Đề tài “Hiện trạng và một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty may Chiến Thắng"

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:77

2
1.054
lượt xem
707
download

Đề tài “Hiện trạng và một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty may Chiến Thắng"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trước đây trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều phải tuân theo kế hoạch của nhà nước giao. Ba vấn đề cơ bản của sản xuất kinh doanh là sản xuất cái gì?, sản xuất cho ai? và sản xuất như thế nào? đều do nhà nước chỉ định sẵn chứ doanh nghiệp không có quyền chủ động xây dựng. Do vậy các doanh nghiệp thường không coi trọng hiệu quả kinh tế và hạch toán kinh tế chỉ là hình thức. Khi có chuyển đổi sang cơ chế...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài “Hiện trạng và một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty may Chiến Thắng"

  1. LUẬN VĂN “Hiện trạng và một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty may Chiến Thắng"
  2. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU ........................................................................................................................... 3 PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH .................................... 4 1- KHÁI NIỆM VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH ...................................................................... 4 1.1 - HIệU QUả KINH DOANH Từ HOạT ĐộNG SảN XUấT KINH DOANH THÔNG THƯờNG:....................... 5 1.2 -KếT QUả KINH DOANH Từ HOạT ĐộNG KHÁC: .......................................................................... 6 1.3 - CÁC NHÂN Tố ảNH HƯởNG ĐếN HIệU QUả KINH DOANH: .......................................................... 7 1.4 Ý NGHĨA CủA HIệU QUả KINH DOANH ..................................................................................... 8 2. - CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ............. 9 2.1 - CÁC CHỉ TIÊU HIệU QUả KINH DOANH TổNG HợP ..................................................................... 9 2.2 - CÁC CHỉ TIÊU HIệU QUả KINH DOANH Bộ PHậN ..................................................................... 11 3. HIỆU QỦA KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU. ........................................................... 12 3.1 KINH DOANH XUấT NHậP KHẩU -ĐộNG LựC PHÁT TRIểN NềN KINH Tế ĐấT NƯớC. ........................ 12 3.2. CÁC CHỉ TIÊU BIểU HIệN HIệU QUả Cụ THể CủA CÁC HOạT ĐộNG XUấT KHẩU, NHậP KHẩU. ........... 13 PHẦN II: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH ................................................................. 14 CỦA CÔNG TY MAY CHIẾN THẮNG .................................................................................. 14 1 - QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY ...................................... 14 1.1 - QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ................................................................................................... 14 1.2 - CÁC GIAI ĐOạN PHÁT TRIểN:............................................................................................... 14 2 - ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH. ........................................................................................... 16 2.1 - MÔ HÌNH Tổ CHứC QUảN LÝ VÀ CHứC NĂNG NHIệM Vụ CủA CÁC Bộ PHậN:............................... 16 2.2 - ĐặC ĐIểM Tổ CHứC SảN XUấT CủA CÔNG TY: ......................................................................... 17 2.3 - ĐặC ĐIểM Về TÀI CHÍNH VÀ CƠ Sở VậT CHấT Kỹ THUậT: ......................................................... 19 2.4 - ĐặC ĐIểM Về THị TRƯờNG LAO ĐộNG: .................................................................................. 21 2.5 - ĐặC ĐIểM Về SảN PHẩM: ...................................................................................................... 22 3 - TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SXKD, XK CỦA CTY MAY CHIẾN THẮNG ........................ 22 4 - ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY MAY CHIẾN THẮNG ............. 26 4.1 - CÔNG TÁC LậP Kế HOạCH TĂNG HIệU QUả KINH DOANH CủA CÔNG TY ................................... 26 4.2 - TÌNH HÌNH THựC HIệN LợI NHUậN VÀ CÁC CHỉ TIÊU HIệU QUả TổNG HợP CủA CÔNG TY:............ 29 4.3 - TÌNH HÌNH HIệU QUả TừNG MặT CủA CÔNG TY ..................................................................... 32 4.4 - PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH HIệU QUả KINH DOANH CủA CÔNG TY QUA CÁC NĂM, CÁC NHÂN Tố ảNH HƯởNG ĐếN HIệU QUả KINH DOANH: ....................................................................... 33 PHẦN III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO ....................................... 37 HIỆU QUẢ KINH DOANH..................................................................................................... 37 CỦA CÔNG TY MAY CHIẾN THẮNG .................................................................................. 37 1 - ĐÁNH GIÁ CHUNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CTY MAY CHIẾN THẮNG: ....... 37 2 - MộT Số BIệN PHÁP Cụ THể NHằM NÂNG CAO HQKD CủA CTY MAY CHIếN THắNG...................... 37 2.1 - Đề XUấT 1: ....................................................................................................................... 38 2.2 - Đề XUấT 2: ........................................................................................................................ 38 2.3 - Đề XUấT 3: ........................................................................................................................ 40 2.4 - Đề XUấT 4: ........................................................................................................................ 40 2.5 - Đề XUấT 5: ........................................................................................................................ 41 3. MộT Số KIếN NGHị KHÁC. ....................................................................................................... 43 KẾT LUẬN ............................................................................................................................. 45
  3. LỜI NÓI ĐẦU Trước đây trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều phải tuân theo kế hoạch của nhà nước giao. Ba vấn đề cơ bản của sản xuất kinh doanh là sản xuất cái gì?, sản xuất cho ai? và sản xuất như thế nào? đều do nhà nước chỉ định sẵn chứ doanh nghiệp không có quyền chủ động xây dựng. Do vậy các doanh nghiệp thường không coi trọng hiệu quả kinh tế và hạch toán kinh tế chỉ là hình thức. Khi có chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước thì mọi doanh nghiệp phải tự chủ về mặt tài chính, tự xây dựng phương án kinh doanh, tự tìm đầu vào và đầu ra, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Dưới tác động của quy luật kinh tế trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải sử dụng các nguồn lực của mình một cách có hiệu quả nhất, coi hiệu quả kinh doanh là mục tiêu hàng đầu, thực sự chú trọng hạch toán kinh tế, đảm bảo nguyên tắc lấy thu bù chi và có lợi nhuận. Duy trì con đường đổi mới cơ chế kinh tế hơn 10 năm qua, diện mạo nền kinh tế nước ta đã có nhiều thay đổi. Những thành tựu và kết quả đạt được trong lĩnh vực kinh tế đã ngày càng khẳng định đường lối chỉ đạo chuyển hướng của Đảng sang nền kinh tế thị trường là đúng đắn và sáng suốt. Thị trường trong nước được mở mang, các ách tắc trong sản xuất và lưu thông được giải quyết, các cơ hội học hỏi bên ngoài, học tập kinh nghiệm lẫn nhau ngày càng nhiều, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển, sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả cao. Đảng và Nhà nước xác định xây dựng sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá hướng về xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu mở rộng thị trường, tiếp thu công nghệ mới của các nước tiên tiến, tận dụng được lợi thế kinh doanh mang lại hiệu quả kinh doanh lớn hơn nhiều so với thập niên trước. Hiệu quả kinh doanh là kết quả của quá trình lao động của con người, là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển, là nguồn mang lại thu nhập cho người lao động đồng thời là nguồn tích luỹ cơ bản để thực hiện tái sản xuất xã hội. Có thể nói hiệu quả kinh doanh là việc tạo ra nhiều lợi nhuận có ý nghĩa rất quan trọng và thiết thực đối với toàn xã hội, doanh nghiệp và với từng cá nhân người lao động. Xuất phát từ những ý nghĩa đó mà cần phải tạo ra lợi nhuận và tìm mọi cách để tăng lợi nhuận. Việc phấn đấu tăng lợi nhuận không chỉ là vấn đề quan tâm của doanh nghiệp mà còn là của toàn xã hội cũng như các nhân mỗi người lao động. Đó là một đòi hỏi tất yếu và bức thiết hiện nay. Do vậy, hiện nay hơn bao giờ hết các doanh nghiệp phải giải quyết bằng được vấn đề làm thế nào để không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh và có lợi nhuận. Trước hết là để không bị phá sản và sau đó là để phát triển quy mô kinh doanh, chiến thắng đối thủ cạnh tranh, nâng cao uy tín, thế lực của doanh nghiệp trên thị trường. Nhận thức được tầm quan trọng của hiệu quả kinh doanh đối với sự thành công của doanh nghiệp, tôi đã chọn đề tài “Hiện trạng và một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty may Chiến Thắng" cho khoá luận tốt nghiệp của mình. Ngoài lời nói đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khoá luận được chia làm 3 phần chính sau : Phần I : Những vấn đề lí luận về hiệu quả kinh doanh. Phần II : Đánh giá hiệu quả kinh doanh ở công ty may Chiến thắng. Phần III : Một số biện pháp nhằm góp phần tăng hiệu quả kinh doanh ở công ty may Chiến thắng.
  4. PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH 1- KHÁI NIỆM VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH Hiệu quả kinh doanh như chúng ta đã biết là kết quả của quá trình lao động của con người. Trong quá trình lao động con người tạo ra được của cải xã hội mà để vật hoá chúng, ta gọi là hàng hoá.Vậy ta phải xem xét cơ cấu giá trị hàng hoá để tìm ra đâu là hiệu quả kinh doanh. Theo Mác: Nếu gọi giá trị hàng hoá là G và G = C + V + m Trong đó: C : là chi phí lao động sống V : là lao động vật hóa để sản xuất ra sản phẩm m : là giá trị thặng dư. Vậy khi quan niệm (C + V) là chi phí sản xuất sản phẩm thì số tiền nhà tư bản thu được trội hơn so với chi phí đã bỏ ra (phần m) được gọi là lợi nhuận hay đó chính là hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Giá trị hàng hoá = Chi phí + Lợi nhuận Vậy nâng cao hiệu quả là nâng cao lợi nhuận, nó là giá trị thặng dư. Tuy nhiên lợi nhuận thường không bằng giá trị thặng dư. Lợi nhuận thường cao hơn hoặc thấp hơn tuỳ thuộc vào giá bán hàng hóa do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định. Trong cơ chế thị trường hiệu quả kinh doanh được xác định là mục tiêu cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đứng trên góc độ của doanh nghiệp, ta thấy hiệu quả kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Để cung cấp sản phẩm hàng hoá dịch vụ cho thị trường, các nhà sản xuất phải bỏ vốn vào thực hiện quá trình sản xuất. Họ mong muốn tối đa hóa hiệu quả (Chi phí cho các yếu tố đầu vào ít nhất và bán hàng hóa của họ với giá cao nhất) để sau khi trừ đi các chi phí dư dôi không không những đủ cho tái sản xuất giản đơn, mà còn cho tái sản xuất mở rộng, không ngừng tích lũy phát triển sản xuất, củng cố tăng cường vị trí của doanh nghiệp trên thị trường. Theo đó lợi nhuận được định nghĩa một cách khái quát là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí: Tổng lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình doanh nghiệp có thể tiến hành nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau, do đó hiệu quả mang lại cũng nhiều loại. Theo chế độ kế toán mới đã điều chỉnh, theo 4 chuẩn mực kế toán đầu tiên hiện nay người ta chia làm 3 bộ phận cấu thành nên nội dung lợi nhuận của doanh nghiệp là: Hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường tạo nên hiệu quả kinh doanh từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động tài chính doanh nghiệp tạo nên hiệu quả kinh doanh từ hoạt động tài chính. Hoạt động khác của doanh nghiệp tạo nên hiệu quả kinh doanh từ hoạt động bất thường. Nếu quan niệm hoạt động SXKD chính của doanh nghiệp là hoạt động kinh doanh thông thường, còn các hoạt động tài chính và bất thường là hoạt động khác, thì ta có công thức xác định lợi nhuận như sau: Kết quả kinh doanh Kết quả kinh doanh = + Kết quả KD khác của doanh nghiệp từ hoạt động SX Kết quả Kết quả KD Kết quả kinh doanh khác = + từ hoạt động tài chính từ HĐ bất thường Do Hiệu quả kinh doanh được xác định là một trọng điểm của công tác quản lý nên để đáp ứng các yêu cầu quản trị doanh nghiệp nếu chỉ có các thông tin kết quả kinh doanh nói chung (tổng lãi hoặc lỗ) của doanh nghiệp thì chưa đủ. Người quản trị doanh nghiệp cần nắm chắc các thông
  5. tin chi tiết về kết quả sản xuất kinh doanh của từng loại hoạt động, từ đó mới có cách đánh giá đúng nhất, đưa ra các quyết sách hay nhất cho công tác quản lý điều hành doanh nghiệp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. Vì vậy cần tiếp tục đi sâu vào các nội dung cụ thể của lợi nhuận trong doanh nghiệp. 1.1 - Hiệu quả kinh doanh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường: Lợi nhuận ròng hay thực lãi của đơn vị sản xuất kinh doanh là một phần của thu nhập thuần tuý sau khi trừ thuế. Về nguyên tắc lợi nhuận được tính theo công thức: P = D - ( Z + Th  T0 )1 Trong đó: P : Tổng lợi nhuận thu được từ SXKD D : Doanh thu tiêu thụ sản phẩm (Hoặc được thực hiện dịch vụ) Z : Giá thành toàn bộ khối lượng SP (hoặc dịch vụ) Th : Thuế các loại T0 : Tổn thất hoặc thu nhập ngoài hoạt động cơ bản. Giá thành toàn bộ khối lượng sản phẩm ( Z ) gồm: Giá vốn hàng hoá Chi phí bán hàng Chi phí quản lý doanh nghiệp Kết quả từ hoạt động sản xuất kinh doanh là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận thực hiện của doanh nghiệp. Đây là yếu tố cơ bản nhất quyết định số lãi (hay lỗ) của doanh nghiệp sau kỳ kinh doanh trong đó các chỉ tiêu của công thức trên được giải thích cụ thể như sau: Tổng doanh thu (Doanh thu bán hàng): là trị giá sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất, chế biến và đem bán hoặc cung cấp cho khách hàng và được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Số tiền doanh nghiệp thu được hoặc số tiền ghi trên hóa đơn theo thoả thuận giữa doanh nghiệp và khách hàng sau khi kết thúc việc mua bán hàng hóa đó được gọi là doanh thu bán hàng. Giá vốn hàng bán : Là trị giá vốn của hàng hoá, sản phẩm dịch vụ đã tiêu thụ. Có 4 phương pháp xác định giá vốn hàng hoá: + Nhập trước - xuất trước ( FI FO) + Nhập sau - xuất trước (LI FO) + Bình quân gia quyền + Giá trị đích danh Chi phí bán hàng: Là các chi phí mà doanh ngiệp đã chi ra phục vụ việc bán sản phẩm hàng hóa của mình như: + Chi phí quảng cáo giới thiệu sản phẩm. + Chi phí bao gói hàng hóa. + Chi phí tiền lương trả công nhân viên bán hàng. + Chi phí mua sắm sửa chữa phương tiện vận chuyển phục vụ bán hàng. + Hoa hồng phí trả cho đại lý bán hàng. Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ chi phí doanh nghiệp chi ra phục vụ cho quản lý toàn doanh nghiệp. Chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng và chi phí SX chung là các loại chi phí không tính trực tiếp cho từng sản phẩm mà phải phân bổ cho từng kỳ. Cho nên trong quản lý doanh nghiệp nói chung và quản lý lợi nhuận nói riêng việc quản lý tốt các loại chi phí này chính là hướng cơ bản để tiết kiệm chi phí góp phần tăng lợi nhuận, bởi trong điều kiện SXKD như hiện nay, khi các khoản mục chi phí nhân công, chi phí vật liệu đã được tính toán chính xác theo các định mức thì chỉ giảm thiểu các chi phí chung để tăng thu lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chi phí quản lý doanh nghiệp có thể gồm: 1 Nguồn : Giáo trình Kinh tế và quản lý Công nghiệp NXB GD Tr. 149
  6. + Chi phí tiền lương cho nhân viên quản lý. + Chi phí vật liệu dùng cho quản lý. + Chi phí khấu hao tài sản cố định dùng cho quản lý doanh nghiệp. + Thuế, phí, lệ phí. + Các khoản dự phòng giảm giá tồn kho và dự phòng phải thu khó đòi. + Chi phí dịch vụ mua ngoài. + Chi phí khác bằng tiền. Thuế các loại: là các loại thuế đánh vào doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp còn phải nộp thuế VAT. Đây là khoản thuế gián thu và thuế này đánh vào người tiêu dùng. Doanh nghiệp chỉ là người thu hộ nhà nước khi thực hiện tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa của mình, cho nên khoản này thực tế không trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên lại làm tăng giá bán của sản phẩm mà người tiêu dùng là người phải chịu nên cũng ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Các loại giảm trừ khác: Chiết khấu: là số tiền được tính trên tổng doanh thu mà doanh nghiệp cho khách hàng được hưởng vì các lý do ưu đãi nào đó nhằm mục đích đẩy mạnh tiêu thụ, đẩy mạnh công tác thu nợ. Vậy nếu chỉ xét biểu hiện bên ngoài thì chiết khấu được xem như một khoản ghi giảm doanh thu, dẫn đến giảm lợi nhuận, nhưng thực chất kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, khi mà người mua đóng vai trò quyết định trên thị trường thì việc áp dụng các hình thức chiết khấu một cách hợp lý được xem là một trong các cách để tăng lợi nhuận. Tuy doanh nghiệp bị giảm bớt đi một phần lợi nhỏ trước mắt, nhưng nhìn về tổng thể lâu dài việc tăng khối lượng hàng bán ra được xem là hướng cơ bản nhất để tăng lợi nhuận. Các khoản giảm giá, bớt giá hoặc hối xuất cho khách hàng: Đây cũng là khoản ghi giảm doanh thu nhưng tính chất hoàn toàn khác với chiết khấu. Thực chất giảm giá, bớt giá là việc doanh nghiệp buộc phải giảm cho khách ngoài hóa đơn do nguyên nhân đặc biệt như hàng bị kém phẩm chất, sai mẫu mã hoặc bị vi phạm hợp đồng (Thời gian, địa điểm...) mà lỗi đó thuộc về phía doanh nghiệp. Đối với khoản này doanh nghiệp phải hạn chế đến mức tối đa nhằm giữ uy tín của mình, đồng thời đó cũng là tránh việc giảm lợi nhuận do phải chi cho những lý do không nên có. Doanh thu hàng bán bị trả lại : Đây là khoản tiền đã thu được do bán hàng nhưng phải hoàn trả lại cho khách hàng do hàng không đảm bảo chất lượng và công dụng như khi bán, trong khoảng thời gian nhất định cho phép với từng mặt hàng. Đây cũng là một khoản giảm trừ gây thiệt hại cho doanh nghiệp, nhưng cũng là điều mà doanh nghiệp nào cũng phải lưu tâm khi muốn đứng vững trên thương trường phải cung cấp hàng bảo đảo chất lượng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi của khách hàng. 1.2 -Kết quả kinh doanh từ hoạt động khác: Ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, các doanh nghiệp còn tiến hành các hoạt động khác như hoạt động tài chính và hoạt động bất thường. Để tiến hành các hoạt động này doanh nghiệp cũng phải bỏ ra các chi phí và phải đảm bảo thu hồi lại và có lãi. Phần lãi đó được gọi là hiệu quả kinh doanh từ hoạt động tài chính và hiệu quả kinh doanh từ hoạt động bất thường. Kết quả kinh doanh từ hoạt động tài chính được xác định là khoản chênh lệch giữa thu nhập từ hoạt động tài chính và các chi phí của hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Nó được biểu diễn bằng công thức sau: Kết quả KD Thu nhập Chi phí = - từ hoạt động tài chính từ hoạt động tài chính hoạt động tài chính Thu nhập từ hoạt động tài chính, bao gồm: Thu nhập từ hoạt động tham gia góp vốn liên doanh. Thu nhập từ việc doanh nghiệp cho thuê tài sản cố định. Thu nhập từ hoạt động mua bán cổ phiếu, trái phiếu ngắn hạn và dài hạn.
  7. Thu nhập từ lãi tiền gửi ngân hàng, lãi cho vay, lãi do bán ngoại tệ. Chi phí hoạt động tài chính phản ánh các khoản chi phí và các khoản liên quan đến hoạt động về vốn như sau: Chi phí do doanh nghiệp tham gia liên doanh Chi phí cho việc đầu tư vào các hoạt động tài chính của doanh nghiệp Chi phí liên quan đến vốn vay, mua bán ngoại tệ Các khoản lỗ do tham gia liên doanh Kết quả từ hoạt động khác: là chệnh lệch giữa thu nhập từ hoạt động khác của doanh nghiệp và các khoản chi phí cho các nghiệp vụ đó. Thu nhập khác của doanh nghiệp: là những khoản thu nhập không được xác định là những thu nhập thường xuyên của doanh nghiệp, đó là những khoản thu nhập không có sự xác định từ trước, như: Thu về nhượng bán thanh lý tài sản cố định của doanh nghiệp Thu về vi phạm hợp đồng kinh tế Khoản nợ khó đòi xử lý vào lỗ kinh doanh nay bỗng dưng thu được... Nhu vậy, ta xác định được chỉ tiêu tổng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp (lợi nhuận trước thuế) theo công thức: Tổng HQKD= HQKD từ hoạt động SXKD+HQKD từ hoạt động TC+ HĐKD từ hoạt động khác Theo quy định về quản lý tài chính nhà nước thì mọi tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc có thu nhập nhất định phải có nghĩa vụ đóng một khoản nhất định vào ngân sách nhà nước, khoản đó gọi là thuế thu nhập doanh nghiệp (trước đây là thuế lợi tức). Phần lợi nhuận còn lại sau khi doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được gọi là lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau thuế), đây mới là khoản mà doanh nghiệp thực sự được hưởng, doanh nghiệp có thể dùng để: Bảo toàn vốn, lập các quỹ doanh nghiệp, chia lãi liên doanh, tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng.... 1.3 - Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh: Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh toàn bộ hiệu quả của quá trình kinh doanh kể từ lúc bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường, chuẩn bị và tổ chức quá trình sản xuất - kinh doanh đến khâu tổ chức bán hàng và dịch vụ cho thị trường. Hiệu quả kinh doanh là thước đo phản ánh cả mặt lượng và mặt chất. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động hỗn hợp của nhiều nhân tố: Nhân tố thứ nhất là nhân tố quy mô sản xuất hàng hóa của doanh nghiệp tức là nhân tố sản lượng hàng hóa tiêu thụ. Nếu trong điều kiện giá bán đơn vị sản phẩm không thay đổi thì khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ tăng lên, doanh thu của doanh nghiệp tăng lên, điều đó có thể tạo điều kiện cho lợi nhuận cũng tăng lên. Như chúng ta đã biết quan hệ cung cầu về hàng hóa trên thị trường thay đổi sẽ làm cho giá cả sản phẩm thay đổi. Mặt khác nhu cầu thị trường là có hạn. Nếu như cung sản phẩm của doanh nghiệp lớn hơn cầu sản phẩm của thị trường, buộc doanh nghiệp phải hạ giá bán dẫn đến giảm doanh thu, doanh thu không bù đắp chi phí, tức là lỗ hoặc là không có lợi nhuận. Vậy đối với nhân tố sản lượng, doanh nghiệp cần nắm thông tin thị trường một cách chính xác về nhu cầu sản phẩm thì mới có thể tăng được lợi nhuận của doanh nghiệp lên. Nhân tố thứ hai là nhân tố giá thành sản xuất: Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để hoàn thành việc sản xuất ra sản phẩm mang tiêu thụ. Giá cả và chất lượng các yếu tố đầu vào gồm: Lao động, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị... và phương tiện kết hợp các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh sẽ quyết định trực tiếp đến chi phí sản xuất doanh nghiệp phải chi ra. Do đó có tác dụng trực tiếp đến lợi nhuận cuả doanh nghiệp và có tác động ngược chiều. Nếu giá thành càng tăng, lợi nhuận càng giảm.
  8. Nhân tố thứ ba là nhân tố giá bán hàng hóa dịch vụ cùng toàn bộ các hoạt động nhằm thúc đầy quá trình bán hàng, tiêu thụ sản phẩm và thu hồi vốn, đặc biệt là hoạt động marketing và công tác tài chính doanh nghiệp. Do giá bán đơn vị sản phẩm chính là doanh thu tiêu thụ đơn vị sản phẩm nên trong điều kiện giá thành và chất lượng đơn vị sản phẩm không đổi, giá bán tăng sẽ làm doanh thu tăng từ đó làm tăng hiệu quả kinh doanh. Nhưng trên thực tế, doanh nghiệp không nên và không thể đưa giá bán sản phẩm của mình lên trên giá chung của thị trường mà trái lại xu hướng hiện nay là: Lấy giá bán làm chiến lược để chiến thắng trong cạnh tranh, bằng cách hạ giá bán trên cơ sở tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành, đẩy mạnh tiêu thụ, nhằm tăng doanh thu dẫn đến tăng hiệu quả kinh doanh. Đó là một chính sách hết sức tiến bộ, đúng đắn, cũng là một trong những hướng cơ bản để giả bài toán “hiệu quả kinh doanh” cho nhà quản trị doanh nghiệp. Nhân tố thứ tư là nhân tố kết cấu mặt hàng: Trong điều kiện kinh tế thị trường, sản xuất cái gì và sản xuất bao nhiêu là do thị trường quyết định. Do đó kết cấu mặt hàng của doanh nghiệp phải thay đổi thường xuyên theo yêu cầu của thị trường, nhằm đảm bảo việc sản xuất, tiêu thụ, thực hiện lợi nhuận được ổn định. Và nếu doanh nghiệp tăng được các mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận cao, giảm các mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận thấp sẽ tăng được lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhân tố thứ năm là những nhân tố về nguồn lực ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh đó là đầu tư phát triển: nhân lực, thiết bị, công nghệ là những vấn đề mà doanh nghiệp luôn luôn cần chú trọng và rà soát để có hướng kịp thơì với kinh tế thị trường nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh. Nhân tố thứ sáu mang tính khách quan nhưng cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đó là thuế phải nộp cho ngân sách Nhà nước. Nếu cố định các yếu tố khác mà thuế tăng thì tất yếu lợi nhuận giảm và ngược lại. Tóm lại: do tính chất tổng hợp của hiệu quả kinh doanh, cho nên doanh nghiệp muốn có lợi nhuận cao phải luôn có chiến lược và phương án kinh doanh tổng hợp, đồng bộ để không ngừng phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của các nhân tố trên, nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh là hiệu quả kinh doanh và tối đa hoá lợi nhuận. 1.4 Ý nghĩa của Hiệu quả kinh doanh Đối với xã hội: Hiệu quả kinh doanh là động lực phát triển đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung. Nhà nước thông qua chỉ tiêu lợi nhuận để đánh giá hiệu quả sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp bằng nhiều công cụ, trong đó có công cụ thuế. Thông qua việc thu thuế lợi tức (nay là thuế thu nhập doanh nghiệp) Nhà nước tạo lập được quỹ ngân sách Nhà nước - một khâu quan trọng trong hệ thống tài chính - đóng vai trò là một nguồn vốn trong xã hội, từ đó Nhà nước có thể thực hiện vai trò quản lý tài chính nhà nước của mình như đầu tư vào các ngành mũi nhọn, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (xây dựng đường xá, cầu cống, điện nước...) góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển, thực hiện chức năng quản lý đất nước, giữ vững an ninh trật tự an toàn xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội... Đối với doanh nghiệp: Hiệu quả là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Hiệu quả giữ một vị trí hết sức quan trọng trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế “lấy thu bù chi và đảm bảo có lãi” thì doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không điều đó phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận và nhiệu lợi nhuận hay không? Với ý nghĩa và kết quả , mục đích, động lực, đòn bẩy của sản xuất - kinh doanh, lợi nhuận được xem là thước đo cơ bản và quan trọng nhất, đánh giá hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp. Hiệu quả có tác động đến tất cả các hoạt động, quyết định trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thực hiện tốt chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp lành mạnh, vững chắc bởi mức lợi nhuận thực hiện cao hay thấp sẽ quyết định khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt hay không tốt, trên cơ sở đó tăng thêm uy tín của doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các kỳ kinh doanh tiếp theo. Vậy có thể kết luận đối với doanh nghiệp phấn đấu cải tiến hoạt động sản xuất, quản lý tốt các yếu tố chi phí làm cho giá thành sản phẩm của doanh nghiệp hạ, doanh nghiệp có điều kiện hạ giá bán, tăng sức cạnh tranh
  9. cho sản phẩm hàng hóa của mình dẫn đến đẩy mạnh tiêu thụ, tăng thu lợi nhuận một cách trực tiếp. Ngược lại, nếu giá thành tăng sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Cho nên có thể nói, lợi nhuận có vai trò phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất - kinh doanh, là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xem xét điều chỉnh hoạt động của mình đi đúng hướng. Ngoài ra lợi nhuận còn có vai trò là nguồn tích luỹ để doanh nghiệp bổ sung vốn vào quá trình sản xuất, trích lập các quỹ doanh nghiêp theo quy định như: Quỹ phát triển kinh doanh, quỹ dự trữ, quỹ khen thường, phúc lợi... từ các quỹ này giúp doanh nghiệp có điều kiện bổ sung vốn, thực hiện tái sản xuất mở rộng, đầu tư chiều sâu, đổi mới hiện đại hoá máy móc thiết bị, tăng quy mô sản xuất, cũng như nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp...vv. Đối với cá nhân người lao động: Việc tăng được lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp bổ sung vào các quỹ doanh nghiệp, tăng quỹ khen thưởng phúc lợi, trợ cấp mất việc làm...vv từ đó giúp việc tái sản xuất sức lao động được tốt hơn, tăng được năng suất lao động cũng như tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động. 2. - CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 - Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp nhằm đạt kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất. Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu bộ phận. Các chỉ tiêu đó phải phản ánh được sức sản xuất, suất hao phí cũng như sức sinh lời của từng yếu tố, từng loại vốn. Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = Yếu tố đầu vào Trong tổ chức hạch toán kế toán doanh nghiệp cần phân biệt 3 chỉ tiêu lợi nhuận trong kinh doanh sau: Lợi nhuận gộp (LG) Lợi nhuận thuần trước thuế (LT) Lợi nhuận thuần sau thuế hay lãi ròng (L) Lợi nhuận gộp (LG): là tổng lãi chưa trừ đi các khoản chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp: LG = G - GT - CZ2 (1) Trong đó: G : Tổng doanh thu bán hàng GT : Các khoản giảm trừ (GT) CZ : Tổng giá vốn hạch toán Hoặc: LG = DT - CZ (2) Trong đó: DT : Tổng doanh thu thuần Mà: Tổng doanh thu thuần = Tổng doanh thu bán hàng - Các khoản giảm trừ 2 Nguồn : Giáo trình Phân tích hoạt động kinh tế-Trường ĐHKTQD-NXB GD-1997 Tr.191
  10. Trong thực tế có 4 khoản giảm trừ: Chiết khấu thương mại:Là tiền thưởng cho người mua do trong một lần mua đã mua một khối lượng hàng lớn của doanh nghiệp. Khoản tiền này tính trên giá đơn vị hàng bán ra trong thời gian này. Giảm giá hàng ngoài hóa đơn: là khoản tiền giảm giá do một số nguyên nhân như giao hàng không đúng tiến độ, không đúng địa điểm, không đúng quy cách phẩm chất. Hàng bán bị trả lại. Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu. Từ công thức (1) ta có: Lợi nhuận gộp có thể tính theo công thức: LG = Q’i(Pi - GTi - Zi) (3) Trong đó: Q’i : Tổng lượng sản phẩm tiêu thụ của sản phẩm i Zi : Giá vốn tính trên 1 đơn vị sản phẩm tiêu thụ của sản phẩm i GTi : Khoản giảm trừ tính trên 1 đơn vị sản phẩm của sản phẩm i Pi : Giá bán 1 đơn vị sản phẩm của sản phẩm i Từ công thức (2) ta có: Lợi nhuận gộp có thể tính theo công thức: LG = Q’i(DTi - Zi) (4) Trong đó: DTi : là doanh thu thuần của 1 đơn vị sản phẩm i Chú ý: Khi phân tích lãi người ta thường hay áp dụng công thức (3) và (4) Lợi nhuận thuần trước thuế (LT): là chỉ tiêu lãi sau khi đã trừ chi phí các khoản chi phí bán hàng và chi phí quản lý hay là chỉ tiêu lãi sau khi trừ đi chi phí tiêu thụ: LT = G - GT - CZ - C 3 (5) Trong đó: C : là tổng chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Hay: LT = DT - CZ - C (6) LT = Q’i(Pi - GTi - Zi - Ci) (7) LT = Q’i(DTi - Zi - Ci) (8) Lợi nhuận thuần (L): là chỉ tiêu lãi sau khi đã trừ đi thuế lợi tức hay thuế thu nhập doanh nghiệp nộp ngân sách nhà nước: L = G - GT - Cz - C -T (9) Trong đó: T : là tổng thuế lợi tức nộp ngân sách nhà nước trong kỳ Mà: DT = G - GT 3 Nguồn : Giáo trình Phân tích hoạt động kinh tế-Trường ĐHKTQD-NXB GD-1997 Tr.210
  11. Nên: L = DT - CZ - C -T (10) L = Q’i(Pi - GTi - Zi - Ci - Ti) (11) L = Q’i(DTi- Zi - Ci - Ti) (12) Chú ý: Người ta thường phân tích lãi theo công thức (11) và (12) 2.2 - Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận Hiệu quả sử dụng vốn Để tiến hành sản xuất kinh doanh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và vốn chuyên dùng khác (quỹ công ty, vốn xây dựng cơ bản,...). Doanh nghiệp có nhiệm vụ tổ chức, huy động các loại vốn cần thiết cho nhu cầu kinh doanh của mình. Đồng thời, tiến hành phân phối, quản lý và sử dụng số vốn hiện có một cách hợp lý, có hiệu quả nhất trên cơ sở chấp hành các chế độ chính sách quản lý kinh tế tài chính và kỷ luật thanh toán của nhà nước. Để nắm được hiệu quả sử dụng vốn, người phân tích phải sử dụng rất nhiều tài liệu khác nhau, trong đó chủ yếu là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp gồm : Bảng cân đối kế toán (Bảng tổng kết tài sản) bao gồm 2 phần: Tài sản và nguồn vốn Phần "tài sản" cho phép đánh giá tổng quát năng lực và trình độ sử dụng tài sản. Nó thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền quản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tương lai. Phẩn "Nguồn vốn" cho ta thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Nó thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh với nhà nước. Báo cáo kết quả kinh doanh tóm lược các khoản doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Các chỉ tiêu chủ yếu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: Doanh thu theo vốn: là chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của vốn sản xuất kinh doanh. Tổng doanh thu Doanh thu theo vốn = Tổng vốn sản xuất kinh doanh Doanh thu theo vốn có thể chia làm doanh thu theo vốn cố định và doanh thu theo vốn lưu động: Doanh thu theo vốn cố định: là chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của tài sản cố định (một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định đem lại mấy đồng doanh thu thuần). Chỉ tiêu này có thể tính theo cách sau: Tổng doanh thu thuần Doanh thu theo vốn cố (Hoặc giá trị tổng sản lượng) định = Nguyên giá bình quân tài sản cố định Doanh thu theo vốn lưu động: là chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất của vốn lưu động (một đồng vốn lưu động bình quân đem lại mấy đồng doanh thu thuần). Chỉ tiêu này có thể tính theo cách sau: Tổng doanh thu thuần Doanh thu theo vốn lưu (Hoặc giá trị tổng sản lượng) động = Vốn lưu động bình quân +Tỉ lệ lợi nhuận theo vốn : là chỉ tiêu phản ánh sức sinh lợi của vốn sản xuất kinh doanh Tổng lợi nhuận thuần (Hay lãi gộp) Tỉ lệ lợi nhuận theo vốn = Tổng vốn kinh doanh sản xuất Lợi nhuận theo vốn có thể chia làm lợi nhuận theo vốn cố định và lợi nhuận theo vốn lưu động: Lợi nhuận theo vốn cố định: là chỉ tiêu phản ánh sức sinh lợi của tài sản cố định (một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định đem lại mấy đồng lợi nhuận). Chỉ tiêu này có thể tính theo cách sau:
  12. Lợi nhuận theo vốn cố Tổng lợi nhuận thuần (Hay lãi gộp) = định Nguyên giá bình quân tài sản cố định Lợi nhuận theo vốn lưu động: là chỉ tiêu phản ánh sức sinh lợi của vốn lưu động (một đồng vốn lưu động bình quân đem lại mấy đồng lợi nhuận thuần). Chỉ tiêu này có thể tính theo cách sau: Lợi nhuận theo vốn lưu Tổng lợi nhuận thuần (Hay lãi gộp) = động Vốn lưu động bình quân Số vòng quay của vốn lưu động (Hệ số luân chuyển): là chỉ tiêu cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay tăng, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại. Hệ số này được tính theo công thức: Số vòng quay của vốn Tổng doanh thu thuần = lưu động Vốn lưu động bình quân Thời gian của một vòng luân chuyển thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng. Thời gian của 1 vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn: Thời gian của một vòng Thời gian của kỳ phân tích = luân chuyển Số vòng quay của vốn lưu dộng trong kỳ Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động: là chỉ tiêu cho biết để có một đồng luân chuyển thì cần mấy đồng vốn lưu động: Hệ số đảm nhiệm vốn Vốn lưu động bình quân = lưu động Tổng doanh thu thuần Hiệu quả sử dụng lao động: Số lượng và chất lượng lao động là một trong những yếu tố cơ bản quyết định quy mô kết quả sản xuất kinh doanh. Sử dụng tốt nguồn lao động, biểu hiện trên các mặt số lượng và thời gian lao động, tận dụng hết khả năng lao động kỹ thuật của người lao động là một yếu tố hết sức quan trọng làm tăng khối lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Bởi vậy, việc phân tích hiệu quả sử dụng lao động tức là xác định mức tiết kiệm hay lãng phí trong việc sử dụng lao động. Trên cơ sở đó, tìm mọi biện pháp để sử dụng lao động một cách tốt nhất. Việc phân tích hiệu quả sử dụng lao động có rất nhiều chỉ tiêu tính toán, nhưng các chỉ tiêu chủ yếu thường là: Năng suất lao động bình quân: là chỉ tiêu cho biết 1 lao động mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu: Năng suất lao động Tổng doanh thu thuần = bình quân Tổng số lao động Sức sinh lợi của 1 lao động: là chỉ tiêu cho biết 1 lao động mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận: Sức sinh lợi của 1 lao Tổng lợi nhuận thuần = động Tổng số lao động 3. HIỆU QỦA KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU. 3.1 Kinh doanh xuất nhập khẩu -động lực phát triển nền kinh tế đất nước. Trong điều kiện nước ta hiện nay, kinh tế đối ngoại trong đó có kinh doanh xuất nhập khẩu ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, Đảng và nhà nước luôn coi trọng lĩnh vực này, xác định xây dựng nền kinh tế mở, hướng về xuất nhập khẩu. Hiệu quả về mặt hình thức Hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu là một đại lượng so sánh giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào của Doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Hiệu quả kinh doanh XNK= Kết quả đầu ra/ Chi phí đầu vào. Khi một nước tham gia vào phân công lao động quốc tế để sản xuất hàng hoá xuất khẩu, các hàng hoá đó không tham gia vào lưu thông trong nước mà đưa ra ngoài biên giới quốc gia. Các nước thu được một lượng ngoại tệ nhất định do việc xuất khẩu hàng hoá đó. Các tỷ lệ trao đổi được hình thành trên cơ sở giá cả quốc tế, khác với giá cả trong nội bộ một nước. Sản phẩm nhập khẩu tham gia vào lưu thông hàng hoá trong nước và tham gia vào quá trình tái sản xuất xã
  13. hội, thực tế không được sản xuất tại nước đó. Sản phẩm nhập khẩu dường như là hình thức thay đổi của sản phẩm nhưng về khối lượng chúng không bằng nhau. Các tỷ lệ trao đổi quốc tế ảnh hưởng đến tương quan về khối lượng đó. Hiệu quả ngoại thương xuất hiện trên cơ sở sự khác nhau về chi phí sản xuất trong nước của các hàng hoá khác nhau. Một nước sẽ xuất khẩu một hàng hoá mà việc sản xuất ra nó tương đối rẻ và nhập khẩu một hàng hoá mà việc sản xuất ra nó sẽ đắt hơn. Trong những điều kiện thụân lợi, giá cả quốc tế cho phép tăng tiền thu xuất khẩu và do đó tạo điều kiện nhập khẩu nhờ đó mà tiết kiệm được lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sử dụng triệt để hơn nguồn lao động và đất đai..... Như vậy nội dung cơ bản của hiệu quả kinh tế ngoại thương là góp phần thúc đẩy tăng nhanh năng xuất lao động xã hội, nghĩa là tiết kiệm lao động xã hội và tăng thu nhập quốc dân có thể sử dụng được, qua đó tạo thêm nguồn tích luỹ sản xuất và nâng cao mức sống ở trong nước. 3.2. Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả cụ thể của các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. - Chỉ tiêu lợi nhuận xuất khẩu và nhập khẩu: đây là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu. - Chỉ tiêu so sánh giá xuất nhập khẩu so với giá quốc tế. - Chỉ tiêu so sánh doanh thu xuất khẩu tính ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hiện hành của Ngân hàng nhà nước với giá thành xuất khẩu ở trong nước của từng mặt hàng, nhóm hàng, chuyến hàng hay từng thời kỳ sản xuất khác nhau. - Chỉ tiêu so sánh doanh thu bán hàng nhập khẩu ở trong nước với chi phí nhập khẩu tính ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hiện hành của Ngân hàng nhà nước của từng mặt hàng, nhóm hàng, từng chuyến hàng hay từng thời kỳ nhập khẩu. - Chỉ tiêu so sánh giá cả nhập khẩu của từng mặt hàng, nhóm hàng giữa các khu vực thị trường và các thương nhân khác nhau. Qua đó rút ra lợi thế trao đổi đối với các khu vực thị trường và thương nhân khác nhau. - Chỉ tiêu hiệu quả xuất nhập khẩu kết hợp tính cho cả nước hàng từng dịch vụ đổi hàng riêng lẻ.
  14. PHẦN II: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY MAY CHIẾN THẮNG 1 - QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY 1.1 - Quá trình hình thành Công ty may Chiến Thắng, tiền thân là xí nghiệp may Chiến Thắng, là một doanh nghiệp nhà nước được thành lập ngày 15 tháng 06 năm 1968 theo quyết định của Bộ Nội thương. Trải qua chặng đường hơn 30 năm phát triển Công ty may Chiến Thắng đã từ một xí nghiệp may quy mô nhỏ, sản xuất những sản phẩm đơn giản phục vụ quốc phòng (Quân phục chiến sĩ, chăn, màn, tất chống vắt....) và một số sản phẩm tiêu dùng nội thương cấp thấp (Quần áo trẻ em, áo bông,...) theo các chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước. Từ đó đến nay Công ty may Chiến thắng đã không ngừng phát triển trở thành một Công ty may lớn mạnh cả về qui mô sản xuất, năng lực và hiệu quả sản xuất - kinh doanh. Hiện nay Công ty may Chiến Thằng là thành viên của Tổng công ty dệt may Việt nam trực thuộc Bộ Công Nghiệp, là một tổ chức có tư cách pháp nhân, tự chủ trong sản xuất kinh doanh và thực hiện hạch toán độc lập theo đúng qui định về quản lý tài chính hiện hành của Nhà nước. Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty là tổ chức sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu trực tiếp và gia công các mặt hàng may mặc và thảm len. Hàng năm Công ty tiến hành sản xuất theo các chỉ tiêu kế hoạch của Bộ giao, đồng thời không ngừng tìm kiếm khai thác những nguồn khách hàng mới cả trong và ngoài nước. Hiện tại công ty là một trong những doanh nghiệp Dệt may lớn của cả nước với sản phẩm chiến lược của mình là áo Jacket các loại. Một số thông tin chính về công ty may Chiến thắng: Tên đầy đủ : Công ty may Chiến thắng Tên giao dịch : CHIGAMEX Trụ sở chính : 22 phố Thành Công - Ba đình - Hà nội. Các chi nhánh của Công ty: 178 Đường Nguyễn Lương Bằng Đống đa - Hà nội Đường Cách mạng Tháng 8 - Phường Phú Xá - TP Thái nguyên Số lượng cán bộ công nhân viên toàn Công ty là 2753 người (trong đó 82,2% là lao động nữ) có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề cao. Hiện tại lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty là sản xuất kinh doanh các chủng loại áo Jacket, quần áo, váy phụ nữ và trẻ em, quần áo đồng phụ cho các đơn vị trường học, găng ty mùa đồng và găng tay chơi gôn. Ngoài ra Công ty còn có một phân xưởng thảm len dệt tay xuất khẩu. Vốn là một doanh nghiệp có truyền thống làm hàng gia công xuất khẩu, công ty đã tạo cho mình được một số lượng lớn các khách hàng ổn định thuộc nhiều thị trường như: CHLB Đức, Hàn Quốc, EC, Nhật, Pháp... Bên cạnh đó, với đội ngũ cán bộ lãnh đạo giỏi trong kinh doanh, nhiệt tình trong công việc, càng này Công ty càng khẳng định được mình trên thị trường may mặc. Chinh phục khách hàng bằng chính uy tín và chất lượng của sản phẩm, may Chiến Thắng đã, và đang và sẽ được nhiều người tiêu dùng biết đến và lựa chọn. Đó cũng chính là chìa khoá của sự thành công đối với Công ty Chiến Thắng. 1.2 - Các giai đoạn phát triển: Quá trình hình thành và phát triển của Công ty có thể khái quát theo ba giai đoạn như sau: Giai đoạn 1968 - 1975: Đầu năm 1968, trên cơ sở máy mọc thiết bị và nhân lực của trạm may Lê Trực (thuộc công ty gia công Dệt Kim vải sợi cấp I Hà Nội) và xưởng may cấp I do Cục vải sợi may mặc quản lý với nhiệm vụ ban đầu là tổ chức sản xuất quần áo các loại, mũ, găng tay..., theo chỉ tiêu kế hoạch hoặc của Cục giao.
  15. Tháng 5 - 1971 xí nghiệp may Chiến Thắng được chính thức chuyển giao cho Bộ Công Nghiệp Nhẹ quản lý với nhiệm vụ chuyên may hàng xuất khầu và chủ yếu là các loại quần áo bảo hộ lao động cho thị trường Liên Xô và Đông Âu. Giai đoạn 1976 - 1986: Giai đoạn này việc làm hàng gia công đã đi vào nề nếp, có nhiều tiến bộ trong sản xuất, nhiệm vụ sản xuất ngày càng nhiều hơn, thực tế đó đòi hỏi mặt bằng sản xuất phải được mở rộng về diện tích nhà xưởng, mặt bằng sản xuất, đầu tư bổ sung và cải tiến máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Năm 1986, nhờ có bước chuyển trong cơ chế quản lý của Nhà nước từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các doanh nghiệp buộc phải chủ động hơn trong sản xuất kinh doanh. Sản xuất không chỉ còn trông chờ vào chỉ tiêu cấp trên giao mà phải chủ động khai thác nguồn hàng để từng bước tiếp cận với thị trường nhằm mở rộng sản xuất. Giai đoạn 1987 - đến nay: Từ 1987 - 1989: Chuyển sang cơ chế thị trường nhiều cơ hội kinh doanh được mở ra đồng thời cũng có không ít những khó khăn đặt ra đối với toàn xí nghiệp. Lúc đó, xí nghiệp vẫn chỉ là một đơn vị may gia công cho nước ngoài, không được quyền xuất nhập khẩu trực tiếp, tiến độ sản xuất phụ thuộc nhiều vào việc tiếp nhận nguyên phụ liệu của khách. Hiệp định ký ngày 19 tháng 5 năm 1987 giữa Việt Nam và Liên Xô (trước đây) về việc gia công hàng dệt, may,...do đó ngoài may hàng bảo hộ lao động xuất khẩu cho CHDC Đức xí nghiệp còn được giao gia công nhiều mặt hàng quần, áo, váy,...xuất khẩu với đủ chủng loại mẫu mã đã mở ra cho xí nghiệp một thị trường xuất khẩu rộng lớn là Liên Xô và Đông Âu. Dây chuyền sản xuất trong giai đoạn này không còn ổn định một mặt hàng từ đầu năm đến cuối năm như trước đây nữa mà chuyển sang thay đổi mẫu mã liên tục. Do đó đã tạo được tính năng động cho người lao động và yêu cầu vệ sinh công nghiệp và tay nghề của người công nhân cũng đòi hỏi phải được nâng cao. Qua giai đoạn này đội ngũ công nhân của xí nghiệp đã phần nào tiếp thu được công nghệ may tiên tiến hơn. Từ 1989 - 1995: Giai đoạn này tình hình thế giới có nhiều biến động về chính trị. Khối SEV tuyên bố giải tán, các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô tan rã đã làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế nước ta trong đó nghành may cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ do thị trường gia công này biến động. Trước tình hình khó khăn như vậy, để tồn tại và phát triển xí nghiệp đã tập trung đổi mới công nghệ để chuyển thị trường gia công sang thị trường khu vực II bằng nguồn vốn vay và bộ cấp. Ngày 25 tháng 8 năm 1992, Bộ Công nghiệp nhẹ đã ra quyết định số 730/CNN - TCLĐ chuyển xí nghiệp may Chiến Thắng thành công ty may Chiến Thắng, mở rộng quyền chủ động trong sản xuất, kinh doanh của công ty. Từ đây Công ty đã có quyền ký kết các hợp đồng XNK trực tiếp và chủ động tìm kiếm khách hàng. Ngày 25 tháng 03 năm 1994, theo quyết định số 290/ QĐ - TCLĐ của Bộ Công nghiệp nhẹ, xí nghiệp Dệt thảm len xuất khẩu Đống Đa được sát nhập vào Công ty may Chiến Thắng. Giai đoạn này Công ty đã thay thế toàn bộ máy may mới của Nhật và CHLB Đức, nhập thêm một số thiết bị chuyên dùng. Từ 1996 đến nay: Giai đoạn này thị trường may mặc của nước ta đã có một bước phát triển mới, hàng loạt các doanh nghiệp may ở mọi thành phần kinh tế đã ra đời tạo nên một cuộc cạnh tranh mạnh mẽ trong nội bộ ngành may cả về lao động và giá cả gia công. Như vậy sau hơn 30 năm xây dựng và trưởng thành, bằng sự nỗ lực cố gắng của Công ty và sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, Cơ quan quản lý các cấp, các doanh nghiệp có liên quan khác... Công ty đã không ngừng phát triển cả về chất và lượng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao trình độ sản xuất và quản lý... đáp ứng tốt các yêu cầu của sản xuất kinh doanh.
  16. TỔNG GIÁM ĐỐC PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC Kinh tế Kỹ thuật GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH 2.1.1 - Mô hình tổ chức quản lý của công ty: Văn phòng Phòng KD-TT Phòng BV-QS Phòng TV TC-LĐTL Phòng Phòng XNK Phòng PVSX Phòng KT Sơ đồ 01: Sơ đồ tổ chức quản lý của công ty may Chiến thắng CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH. Phòng Y tế XN may da XN Thêu- in Các XN May quần áo Ghi chú: -TC-LĐTL : Tổ chức - lao động và tiền lương 2.1 - Mô hình tổ chức quản lý và chức năng nhiệm vụ của các bộ phận: -XNK : Xuất nhập khẩu -PVSX : Phục vụ sản xuất -KD-TT : Kinh doanh- Tiếp thị -KT : Kỹ thuật -TV : Tài vụ -Kênh liên lạc chính: 2 - ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY -BV-QS : Bảo vệ - quân sự -Kênh liên lạc phụ : -
  17. 2.1.2 - Chức năng nhiệm vụ từng bộ phận trong bộ máy tổ chức - quản lý của Công ty: Tổng giám đốc: là người đứng đầu Công ty, có trách nhiệm điều hành chung hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công ty với sự hỗ trợ của Phó tổng giám đốc kỹ thuật và Phó tổng giám đốc kinh doanh. Phó tổng giám đốc kỹ thuật: là người phục trách việc lập và chỉ đạo thực hiện các kế hoạch sản xuất. Phó tổng giám đốc kinh doanh: là người phụ trách việc kinh doanh của toàn công ty theo các hợp đồng kinh tế, tìm kiếm thị trường tiêu thụ đồng thời phụ trách về tổ chức đời sống của cán bộ công nhân viên Công ty. Giám đốc điều hành: là người phụ trách theo dõi, đôn đốc, điều hành việc thực hiện kế hoạch của công ty Phòng tổ chức lao động - tiền lương: là nơi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Công ty để từ đó tổ chức nhân sự, xây dựng các kế hoạch đào tạo cán bộ công nhân viên, hướng dẫn thực hiện các chế độ tiền lương, BHXH,.... Văn phòng: có nhiệm vụ quản lý và chăm lo các công việc hành chính của Công ty, quản lý các công văn, giấy tờ hành chính. Giúp Tổng giám đốc tổng hợp các công tác thi đua, lập báo cáo tổng hợp của Công ty. Tổ chức lễ tân, tiếp khách, các cuộc họp, hội nghị. Phòng bảo vệ- quân sự: Có nghĩa vụ bảo đảm an ninh trật tự trong toàn Công ty nói chung và đại bàn sản xuất nói riêng. Bảo vệ và quản lý toàn bộ tài sản của Công ty. Tổ chức thực hiện các công tác quân sự như đội tự vệ, đội phòng cháy, chữa cháy. Phòng y tế: Có trách nhiệm chăm lo sức khoẻ của CBCNV trong Công ty, thực hiện khám chữa bệnh định kỳ và điều trị bệnh cho CBCNV. Tổ chức công tác vệ sinh môi trường trong toàn Công ty. Phòng xuất nhập khẩu: Giúp Tổng giám đốc trong công tác kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn và dài hạn, đề xuất các giải pháp thực hiện các kế hoạch, nhiệm vụ đề ra sao cho có hiệu quả. Giúp Tổng giám đốc trong công tác xuất nhập khẩu hàng hoá, vật tư thiết bị....phục vụ cho các đơn vị trong Công ty nhằm đảm bảo yêu cầu về tiến độ sản xuất của các đơn vị đó. Phòng kỹ thuật: Phụ trách công tác kỹ thuật phục vụ sản xuất của các cơ sở, nắm vững các thông tin kinh tế, khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực may mặc, tổ chức việc chế thử sản phẩm mới, nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, tổ chức sửa chữa bảo dưỡng máy móc thiết bị đảm bảo tốt công tác kỹ thuật phục vụ sản xuất. Phòng phục vụ sản xuất: điều tiết các kế hoạch sản xuất của công ty, cung ứng và điều tiết nguyên vật liệu cho các cơ sở sản xuất theo kế hoạch, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm, tổ chức đời sống và các mặt sinh hoạt khác cho cán bộ công nhân trong Công ty. Phòng kinh doanh tiếp thị: có nhiệm vụ duy trì sự phát triển của những thị trường đã có, thiết lập và mở rộng mạng lưới các cửa hàng giới thiệu sản phẩm, tiếp cận và mở rộng thị trường mới trong và ngoài nước...thông qua công tác sáng tác mẫu mã mới, tìm kiếm các nguồn nguyên phụ liệu mới, tìm tòi nghiên cứu nhằm nắm bắt được xu hướng phát triển của thị trường. Phòng tài vụ: có nhiệm vụ giúp Tổng giám đốc tổ chức bộ máy kế toán- tài chính từ Công ty tới các xí nghiệp trực thuộc. Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý và sử dụng nguồn vốn sao cho có hiệu quả. Tham mưu cho Tổng giám đốc trong các quyết định chi tiêu. Giám sát các hoạt động kinh tế và thực hiện các nghĩa vụ về tài chính đối với nhà nước. Các cơ sở sản xuất: là nơi trực tiếp diễn ra các hoạt động sản xuất. Các cơ sở này hoạt động độc lập theo cơ chế khoán sản phẩm theo nhiệm vụ của công ty giao... 2.2 - Đặc điểm tổ chức sản xuất của công ty: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đối với mỗi doanh nghiệp, quy trình công nghệ có một ý nghĩa rất quan trọng. Quy trình công nghệ theo kiểu phức tạp hay giản đơn, liên tục hay đơn chiếc, tỷ lệ thiết bị chuyên dùng so với thiết bị thông thường...là thể hiện trình độ trang bị khoa học công nghệ cho sản xuất sản phẩm của công ty ở mức độ hiện đại hay lạc hậu. Tuy nhiên khi lựa chọn quy trình công nghệ không phải bao giờ máy móc hiện đại nhất, công suất lớn bao giờ cũng cho hiệu quả cao nhất mà cần xuất phát từ đặc điểm tình hình thực tế của doanh nghiệp,
  18. yêu cầu của sản phẩm sản xuất... để lựa chọn quy trình công nghệ phù hợp, tránh lãng phí công suất máy móc. Nếu trang bị công nghệ quá cao so với thực tế (Tức là không tải hết công suất của quy trình) dẫn đến lãng phí nguồn vốn.
  19. Công ty may Chiến Thắng có sơ đồ quy trình công nghệ như sau: Kho Chuẩn bị sản xuất Cắt May Đóng gói KCS Hoàn thiện Sơ đồ 02: Sơ đồ quy trình công nghệ của công ty may Chiến thắng Sản phẩm chủ yếu của công ty là quần áo các loại trong đó mặt hàng Jacket chiếm tỷ trọng lớn nhất. Ngoài ra công ty còn sản xuất sản phẩm găng tay Golf và thảm len. Hai loại sản phẩm này chiếm tỷ trọng không lớn và quy trình công nghệ giản đơn hơn. Do vậy ta tìm hiểu quy trình công nghệ của công ty qua sơ đồ quy trình công nghệ trên. Do là một công ty có truyền thống làm hàng may gia công xuất khẩu nên khâu đầu của quy trình sản xuất luôn là các đơn đặt hàng hay các hợp đồng đặt hàng mà công ty đã ký kết. Nội dung các đơn đặt hàng bao giờ cũng đầy đủ tất cả các thoả thuận cần thiết về số lượng, giá cả , phương thức thanh toán, điền kiện giao nhận...và do đó các đơn đặt hàng chính là căn cứ quan trọng nhất cho việc lập kế hoạch sản xuất của công ty. Mặt khác do công ty chủ yếu làm hàng gia công cho khách nên nguyên vật liệu chính và mẫu thiết kế ...thường do bên khách hàng cung cấp. Công ty căn cứ vào thời gian nguyên liệu về để nhập kho và làm lệnh sản xuất. Đối với các hợp đồng bán FOB, công ty được quyền mua nguyên vật liệu, sản xuất sản phẩm bán cho khách hàng. Đây có thể nói là một hình thức mang lại cho công ty nhiều lợi nhuận hơn trong sản xuất kinh doanh. Thực tế ở công ty may Chiến thắng cũng đã khẳng định như vậy qua các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận ... đều tăng so với các năm trước nhờ vào việc công ty đã ký kết được nhiều hợp đồng bán FOB. Vậy có thể kết luận quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm may của công ty may Chiến Thắng là theo kiểu liên tục và khép kín. Tuy mức độ trang bị máy móc thiết bị sản xuất chỉ vào dạng trung bình so với các doanh nghiệp khác trong ngành nhưng công ty đã chọn được quy trình công nghệ thích hợp, tận dụng hết công suất thiết bị, tiết kiệm chi phí cố định, tăng hiệu quả sản xuất cho công ty. 2.3 - Đặc điểm về tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật: 2.3.1 - Quyền sử dụng đất đai: Đất đai thuộc quyền sở hữu của nhà nước. Công ty phải nộp thuế sử dụng đất. Cụ thể năm 2000 như sau: - Khu vực số 22 phố Thành công: Diện tích đất sử dụng: 6753 m2 Thuế sử dụng đất: 57.842.400đ/ năm m - Khu vực Thảm len: Diện tích đất sử dụng: 12000 m2 Thuế sử dụng đất: 56.000.000đ/ năm 2.3.2 - Tình trạng quản lý tài sản cố định năm 2002 Bảng 01: Giá trị các loại tài sản cố định của công ty như sau: ( Đơn vị: đ ) NGUYÊN GIÁ TSCĐ GIÁ TRỊ ĐÃ HAO MÒN GIÁ TRỊ CÒN LẠI 47.303.326.053 21.092.672.258 26.210.653.795
  20. 2.3.3 - Tình hình quản lý các loại tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn năm 2002 Bảng 02: Giá trị các loại tài sản lưu động của công ty như sau: (Đơn vị: đ) -Tiền mặt: 1.930.801.428 Tiền mặt tại quỹ: 138.537.511 Tiền gửi ngân hàng: 1.792.263.917 - Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: 0 - Các khoản phải thu: 14.813.605.089 Phải thu của khách hàng: 5.863.807.256 Trả trước cho người bán: 4.625.116.688 Phải thu nội bộ: 1.315.847.117 Các khoản phải thu khác: 1.516.583.588 - Hàng tồn kho: 4.450.263.196 Nguyên vật liệu tồn kho: 1.670.854.932 Công cụ dụng cụ trong kho: 24.253.876 Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang: 60.270.573 Thành phẩm tồn kho: 2.182.966.921 Hàng hoá tồn kho: 511.916.894 - Tài sản lưu động khác: 1.733.080.412 Tạm ứng: 300.722.871 Tài sản thiếu chờ xử lý: 1.432.357.541 TỔNG CỘNG: 22.927.750.125 2.3.4 - Tình hình huy động, quản lý, sử dụng các nguồn vốn kinh doanh năm 2002 của công ty. Bảng 03: Tình hình sử dụng nguồn vốn kinh doanh của công ty năm 2002 NỢ PHẢI TRẢ SỐ TIỀN (ĐƠN VỊ :Đ) Nợ ngắn hạn: 20.635.341.569 Vay ngắn hạn: 15.737.141.455 Nợ dài hạn đến hạn trả: 0 Phải trả cho người bán: 1.699.209.203 Người mua trả tiền trước: 80.565.121 Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước: 393.287.627 Phải trả công nhân viên: 2.000.552.656 Phải trả các đơn vị nội bộ: 0 Các khoản phải trả phải nộp khác: 724.585.687 Nợ dài hạn: 31.588.657.357 Vay dài hạn: 19.677.806.488 Nợ dài hạn: 11.910.868.869 Nợ khác: 0 Chi phí phải trả: Tài sản thừa chờ sử lý: Nhận ký quỹ ký cược dài hạn: Nguồn vốn chủ sở hữu

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản