Vui lòng download xuống để xem tài liệu đầy đủ.

Đề tài: Huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Mỹ Hào- Thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: Lê Thị Ngọc Mai | Ngày: | Loại File: doc | 69 trang

1
125
lượt xem
47
download

Tham khảo luận văn - đề án 'đề tài: huy động vốn tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh mỹ hào- thực trạng và giải pháp', luận văn - báo cáo, tài chính - kế toán - ngân hàng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Lưu

Đề tài: Huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Mỹ Hào- Thực trạng và giải pháp
Nội dung Text

  1. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính LỜI NÓI ĐẦU Đất nước ta đang trong thời kì đổi mới, phát triển kinh tế, ổn định chính trị và xã hội đang là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay. Từ một nền kinh tế kém phát triển thu nhập bình quân đầu người thấp, cơ sở hạ tầng thấp kém về mọi mặt. Do vậy, để phát triển chúng ta cần phải có vốn, Đảng và nhà nước ta đã xác định phát triển kinh tế ổn định và vững chắc có trọng tâm trong đầu tư. Do đó chủ trương “vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng” luôn được quán triệt trong quản lý kinh tế, quản lý đầu tư và đặc biệt trong hoạt động tín dụng đầu tư. Trong khi th ị tr ườ ng v ốn ở n ướ c ta ch ưa phát tri ể n thì kênh d ẫn v ốn quan tr ọng cho ho ạt kinh t ế nói chung và ho ạ t đ ộ ng đ ầ u t ư đ ầ u t ư phát tri ển nói riêng hi ện nay chính là h ệ th ống ngân hàng. Nh ờ có h ệ th ống này mà v ốn đ ượ c l ưu chuy ển t ừ n ơi th ừa sang n ơ i thi ế u, giúp cho vi ệc l ưu chuy ển v ốn hi ệu qu ả, t ạo v ốn cho các công cu ộ c đ ầ u t ư góp ph ầ n thúc đ ẩy kinh t ế phát tri ển. Thực hiện đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước trong những năm qua ngành ngân hàng nói chung và ngân hàng Nông nghiệp&phát triển nông thôn (NHNo&PTNT) nói riêng đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới, tăng cường công tác huy động mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh cho vay đối với các thành phần kinh tế, hiện đại hoá công nghệ ngân hàng... Chính vì vậy đã góp phần quan trọng vào công cuộc đầu tư thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, kiềm chế lạm phát và ổn định đời sống nhân dân. Song bên những thành công và kết quả đạt được thì hệ thống ngân hàng nói chung và NHNo&PTNT riêng đang còn tồn tại nhiều yếu kém đó là nguồn vốn huy động có thời gian dài còn thiếu, công tác huy động còn nhiều bất cập, hệ thống ngân hàng chưa đáp ứng được nhu cầu huy động vốn cho nền kinh tế… Như ta đã biết, Ngân hàng thương mại (NHTM) với vai trò trung gian tài chính trong việc huy động vốn để tái cấp vốn cho nền kinh tế là quan trọng nhất. Tuy nhiên ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt chủ yếu kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ cho nên bắt buộc phải hoạt động có hiệu quả để vừa đảm bảo mục tiêu an toàn trong hoạt động vừa có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường và qua đó thực hiện có hiệu quả vai trò dẫn vốn của mình. Chi nhánh NHNo&PTNT Mỹ Hào là một chi nhánh thành viên của NHNo&PTNT Việt Nam. Với hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 1
  2. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính nông thôn, cũng giống như các NHTM khác, chi nhánh rất quan tâm tới nguồn vốn huy động từ nền kinh tế để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh. Nhận thức được vấn đề này, sau một thời gian thực tập tại NHNo&PTNT Mỹ Hào, được sự giúp đỡ tận tình của ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên phòng kế toán cũng như sự hướng dẫn của thầy giáo Lã Thị Lâm và được tiếp cận với các hoạt động của ngân hàng, em đã chọn đề tài nghiên cứu với nội dung: "HUY ĐỘNG VỐN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỸ HÀO - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP" Ngoài lời mở đầu và kết luận, bố cục của chuyên đề gồm 3 chương: Chương I: Những vấn đề lý luận chung về tình hình huy động vốn của NHTM. Chương II: Thực trạng công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Mỹ Hào. Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Mỹ Hào. Vấn đề trên là một lĩnh vực nghiên cứu phức tạp, đan xen nhiều yếu tố vĩ mô và vi mô, mang tính khách quan và chủ quan. Bản thân em trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu cả về lý luận, thực tiễn còn có những hạn chế nhất định, không tránh khỏi thiếu sót. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn Lã Thị Lâm và đơn vị thực tập đã giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu đề tài. Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 2
  3. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHTM VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về NHTM 1.1.1 Khái niệm Ngân hàng th ươ ng m ại đã có m ột quá trình hình thành và phát tri ển lâu dài. Ngay n ửa đ ầu th ế k ỷ XVI, ở Châu Âu đã ra đ ời m ột s ố ngân hàng đầu tiên mà ti ền thân là nh ững t ổ ch ức cho vay n ặng lãi. Vào th ời đi ểm này, ngân hàng phát tri ển ở trình đ ộ th ấp, ho ạt đ ộng c ủa ngân hàng ch ỉ gói gọ n trong lĩnh v ực gi ữ h ộ ti ền và cho vay. Cùng v ới s ự phát tri ển không ngừng c ủa n ền kinh t ế, ho ạt đ ộng c ủa NHTM cũng đ ược t ừng b ướ c đ ược củ ng cố và hoàn thi ện, chuy ển hoá d ần theo h ướng đa năng. Theo m ột s ố chuyên gia v ề ngân hàng trên th ế gi ới thì ngân hàng trong n ền kinh t ế trên thị trườ ng đ ượ c quan ni ệm là “Ngân hàng là m ột doanh nghi ệp đ ặc bi ệt hoạt đ ộng trong lĩnh v ực tài chính ti ền t ệ, tuân th ủ theo pháp lu ật theo đuổi mục tiêu l ợi nhu ận”. Theo lu ật các t ổ ch ức tín d ụng c ủa Vi ệt Nam đượ c Qu ốc h ội n ướ c C ộng hòa Xã h ội Ch ủ nghĩa Vi ệt Nam khóa X, kỳ họ p th ứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 “Ngân hàng là lo ại hình t ổ ch ức tín dụ ng đ ượ c th ực hiện toàn b ộ ho ạt đ ộng ngân hàng và các ho ạt đ ộng kinh doanh khác có liên quan. Và hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, các dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Theo các nhà Kinh tế học thế giới thì “Ngân hàng Thương mại là một loại hình doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng”. Theo cách tiếp cận trên phương diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì “NHTM là một loại hình tổ chức tài chính, cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất định so với bất kỳ một tổ chức nào trong nền kinh tế”. Theo tính ch ất và ho ạt đ ộng, các lo ại hình ngân hàng g ồm ngân hàng thươ ng mại, ngân hàng phát tri ển, ngân hàng đ ầu t ư, ngân hàng chính sách, ngân hàng h ợp tác và các lo ại hình ngân hàng khác. Qua đây chúng ta có thể thấy rằng trên mỗi phương diện khác nhau tại mỗi quốc gia khác nhau lại có những quan niệm, nhìn nhận khác nhau, tuy nhiên tất cả điều đó đều cho chúng ta những cách hiểu sâu hơn về khái niệm ngân hàng nói chung và Ngân hàng Thương Mại nói riêng đồng thời qua đó giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về các hoạt động và các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Tuy nhiên, đ ể hi ểu rõ h ơn khái ni ệm v ề NHTM chúng ta c ần xem xét đặc đi ểm c ủa ngân hàng th ươ ng m ại: Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 3
  4. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Tr ướ c h ết, ho ạ t đ ộ ng NHTM là hình th ức kinh doanh ki ếm l ời, theo đu ổ i m ụ c tiêu l ợi nhu ận là ch ủ y ếu. Ngân hàng th ực hi ện hai hình th ức hoạ t đ ộ ng là kinh doanh ti ền t ệ và d ịch v ụ ngân hàng. Trong đó, ho ạt đ ộ ng kinh doanh ti ền t ệ đ ượ c bi ểu hi ện ở nghi ệp v ụ huy đ ộng v ốn d ướ i các hình th ức khác nhau, đ ể c ấp tín d ụng cho khách hàng có yêu c ầu v ề v ố n v ớ i m ụ c tiêu tìm ki ếm l ợi nhu ận. Ngân hàng th ươ ng m ại là ng ườ i “đi vay đ ể cho vay” nh ằm m ục đích ki ếm l ời. Các ho ạt đ ộng d ịch v ụ ngân hàng đ ượ c bi ểu hi ện thông qua các nghi ệp v ụ s ẵn có v ề ti ền t ệ, thanh toán, ngo ạ i h ố i, ch ứng khoán, đ ể cam k ết th ực hi ện công vi ệc nh ất đ ịnh cho khách hàng trong m ột th ời gian nh ất đ ịnh nh ằm m ục đích thu phí d ịch v ụ ho ặ c hoa h ồ ng . Hai là, ho ạt đ ộng ngân hàng th ươ ng m ại ph ải tuân th ủ theo quy đ ịnh củ a pháp luật, nghĩa là ch ỉ khi NHTM tho ả mãn đ ầy đ ủ các đi ều ki ện kh ắt khe do pháp lu ật qui đ ịnh nh ư đi ều ki ện v ề v ốn, ph ương án kinh doanh...thì m ới đ ượ c phép ho ạt đ ộng trên th ị tr ườ ng. Ba là, ho ạt đ ộng Ngân hàng th ươ ng m ại là hình th ức kinh doanh có đ ộ rủi ro cao h ơn nhi ều so v ới các hình th ức kinh doanh khác và th ường có ả nh hưở ng sâu s ắc t ới các ngành khác và c ả n ền kinh t ế. 1.1.2 Chức năng của NHTM Tầ m quan tr ọng c ủa Ngân hàng th ươ ng m ại đ ượ c th ể hi ện qua các ch ức năng c ủa nó. Các nhà kinh t ế h ọc đã ví ngân hàng th ương m ại là trái tim củ a n ền kinh t ế. Ngân hàng hút ti ền v ề, b ơm ti ền đi vì th ế các ngu ồn v ốn nhàn rỗi đượ c kh ơi thông đ ưa ti ền t ừ n ơi th ừa đ ến n ơi thi ếu, giúp cho quá trình lưu chuy ển ti ền t ệ m ột cách hi ệu qu ả. Các ch ức năng c ủa NHTM có thể đ ượ c nêu ra d ướ i nhi ều khía c ạnh khác nhau, nh ưng bao g ồm ba ch ức năng ch ủ y ếu: ch ức năng trung gian tín d ụng, ch ức năng trung gian thanh toán và ch ức năng t ạo ti ền c ủa ngân hàng th ương m ại.  Ngân hàng Th ươ ng m ại - trung gian tín d ụng Đây là ch ức năng đ ặc tr ưng và c ơ b ản nh ất c ủa Ngân hàng th ương m ại và có ý nghĩa đ ặc bi ệt quan tr ọng trong vi ệc thúc đ ẩy n ền kinh t ế phát tri ển. Th ực hi ện ch ức năng trung gian tín d ụng, ngân hàng là “c ầu n ối” gi ữa cung và c ầu v ốn trong n ền kinh t ế, kh ơi ngu ồn v ốn t ừ nh ững ng ười có v ốn nhàn r ỗi sang nh ững ng ườ i có nhu c ầu v ề v ốn. Trong n ền kinh t ế, do các đ ơn v ị kinh t ế có nhu c ầu v ề ti ền, v ốn vào thời đi ểm khác nhau là khác nhau, gây ra hi ện t ượng th ừa, thi ếu t ạm th ời. Ngân hàng Th ươ ng m ại là ng ườ i trung gian có vai trò chuy ển đ ổi kỳ h ạn nợ , thay đ ổi th ời kỳ đáo h ạn c ủa các kho ản, món n ợ. Ngân hàng Th ươ ng m ại huy đ ộng và t ập trung các ngu ồn v ốn ti ền t ệ t ạm th ời nhàn r ỗi c ủa các ch ủ th ể trong n ền kinh t ế đ ể hình thành ngu ồn vố n cho vay. M ặt khác, trên c ơ s ở s ố v ốn đã huy đ ộng đ ược, ngân hàng cho vay đ ể đáp ứng nhu c ầu v ốn s ản xu ất, kinh doanh, tiêu dùng, c ủa các ch ủ thể kinh t ế góp ph ần đ ảm b ảo s ự v ận đ ộng liên t ục c ủa gu ồng máy kinh Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 4
  5. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính t ế xã h ội, thúc đ ẩy tăng tr ưở ng kinh t ế. Nh ư v ậy, Ngân hàng Th ương m ại vừ a là ng ườ i đi vay, v ừa là ng ườ i cho vay.  Ngân hàng Th ươ ng m ại - trung gian thanh toán Vi ệc làm trung gian thanh toán c ủa Ngân hàng ngày nay đã phát tri ển đến t ầm m ức rất đa d ạng, không ch ỉ là trung gian truy ền th ống nh ư tr ước, mà còn qu ản lý các ph ươ ng ti ện thanh toán b ằng cách trích s ố d ư ti ền g ửi trên tài kho ản c ủa ng ườ i mua chuy ển sang tài kho ản c ủa ng ười bán theo l ệnh c ủa ch ủ tài kho ản. Đây là vai trò ngày càng chi ếm v ị trí r ất quan trọng, phù h ợp v ới s ự phát tri ển và ti ến b ộ c ủa khoa h ọc k ỹ thu ật. V ới phươ ng pháp công ngh ệ hi ện đ ại h ơn, các NHTM t ừng b ước trang b ị đ ầy đủ các máy vi tính và các ph ươ ng ti ện k ỹ thu ật khác t ạo đi ều ki ện, thanh toán bù tr ừ đ ượ c nhanh chóng gi ảm b ớt chi phí và có đ ộ chính xác cao. Như vậy Ngân hàng đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá.  Chức năng tạo ra tiền Ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng hai cấp Vào th ế k ỷ 19, h ệ th ố ng Ngân hàng hai c ấp đã đ ượ c hình thành, các Ngân hàng không còn ho ạt đ ộng riêng l ẻ mà đã t ạo nên m ột h ệ th ống, trong đó Ngân hàng Trung ươ ng là c ơ quan qu ản lý v ề ti ền t ệ tín d ụng, là Ngân hàng c ủ a các Ngân hàng, còn các Ngân hàng Th ươ ng m ại chuyên kinh doanh ti ề n t ệ. Nhờ hoạt động trong h ệ th ống mà các Ngân hàng Th ương m ại đã t ạo ra bút t ệ. Vi ệc t ạo ra bút t ệ là sáng ki ến quan tr ọng trong l ịch s ử ho ạt đ ộng Ngân hàng. Ch ức năng t ạo ra bút t ệ đ ượ c th ực hi ện thông qua ho ạt đ ộng tín d ụng và đ ầu t ư c ủa NHTM trong m ối quan h ệ tuỳ thu ộc vào Ngân hàng trung ươ ng (NHTW). Nh ờ nh ận ti ền ký thác c ủa khách hàng, Ngân hàng Th ươ ng m ại có kh ả năng đ ầu t ư. Nh ưng khi đ ầu t ư, Ngân hàng t ạo ra ti ền ký thác mới, còn g ọi là ti ền bút t ệ, ti ền chuy ển kho ản, t ừ đó Ngân hàng Th ươ ng m ại trở thành ng ườ i cung ứng ti ền bút t ệ quan tr ọng trong n ền kinh t ế. Từ nh ững ch ức năng c ơ b ản trên ta cũng có th ể th ấy đ ược vai trò to l ớn củ a Ngân hàng Th ươ ng m ại trong n ền kinh t ế. Ho ạt đ ộng c ủa Ngân hàng Th ươ ng m ại đ ẩy nhanh quá trình thanh toán, gi ảm chi phí giao d ịch và t ạo môi trườ ng thu ận l ợi cho quá trình l ưu chuy ển v ốn c ủa n ền kinh t ế, nâng cao ch ất l ượ ng c ủa quá trình t ập trung và phân ph ối ngu ồn v ốn. NHTM còn là b ộ máy t ạo ti ền, nó có vai trò quan tr ọng trong vi ệc th ực thi chính sách ti ền t ệ và góp ph ần vào ho ạt đ ộng đi ều ti ết vĩ mô d ướ i s ự tác đ ộng c ủa Ngân hàng Trung ươ ng và các chính sách c ủa Nhà n ước. 1.1.3 Vai trò c ủa NHTM Cùng với s ự phát tri ển c ủa nhi ều ngành ngh ề khác nhau, t ừ khi ra đ ời và phát tri ển Ngân hàng th ươ ng m ại đã đóng góp vai trò r ất quan tr ọng trong vi ệc xây d ựng và phát tri ển kinh t ế th ế gi ới. Ở t ất c ả các n ước, h ệ th ống Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 5
  6. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính NHTM đã không ng ừng phát tri ển, đóng vai trò t ập trung nh ững kho ản ti ền nhàn rỗi trong n ền kinh t ế đ ể cung ứng v ốn cho các nhà đ ầu t ư c ần v ốn. Đó là quá trình huy đ ộng v ốn và s ử d ụng v ốn c ủa các NHTM. B ằng ho ạt độ ng c ủa mình NHTM đã đóng góp m ột l ượ ng v ốn đáng k ể và hàng lo ạt các d ịch v ụ Ngân hàng khác cho n ền kinh t ế. Mộ t là: NHTM là n ơi cung c ấp tín d ụng cho n ền kinh t ế, là c ầu n ối gi ữa ti ết ki ệm và đ ầu t ư. Là một trung gian tín d ụng NHTM đã tích t ụ và t ập trung đ ược m ột kh ối l ượ ng lớn ti ền t ạm th ời nhàn r ỗi thông qua nghi ệp v ụ huy đ ộng v ốn và thực hi ện các d ịch v ụ Ngân hàng cho khách hàng. T ừ ngu ồn ti ền đó ti ến hành c ấp phát tín d ụng cho các thành ph ần kinh t ế, nh ững t ổ ch ức và cá nhân c ần v ốn đ ể ph ục v ụ cho nhu c ầu chi tiêu c ủa mình. T ức là Ngân hàng đóng vai trò là ng ườ i môi gi ới gi ữa m ột bên là nh ững ng ười có ti ền nhàn rỗ i có th ể cho vay và m ột bên là nh ững ng ườ i c ần vay v ốn. Th ực hi ện ch ức năng này t ức là Ngân hàng đã tr ở thành ng ười kh ơi thông và kích ho ạt các ngu ồn vốn, làm cho ngu ồn ti ền t ệ luôn ho ạt đ ộng và sinh lãi. Nh ữ ng ho ạ t đ ộ ng đó c ủ a NHTM đã th ự c s ự tác đ ộng đi ều hòa cung c ầu ti ền t ệ , bi ế n nh ữ ng đ ồ ng ti ề n nhàn r ỗ i thành nh ững đ ồng ti ền ho ạt đ ộng có ích, t ậ p trung v ố n vào vi ệ c tài tr ợ cho các ngành kinh t ế khác phát tri ển, t ạ o thêm vi ệ c làm cho ng ườ i lao đ ộ ng và b ằng nh ững kho ản tín d ụng nh ỏ thích h ợ p giúp ng ườ i lao đ ộ ng có thêm đi ều ki ện ổn đ ịnh và c ải thi ệ n đ ờ i s ố ng. Hai là: Ngân hàng giúp cho các kinh doanh trong vi ệc nâng cao hi ệu qu ả s ử d ụ ng v ố n. Ngân hàng tài tr ợ v ốn cho các Doanh nghi ệp trên c ơ s ở ph ải tuân th ủ các đi ều ki ện do Ngân hàng đ ặt ra. Trong đó các kho ản tín d ụng mà Doanh nghi ệp nh ận đ ượ c đ ều ph ải tr ả lãi và khi h ết th ời gian s ử d ụng ph ải hoàn trả gốc. Vì v ậy đ ể đ ảm b ảo an toàn tài s ản cho Ngân hàng và nâng cao hiệu qu ả s ử dụng v ốn cho các doanh nghi ệp thì tr ướ c khi cho vay, Ngân hàng c ần ph ải th ẩm đ ịnh ph ươ ng án s ử d ụng v ốn vay c ủa Doanh nghi ệp, thẩm đ ịnh tính kh ả thi c ủa d ự án, th ẩm đ ịnh các y ếu t ố liên quan đ ến Doanh nghi ệp (Uy tín, trình đ ộ nhân viên, tài s ản đ ảm b ảo…) m ột cách chính xác rõ ràng, chi ti ết, qua đó cán b ộ tín d ụng giúp Doanh nghi ệp xây dự ng ph ươ ng án s ản xu ất kinh doanh có hi ệu qu ả. Sau khi cho Doanh nghi ệ p vay v ố n, Ngân hàng v ẫn ti ếp t ục ti ến hành giám sát quá trình s ử d ụ ng v ố n vay c ủ a doanh nghi ệp và thông qua ho ạt đ ộng thanh toán h ộ thì Ngân hàng có th ể giúp doanh nghi ệp qu ản lý t ốt h ơn v ề v ốn và s ử d ụ ng v ố n. Ba là: Ngân hàng khuy ến khích ti ết ki ệm trong n ền kinh t ế. B ất kỳ đ ối t ượ ng nào trong n ền kinh t ế g ửi ti ền vào Ngân hàng đ ều đượ c hưở ng lãi, đi ểu đó có nghĩa là khi nào thu nh ập c ủa ng ười g ửi ti ền s ẽ tăng lên. Ng ườ i g ửi ti ền có th ể g ửi theo b ất kỳ ph ương th ức nào, b ất kỳ Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 6
  7. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính thời h ạn nào. Các cá nhân có s ố ti ền nhàn r ỗi ch ưa s ử d ụng đ ến thì có th ể gử i vào Ngân hàng khi c ần thì có th ể rút ra b ất c ứ lúc nào. Thông qua chính sách lãi su ất Ngân hàng đã khuy ến khích khách hàng ti ết ki ệm tiêu dùng hiện t ại đ ể có tăng tiêu dùng trong t ương lai. B ốn là: Ho ạt đ ộng Ngân hàng có tác d ụng đi ều ti ết s ự d ịch chuy ển c ủa vố n đ ầu t ư dẫn đ ến bình quân hóa t ỷ su ất l ợi nhu ận, góp ph ần chuy ển dịch c ơ c ấu kinh t ế và phát tri ển vùng. Trong ho ạt đ ộng tài tr ợ c ủa mình, Ngân hàng có th ể tài tr ợ đ ối v ới t ất cả các đơn v ị cá nhân trong n ền kinh t ế d ướ i các hình th ức khác nhau. V ới h ệ th ống các Ngân hàng chuyên doanh cùng v ới m ạng l ưới chân r ết c ủa mình, NHTM có m ặt ở h ầu h ết các đ ịa bàn trong ph ạm vi c ả n ước. Thông qua đó Ngân hàng s ẽ ti ến hành cho vay đ ối v ới nh ững ai c ần v ốn mà đáp ứ ng đượ c các đi ều ki ện c ủa Ngân hàng thì Ngân hàng s ẽ ti ến hành cho vay. Ngoài ra khi có s ự ưu tiên c ủa nhà n ướ c v ề phát tri ển ngành ngh ề ho ặc vùng kinh t ế nào đó thì Chính ph ủ đ ưa ra nh ững chính sách riêng cho t ừng vùng và thông qua h ệ th ống NHTM s ẽ ti ến hành cung ứng v ốn cho nh ững vùng đó. Ho ạt đ ộng tín d ụng Ngân hàng ngày càng phát tri ển đã làm cho vi ệc di chuy ển vốn di ễn ra m ột cách d ễ dàng, t ập trung duy trì l ực l ượng bình quân t ừ t ất c ả các ngành. Đ ồng th ời v ới s ự tác đ ộng c ủa Ngân hàng vố n đ ượ c dịch chuy ển t ừ vùng th ừa v ốn sang vùng thi ếu v ốn đ ảm b ảo cho s ự phát tri ển đ ồng đ ều gi ữa các ngành, xóa d ần s ự khác bi ệt, thúc đ ẩy n ền kinh t ế phát tri ển ổn đ ịnh. Năm là: Ho ạt đ ộng c ủa Ngân hàng góp ph ần ch ống l ạm phát. V ới đ ặc đi ểm c ủa NHTM là m ột t ổ ch ức trung gian tài chính v ới các hoạt đ ộng ch ủ y ếu là huy đ ộng v ốn, cho vay và th ực hi ện ch ức năng trung gian thanh toán. L ượ ng ti ền l ưu thông đ ượ c Ngân hàng ki ểm soát. Thông qua các kho ản m ục c ủa NHTM, NHTW s ẽ xác đ ịnh đ ượ c l ượ ng ti ền m ặt đang l ưu thông trong n ền kinh t ế, t ừ đó có th ể có các bi ện pháp ki ểm soát nhằm đ ề phòng và h ạn ch ế nh ững ảnh h ưở ng x ấu có th ể x ảy ra. Tr ường hợ p n ếu x ảy ra l ạm phát thì b ằng các nghi ệp v ụ c ủa mình, NHTW s ẽ ti ến hành đi ều ch ỉnh tăng t ỷ l ệ d ự tr ữ b ắt bu ộc, tăng lãi su ất chi ết kh ấu ho ặc tái chi ết kh ấu, tham gia vào th ị tr ườ ng m ở đ ể tác đ ộng t ới NHTM đ ể qua nó làm thay đ ổi l ượ ng ti ền trong l ưu thông. Sáu là: Ngân hàng tài tr ợ cho các ho ạt đ ộng xu ất nh ập kh ẩu, thúc đ ẩy phát tri ển th ươ ng m ại qu ốc t ế. Th ươ ng m ại quốc tê ngày càng phát tri ển, cùng v ới xu th ế khu v ực hóa và toàn c ầu hóa thì các m ối quan h ệ kinh t ế qu ốc t ế gi ữa các qu ốc gia đóng vai trò ngày càng quan tr ọng trong vi ệc thúc đ ẩy s ự phát tri ển kinh t ế c ủa m ỗ i quốc gia. Cùng hòa chung v ới xu th ế đó NHTM cũng đóng vai trò r ất quan tr ọng trong vi ệc đ ưa n ền kinh t ế c ủa qu ốc gia mình h ội nh ập v ới n ền kinh t ế thế gi ới. B ằng các ho ạt đ ộng c ủa mình nh ư tài tr ợ xu ất nh ập kh ẩu, th ực Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 7
  8. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính hiện các hình th ức thanh toán, b ảo lãnh… đã góp ph ầ n thúc đ ẩy vi ệc chu chuy ể n hàng hóa d ị ch v ụ gi ữ a các qu ốc gia v ới nhau m ột cách thu ận l ợi và nhanh chóng. 1.2 Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại 1.2.1 Khái niệm về huy động vốn Ngân hàng thương mại hoạt động và phát triển được chủ yếu nhờ vào lượng tiền mà nó huy động được từ nền kinh tế. Trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt trong lĩnh vực tài chính tiền tệ như hiện nay, để có được nguồn vốn lớn đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải có biện pháp huy động vốn hợp lý, từ đó thu hút được lượng vốn cần thiết trong nền kinh tế, để phục vụ cho hoạt động của ngân hàng thương mại. Công tác huy động vốn của ngân hàng có thể hiểu là những công cụ, cách thức, phương pháp và chương trình cụ thể nhằm thu hút sự chú ý của các cá nhân, các tổ chức và từ đó gửi tiền vào ngân hàng trên cơ sở hai bên đều có lợi. Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy công tác huy động vốn của ngân hàng thương mại cũng là một phần trong chính sách marketing mà ngân hàng đang sử dụng, tuy nhiên nó luôn được sự quan tâm chỉ đạo sát sao từ phía lãnh đạo ngân hàng. 1.2.2 Vai trò của nguồn vốn huy động  Đối với nền kinh tế: Nước ta đang trong tiến trình xây dựng một nền kinh tế vững mạnh vận động theo cơ chế thị trường, việc này đồng thời với vấn đề phải phát triển một thị trường tài chính xứng tầm. Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị, tổ chức kinh tế và cá nhân đều chịu sự tác động của thị trường, của các quy luật kinh tế: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị…Chính vì vậy, các doanh nghiệp để tồn tại được trên thương trường phải không ngừng đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm…Vấn đề này thực hiện được khi và chỉ khi doanh nghiệp huy động được đủ lượng vốn cần thiết và sử dụng có hiệu quả chúng vào đúng mục đích. Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp thường không đáp ứng được nhu cầu vốn của doanh nghiêp, do đó doanh nghiệp phải đi vay vốn nhằm bù đắp cho nhu cầu đầu tư của mình. Với sự xuất hiện của thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng thương mại thì việc vay vốn của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các cá nhân trở nên dễ dàng hơn. Doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm vốn từ nhiều nguồn khác nhau với chi phí tiết kiệm và thủ tục đơn giản hơn rất nhiều. Chính phủ trong nhiều trường hợp cũng cần phải huy động lượng vốn nhất định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình. Ngân sách nhà nước là nguồn cung cấp chủ yếu cho kế hoạch chi tiêu của Chính phủ, song không phải lúc nào nó cũng ở trong trạng thái lành mạnh, đủ khả năng đáp ứng. Giải pháp đặt ra là có thể in thêm tiền hoặc tăng thuế, vay nợ nước ngoài nhưng việc này sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực lên toàn bộ nền kinh tế, qua đó nảy sinh các vấn đề xã Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 8
  9. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính hội. Đây là điều mà các nhà hoạch định chính sách vĩ mô không muốn xảy ra. Vì vậy, Nhà nước có thể sử dụng biện pháp tích cực hơn đó là tìm kiếm nguồn vốn huy động trong và ngoài nước thông qua việc phát hành các công cụ nợ như trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc… Qua những dẫn chứng trên có thể thấy được tầm quan trọng của nguồn vốn huy động đối với nền kinh tế, tác động trực tiếp đến mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng. Để khai thông nguồn vốn đầu tư phát triển cho nền kinh tế chúng ta phải tận dụng tốt lượng vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế thông qua kênh huy động của NHTM, các tổ chức tín dụng, và có thể từ ngân sách nhà nước cho đẩu tư phát triển. Trong đó công tác huy động vốn trong NHTM đóng vai trò quyết định và được chú trọng hơn cả. Công tác huy động vốn trong nền kinh tế thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động tài chính, tình hình lạm phát và ổn định tiền tệ. Vì nguồn vốn có vai trò to lớn đối với nền kinh tế như vậy, nên chúng ta cần phải khơi thông các nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, thông qua các kênh: vốn từ ngân sách nhà nước, vốn huy động của các tổ chức tín dụng… Trong các kênh trên, vốn từ ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp nhà nước. Nhưng hiện nay số lượng doanh nghiệp nhà nước đã giảm do việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, việc huy động vốn từ kênh này thường không cao. Bên cạnh đó, việc huy động vốn còn được thực hiện thông qua kênh tín dụng. Các doanh nghiệp có thể huy động vốn qua kênh trực tiếp hoặc gián tiếp. Nhưng ở nước ta phần lớn các doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên chưa đủ điều kiện để huy động vốn trực tiếp trên thị trường chứng khoán. Do đó, việc huy động vốn gián tiếp qua kênh ngân hàng vẫn đóng vai trò quan trọng. Vậy, việc chú trọng đến các nguồn vốn của nền kinh tế là điều kiện cần thiết của các ngân hàng khi quan tâm đến sự phát triển chung của nền kinh tế mà ngân hàng là một trong những thành viên chính góp phần tạo nên sự phát triển đó. Việc đẩy mạnh công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển đang giữ một vị trí đặc biệt quan trọng.  Đối với NHTM: Chuyển sang nền kinh tế thị trường, vai trò của NHTM ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. NHTM cũng là doanh nghiệp nhưng là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, nên trong quá trình chuyền mình cùng nền kinh tế, các NHTM đã chuyển dần sang hạch toán kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình chứ không bao cấp như trước nữa. Do đó, tinh năng động sáng tạo được khơi dậy, các NHTM có xu hướng phát triển đa năng. Vì đóng vai trò là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, là thủ quỹ của nền kinh tế nên NHTM là tác nhân quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Các nguồn vốn huy động được sẽ quyết đinh quy mô cũng như định hướng hoạt động của ngân hàng. Nếu nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh của một Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 9
  10. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính NHTM thì nguồn vốn huy động được coi là yếu tố đầu vào thường xuyên, chủ yếu nhất của ngân hàng. Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, đầu tư chủ yếu dựa vào nguồn này. Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Cụ thể, nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào với chi phí thấp nó có thể mở rộng được tín dụng đầu tư và thu được lợi nhuận cao. Ngược lại, với quy mô hạn chế và chi phí cao thì ngân hàng có thể gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình. Chi phí hoạt động vốn của ngân hàng liên quan chặt chẽ với lãi suất tiền gửi các loại, lãi suất tiền gửi tiết kiệm các loại và lãi suất các công cụ nợ do ngân hàng phát hành. Nguồn vốn huy động không những giúp cho ngân hàng bù đắp được thiếu hụt trong thanh toán, tăng nguồn vốn trong kinh doanh mà thông qua huy động vốn, ngân hàng nắm bắt được năng lực tài chính của khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Qua đó, ngân hàng có căn cứ để xác định mức vốn đầu tư cho vay đối với những khách hàng đó hoặc có thể phát hiện kịp thời tệ tham ô, trốn thuế, lừa đảo của các doanh nghiệp làm ăn không chính đáng. Từ đó có biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời. Cơ cấu nguồn vốn cũng ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu cho vay của NHTM. Vốn tự có của ngân hàng chỉ phát sinh khi nhu cầu thanh toán tín dụng cấp bách còn ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn huy động được. Nếu một ngân hàng huy động được vốn trung và dài hạn thì có thể mở rộng nghiệp vụ tín dụng đầu tư dài hạn. Nhưng hiện nay việc huy động vốn trung và dài hạn chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế nên một ngân hàng có thể dùng vốn hoạt động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn nhưng không vượt quá một tỷ lệ nhất định vì điều đó sẽ dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán của ngân hàng. Bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay hay nguồn vốn ngân hàng huy động được là nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên công tác huy động vốn càng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do vậy, công tác huy động vốn là một mảng hoạt động lớn của các NHTM và nó quyết định rất lớn đến thành công hay thất bại trong kinh doanh của ngân hàng. 1.2.3 Các phương thức huy động vốn 1.2.3.1 Phân loại theo thời gian huy động Phân lo ạ i theo th ờ i gian có ý nghĩa quan tr ọng đ ối v ới ngân hàng vì nó liên quan m ậ t thi ế t đ ế n tính an toàn và kh ả năng sinh l ợi c ủa ngu ồn v ố n huy đ ộ ng cũng nh ư th ờ i gian ph ả i hoàn tr ả khách hàng. Theo th ời gian, hình th ứ c huy đ ộ ng đ ượ c chia thành:  Huy động ngắn hạn: Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các ngân hàng thương mại thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán… Phần lớn số này được dùng để cho vay ngắn hạn (dưới 1 năm) hoặc được chuyển hoán kỳ hạn để Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 10
  11. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính thực hiện cho vay trung hạn. Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém.  Huy động trung hạn: Đây là nguồn vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm). Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện. Tuy nhiên lãi suất huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn. Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất cao.  Huy động dài hạn: Đây là hoạt động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường vốn, với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao (từ 5 năm trở lên). Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao. 1.3.2 Phân loại theo đối tượng huy động  Huy động từ dân cư: Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các ngân hàng. Ngân hàng huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến cho những người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh. Nguồn huy động từ dân cư thường khá ổn định.  Huy dộng vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: Đây là nguồn vốn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn. Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ hầu hết đểu có tài khoản trong ngân hàng. Các doanh nghiệp khi bán được hàng hóa đều gửi tiền vào ngân hàng và rút ta khi cần. Chu kỳ rút tiền gửi của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội không giống nhau. Vì vậy ngân hàng luôn có trong tay một khoản tiền lớn mà mình có thể sử dụng một cách tương đối thuận lợi. Tuy nhiên độ lớn của khoản tiền này phụ thuộc nhiều vào các dịch vụ, các tiện ích mà ngân hàng mang lại khi khách hàng sử dụng các dịch vụ. Điều này khiến cho việc huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội gắn liền với việc mở rộng, cải tiến các dịch vụ ngân hàng.  Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Trong quá trìn hoạt động các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi ở lẫn nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán…Ngoài ra việc vay lẫn nhau giữa các ngân hàng cũng làm tăng nguồn vốn huy động. Điều này tuy không thường xuyên song là cần thiết trong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại. Khi xuất hiện việc thiếu hụt dự trữ khả năng thanh toán bị đe dọa… các ngân hàng thương mại có thể vay lẫn nhau. Quá trình vay này là một thỏa thuận tín dụng giữa hai bên. Quá trình tăng vốn huy động này có thể được thực hiện ở trên thị trường nội tệ hay thị trường ngoại tệ. Trong số những người cho ngân hàng vay có một người đặc biệt. Đó là ngân hàng trung ương. NHTW đóng vai trò là người cho vay cuối cùng để cứu cho các ngân hàng thương mại khỏi các trục trặc xảy ra. Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 11
  12. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính tuy cũng khá dễ dàng nhưng số lượng thường không nhiều và chi phí huy động thường cao hơn. Do vậy, hình thức các ngân hàng sử dụng không nhiều. 1.2.3.3 Phân loại theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu được các ngân hàng thương mại sử dụng hiện nay. Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo sự thuận tiện cho ngân hàng khi tiến hành huy động. Các hình thức huy động bao gồm:  Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi:  Huy động tiền gửi không kỳ hạn Đây là phần tiền huy động tương đối quan trọng ở những nước phát triển có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt cao. Mục đích của các khoản tiền gửi này không phải là lấy lãi mà chủ yếu dùng để thanh toán. Khách hàng gửi tiền phần lớn là những tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn bán phải thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ liên tục. Người gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào hoặc để chi trả cho người thứ ba. Hình thức rút có thể là tiền mặt hay lấy qua hình thức thanh toán bằng Séc. Đặc biệt người gửi tiền có thể không cần trực tiếp đến ngân hàng lấy mà có thể rút qua các máy rút tiền tự động (máy ATM). Ngân hàng thường bảo quản loại tiền gửi này trên hai tài khoản: tài khoản thanh toán và tài khoản vãng lai. Trong đó: • Tài khoản thanh toán là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có toàn quyền sử dụng số tiền trên tài khoản nhưng chỉ trong phạm vi số dư tiền gửi. Loại tài khoản này luôn luôn có số dư có. • Tài khoản vãng lai là tài khoản có thể dư có hoặc dư nợ, thường được sử dụng cho các tổ chức kinh tế. Số dư có thể hiện tiền gửi của khách hàng còn số dư nợ thể hiện khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng vay. Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là đế sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên mức lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí không phải trả lãi. Tuy nhiên ở nhiều nước có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thấp (trong đó có Việt Nam) và để tăng mức động viên tiền gửi, ngân hàng vẫn trả lãi cho tiền gửi này (có những thời điểm được trả ngang bằng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn). Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng có các dịch vụ đa dạng, sản phẩm ngân hàng chất lượng cao, hệ thống mạng lưới rộng rãi đáp ứng tốt các nhu cầu của người gửi tiền.  Huy động tiền gửi có kỳ hạn Là các tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng và rút ra sau một thời hạn nhất định. Khoản này thường gắn liền với các tổ chức kinh tế có chu kỳ kinh doanh gần như xác định, thời gian thanh toán tiền ổn định, ít có sự biến động. Phần tiền gửi này ngân hàng sử dụng dễ dàng nên mức lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng cao hơn. Người gửi tiền ngoài mục đích sử dụng các dịch vụ ngân hàng còn có mục đích kiếm lời. Do đó, sự thay đổi lãi suất sẽ có tác động rất nhanh và rõ nét đối với nguồn vốn huy động của ngân hàng. Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 12
  13. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Ở Việt Nam, hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi (mà chúng ta vẫn gọi là kỳ phiếu ngân hàng có mục đích) với các thời hạn 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm… ngày càng phổ biến, đã và đang phát huy vai trò hay việc tạo vốn cho các ngân hàng. Huy động tiền gửi tiết kiệm Đây là hình thức phổ biến nhất, lâu đời nhất của các ngân hàng thương mại. Bao gồm các loại sau: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Hình thức này gần giống như huy động tiền gửi không kỳ hạn. Tuy nhiên so với tiền gửi không kỳ hạn thì số dư của phần này ổn định hơn, ít biến động hơn nên ngân hàng phải trả lãi suất cao hơn. Tiền gửi tiêt kiệm có kỳ hạn: Đây là loại hình tiết kiệm phổ biến nhất, quen thuộc nhất ở nước ta. Người gửi tiền gửi vào ngân hàng và rút ra sau những thời hạn xác định: 1tuần, 2 tuần, 3 tuần, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 4 tháng, 5 tháng, 6 tháng, 7 tháng,…36 tháng. Người gửi không được rút trước, nếu rút trước hạn thì sẽ bị phạt. Đây là những khoản tiền có tính ổn định rất cao nên ngân hàng phải trả khách hàng với lãi suất cao nhất. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, để tăng sức cạnh tranh, thu hút được vốn các ngân hàng đã rất linh hoạt trong việc khách hàng rút ra trước thời hạn. Có ngân hàng thì tính lãi cho khách hàng với lãi suất không kỳ hạn, có ngân hàng vẫn tính với lãi suất đó với số ngày gửi thực tế…  Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môi trường kinh doanh đầy biến động như hiện nay. Các ngân hàng thương mại có thể vay từ nhiều nguồn:  Vay từ các tổ chức tín dụng: Đó là các khoản vay thông thường mà các ngân hàng vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ. Các ngân hàng xây dựng mối quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ không vay ngân hàng trung ương.  Vay từ ngân hàng trung ương: Khi ngân hàng thương mại xảy ra tình trạng thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay mất khả năng thanh toán thì người cuối cùng mà các ngân hàng có thể cầu cứu là ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương cho vay dưới hình thức tái chiết khấu thương phiếu. Các ngân hàng thương mại có thể mang các thương phiếu lên ngân hàng trung ương để vay. Tuy nhiên việc vay này cũng có một số khó khăn do ngân hàng trung ương chỉ cho ngân hàng thương mại một hạn mức tái chiết khấu và việc cho vay này lại nằm trong định hướng của chính sách tài chính quốc gia. Dẫu sao đây cũng là một hình thức bổ sung vốn cho ngân hàng thương mại cực kỳ quan trọng trong những thời điểm nhất định.  Huy động qua phát hành các công cụ nợ: Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 13
  14. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính Đây là hình thức huy động vốn có hiệu quả khá cao của các ngân hàng thương mại. Trong quá trình hoạt động, ở những thời điểm nhất định, ngân hàng thấy cần phải huy động thêm vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn. Điều đó có nghĩa là ngân hàng huy động vốn ở thế chủ động, có nghĩa là có đầu ra mới tính đầu vào. Ngân hàng xác định rõ quy mô vốn huy động, loại tiền huy động và đưa ra các mức chi phí hợp lý làm cho việc tạo vốn của ngân hàng thành công nhanh chóng. Để vay trên thị trường, ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu và trái phiếu. Trái phiếu ngân hàng là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ của khách hàng đối với người chủ ngân hàng với những cam kết như thanh toán một số tiền xác định vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định cho trước. Trái phiếu được phát hành trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, chủ yếu là để huy động vốn trung và dài hạn. Kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy tờ nhận nợ ngắn hạn do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trong dân, chủ yếu là để phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng như một dự án, một chương trình kinh tế…  Huy động vốn qua các hình thức khác: Để tăng cường huy động vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại còn sử dụng các hình thức khác về dịch vụ xã hội: làm dịch vụ bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán, trung gian thanh toán, đầu mối trong hợp đồng tài trợ… Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ trên càng mang lại cho ngân hàng những nguồn huy động lớn giúp cho ngân hàng có thể kinh doanh một cách an toàn và hiệu quả. Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 14
  15. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính 1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới tình hình huy động vốn của NHTM Huy động vốn là một trong những nội dung hoạt động quan trọng của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên thì hoạt động này không phải là hoạt động độc lập mà có mối quan hệ biện chứng với các hoạt động khác của ngân hàng thương mại. Hơn nữa với chức năng là một trung gian tài chính, vừa là nơi tập trung vốn, vừa là nơi phân phối lại tín dụng, do đó mà hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau, cả nhân tố chủ quan lẫn nhân tố khách quan, các nhân tố này trực tiếp hoặc gián tiệp tác động tới hoạt động của ngân hàng thương mại 1.2.1 Các nhân tố khách quan Đây là nhân t ố không n ằ m trong s ự ki ểm soát c ủa ngân hàng th ươ ng m ạ i, song nó l ạ i tác đ ộ ng l ớ n t ới ho ạt đ ộng và k ết qu ả kinh doanh c ủ a ngân hàng th ươ ng m ạ i nói chung cũng nh ư công tác huy đ ộng v ố n nói riêng. Và nh ư v ậy, s ẽ ả nh h ưở ng t ới chính sách huy đ ộng v ốn mà ngân hàng đang th ự c hi ện. 1.2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội Nền kinh tế ổn định, phát triển bền vững, thu nhập bình quân đầu người có cao, trình độ học vấn của dân cư có cao, xã hội ổn định thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động và phát triển của ngân hàng thương mại. Bởi khi đó tiết kiệm trong xã hội sẽ cao, khả năng tin tưởng vào hoạt động của ngành ngân hàng sẽ ngày càng được nâng lên. Một hệ quả tất yếu là làm cho các thành phần kinh tế sẽ gửi tiền vào ngân hàng theo từng mục tiêu cụ thể. Và ngược lại nếu trong vùng kinh tế có tình hình xã hội bất ổn định, tốc độ phát triển của kinh tế còn hạn chế… Điều này làm cho tiết kiệm trong xã hội đạt mức thấp, thêm vào đó là tâm lý ưa dùng tiền mặt, chưa có thái độ quan tâm thực sự tới các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, và do đó việc thực hiện chính sách huy động vốn của ngân hàng thương mại gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, chính sách huy động vốn của ngân hàng thương mại còn chịu những tác động của các nhân tố như tỷ lệ lạm phát của đồng tiền. Sự suy thoái của nền kinh tế, thậm chí là cả sự phát triển “bong bóng” quá nóng của nền kinh tế. Các nhân tố này ít nhiều đều có ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng thương mại, có nhân tố ảnh hưởng rất mạnh, ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. 1.2.1.2 Hành lang Pháp lý và chính sách vĩ mô của Nhà nước Tại mỗi một quốc gia trên thế giới, mọi hoạt động của ngân hàng thương mại trong đó có hoạt động huy động đều phải chịu sự điều tiết của các chế tài của luật pháp, và sự điều hành giám sát và quản lý từ phía Ngân hàng Nhà nước, để phục vụ những mục đích mà Chính phủ ban hành hay Ngân hàng Nhà nước đề ra. Các ngân hàng thương mại trong trường hợp cần thiết phải tiến hành mua trái phiếu Chính phủ do Chính phủ phát hành, theo những quy định cụ thể của ngân hàng Nhà nước. Với mục tiêu an toàn và an ninh tiền tệ của mỗi quốc gia mà Ngân hàng nhà nước có quy định mức vốn tối đa được phép huy động Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 15
  16. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính theo một tỷ lệ nhất định nào đó so với vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại. Ngoài ra hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại còn chịu sự tác động nhiều cơ quan, nhiều chế tài pháp luật khác, tùy theo mức độ của mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh. 1.2.2 Các nhân tố chủ quan: Là nhân tố nội tại bên trong ngân hàng, thuộc khả năng kiểm soát của ngân hàng, so với các nhân tố khách quan, nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới tất cả mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong các hoạt động đó có hoạt động huy động vốn và chính sách huy động vốn của ngân hàng. Mặt khác, các nhân tố này mang tính phù hợp với tình hình thực tế hoạt động của ngân hàng, nhất là chính sách huy động vốn hơn nhân tố khách quan các yếu tố cấu thành bao gồm: 1.2.2.1 Chiến lược kinh doanh của ngân hàng Mỗi ngân hàng phải tự hoạch định cho mình một chiến lược kinh doanh riêng biệt, phù hợp với các điều kiện bên trong và bên ngoài Ngân hàng. Chiến lược kinh doanh có tính quyết định tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng cần phải xác định vị trí hiện tại của mình trong hệ thống, thấy được điểm mạnh, điểm yếu, thấy được những cơ hội và thách thức. Trên cơ sở đó dự đoán sự thay đổi của môi trường để xây dựng được chiến lược kinh doanh phù hợp mà trong đó chiến lược phát triển quy mô và chất lượng nguồn vốn là một bộ phận quan trọng trong chiến lược tổng thể của ngân hàng. Trong từng thời kỳ, dựa trên chỉ tiêu được giao về hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn và các hoạt động khác của NHTW cùng với tình hình thực tế của từng ngân hàng, ngân hàng phải lập kế hoạch và lên cân đối giữa huy động vốn với khối lượng lớn, thời hạn dài thì ngân hàng sẽ có kế hoạch huy động vốn với lãi suất hấp dẫn, kỳ hạn đa dạng. Còn nếu nhận thấy trong năm tới ngân hàng cần phải thu hẹp khối lượng tín dụng thì ngân hàng sẽ có kế hoạch huy động vốn một lượng vốn vừa đủ để tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn. Mặt khác, trong chiến lược kinh doanh của mình ngân hàng cần đặc biệt chú trọng vào chi phí vốn mà ngân hàng phải chịu trong khâu huy động. Phải tìm kiếm nguồn vốn rẻ, thời hạn dài thông qua việc lựa chọn các hình thức huy động khác nhau, có như vậy ngân hàng mới chủ động trong việc tìm kiếm và sử dụng vốn. 1.2.2.2 Các hình thức huy động vốn, chất lượng các dịch vụ do ngân hàng cung ứng, hệ thống các mạng lưới và đổi mới công nghệ Ngân hàng Một yếu tố ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng nguồn vốn huy động là hình thức, kỳ hạn, các dịch vụ cung cấp, cùng với hệ thống mạng lưới rộng khắp, sự đổi mới công nghệ tiên tiến… Do nhu cầu của khách hàng khi đến ngân hàng là khác nhau nên việc thỏa mãn được những nhu cầu đa dạng của khách hàng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn. Trong nền kinh tế thị trường thì hiện tượng cạnh tranh là tất yếu, việc đáp ứng nhu cầu khách hàng là điều kiện tiên quyết để đạt được thắng lợi trong kinh doanh. Một ngân hàng có các hình thức huy động và kỳ hạn huy động vốn phong phú, linh Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 16
  17. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính hoạt, thuận tiện hơn sẽ có sức thu hút khách hàng mới và duy trì những khách hàng hiện có hơn những ngân hàng khác. Các ngân hàng hiện nay không chỉ huy động tiền gửi tiết kiệm mà còn khuyến khích người dân gửi tiền dưới nhiều hình thức khác nhau như mở tài khoản tiền gửi, huy động qua kỳ phiếu, trái phiếu phong phú cả về mệnh giá, kỳ hạn và chủng loại… Khi hình thức huy động vốn đa dạng và hấp dẫn thì sẽ làm cho số lượng người gửi tiền tăng lên và khi đó chi phí huy động sẽ giảm xuống. Hơn nữa, hình thức huy động vốn phong phú cũng là điều kiện để thu hút những khoản vốn đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau với những tính chất khác nhau về số lượng, chất lượng và kỳ hạn… Từ đó sẽ giúp ngân hàng sử dụng vốn linh hoạt, an toàn và hiệu quả hơn. Một ngân hàng có dịch vụ tốt hiển nhiên sẽ có nhiều lợi thế hơn các ngân hàng khác. Trong điều kiện kinh tế thị trường các ngân hàng phải phấn đấu nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tăng thu nhập của ngân hàng. Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh về dịch vụ ngân hàng không có giới hạn. Do vậy, đây chính là điểm mạnh để các ngân hàng vươn lên trong cạnh tranh. Đổi mới công nghệ ngân hàng nhất là khâu thanh toán. Cùng với việc đổi mới hoạt động ngân hàng, các ngân hàng thương mại ngày càng chú trọng tới việc áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng, đặc biệt là khâu thanh toán. Nhờ đó làm cho vốn luân chuyển nhanh, thuận tiện, đảm bảo an toàn cho khách hàng trong việc gửi tiền, rút tiền và vay vốn. Nếu thực hiện tốt khâu này thì sẽ hạn chế được việc lưu thông bằng tiền mặt vừa không hiệu quả vừa không an toàn. Ngoài ra nếu tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt tăng lên thì ngân hàng sẽ thu hút được càng nhiều các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế vào hệ thống ngân hàng và góp phần làm giảm chi phí in ấn, bảo quản, kiểm đếm… Hiện nay, các ngân hàng đang vận động dân cư mở tài khoản tiền gửi thanh toán, thực hiện quá trình thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ qua tài khoàn tiền gửi trong đó ngân hàng đóng vai trò là người làm trung gian thanh toán, ngoài ra ngân hàng còn đưa ra các hình thức huy động vốn thông qua các hình thức hấp dẫn như tiền gửi tiết kiệm ở một nơi có thể rút ở nhiều nơi, thực hiện thanh toán qua thẻ tín dụng, thẻ tiền gửi… Để thực hiện tốt vấn đề này, ngành ngân hàng phải tiếp tục trang bị những công nghệ hiện đại. Mặt khác, ngân hàng cần nghiên cứu để đưa ra các hình thức huy động vốn phù hợp. Từ đó tạo cho khâu thanh toán luân chuyển vốn nhanh và thuận tiện cho công tác kiểm soát. 1.2.2.3 Chính sách lãi suất Điều đầu tiên mà bất kỳ một cá nhân hay tổ chức kinh tế nào cũng muốn tham khảo khi gửi tiền vào ngân hàng chính là lãi suất. Vì vậy, chính sách lãi suất là một trong những chính sách quan trọng nhất trong số các chính sách bổ trợ cho công tác huy động vốn của ngân hàng. Ngân hàng sử dụng hệ thống lãi Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 17
  18. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính suất như là một công cụ quan trọng trong việc huy động và thay đổi quy mô nguồn vốn thu hút vào ngân hàng, đặc biệt là quy mô tiền gửi. Để duy trì và thu hút thêm nguồn vốn, ngân hàng cần phải ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện ưu đãi về lãi suất cho khách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên. Tuy nhiên không phải ngân hàng cứ đưa ra mức lãi suất cao là thu hút được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư mà vấn đề là ở chỗ với mức lãi suất cụ thể mà ngân hàng đưa ra sẽ đem lại cho người gửi tiền mức lợi tức thực tế là bao nhiêu. Điều đó có nghĩa là mức lãi suất mà ngân hàng đưa ra phải luôn đảm bảo lớn hơn tỷ lệ lạm phát, do đó ngân hàng phải dự đoán chính xác tỷ lệ lạm phát trong từng thời kỳ để đưa ra mức lãi suất hợp lý. Ngoài ra quy ết đ ị nh đ ưa ra m ức lãi su ấ t nào đó còn ph ụ thu ộc vào m ột y ếu t ố khác nh ư th ời gian đáo h ạn c ủ a ti ề n g ử i, kh ả năng chuy ển hoán gi ữa các kỳ h ạn, m ức đ ộ r ủi ro và l ợ i nhu ậ n mang l ạ i t ừ các kho ản đ ầu t ư khác, các quy đ ịnh c ủa nhà n ướ c, quy đ ị nh c ủ a NHTW, m ức lãi su ất đ ầu ra mà ngân hàng có th ể áp d ụ ng đ ố i v ớ i các khách hàng vay v ốn. Lãi suất càng cao thì hấp dẫn người gửi tiền nhưng lãi suất huy động cao cũng có nghĩa là lãi suất vay cũng phải cao tương ứng thì ngân hàng kinh doanh mới có lãi. Mức lãi suất đủ cao để thu hút khách hàng nhưng cũng không được cao quá để vẫn có thể thu hút được khách đi vay mà không làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. H ơ n n ữ a ngân hàng ph ả i tính đ ế n chi phí huy đ ộng v ốn c ủ a mình và m ặ t b ằ ng lãi su ấ t huy đ ộ ng c ủ a ngân hàng mình so v ới các ngân hàng khác. 1.2.2.4 Mức độ thâm niên và uy tín của ngân hàng Trên c ơ s ở th ự c t ế s ẵ n có, m ỗ i ngân hàng đã, đang và s ẽ t ạo đ ượ c hình ả nh riêng c ủ a mình trong lòng th ị tr ườ ng. M ột ngân hàng l ớn, có uy tín s ẽ l ợ i th ế h ơ n trong các ho ạt đ ộng ngân hàng nói chung và ho ạt đ ộ ng huy đ ộ ng v ố n nói riêng. S ự tin t ưở ng c ủa khách hàng s ẽ giúp cho ngân hàng có kh ả năng ổn đ ị nh kh ối l ượ ng v ốn huy đ ộng và ti ết ki ệm chi phí huy đ ộ ng t ừ đó giúp ngân hàng ch ủ đ ộng h ơn trong kinh doanh. M ộ t ngân hàng có m ộ t b ề dày l ịch s ử v ới danh ti ếng, c ơ s ở v ật ch ất, trình đ ộ nhân viên… s ẽ t ạ o ra hình ảnh t ốt v ề ngân hàng, gây đ ượ c s ự chú ý c ủ a khách hàng t ừ đó lôi kéo đ ượ c khách hàng đ ến quan h ệ giao d ị ch v ớ i mình. 1.3 CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN Hi ệ u qu ả huy đ ộ ng v ố n đ ượ c đánh giá theo nhi ều khía c ạnh khác nhau tuỳ theo m ụ c đích nghiên c ứu. Vì v ậy các ch ỉ tiêu đánh giá hi ệu qu ả huy đ ộ ng v ố n cũng có nhi ề u lo ạ i khác nhau. Bài vi ết này ch ỉ xin đánh giá Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 18
  19. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính hi ệ u qu ả huy đ ộ ng v ố n d ựớ i góc đ ộ m ộ t nhà ngân hàng. Đ ể đánh giá hi ệu qu ả huy đ ộ ng v ố n d ự a trên kh ả năng s ử d ụ ng v ố n và chi phí c ủa đ ồng v ố n.  Quy mô ngu ồ n v ố n huy đ ộ ng Quy mô ngu ồ n v ố n huy đ ộ ng càng l ớ n thì ch ứng t ỏ hi ệu qu ả trong các tác huy đ ộ ng v ố n càng cao.  T ố c đ ộ tăng tr ưở ng ngu ồ n v ố n huy đ ộ ng Đánh giá qua m ứ c đ ộ tăng gi ả m ngu ồ n v ốn huy đ ộng và s ố l ượ ng v ố n huy đ ộ ng có kỳ h ạ n. Ngu ồ n v ố n tăng đ ều qua các năm ( 1 năm sau - tr ướ c > 0 ) đ ạ t m ụ c tiêu v ề ngu ồ n v ố n đ ặ t ra và có đ ộ gia tăng đ ều đ ặ n là ngu ồ n v ố n tăng tr ưở ng ổ n đ ị nh.  C ơ c ấ u ngu ồ n v ố n huy đ ộ ng Ngu ồ n v ố n có s ố l ượ ng v ố n kỳ h ạ n l ớ n ch ứ ng t ỏ s ự ổn đ ịnh v ề th ời gian c ủ a ngu ồ n v ố n cao. Ngu ồ n v ố n có kh ả năng đáp ứ ng cho các ho ạt đ ộng kinh doanh c ủa ngân hàng: Đánh giá qua vi ệc so sánh ngu ồn v ốn huy đ ộng đ ượ c v ới các nhu c ầ u tín d ụ ng, thanh toán và các nhu c ầu khác đ ể th ấy ngu ồn v ốn huy đ ộ ng đã đáp ứ ng bao nhiêu. Ngân hàng ph ải vay thêm bao nhiêu đ ể tho ả mãn nhu c ầ u đó.  Chi phí huy đ ộ ng v ố n: Đánh giá qua ch ỉ tiêu lãi su ấ t huy đ ộng bình quân, lãi su ất huy đ ộ ng t ừ ng ngu ồ n và chênh l ệ ch lãi su ất đ ầu ra, đ ầu vào. - Mức độ hoạt động của vốn: Đánh giá qua chỉ tiêu hệ số sử dụng vốn. - Mức độ thuận tiện cho khách hàng: Đánh giá qua việc thực hiện các thủ tục gửi tiền, rút tiền.  Sự phù hợp giữa nguồn vốn huy động và hoạt động cho vay Nền kinh tế thị trường đòi hỏi việc huy động vốn phải dùa trên cơ sở nhu cầu đầu tư là huy động vốn phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội nhằm thoả mãn nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế. Huy động vốn phải gắn liền với việc sử dụng vốn có hiệu quả, sao cho nguồn vốn huy động được sử dụng một cách cân đối, đúng mục đích, đầu tư có hiệu quả góp phần Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 19
  20. Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Tài Chính thóc đẩy kinh tế phát triển, bảo toàn đồng vốn đầu tư, bảo đảm có lợi ích cho cả người gửi tiền và ngân hàng. Để so sánh khả năng cho vay với khả năng huy động vốn của một ngân hàng đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy động, người ta dung chỉ tiêu Hệ số sử dụng vốn = Tổng dư nợ / Nguồn vốn huy động Chỉ số này càng lớn cho ta thấy vốn tồn đọng càng ít, nhưng rủi ro tín dụng càng lớn. Do vậy để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động thì đòi hái mỗi ngân hàng phải lùa chọn khách hàng để giảm thiểu rủi ro. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỸ HÀO 2.1 KHAI QUAT VỀ NHNo&PTNT MỸ HAO ́ ́ ̀ 2.1.1 Lich sử hinh thanh và cơ câu tổ chức cua NHNo&PTNT Mỹ Hao ̣ ̀ ̀ ́ ̉ ̀ 2.1.1.1 Lịch sử hình thành NHNo&PTNT Mỹ Hao ̀ Năm 1988, Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ) về việc thành lập các Ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Ngày 14/11/1990 Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam. Ngân hàng nông nghiệp là Ngân hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là một pháp nhân, hoạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật. Ngày 22/12/1992, Thống đốc NHNN có quyết định số 603/NH-QĐ về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp gồm 3 cơ sở giao dịch (Sở giao dịch I tại Hà Nội, Sở giao dịch II tại văn phòng đại diện khu vực miền nam và Sở giao dịch III tại văn phòng miền trung) và 43 chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp tỉnh, thành phố. Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp quận, huyện, thị xã có 475 chi nhánh. Ngày 30/07/1994 tại quyết định số 160/QĐ-NHN9, Thống đốc NHNN chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam, trên cơ sở đó, Tổng giám đốc Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam cụ thể hoá bằng văn bản số 927/TCCB/Ngân hàng nông nghiệp ngày 16/08/1984 xác định: Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham mưu và cấp trực tiếp kinh doanh. Lê Thị Ngọc Mai- CQ47/15.03 Trang 20

Có Thể Bạn Muốn Download

Đồng bộ tài khoản