn phải nộp toàn bộ phí thì mới nhận hồ sơ đối với doanh nghiệp
Việt Nam, mức phí khoảng 2000 USD - tương với 28.000.000 VND là một
chi phí không nhỏ. Các bên đương sự bị giới hạn quyền tự quyết khi chỉ được
chọn trọng tài viên từ danh sách của Trung tâm, chứ không thể chọn một
trọng tài viên ở ngoài, họ chỉ được khước từ trọng tài viên do mình chỉ định
và cuối cùng quyết định rằng chủ tịch rằng chủ tịch Trung tâm trọng tài quốc
tế Việt Nam và thẩm quyền chỉ định trọng tài viên Chủ tịch Uỷ ban trọng tài
trong trường hợp các bên không chỉ định là không có cơ sở và thiếu chặt chẽ.




68
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 69

CHƯƠNG 3
MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG THỦ TỤC TRỌNG
TÀI TẠI TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ VIỆT NAM


3.1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TRỌNG
TÀI THƯƠNG MẠI VỊÊT NAM.

Trọng tài thương mại Việt Nam đã và đang phát triển mạnh mẽ trong
những năm gần đây. Là một nước Châu á, Việt Nam có nhiều điểm tương
đồng với các nước Châu á khác, đặc biệt là các nước ASEAN - có truyền
thống giải quyết tranh chấp bằng hoà giải. ở Châu á nói chung, từ trước tới
nay trọng tài chưa phải là công cụ giải quyết tranh chấp mà các thương gia
thường tìm đến. Đối với tranh chấp trong nước thì biện pháp thông thường mà
các doanh nhân chấp nhận là thương lượng trực tiếp hoặc hoà giải với sự tham
gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải. Tuy nhiên trong những năm gần
đây, do nhu cầu của việc phát triển thương mại Quốc tế và trong khu vực,
trọng tài thương mại phi Chính phủ đã hình thành và phát triển mạnh mẽ. Vì
lẽ đó, cho nên dù truyền thống hoà giải có ăn sâu vào trong tập quán kinh
doanh đến đâu thì người ta vẫn phải cần đến trọng tài, trước hết bởi những ưu
thế của nó trong việc giải quyết tranh chấp thương mại, sau là vì nó đáp ứng
được nhu cầu của giới kinh doanh - đặc biệt trong các thương vụ kinh doanh
quốc tế.
Truyền thống hoà giải, giải quyết tranh chấp theo hướng “ đóng cửa bảo
nhau” của người á Đông đã ảnh hưởng ít nhiều đến tiến trình giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài. Hoà giải trước khi phải tổ chức các phiên xét xử hoặc
trước khi ra phán quyết trong thủ tục trọng tài là điều các trọng tài Châu á nói
chung và Việt Nam nói riêng chú trọng hơn. Mặt khác, đây cũng là một trong
nhứng đóng góp để nâng cao uy tín của trung tâm trọng tài trên trường Quốc
tế - bởi khi hoà giải được nó không chỉ tiết kiệm được chi phí cho các bên,

69
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 70

bảo mật được bí quyết kinh doanh mà còn làm ảnh hưởng thống nhất đến mối
giao hảo giữa các bên, và thường các bên sẽ thực hiện những nghiã vụ của
mình một cách “ tâm phục , khẩu phục”.
trọng tài Việt Nam đang hoạt động trong cơ chế thị trường , xuất phát từ
lợi ích của khách hàng - tức là các đương sự đưa tranh chấp ra giải quyết ở
trung tâm trọng tài - thì không thể không quan tâm đến bước hoà giải trước
Uỷ ban trọng tài - cũng như phải làm sao để giúp các đương sự đạt được giải
pháp giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất cả về kinh tế lẫn hiệu quả xã hội.
trọng tài thương mại trong cơ chế thị trường phải quan tâm và hết lòng phục
vụ vì lợi ích khách hàng thì mới tồn tại và phát triển được. Đây là điểm khác
biệt về bản chất giữa trọng tài Nhà nước trong cơ chế kế hoặch hoá tập trung
và trọng tài thương mại phi Chính phủ trong cơ chế thị trường. Cụ thể hơn,
kinh phí trang trải cho các trung tâm trọng tài , cũng như lợi nhuận để phát
triển mở rộng trọng tài là từ nguồn phí trọng tài mà các đương sự chi trả. Xét
theo mặt này, trung tâm trọng tài cũng là một đơn vị kinh doanh - sản phẩm là
các biện pháp giải quyết tranh chấp và cũng phải chịu sự cạnh tranh trên thị
trường, do đó triết lý kinh doanh cũng nên là “ thoã mãn tối đa nhu cầu của
khách hàng”.
Tuy nhiên, loại sản phẩm dịch vụ của trọng tài lại là một sản phẩm có
tính đặc thù rất cao - bị chi phối mạnh mẽ bởi môi trường pháp lý. Đặc điểm
của hệ thống pháp luật Việt Nam là đang trong quá trình hoàn thiện theo
hướng một mặt phải đảm bảo bản chất của Chủ nghĩa xã hội, mặt khác phải
tính đến xu hướng chung trong luật pháp Quốc tế và thương mại Quốc tế.
Chính vì vậy trọng tài thương mại của Việt Nam trong quá trình phát triển
phải tính đến đặc điểm này, góp phần vào việc hoàn thiện môi trường pháp lý
ở Việt Nam nói chung và hoàn thiện các quy định về trọng tài nói riêng- tháo
gỡ dần sự bất cập trong các quy định về giải quyết tranh chấp như hiện nay.
Trên thực tế, trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam đã áp dụng một quy
chế tố tụng khó gần gũi với quy chế tố tụng của trung tâm trọng tài Quốc tế

70
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 71

Singapore. Việt Nam đang hướng vào việc tăng cường tham gia vào các Hiệp
ước Quốc tế và công nhận hiệu lực của các phán quyết trọng tài nước ngoài
tại Việt nam. Việt Nam đang nổ lực phát triển hệ thống pháp luật trên cơ sở
tham khảo, đối chiếu và học hỏi những chuyên gia có kinh nghiệm của nhiều
quốc gia như Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc . . . là những nước trong khu
vực khá gần gũi, và Pháp, Anh, Canada, Australia, Mỹ . . . là những nước có
nền kinh tế thị trường phát triển, có hệ thống pháp luật đạt đến độ hiệu quả
cao.
Như đã đề cập ở trên, dịch vụ mà trung tâm trọng tài cung cấp ra thị
trường là loại dịch vụ có tính đặc thù cao, chất lượng của dịch vụ không chỉ
phụ thuộc vào người cung cấp mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự cộng tác của
các bên sử dụng dịch vụ, cũng như sự hỗ trợ từ một hệ thống chính sách pháp
luật hoàn chỉnh, mà trước hết là khung pháp luật về trọng tài ở Việt Nam.

3.2. CẦN MỘT SỰ HỖ TRỢ CỦA CHÍNH PHỦ CHO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT
ĐỘNG TRỌNG TÀI.

Thuật ngữ trọng tài phi Chính phủ không có nghĩa là cơ quan trọng tài
này sẽ không chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước. “ Phi Chính phủ để
phân biệt với trọng tài Nhà nước - là một cơ quan Nhà nước , có quyền lực
Nhà nước. Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động của các cơ quan
trọng tài , nhưng sẽ thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua hệ thống các
quy định pháp luật , cũng như những tác động khác như tham gia các công
ước, điều ước Quốc tế , đào tạo, hỗ trợ kinh phí và cơ sỡ vật chất . . . Các quy
định của Nhà nước nói chung đều có thể tác động theo hai hướng tích cực,
tiêu cực đến hiệu quả giải quyết tranh chấp.

3.2.1. Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động trọng tài .
Cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có một vẫn chưa có một văn bản
pháp luật do cơ quan lập pháp ( Quốc hội ) ban hành để quy định về tổ chức
và hoạt động của trọng tài thương mại phi Chính phủ . Các văn bản pháp luật

71
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 72

về trọng tài phi Chính phủ do cơ quan hành pháp là Chính phủ và Thủ tướng
ban hành dưới dạng Nghị định hoặc Quyết địnhvà như vậy chúng không có
giá trị pháp lý cao như các văn bản pháp luật giải quyết tranh chấp bằng con
đường Toà án ( thường là luật và pháp luật ). Vì vậy, cần nhanh chóng ban
hành Pháp lệnh về trọng tài để thống nhất các qui định về trọng tài . Xuất phát
từ thực tế giải quyết tranh chấp bằng thủ tục trọng tài ở Việt Nam , trong pháp
lệnh trọng tài cần phải giải quyết được một số điểm nổi cộm sau:
* Thứ nhất là về thẩm quyền giải quyết của trọng tài : đây là căn cứ
pháp lý để quyết định xem liệu một tranh chấp kinh tế có được đưa ra xét xử
bằng trọng tài hay không. Hiện nay cũng chưa rõ liệu các tranh chấp nào thì
không được phép áp dụng thủ tục trọng tài . Như quy định hiện nay tại Nghị
định 116 CP và quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam thì
có thể tạm hiểu là bất kỳ một tranh chấp thương mại nào cũng có thể giải
quyết bằng trọng tài . Vậy là chưa hợp lý vì một số vấn đề tranh chấp cần đến
sự cưỡng chế cao của pháp luật, hoặc các tranh chấp có dấu hiệu phạm tội,
hoặc các tranh chấp có ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và cộng đồng như:
- Các vấn đề về tình trạng cá nhân.
- Các hợp đồng ký kết do lừa đảo hoặc vô đạo đức.
- Tranh chấp về phát minh, nhãn hiệu hàng hoá và bản quyền.
- Tranh chấp về phá sản, vỡ nợ hoặc giải thể Công ty .
- Tranh chấp về cấm vân, trật tự công cộng và một số tranh chấp
về quan hệ lao động.
* Về việc chỉ định và thay thế trọng tài viên : liệu các bên đương sự có
thể chọn một trọng tài viên ngoài bản danh sách trọng tài của trung tâm được
không? Điều này không được đề cập đến trong Nghị định 116 CPP cũng như
trong quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam . Tôn trọng
quyền tự quyết của các bên đương sự, quy định về chỉ định trọng tài viên
không nên chỉ trong danh sách trọng tài viên của trung tâm và cũng không chỉ
giới hạn trong phạm vi các trọng tài viên Việt Nam, khi mà điều kiện cho

72
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 73

phép. Về việc khước từ trọng tài viên : theo quy định về trọng tài của úc,
HongKong, Nhật Bản, Singapore, Mỹ, . . . mỗi bên tham gia có thể khước từ
bất kỳ một trọng tài viên nào vì lý do thiên vị. Pháp lệnh trọng tài nên cân
nhắc vấn đề này để tăng cường sự tự do lựa chọn và giám sát quá trình trọng
tài cũng như đảm bảo chắc chắn về sự công bằng của trọng tài .
* Về tiêu chuẩn trọng tài viên : kinh nghiệm của các nước cho thấy
trọng tài viên thật sự hoàn toàn do các bên đương sự tự định đoạt. ở Việt Nam
cũng vậy, cho dù các trọng tài viên được Bộ tư pháp cấp Thẻ trọng tài hay là
Thẻ trọng tài viên có trong danh sách trọng tài viên nhưng không được các
đương sự chọn để giải quyết tranh chấp thì họ sẽ chẵng trở thành trọng tài
viên thực sự được. Luật pháp của nhiều quốc gia không quy định trọng tài
phải đạt những tiêu chuẩn gì mả chỉ quy định rằng trọng tài viên phải nổ lức
cùng với các bên đạt được một giải pháp giải quyết tranh chấp công bằng và
hiệu quả. Mỗi trung tâm trọng tài tự chọn ra những trọng tài của chính mình
để chọn được những trọng tài viên giỏi bằng cách đưa ra các tiêu chuẩn về
chuyên môn, nghiệp vụ và là người có đạo đức , trung thực và khách quan - vì
phán quyết của họ là yếu tố quyết định đến uy tín của trung tâm trọng tài .
Không gì đánh giá các trọng tài viên chính xác hơn là những phán quyết mà
họ đưa ra và hiệu quả cuối cùng của giải quyết tranh chấp .
Trung tâm trọng tài phi Chính phủ hoạt động trong cơ chế thị trường
cũng chịu sự tác động của các quy luật thị trường. Động lực thúc đẩy các
Trung tâm giải quyết tranh chấp của các quy luật thị trường. Động lực để thúc
đẩy các trung tâm giải quyết tranh chấp một cách hiệu qủa hơn và không
ngừng nâng cao hiệu quả pháp quyết chính là sự cạnh tranh giữa các Trung
tâm trọng tài. Khung pháp luật về trọng tài thống nhất, tạo nên môi trường
cạnh tranh cho các Trung tâm hoạt động. Những quy định bất hợp lý như:
(quy định rằng quyết định của trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài quốc tế Việt
Nam có giá trị chung thẩm; trong khi đối với các trung tâm trọng tài khác lại
không quy định quyết định là chung thẩm... ) cần được loại bỏ.

73
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 74

Cuối cùng là vấn đề đang gây bức xúc nhất và là sự quan tâm lớn nhất
của các bên khi lựa chọn trọng tài là cơ quan giải quyết tranh chấp đó là hiệu
lực quyết định của trọng tài, nhưng trên thực tế, không phải lúc nào người ta
cũng đạt được điều đó. Vì vậy cần có một cơ chế cưỡng chế thi hành các phán
quyết của trọng tài để hoạt động trọng tài có hiệu quả vì trọng tài là một tổ
chức hoạt động hợp pháp và đã được các bên thoả thuận chọn lựa. Trong cơ
chế này cần quy định thẩm quyền của Toà án trong việc công nhận và cho thi
hành quyết định của trọng tài, toà chỉ cần công nhận quyết định bản án và cho
thi hành như là một bản án do toà tuyên chứ không cần ra thêm một bản án về
cùng một vụ việc (nghĩa là tiến hành xét xử lài toàn bộ vụ việc).
Cũng cần phải có những quy định cụ thể những trường hợp nào khiến
thoả thuận trọng tài là vô hiệu, không thể thi hành hoặc có đủ chứng cớ để
huỷ quyết định trọng tài để Toà án có thể chấp nhận đơn kiện và đưa vụ kiện
ra xét xử theo thủ tục toà án. Một vấn đề nữa trong cơ chế thi hành phán quyết
trọng tài là quy định cơ quan nào sẽ có thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết
định của trọng tài trong trường hợp không có sự thi hành tự nguyện. Nên
chăng là để bộ phận thi hành án của Toà án... hay một cơ quan khác cần quy
định cụ thể để tránh dây dưa, giải quyết tranh chấp không dứt điểm, hiệu quả.

3.2.2. Hỗ trợ về tài chính.
Dịch vụ trọng tài là một lĩnh vực kinh doanh còn rất mới mẻ ở nước ta,
chính vì vậy trong giai đoạn này hoạt động của các Trung tâm trọng tài hết
sức khó khăn do nhu cầu chưa cao. Song, trong tương lai không xa, trọng tài
sẽ rất phát triển và lợi ích của nó là rất lớn kể cả lợi ích kinh tế và lợi ích xã
hội. Nhà nước nên có sự hỗ trợ nhất định cho hoạt động của các trung tâm
trọng tài, tạo điều kiện hiện đại hoá phương tiện làm việc nâng cao trình độ
chuyên môn, tiếp cận với nhiều tổ chức trọng tài quốc tế khác... hình thức hỗ
trợ tài chính của Nhà nước có thể là những tín dụng ưu đãi với lãi xuất thấp và
thời gian cho vay dai. Với thời hạn cho vay khoảng 5 năm, các trung tâm có


74
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 75

thể đã đủ sức bứt phá lên. Cần đặt hoạt động trọng tài - cung cấp dịch vụ
trọng tài - vào vị trí xứng đáng trong chiến lược phát triển ngành dịch vụ nói
chung. Việt Nam mới chỉ quan tâm đến dịch vụ hàng hoá mà chưa chú ý đến
dịch vụ "chất xám" - vốn được nhiều nước trên thế giới coi trọng. Nguồn thu
ngân sách từ các dịch vụ này thường rất lớn mà hơn nữa những lợi ích xã hội,
lợi ích không phản ánh vào tiền cũng còn rất lớn hơn đó là một môi trường
thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, đó là đem đến tâm lý yên tâm cho các
nhà đầu tư, các thương gia... qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Rõ ràng,
trọng tài xứng đáng nhận được sự hỗ trợ hơn nữa về tài chính của Nhà nước.

3.2.3. Hỗ trợ đào tạo nhân lực và cung cấp thông tin.
Các Trung tâm trọng tài hiện nay là các tổ chức phi Chính phủ do đó
việc đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động trọng tài không phải là nhiệm vụ
của Nhà nước song, xét về lợi ích kinh tế xã hội nói chung, trong chính sách
và quỹ giáo dục đào tạo quốc gia, nên lưu ý đến đào tạo những người đủ khả
năng chuyên môn để trở thành trọng tài viên am hiểm pháp luật Việt Nam và
quốc tế, am hiểu các lĩnh vực khác như xuất nhập khẩu, đầu tư, bảo hiểm...
Nhà nước có thể gián tiếp hỗ trợ cho việc đào tạo nhân lực bằng cách ký
kết các hiệp định song phương và đa phương hóa đề cập đến vấn đề cử người
đi tư nghiệp ở nước ngoài về lĩnh vực trọng tài. Kinh phí Nhà nước cũng hỗ
trợ một phần hoặc toàn bộ.
Nhà nước tạo điều kiện cho phép các Trung tâm trọng tài nói chung và
Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam nói riêng quan hệ quốc tế nhằm trao đổi
thông tin, học hỏi kinh nghiệm quốc tế có hướng phát triển phù hợp thế giới.
Tóm lại, vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng trong việc nâng cao
hiệu qủa của hoạt động trọng tài, đặc biệt là vai trò tạo ra khung pháp lý cho
hoạt động trọng tài. Tuy nhiên, nhân tố chính quyết định làm nên hiệu quả của
hoạt động trọng tài lại chính là sự nỗ lực của bản thân các tổ chức trọng tài
nói chung và Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam nói riêng.


75
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 76

3.3. SỰ NỖ LỰC CỦA TRUNG TÂM TRỌNG TÀI QUỐC TẾ VIỆT NAM .

Nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết tranh chấp còn là vấn đề sống
còn của các Trung tâm trọng tài. Thật vậy, mặc du nhu cầu về giải quyết tranh
chấp trọng tài ngày càng lớn, song cũng sẽ có nhiều tổ chức trọng tài mới ra
đời và các bên đương sự được quyền tự do lựa chọn tổ chức nào họ cảm thấy
có uy tín và đáng tin tưởng. Để đảm bảo và không ngừng nâng cao năng lực
và uy tín của mình Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam cần phải tập trung
chủ yếu vào những điểm sau:

3.3.1. Luôn phải quan tâm đặc biệt đến vấn đề chất lượng và số lượng
trọng tài viên của Trung tâm .
Là tổ chức phi Chính phủ, Trung tâm không được Nhà nước bao cấp, sự
thành công, hay thất bại cả về lợi nhuận và các giá trị lợi ích khác. Trình độ
chuyên môn nghiệp vụ và tư cách đạo đức của trọng tài viên có vai trò quyết
định đến chất lượng phán quyết trọng tài và sự phục tùng của các đương sự.
Có là trọng tài viên thực sự hay không là do khách hàng của Trung tâm
"bỏ phiếu". Do đó Trung tâm cần lấy tiêu thức lựa chọn trọng tài viên là các
"lá phiếu" của khách hàng - lựa chọn những người có uy tín trong lĩnh vực
chuyên môn mà họ hoạt động, được coi trọng vì phẩm chất đạo đức - vào
danh sách trọng tài viên.
Quy chế 4 năm tổ chức bầu trọng tài viên lại một lần là hợp lý, tạo điều
kiện cho Trung tâm duy trì củng cố và tăng cường chất lượng trọng tài viên.
Cần quan tâm hơn đến chất lượng trọng tài viên hơn là số lượng trong danh
sách của Trung tâm - đảm bảo "ít mà tinh" - vì nếu không chỉ cần một sai sót
nhỏ của một trọng tài viên kém cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của
Trung tâm ở trong nước và trên trường quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi cho
các trọng tài viên tích luỹ kinh nghiệm trao đổi thông tin, bồi dưỡng nghiệp
vụ bằng các hình thức thích hợp...



76
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 77

Trong xu hướng trọng tài Việt Nam dần tiếp cận với trọng tài của các
quốc gia phát triển trung tâm Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam cũng cần
phải có những thay đổi trong quy chế chỉ định và chọn trọng tài viên. Trong
cơ cấu của Uỷ ban trọng tài nên cho phép có cả các trọng tài viên không nằm
trong danh sách trọng tài viên, nhằm tạo cho khách hàng quyền tự quyết cao
nhất, đảm bảo niềm tin của các bên vào trình độ chuyên môn và tư cách đạo
đức của trọng tài viên mà họ lựa chọn và một khi họ đã hoàn toàn tin tưởng
vào trọng tài viên mà họ chọn thì không có lý gì để phản đối, nghi ngờ về sự
mẫn cán công bằng của trọng tài viên cũng như phán quyết mà họ đưa ra.
Trung tâm cũng cần phải chuẩn bị cả về điều kiện vật chất và trình độ
quản lý để tiến hành mở rộng nguồn trọng tài viên trong tương lai gần, trọng
tài nên lựa chọn có những chuyên gia nước ngoài - mới làm trọng tài viên
hoặc tư vấn cho Trung tâm. Đây là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp
Trung tâm tiếp cận và học hỏi kinh nghiệm của nước ngoài trong hoạt động
giải quyết tranh chấp, nâng cao chất lượng đội ngũ trọng tài viên. Mặt khác,
nó đánh dấu sự phát triển của Trung tâm nănglực vươn ra thị trường quốc tế.

3.3.2. Xây dựng quy tắc tố tụng chặt chẽ mà vẫn linh hoạt.
Việc xây dựng một quy tắc tố tụng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
giải quyết tranh chấp xét cả về phía Trung tâm trọng tài cũng như các bên
đương sự là rất cần thiết.
Quy tắc tố tụng mà Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam đang áp dụng
được đánh giá là phù hợp với xu thế giải quyết tranh chấp trên thế giới song
để hẫp dẫn hơn nữa nên có một số thay đổi nhỏ. Thứ nhất, là về việc đóng phí
trọng tài - quy định là nguyên đơn phải đóng toàn bộ phí trọng tài thì hồ sơ vụ
việc mới được thụ lý - là chưa hợp lý. Nên chăng là quy định một mức tạm
phí - để đảm bảo cho khiếu kiện thay vì phải đóng toàn bộ. Cách thức nộp phí
cũng nên uyển chuyển hơn, thay vì cứng nhắc một cách là chuyển tiền vào tài
khoản của phòng thương mại và công nghệ Việt Nam Trung tâm có thể chấp


77
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 78

nhận một bên thứ ba đứng ra đảm bảo cho việc trả khoản phí này, hoặc chấp
nhận cấp tín dụng ngắn hạn cho đương sự. Thứ hai, là về ngôn ngữ xét xử,
Trung tâm nên có sự sẵn sàng để đưa nhiều ngôn ngữ vào sử dụng trong xét
xử, đặc biệt là những ngôn ngữ phổ biến như: Anh, Pháp, Trung Quốc... thay
vì phải quy định chỉ sử dụng tiếng Việt trong xét xử như hiện nay. Thứ ba,
trong trường hợp một bên đương sự đề nghị tham gia các phiên họp và xét xử
thông qua các phương tiện truyền thông như điện thoại, e - mail... Trung tâm
cần nghiên cứu và đưa ra những quy định phù hợp trong trường hợp này.
Như đã đề cập ở phần trên, giải quyết tranh chấp bằng hoà giải là xu
hướng mà hiện nay hầu hết các Trung tâm trọng tài quốc tế trên thế giới đều
hướng tới. Quá trình hoà giải cần phải có những quy định riêng không gộp
chung vào quy tắc tố tụng trọng tài như: Cách thức chọn hoà giải viên, nhiệm
vụ của hoà giải viên, thời điểm bắt đầu và kết thúc hoà giải, phí hoà giải... do
đó Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam cũng cần xúc tiến việc nghiên cứu
và xây dựng quy tắc hoà giải.

3.3.3. Nghiên cứu, xây dựng và kiện toàn bộ máy thường trực của Trung
tâm, thành lập ban thư ký thay vì chỉ có một thư ký thường trực
như hiện nay.
Xúc tiến việc tổ chức lại Hội đồng nghiên cứu khoa học pháp lý thành bộ
phận thường trực, sẵn sàng hỗ trợ, cung cấp thông tin, tài liệu tư vấn kỹ thuật
cho các Uỷ ban trọng tài hoạt động và cho các trọng tài viên ... giúp họ ra
được những phán quyết có chất lượng cao.
Chuẩn bị nguồn nhân lực để mở rộng tại các Trung tâm kinh tế lớn như
Cần Thơ, Đà Nẵng và Hải Phòng. Đây không những là biện pháp mở rộng hoạt
động của Trung tâm mà nó còn giúp cho Trung tâm theo sát và hiểu rõ hơn thực
tế kinh doanh tại địa bàn - nâng cao kiến thức thực tế củ trọng tài viên.
Trung tâm cần nghiên cứu một kế hoạch tăng thế, tăng kinh phí để
thànhlập Trung tâm thông tin, tủ sách trọng tài, tăng kinh phí cho việc cập


78
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 79

nhật thông tin, thiết lập mạng trao đổi thông tin nội bộ và với các cơ quan tổ
chức liên quan như Toà án, bộ tư pháp, Trung tâm trọng tài quốc tế bên cạnh
phòng thương mại và quốc tế... nhằm tăng hỗ trợ cho những hoạt động giải
quyết tranh chấp của Trung tâm mà còn cho những doanh nghiệp, tổ chức
quan tâm đến vấn đề này.

3.3.4. Đẩy mạnh hợp tác trong nước và quốc tế.
Lịch sử phát triển của trọng tài phi Chính phủ Việt Nam còn rất non trẻ,
đang trong giai đoạn đuổi theo mặt bằng chung của trọng tài viên trên thế
giới. Chính vì vậy việc tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm,
trao đổi thông tin là hết sức cần thiết. Trung tâm nên tích cực tham gia hoặc tổ
chức các cuộc hội thảo với sự tham gia của các nhà luật học các nhà kinh tế
học, các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tích cực thiết lập quan hệ hợp
tác, trao đổi thông tin với các trung tâm trọng tài trong và ngoài nước. Tổ
chức các chuyên thăm quan cho các trọng tài viên đến các Trung tâm trọng tài
trên thế giới ... đồng thời cũng mới các chuyên gia, các luật sư nổi tiếng trên
thế giới tư vấn, hỗ trợ cho Trung tâm trong quá trình hoạt động và đặc biệt là
trong công tác giải quyết tranh chấp.

3.3.5. Mở rộng dịch vụ tư vấn.
Là tổ chức làm cầu nối giữa các quy định của pháp luật và thực tiễn kinh
doanh ở doanh nghiệp, Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam đồng thời là
người giúp cho các doanh nghiệp hiểu rõ những quy định của Nhà nước,
mạnh dạn đầu tư, kinh doanh mặt hàng khác Trung tâm cũng thực hiện vai trò
giúp cho những đưa ra những quy định phù hợp với thực tế cũng như tham gia
vào các Hiệp định, Công ước quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam và tập
quán quốc tế... góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý.
Các dịch vụ tư vấn do Trung tâm đưa ra nên tận dụng trình độ chuyên
môn và kinh nghiệm của đội ngũ trọng tài viên trong tất cả các lĩnh vực


79
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 80

thương mại, hàng hải, đầu tư, bảo hiểm... giúp doanh nghiệp tránh những rủi
ro pháp lý khi ký kết hợp đồng nhất là trong điều kiện trình độ hiểu biết pháp
luật và tập quán kinh doanh của các cán bộ kinh doanh ở nước ta còn hạn chế.
Dịch vụ tư vấn này mặt khác giúp cho các trọng tài của Trung tâm tiếp cận
được với những vấn đề thực tế trong kinh doanh của doanh nghiệp, lắng nghe
những tâm tư nguyện vọn của họ để có hướng đáp ứng kịp thời và đầy đủ.
Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng cáo về trung tâm. Giới thiệu
quy tắc tố tụng của Trung tâm, kèm theo những hướng dẫn cụ thể cho doanh
nghiệp để giúp doanh nghiệp chọn được cách giải quyết tranh chấp hiệu quả
nhất và tránh được sự không rõ ràng, không thống nhất về điều khoản trọng
tài cũng như điều khoản giải quyết tranh chấp nói chung trong hợp đồng.
Rõ ràng, Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam cũng như Trung tâm
trọng tài khác phải nỗ lực thật sự, thực hiện các biện pháp một cách đồng bộ,
có sự phối hợp nhịp nhàng ăn ý tạo nên một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự
phát triển lớn mạnh của Trung tâm. Đây chính là nhân tố quyết định chất
lượng của hoạt động giải quyết tranh chấp cả về mặt hiệu quả chuyên môn và
hiệu qủa kinh tế. Song, đứng trên góc độ của một người kinh doanh, chúng ta
không những mong muốn tranh chấp được giải quyết một cách công bằng và
hiệu quả mà còn hơn thế nữa là làm sao tránh được những rủi ro pháp lý.
Hành động và thái độ công tác của nhà kinh doanh vì thế rất quan trọng trong
việc giải quyết tranh chấp hiệu quả, cũng như tránh được các rủi ro pháp lý.

3.4. ĐÓNG GÓP VÀO HIỆU QỦA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA CÁC
NGUYÊN ĐƠN VÀ "BỊ ĐƠN TIỀM NĂNG".


3.4.1. Các biện pháp phòng ngừa rủi ro pháp lý trong kinh doanh.
Khi coi tranh chấp là một loại rủi ro, thì rõ ràng các nhà kinh doanh có
thể trở thành "khổ chủ " bất cứ lúc nào. Với nguyên tắc tự do lựa chọn hình
thức giải quyết tranh chấp và tổ chức cá nhân đứng ra giải quyết tranh chấp
thì họ có thể được coi là những "nguyên đơn" và "bị đơn tiềm năng" trước

80
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 81

một cơ quan tài phán như trong tài hay toà án. Khác vớid thủ tục toà án trong
thủ tục trọng tài các bên đương sự đóng vai trò năng động và tích cực vào quá
trình giải quyết tranh chấp và có ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tranh
chấp.
Nếu xem xét tranh chấp gồm tranh chấp hiện tại và tranh chấp tương lai
thì việc giải quyết tranh chấp phải gồm cả giải quyết tranh chấp hiện tại và
tranh chấp tương lai. Nói cách khác hiệu quả giải quyết tranh chấp phải tính
cả các biện pháp nhằm tránh rủi ro này. Khi có các biện pháp phòng ngừa
tranh chấp không xảy ra có thể nói đó là hiệu quả cao nhất mà doanh nghiệp
thu được.
3.4.1.1. Nghiên cứu và nắm chắc các quy định của pháp luật.
Một trong những phẩm chất của nhà kinh doanh là phải nắm vững quy
định pháp luật liên quan đế hoạt động kinh doanh của mình, không những là
những quy định trong nước mà còn cả những quy định của pháp luật nướcd
khác và quốc tế các luật bất thành văn trong hoạt động kinh doanh thương
mại. Đây là điều kiện đầu tiên để giảm tối thiểu rủi ro trong kinh doanh, đặc
biệt là kinh doanh thương mại quốc tế. Thực tế cho thấy rất nhiều tranh chấp
phát sinh do không hiểu biết rõ về quy định của pháp luật và do không làm
đúng pháp luật nên phải tự gánh chịu thiệt hại.
Là một nhà kinh doanh, không cần phải hiểu luật sâu như các luật gia
song ít nhất cũng là những vấn đề liên quan đến hoạt động của mình. Chẳng
hạn đối với một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu phải hiểu rõ những
quy định nước mình và của đối tác về mặt hàng kinh doanh, nguồn luật áp
dụng trong hợp đồng là của nước nào để có lợi cho mình, nguồn luật đó đề
cập đến việc giải quyết tranh chấp ra sao? Tranh chấp nếu xảy ra sẽ giải quyết
như thế nào và những điều kiện gì để đạt được cách giải quyết đó... Ngoài ra
doanh nghiệp còn phải nắm thật chắc các liên quan đến hoạt động xuất nhập
khẩu như quy định về kinh doanh thương mại quốc tế, về hàng hải, thanh toán
quốc tế, vận chuyển hàng hoá quốc tế, bảo hiểm...

81
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 82

3.4.1.2. Tìm hiểu kỹ càng đối tác.
Sự thành công của thương vụ cần đến sự cộng tác của cả hai bên. Nếu một
bên trục trặc cũng có nghĩa là tranh chấp có thể xảy ra. Ở đây không đề cập đến
những tranh chấp do một bên cố ý có hành vi lưa đảo, gian lận vì khi đó tranh
chấp đã có dấu hiệu phạm tội và phải được xử lý nghiêm trị theo pháp luật.
Tìm hiểu đối tác để đảm bảo rằng họ có thiện ý cộng tác với chúng ta và
có đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ như sẽ thoả thuận trong hợp đồng. Nên
phân loại bạn hàng theo nhiều tiêu thức như tầm quan trọng đối với doanh
nghiệp, thời gian cộng tác làm ăn với doanh nghiệp... để phân bổ chi phí tim
hiểu đối tác về những mặt, những khía cạnh nhất định song quan trọng hơn cả
là địa vị pháp lý và tình hình tài chính và uy tín của đối tác trên thị trường.
3.4.1.3. Thận trọng khi đàm phán soạn thảo và ký kết hợp đồng.
Hợp đồng là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
ký kết hợp đồng. Nó cũng là cơ sở pháp lý để trọng tài, toà án hay bất ký một
cơ quan giải quyết tranh chấp nào tiến hành xác định lỗi của mỗi bên, cũng
như thiệt hại và mức bồi thường tương ứng. Chính vì thế, những điều khoản
trong hợp đồng quy định càng chặt chẽ, rõ ràng, chính xác càng tốt. Một trong
những biện pháp hạn chế rủi ro và cũng để bảo vệ quyền lợi của mình khi xảy
ra tranh chấp là lông ghép các điều khoản "phòng ngừa" trong hợp đồng .
Một biện pháp bảo vệ nào đó luôn thể hiện tính hai mặt nếu là quyền của
bên bán thì sẽ là nghĩa vụ của bên mua và ngược lại. Quá trình đàm phán sẽ
dung hoà được mâu thuẫn này, thống nhất được ý chí giữa các bên. Sau đây là
một vài điều khoản "phòng ngừa" có thể được nêu ra trong hợp đồng.
+ Nếu là người mua hàng: rủi ro, tranh chấp có thể xảy ra khi người mua
đã trả trước một phần nào hoặc toàn bộ tiền hàng song người bán chần chừ
hoặc không có ý định thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, khi
người bán chậm giao hàng, khi người bán giao hàng không đủ phẩm chất, khi
đó các điều khoản phòng ngừa có thể là:



82
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 83

Loại rủi ro Điều khoản phòng ngừa
- Quy định bên bán phải có một bên thứ ba có uy tín, đủ khả
1. Đã trả
năng đứng ra đảm bảo rằng bên bán sẽ thực hiện hợp đồng;
trước một
hoặc bên thứ ba sẽ bồi thường cho bên mua nếu bên bán từ
phần tiền
chối không thực hiện hợp đồng, hoặc /và.
hàng và có
- Quy định đòi bên bán phải chuyển trước cho bên mua những
thể bị mất
giấy tờ chứng nhận bên mua được quyền sở hữu, hoặc/và.
khoản tiền
- Quy định bên bán phải chuyển cho bên mua số sản phẩm
đó:
tương đương với số tiên trả trước.
- Quy định rõ ràng, cụ thể thời hạn bắt buộc phải giao hàng hoặc /và
- Định ra các chế tài phát hoặc /và
2. Chậm giao - Quy định thời hạn để bên mua có thể đơn phương huỷ hợp
hàng đồng hoặc /và
- Thoả thuận về các trường hợp bất khả kháng và thời hạn
thực hiện hợp đồng xảy ra trong trường hợp bất khả kháng.
- Quy định hình thức nghiệm thu sản phẩm theo chất lượng
hay theo công cụ thường là sản phẩm hoặc thiết bị máy móc
3. Hàng hoá thường quy định chấp nhận theo hình thức quy định một chất
giao không lượng sử dụng. Và đối với dịch vụ thì thường quy định chấp
đúng như nhận theo công cụ hoặc/và.
chất lượng - Đòi giữ lại một khoản trả chậm để đảm bảo; hoặc /và.
đã thoả - Huỷ hợp đồng hoặc/và
thuận - Quy định các chế tài phát hoặc/và
- Đòi thay thế các sản phẩm khiếm khuyết với chi phí do bên bán
chịu.
+ Nếu là người bán hàng: tuỳ từng đối tượng mua hàng truyền thống hay
mới, khách hàng quan trọng hay không, mức độ tin tưởng... mà bên bán nên
cố gắng đưa vào hợp đồng những điều khoản phòng ngừa sau:


83
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 84

Loại rủi ro Điều khoản phòng ngừa
1. Rủi ro * Quy định về những trường hợp điều đình giá, căn cứ điều
về giá chỉnh, cách điều chỉnh giá hoặc quy định phân bố khoản chênh
lệch do tỷ tăng tỷ giá cho cả hai bên.
* Đồng tiền * Quy định về - huỷ hợp đồng
mất giá - Các chế tài phạt
- Biến động * Quy định các biện pháp bảo đảm thanh toán như: bảo lãnh đặt
của sản xuất cọc, ký quỹ, ký cược...
* Chậm Thực hiện việc giữ quyền sở hữu cho đến khi nhận được tiền
thanh toán hàng.
* Không Huỷ hợp đồng
thanh toán
2. Rủi ro liên
quan đến sản * Các chế tài phạt bao gồm cả huỷ hợp đồng
phẩm
* Không - Quy định người mua phải chịu chi phí gửi hàng
đến nhận - Quy định về chuyển rủi ro cho người mua
hàng như - Xây dựng sách lược giảm nhẹ nghĩa vụ tư vấn của người bán
đã thoả hàng bằng cách:
thuận
* Hàng hư + Dành cho khách quyền lựa chọn
hỏng trong + Nghiên cứu trước sản phẩm và cung cấp cho khách hàng
quá trình vận + Bảo lưu văn bản nếu không biết ai là người sử dụng cuối
chuyển và cùng.
* Cho rằng
hàng không
phù hợp với
yêu cầu của
anh ta.




84
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 85

Điều khoản cũng là một trong những biện pháp bảo hiểm. Trong điều
khoản cần ghi rõ cách thức giải quyết tranh chấp. Nếu lựa chọn trọng tài thì
nên quy định những nội dung về:
- Loại hình trọng tài (AD HOC - hay thường trực)
- Trung tâm trọng tài nào và địa chỉ
- Tên trọng tài viên (có thể không cần)
- Thủ tục tố tụng nên phù hợp với tổ chức trọng tài đã chọn
- Địa điểm trọng tài
- Ngôn ngữ trọng tài
- Phân chia phí trọng tài
- Luật áp dụng trong hợp đồng
- Quyết định trọng tài là trung thẩm
Nói chung, quy định rõ ràng, càng dễ thuận lợi trong giải quyết tranh chấp.
Là một nhà kinh doanh thận trọng, sau khi các điều khoản hợp đồng đã
được thoả thuận và soạn thảo xong; trước khi đặt bút ký cần kiểm tra lại lần
cuối xem trong văn bản còn thiếu sót gì không rồi mới quyết định ký. Nếu
hợp đồng được ký gián tiếp qua Fax, thư từ cần có biện pháp kiểm tra, xác
định lại các thoả thuận đã đạt lại lần cuối.
Cần để ý chút ít đến thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, ngôn ngữ sử
dụng ưu tiên, nguồn luật áp dụng trong hợp đồng, điều khoản tranh chấp. Đây
thường là những tiểu tiết bị họ cho qua trong khi ký hợp đồng, họ chỉ chú ý
đến những điều khoản chính như giá cả, sản phẩm, thanh toán, giao hàng...
mà không hay rằng những tình tiết tưởng như nhỏ kia có thể khiến cho việc
thực hiện hợp đồng bị sụp đổ hoàn toàn.
Tuy vậy, dù hợp đồng đã được xây dựng rất kỹ càng, thận trọng cũng
không thể tránh được mọi rủi ro pháp lý khi thực hiện hợp đồng: Tranh chấp
phát sinh đỏi hỏi nhà kinh doanh phải hành động một cách khôn ngoan mới
mong bảo vệ được quyền lợi của mình.




85
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 86

3.4.2. Một vài kinh nghiệm giúp doanh nghiệp đạt được giải quyết tranh
chấp hiệu quả khi xảy ra tranh chấp .
Tranh chấp là điều không được mong đợi đối với nhà kinh doanh, vì nó
gây tổn thất cho họ. Một thái độ bảo thủ khăng khăng và nóng vội thường
không đem lại kết quả như mong muốn. Trước những tranh chấp, trước hết
cần phải đánh giá, xem xét tranh chấp đó - xem xem có bao nhiêu thành công
nếu đưa ra tố tụng và giải pháp đó có hậu quả gì tới những mối quan hệ trong
tương lai... Ở đây không đề cập nhiều đến cách giải quyết tranh chấp khi thoả
thuận và ký hợp đồng vì nó chưa gây ra thiệt hại thực sự và cách giải quyết
theo một cơ chế khác hẳn. Đối với những tranh chấp khi thực hiện hợp đồng
doanh nghiệp nên xem xét đánh gia lại những điểm sau:
a. Giữa doanh nghiệp và đối tác có thoả thuận, cam kết không? Chúng ta
có bằng chứng về sự thoả thuận cam kết đó không? Với cách khác là chúng ta
xem xét về hiệu lực và giá trị pháp lý của những thoả thuận giữa hai bên trước
khi khiếu nại một bạn hàng vì đã không thực hiện được thoả thuận, chúng ta
cần xem xét lại khả năng đưa ra bằng chứng để chứng minh điều đó. Nếu
chúng ta có một hợp đồng được soạn thảo đầy đủ và được người có thẩm
quyền của tát cả các bên ký vào, thì đó chínhlà một bằng chứng mạnh mẽ
nhất. Nếu hợp đồng được ký kết thông qua việc trao đổi thư từ, điện tín, fax
thì phải kiểm tra lại những thông tin nào có giá trị điều chỉnh hợp đồng và có
phải đó là điều kiện được hai bên chấp nhận cuối cùng hay không, có thoả
thuận nào khác có thể bác bỏ những điều đó không? Trường hợp khó khăn
nhất là chúng ta không có một văn bản nào, dù chỉ là một dòng chữ ngắn gọn
của họ, lúc chứng minh cho khẳng định của chúng ta, ghi nhận chi tiết vụ
việc... Nhìn chung, ở hầu hết các quốc gia đều chấp nhận hợp đồng miệng,
song cho dù vậy, đối với một hợp đồng miệng việc chứng minh sự tồn tại của
hợp đồng là hết sức khó khăn, vậy nên các nhà kinh doanh nên ràng buộc
nghĩa vụ và quyền lợi của nhau bằng văn bản "giấy trắng mực đen".


86
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 87

b. Xem xét kỹ càng những điều gì đã được thoả thuận: thật vậy, gì có
khi chúng ta phát hiện ra rằng đã trao cho bạn hàng những quyền lực quá lớn
và do đó khó mà có thể cho rằng họ đã vi phạm nghĩa vụ. Ví dụ khi nhận hàng
tại cảng đến và hàng hoá bị kép phẩm chất trong thời gian vốn có của những
hộp đồng đã quy định kết quả giám định hàng hoá tại cảngđi là cơ sở để xác
định chất lượng và số lượng hàng hoá và biên bản giám định chứng nhận
người bán đã đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ lúc đó một biện pháp đòi hỏi
thường qúa gay gắt sẽ không đem lại kết quả. Xem xét kỹ xem việc đối tác
không thực hiện nghĩa vụ có nằm trong các trường hợp bất khả kháng đã được
thoả thuận hay không? Nhớ lại xem bạn hàng có cam kết các nghĩa vụ khác
hỗ trợ cho minh trong việc thực hiện hợp đồng hay không? Ví dụ như thoả
thuận hàng bán sẽ tư vấn cho người mua lựa chọn hàng hoá, hướng dẫn sử
dụng tốt hàng hoá... Người mua sẽ trả trước cho người bán một khoản tiền
hàng, người mua chịu trách nhiệm đưa phương tiện vận chuyển đến bốc dỡ
hàng thông báo giao hàng trong một thời gian quy định... Nếu họ không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết phụ này có nghĩa là ta có cơ sở
để buộc họ đã vi phạm hợp đồng trước.
Việc xem xét này giúp ta đánh giá được khả năng "thắng" khi đem vụ
việc ra giải quyết và buộc bên kia không thể chối cãi được về mức độ nghiêm
trọng của sự cố.
c. Xem lại xem trong hợp đồng có tính trước đến sự cố hay không?
Hợp đồng có tính trước đến sự cố đó là hợp đồng đã được áp dụng các
điều khoản phòng ngừa và biện pháp giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp
hợp đồng quy định rõ ràng các chế tài phạt các cách ứng xử trong trường hợp
một bên vi phạm hợp đồng thì chúng ta chỉ việc áp dụng các điều khoản thích
hợp. Nếu như những quy định đó là không rõ ràng, rành mạch thì hãy cố gắng
lập ra một lý lẽ đủ sức thuyết phục cho mình.
d. Xác định xem số thiệt hại là bao nhiêu? Thiệt hại đôi khi không thể
lượng hoá được một cách chính xác, xong cần phải cố gắng. Con số cụ thể sẽ

87
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 88

giúp chúng ta cân nhắc giữa cách lựa chọn giải quyết tranh chấp hoà giải hay
theo đuổi tranh tụng...
e. Nên tham khảo các chuyên gia khi xảy ra sự cố. Họ (luật sư, cố vấn
pháp lý, luật gia...) sẽ hướng dẫn chính xác cho chúng ta cần phải làm gì thậm
chí việc tham khảo ý kiến chuyên gia cũng cần phải được tiến hành khi đàm
phán. Cần cung cấp đây đủ thông tin cho các chuyên gia để có được những lời
khuyên chính xác và hữu ích trong quá trình lập hồ sơ, hoà giải và tranh tụng.
f. Xây dựng một hồ sơ vững chắc bằng cách tập hợp mọi văn bản, chứng
cứ sao cho thật lôgíc hãy cân nhắc lựa chọn nhân chứng và các công tác để
chắc chắn rằng họ có thiện ý hợp tác.
g. Thể hiện thiện chí giải quyết tranh chấp bằng con đường hoà giải
chúng ta có thể thảo ra và gửi cho đối tác những thông điệp nhắc nhở cảnh
cáo để kêu gọi sự tự nguyện tiếp tục thực hiện hợp đồng của họ hoặc ít ra là
sẽ đàm phán để giải quyết tranh chấp.
h. Kiện trước Trung tâm trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp nên
áp dụng khi các biện pháp hoà giải không thành. Phải cân nhắc kỹ càng trong
việc lựa chọn trọng tài viên là người quyết định sự công bằng của vụ việc.
Nên lựa chọn một Uỷ ban trọng tài nếu vụ việc có giá trị lớn và phức tạp. Quy
tắc tố tụng trong xét xử phải phù hợp với tổ chức trọng tài mà bạn lựa chọn.
Chẳng hạn Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam chỉ có thể thụ lý được
những vụ có chọn quy tắc tố tụng của Trung tâm. Lựa chọn Trung tâm trọng
tài thích hợp sau khi cân nhắc về chi phí cho quá trình tranh tụng (gồm chi phí
trọng tài và chi phí đi lại, ăn ở của chúng ta), và uy tín của Trung tâm trọng
tài.
Dù phán quyết của trọng tài chưa làm chúng ta vừa ý thì cũng nên thi
hành bởi theo luật pháp phán quyết này là chung thẩm. Có thể đem vụ việc
kiện ra trước Toà kinh tế, song điều này thực sự khó khăn vì Toà chỉ ghi xem
xét lại toàn bộ vụ việc khi các nguyên tắc tố tụng trọng tài bị vi phạm (điều
này thật hiểm), do đó việc theo đuổi vụ việc chỉ thêm tốn kém vô ích.
Có thể khái quát việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vào sơ đồ sau:

88
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 89

Còn tồn tại cam kết giữa Không
đối tác v chúng ta không


Không

Đánh giá tranh chấp
Đã thoả thuận những gì?
Sự việc có rõ không có
thực sự tôn trọng hợp
Chuyên
Kết thúc
Có v gia
Hợp đồng có dự kiến Có không

cần
trước sự cố không tranh vấn
Không
Thiệt hại chính xác l bao
nhiêu? v có thể chứng Không
minh được không



Bản tổng kết

Lựa chọn hình
thức


Trọng t i To án
Ho - Đưa đơn kiện v nộp phí công
giải
- Chỉ định trọng t i viên nhận
Th nh Không K
Giải quyết - Ho giải trước Uỷ ban trọng bản án
công
tranh chấp t i v
hay
- Cung cấp chứng từ v các cưỡng
không
đơn biện minh, đơn yêu cầu chế thi
- Tổ chức xét xử
h nh
- Ra phán quyết
quyết
* Phán quyết có được thi
định của

Có Có
Kết thúc


89
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 90




TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Các văn bản pháp luật.
1. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
2. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.
3. Nghị định 116/CP về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế.
4. Quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.
5. Quy tắc tố tụng trong nước của trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.
6. Quy tắc tố tụng của toà án trọng tài quốc tế Luân Đôn.
7. Quy tắc tố tụng của toà trọng tài bên cạnh phòng thương mại quốc tế.
8. Quyết định số 204-TTg thành lập Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.
9. Bản quy tắc trọng tài UNCITRAL.
10. Công ước New York về công nhận và thi hành các phán quyết của trong
tài nước ngoài.
11. Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài
nước ngoài.
12. Luật doanh nghiệp.
13. Luật thương mại.
14. Luật đầu tư nước ngoài.
II. Sách tham khảo.
1. Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương.
2. Kỹ thuật soạn thảo hợp đồng ngoại thương.
3. Giáo trình luật quốc tế.
4. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường trọng tài.
5. Luật lệ trọng tài thương mại - kinh tế các nước và quốc tế, Tập 1, 2, 3.
6. Trọng tài thương mại Việt Nam trong tiến trình đổi mới.
7. Hợp đồng kinh tế và các vấn đề giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta
hiện nay.
8. Làm thế nào để tránh rủi ro pháp lý khi mua bán

90
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 91

9. The law of international trade - D.M.Day, Bernadete Griffin - Buterworth,
London
10.Law and practice of internationnal Commercial Arbitration -Alan Radfern
& Martin Hunter - -SWET & Maxwell - london
III. Báo và tạp chí
1. Tạp chí luật học
2. Tạp chí thương mại
3. Báo diễn đàn doanh nghiệp
4. Báo Sài Gòn giải phóng
5. Thơì báo kinh tế Việt Nam




91
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 92




MỤC LỤC


Trang
Mở đầu....... ..................................................................................................... 1
Chương 1. Khái quát về tranh chấp thương mại và giải quyết tranh
chấp thương mại bằng thủ tục trọng tài ..................................... 3
1.1. Tranh chấp thương mại.......................................................................... 3
1.1.1. Tranh chấp kinh tế .......................................................................... 3
1.1.1.1. Khái niệm ................................................................................ 3
1.1.1.2. Phân loại tranh chấp kinh tế ..................................................... 4
1.1.2. Tranh chấp thương mại................................................................... 5
1.1.2.1. Khái niệm ................................................................................ 5
1.1.2.2. Phân loại tranh chấp thương mại.............................................. 7
1.1.2.3. Tranh chấp thương mại. ........................................................... 8
1.1.2.4. Tính tất yếu tồn tại tranh chấp thương mại trong nền
kinh tế thị trường. .....................................................................9
1.1.3. Giải quyết tranh chấp thương mại trong nền kinh tế thị
trường ............................................................................................ 11
1.1.3.1. Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp kịp thời và hiệu
quả.......................................................................................... 11
1.1.3.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp. ...................................... 12
1.1.3.3. Các biện pháp giải quyết tranh chấp......................................... 15
1.2. Trong tài kinh tế và giải quyết tranh chấp bằng thủ tục trong tài............ 20
1.2.1. Trọng tài. ........................................................................................ 20
1.2.1.1. Khái niệm. ............................................................................... 20
1.2.1.2. Các hình thức trọng tài kinh tế. ................................................ 20
1.2.2. Thẩm quyền giải quyết của trọng tài. .............................................. 24
1.2.3. Nguyên tắc của việc giải quyết tranh chấp ...................................... 25
1.2.4. Các vấn đề khi đưa tranh chấp ra giải quyết bằng thủ tục
trọng tài.......................................................................................... 26
1.2.4.1. Thoả thuận trọng tài. ................................................................ 26
1.2.4.2. Luật áp dụng trong hợp đồng - cơ sở pháp lý để giải
quyết tranh chấp. .................................................................... 29
1.2.4.3. Luật tố tụng của trọng tài. ........................................................ 33
1.2.4.5. Địa điểm và ngôn ngữ trọng tài................................................ 36
1.2.4.6. Giới thiệu sơ bộ về trình tự chung của thủ tục trọng tài
trên thế giới. ........................................................................... 36
1.2.4.7. Công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài....................... 39


92
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 93

Chương 2. Tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp ở Trung
tâm trọng tài quốc tế Việt Nam ................................................... 41
2.1. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam. .................................................. 41
2.1.1. Vài nét về Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam........................... 41
2.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển. .............................................. 41
2.1.1.2. Cơ cấu tổ chức của TTTT quốc tế Việt Nam............................ 43
2.1.1.3. Các hoạt động của TTTT quốc tế Việt Nam............................. 43
2.1.1.4. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trung tâm trọng
tài quốc tế Việt Nam .............................................................. 46
2.1.2.2. Bản tự bào chữa của bị đơn...................................................... 47
2.1.2.3. Lựa chọn và chỉ định của trọng tài viên.................................... 48
2.1.2.4. Đơn kiện ngược. ...................................................................... 49
2.1.2.5. Điều tra trước khi tiến hành trọng tài. ...................................... 50
2.1.2.6. Phiên họp trọng tài................................................................... 50
2.1.2.7. Quyết định trọng tài. ................................................................ 52
2.2. Thực trạng tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp
thương mại ở Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam. .......................... 54
2.2.1. Các yếu tố chi phối đến tranh chấp và giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài ở Việt Nam. ............................................................. 54
2.2.2. Các tranh chấp thương mại kiện tới trung tâm trọng tài quốc
tế Việt Nam.................................................................................... 57
2.2.2.1. TTTT quốc tế Việt Nam là tổ chức trọng tài được biết
đến nhiều nhất ở nước ta......................................................... 57
2.2.2.2. Các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp của các vụ việc
kiện ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam........................ 59
2.2.2.3. Đương sự trong tranh chấp....................................................... 60
2.2.3. Thực trạng giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài quốc
tế Việt Nam.................................................................................... 61
2.2.3. Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động giải quyết tranh
chấp ở Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam................................. 63
2.2.3.1. Đối với bản thân Trung tâm ..................................................... 63
2.2.3.2. Đối với doanh nghiệp............................................................... 66
Chương 3. Một số quan điểm và phương hướng nhằm nâng cao hiệu
quả giải quyết tranh chấp bằng thủ tục trọng tài tại trung
tâm trọng tài quốc tế Việt Nam ................................................... 69
3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến hướng phát triển của trọng tài
thương mại Vịêt Nam........................................................................... 69
3.2. Cần một sự hỗ trợ của chính phủ cho hiệu quả của hoạt động
trọng tài................................................................................................ 71
3.2.1. Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động trọng tài . ....................... 71
3.2.2. Hỗ trợ về tài chính. ......................................................................... 74
3.2.3. Hỗ trợ đào tạo nhân lực và cung cấp thông tin. ............................... 75
3.3. Sự nỗ lực của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam . ........................... 76

93
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp TTTT quèc tÕ ViÖt Nam 94

3.3.1. Luôn phải quan tâm đặc biệt đến vấn đề chất lượng và số
lượng trọng tài viên của Trung tâm . .............................................. 76
3.3.2. Xây dựng quy tắc tố tụng chặt chẽ mà vẫn linh hoạt. ...................... 77
3.3.3. Nghiên cứu, xây dựng và kiện toàn bộ máy thường trực của
Trung tâm, thành lập ban thư ký thay vì chỉ có một thư ký
thường trực như hiện nay. .............................................................. 78
3.3.4. Đẩy mạnh hợp tác trong nước và quốc tế. ....................................... 79
3.3.5. Mở rộng dịch vụ tư vấn................................................................... 79
3.4. Đóng góp vào hiệu qủa giải quyết tranh chấp của các nguyên
đơn và "bị đơn tiềm năng"................................................................... 80
3.4.1. Các biện pháp phòng ngừa rủi ro pháp lý trong kinh doanh. ........... 76
3.4.1.1. Nghiên cứu và nắm chắc các quy định của pháp luật................ 81
3.4.1.2. Tìm hiểu kỹ càng đối tác.......................................................... 82
3.4.1.3. Thận trọng khi đàm phán soạn thảo và ký kết hợp đồng........... 77
3.4.2. Một vài kinh nghiệm giúp doanh nghiệp đạt được giải quyết
tranh chấp hiệu quả khi xảy ra tranh chấp ...................................... 86
Tài liệu tham khảo ......................................................................................... 90




94

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản