Đề tài: Huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Đống Đa

Chia sẻ: Cella Xsxl | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:64

0
222
lượt xem
88
download

Đề tài: Huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Đống Đa

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngân hàng thương mại cổ phần là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, nhiệm vụ thường xuyên và chủ yếu là huy động vốn, cho vay và cung cấp các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng. Trong đó vốn huy động luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và ổn định nhất. Do vậy có thể khẳng định vốn huy động hay công tác huy động vốn có vai trò to lớn quyết định đến khả năng hoạt động và phát triển của Ngân hàng....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Đống Đa

  1. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp MỤC LỤC 2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN – CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA............................................24 KẾT LUẬN............................................................................................. 65 LỜI MỞ ĐẦU Ngân hàng thương mại cổ phần là doanh nghiệp đặc bi ệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, nhiệm vụ thường xuyên và ch ủ y ếu là huy đ ộng vốn, cho vay và cung cấp các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa                       1
  2. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp Đối với hoạt động Ngân hàng vốn là chủ y ếu quy ết định mọi hoạt đ ộng kinh doanh. Thực tế tại các Ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay vốn tự có chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ còn lại là vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác. Trong đó vốn huy động luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và ổn định nhất. Do vậy có thể khẳng định vốn huy động hay công tác huy động v ốn có vai trò to lớn quyết định đến khả năng hoạt động và phát triển của Ngân hàng. Tại Việt Nam hiện nay huy động vốn hay là việc khai thác l ượng ti ền nhàn rỗi trong công chúng hộ gia đình, của các tổ chức kinh tế xã hội hay tổ chức tín dụng khác của Ngân hàng thương mại còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Làm sao để giảm chi phí, có quy mô ổn định, phù h ợp trong việc tài trợ cho các danh mục tài sản, tăng khả năng sinh lời cho Ngân hàng, giúp Ngân hàng giảm thiểu rủi ro. Do đó việc tăng cường huy động v ốn với chi phí hợp lý và ổn định cao là yêu cầu ngày càng tr ở nên c ấp thi ết và quan trọng đối với Ngân hàng. Quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam đã và đang khẳng định vị trí và vai trò của Ngân hàng thương mại,với những nghiệp vụ không ngừng được cải thiện và mở rộng cho phù hợp nhằm đáp ứng nhu c ầu v ốn và cung c ấp các dịch vụ Ngân hàng cho nền kinh tế và dân cư. Việc làm này c ủa các Ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh t ế đẩy mạnh xuất khẩu, đầu tư sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, góp phần thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa. Để có thể thực hiện tất cả các nghiệp vụ trên Ngân hàng ph ải có nguồn vốn. Vốn huy động trở thành nguồn vốn chủ yếu trong hoạt động của Ngân hàng. Với sự xuất hiện của các tổ chưc tài chính nước ngoài, t ổ chức tài chính mới trong nước như bảo hiểm hay chứng khoán làm cho nguồn vốn chảy và Ngân hàng ngày càng giảm dần. Chính vì th ế mu ốn tồn tài và đứng vững trong môi trường mới, các Ngân hàng luôn luôn c ần có Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa                       2
  3. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp nguồn vốn dồi dào. Khi đó huy động vốn trở thành bi ện pháp h ữu hi ệu cho Ngân hàng thương mại thực hiện chiến lược của mình. Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín 22 năm ho ạt động đã đạt được những thành tựu đáng kể cả trong công tác huy động vốn, cả trong công tác tín dụng. Ngân hàng đã và đang không ngừng nâng cao chất lượng vốn huy động để nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập Quốc Tế. Chính vì thế chúng em đã quyết định chọn đề tài “ Huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Đống Đa ” để làm chuyên đề tốt nghiệp. Kết cấu bài luận văn của Em chia làm ba chương như sau: Chương 1: Lý luận chung về huy động vốn của NHTMCP Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn của NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – Chi nhánh Đống Đa Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Đống Đa Để hoàn thành bài luận văn này, ngoài cố gắng của bản thân, chúng em đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáo là Vũ Ngọc Diệp, đồng thời là sự giúp đỡ của anh chị nhân viên của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Đống Đa. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo và các anh chị nhân viên đã giúp đỡ Em trong thời gian qua. Em xin chân thành cảm ơn! Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa                       3
  4. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) 1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM 1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại (NHTM)  NHTM là tổ chức tài chính tiền gởi và cho vay tiền  NHTM là nơi trực tiếp giao dịch với công chúng để nhận ký thác , cho vay và cung ứng những dịch vụ tài chính  Theo tinh thần luật của các tổ chức tín dụng (công bố ngày 26/12/1997) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật của các tổ chức tín dụng (có hiệu lực thi hành ngày 01/10/2004): Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gởi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịh vụ thanh toán và thanh toán các dịch vụ khác liên quan.  Tại Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yeu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh cho vay thương mại sẽ được xem là một Ngân hàng  Như vậy chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về Ngân hàng thương mại: Ngân hàng là một doang nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay chiết khấu . bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan. NHTM là tổ chức tài chính trung gian cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất 1.1.2 Chức năng và vai trò của NHTM trong nền kinh tế 1.1.2.1 Chức năng của NHTM trong nền kinh tế  Chức năng trung gian tín dụng: Trong nền kinh tế thị trường các giao dịch kinh tế diễn ra rất sôi động đã tạo ra những khoản thu nhập, chi tiêu và tích luỹ bằng tiền của các tầng lớp trong xã hội. Quá trình đó làm hình thành nên những người có tiền tích luỹ có khả năng cung cấp tín dụng và những người có nhu cầu tín dụng để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển. Nhưng làm thế nào để họ tìm gặp được nhau và làm sao có thể cùng thoả mãn những nhu cầu vốn đa dạng và to lớn trong Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa                       4
  5. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp khi các nguồn tiền tiết kiệm đang nằm phân tán trong xã hội mà mỗi khoản tiết kiệm lại theo đuổi một mục đích riêng. Nhờ có thị trường tài chính và cơ chế chuyển giao vốn năng động của thị trường tài chính trong đó hệ thống NHTM giữ vai trò chủ đạo. Là trung gian tài chính, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Như vậy, với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Có thể nói đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM trong nền kinh tế.  Chức năng trung gian thanh toán. Trong đời sống hàng ngày diễn ra hàng tỷ lượt giao dịch, nếu như mọi khoản thanh toán đầu thanh toán đều bằng tiền mặt trao tay thì sẽ kéo theo hàng loạt các công việc phức tạp và tốn kém, gặp n những rủi ro không lường trước được. Khi NHTM ra đời và phát triển, trong quá trình làm trung gian tín dụng Ngân hàng đã thu hút được hầu hết các nhà kinh doanh có quan hệ buôn bán với nhau mở tài khoản tại Ngân hàng tạo cơ sở cho các Ngân hàng đứng ra làm trung gian thanh toán. Khi đó, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa                       5
  6. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn.  Chức năng tạo tiền. Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. 1.1.2.2 Vai trò của NHTM. Thứ nhất, NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế. Là một trung gian tín dụng, NHTM đã tích tụ và tập trung được một khối lượng lớn tiền tạm thời nhàn rỗi thông qua nghiệp vụ huy động vốn và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng. Từ nguồn tiền đó, Ngân hàng tiến hành cung cấp vốn cho các thành phần kinh tế, thông qua hoạt động tín dụng. Tức là Ngân hàng đóng vai trò là người môi giới giữa một bên là những người có tiền nhàn rỗi có thể cho vay và một bên là những người cần vay vốn. Với vai trò này, Ngân hàng đã trở thành người khơi thông và kích hoạt các nguồn vốn, làm cho nguồn tiền tệ luôn hoạt động và sinh lãi. Những hoạt động đó của NHTM đã thực sự tác động điều hoà cung cầu tiền tệ, bi ến những đồng tiền nhàn rỗi thành những đồng tiền hoạt động có ích, t ập trung vốn vào việc tài trợ cho các ngành kinh tế khác phát triển, tạo thêm Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa                       6
  7. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp việc làm cho người lao động và bằng những khoản tín dụng nhỏ thích hợp giúp người lao động có thêm điều kiện ổn đinh và cải thiện đời sống. Thứ hai, NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường, giúp cho các nhà kinh doanh trong xây dựng quản lý chiến lược. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, theo đó việc sản xuất phải dựa trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thoả mãn nhu cầu thị trường về mọi phương diện không chỉ: giá cả, khối lượng, chất lượng mà còn đòi hỏi thoả mãn trên phương diện thời gian, địa điểm. Để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ cấu bộ máy lãnh đạo mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đưa công nghệ mới vào sản xuất, tìm tòi và sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp. Những hoạt động này đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu tư lớn, nhi ều khi vượt quá khả năng của doanh nghiệp. NHTM với địa vị là một trung gian tài chính, đem lại thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp thông qua việc giúp các doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu về vốn, đồng thời các doanh nghiệp có thể vận dụng các dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp cho khách hàng để đẩy nhanh hoạt động của mình. Như vậy NHTM đã góp phần mang doanh nghiệp đến gần với thị trường hơn. Việc vay vốn từ Ngân hàng cũng thúc đẩy các doanh nghiệp phải có phương án sản xuất tối ưu và có hiệu quả kinh tế thì mới có thể trả lãi và trả vốn cho Ngân hàng. Các phương án này phải qua sự kiểm tra, thẩm đ ịnh kỹ lưỡng của Ngân hàng nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra. Thứ ba, NHTM là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa                       7
  8. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp Trong nền kinh tế thị trường, khi các mối quan hệ tài chính ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc phát triển kinh tế ở các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. Vì vậy nền tài chính của mỗi quốc gia cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế. NHTM với các hoạt động của mình đã đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ như thanh toán quốc tế, nghiệp vụ hối đoái, cho vay ủy thác đầu tư… NHTM tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển. Thông qua hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối quan hệ tín dụng với các NHTM nước ngoài NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế . Thứ tư, thông qua NHTM, nhà nước có thể điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. Cùng với các cơ quan khác, Ngân hàng góp phần quan trọng để nhà nước điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế. Khi nhà nước muốn phát triển một ngành hay một vùng kinh tế nào đó thì cùng với việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích thì các NHTM luôn được sử dụng bằng cách NHNN yêu cầu các NHTM thực hiện chính sách ưu đãi trong đầu tư, sử dụng vốn như : giảm lãi suất, kéo dài thời hạn vay, giảm điều kiện vay vốn hoặc qua hệ thống NHTM Nhà nước cấp vốn ưu đãi cho các lĩnh vực nhất định. Như vậy hoạt động của NHTM đã góp phần thúc đẩy phát triển ngành, phát triển vùng khác nhau qua đó góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế vĩ mô. Ngoài ra, NHTM còn giúp NHTW thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ như chống lạm phát, ổn định sức mua của đồng tiền, tạo công ăn việc làm. Ví dụ như trường hợp xảy ra lạm phát thì bằng các nghiệp vụ của mình, NHTW sẽ tiến hành điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất chiết khấu hoặc tái chiết khấu, tham gia vào thị trường mở để tác động tới NHTM để qua đó làm thay đổi lượng tiền trong lưu thông. Các NHTM sẽ Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa                       8
  9. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp kiểm soát lạm phát thông qua các hoạt động nghiệp vụ Ngân hàng. Từ đó Ngân hàng xác định được hướng đầu tư vốn và đề ra các biện pháp xử lý những tác động xấu ảnh hưởng đến nền kinh tế, làm cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục, góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm chế lạm phát. 1.1.3 Nguồn vốn cơ bản của NHTM  Khái niệm và cơ cấu vốn của NHTM. NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền.Để thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi Ngân hàng thương mại phải có một lượng vốn hoạt động nhất định. “Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM lập và huy động được dùng để đầu tư, cho vay hoặc các dịch vụ kinh doanh khác. Nó chi phối toàn bộ hoạt động của NHTM. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.” Cơ cấu vốn của NHTM: bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn huy động và vốn khác. • Vốn chủ sở hữu. Vốn thuộc sở hữu của NHTM là vốn tự có do Ngân hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của Ngân hàng, thông qua góp vốn của chủ sở hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Vốn này chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các khoản mục tạo nên nguồn vốn (thường chỉ chiếm 5% trong tổng nguồn vốn) song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập Ngân hàng. Do tính chất ổn định nên một mặt Ngân hàng chủ động sử dụng nó vào mục đích kinh doanh của mình, mặt khác lại được coi như tài sản đảm bảo, gây lòng tin đối với khách hàng và duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. Vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng bao gồm: Vốn điều lệ: Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa                       9
  10. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp Là mức vốn được hình thành khi Ngân hàng được thành lập. Vốn điều lệ luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định. Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có khi thành lập một Ngân hàng do pháp luật qui đ ịnh. Vốn đi ều l ệ được ghi vào điều lệ thành lập Ngân hàng. Tuỳ thuộc vào loạ hình Ngân hàng mà vốn điều lệ được hình thành từ những nguồn gốc khác nhau như Ngân hàng cổ phần thì vốn điều lệ được hình thành từ vốn góp của các cổ đông, Ngân hàng tư nhân vốn điều lệ được hình thành từ vốn của chủ Ngân hàng… Các quỹ như: quỹ dự trữ, quỹ dự phòng rủi ro, quỹ khen thưởng phúc lợi, lợi nhuận chưa chia... • Vốn huy động. Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong Ngân hàng. Nó là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu với nguồn vốn này và phải có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi khi chủ sở hữu có nhu cầu rút vốn.Vốn này luôn biến động nên Ngân hàng không được sử dụng hết mà phải có dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn huy động của NHTM chủ yếu bao gồm: Nhận tiền gửi, vốn đi vay. Nhận tiền gửi (vốn tiền gửi): Đây là nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được từ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân… trong xã hội thông qua quá trình nhận ti ền gửi, thanh toán hộ, các khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghịệp vụ kinh doanh khác. Bản chất của tài khoản tiền gửi là tài sản thuộc sở hữu của các đối tượng khách hàng khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng nó để cho vay, chiết khấu, thanh toán…đồng thời Ngân hàng có trách nhiệm phải hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi hoặc phải thanh toán khi khách hàng có nhu cầu Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa  10                 
  11. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp ngay cả khi chưa đến ngày đáo hạn. Tiền gửi chiếm một tỷ trọng khá lớn trong nguồn vốn huy động của các NHTM. Vốn đi vay: - Vay từ các tổ chức tín dụng khác Vốn này chỉ được huy động trong thời gian nhất định, khi đó huy động đủ khối lượng vốn theo dự kiến các Ngân hàng sẽ ngừng việc huy động (bán) kỳ phiếu, trái phiếu. • Vốn khác Điều chuyển vốn: Ngày nay hệ thống NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty và các công ty con gồm Ngân hàng mẹ và các hệ thống các Ngân hàng chi nhánh trực thuộc. Có một phương thức huy động vốn rất hiệu quả hiện nay là chu chuyển vốn điều hoà. Do tình hình hoạt động của các chi nhánh tại các đ ịa bàn khác nhau là khác nhau (do ảnh hưởng của điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng, do phong tục tập quán…) Cho nên những chi nhánh Ngân hàng mà hoạt động sử dụng vốn vượt quá khả năng huy động vốn thì đầu kỳ lập kế hoạch lên Ngân hàng mẹ và xin được nhận được một lượng vốn điều hoà cần thiết cho hoạt động của mình. Còn những Ngân hàng mà khả năng huy động vốn vượt quá khả năng sử dụng vốn thì đầu kỳ cũng lập k ế hoạch sẽ điều chuyển một lượng vốn về Ngân hàng mẹ để được hưởng lãi suất điều hoà. Như vậy Ngân hàng mẹ chịu trách nhiệm điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu của các chi nhánh trong cùng hệ thống. Chi phí nhận nguồn vốn điều hoà này thấp hơn chi phí nguồn vốn huy động nhưng các Ngân hàng chỉ được nhận nguồn vốn này sau khi đã lập kế hoạch về lượng vốn huy động được trong kỳ sau. Nguồn vốn ủy thác đầu tư: Một số Ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ Ngân hàng đại lý. Khi đó trong nguồn vốn của Ngân hàng còn có thêm khoản mục vốn uỷ thác đầu t ư. Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa  11                 
  12. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp Nguồn vốn này được hình thành chủ yếu là do các tổ chức tài chính trong nước hoặc nước ngoài uỷ thác cho Ngân hàng một khoản tiền để Ngân hàng thực hiện cho vay đối với các dự án của mình, cũng có thể là các khoản vay của Chính phủ được uỷ thác. 1.2. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM 1.2.1 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại Đây là hình thức huy động vốn mà Ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế, các nhân,...trong xã hội thông qua hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm, thanh toán hộ, các khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghiệp vụ kinh doanh khác. Các hình thức nhận tiền gửi của các Ngân hàng Thương mại tuỳ thuộc vào các tiêu thức khác nhau mà được chia thành từng loại khác nhau:  Theo tiêu thức nguồn hình thành. Theo tiêu thức này, vốn tiền gửi được chia thành: - Các khoản ký gửi: Là các khoản tiền mà cá nhân và tổ chức trực tiếp chuyển vào Ngân hàng: Cá nhân gửi tiền tết kiệm, doanh nghiệp nộp tiền bán hàng…Đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế đ ược Ngân hàng tập trung lại. Các cá nhân và tổ chức thường gửi tiền với kỳ hạn và mục đích khác nhau, các cá nhân thường gửi tiền để hưởng lãi còn các tổ chức doanh nghiệp thường là để sử dụng các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng. - Tín dụng tạo tiền gửi, đây cũng là một hình thức nhận tiền gửi. Khi Ngân hàng cho khách hàng vay vốn thì Ngân hàng chuyển số tiền cho vay của khách hàng vào tài khoản tiền gửi của khách hàng ngay trong Ngân hàng. Khi khách hàng chưa có nhu cầu rút tiền ngay lập thì Ngân hàng có thể sử dụng số tiền đó để kinh doanh mặc dù với thời hạn rất ngắn.  Theo tiêu thức kỳ hạn. Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa  12                 
  13. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp Ngày nay các Ngân hàng thường phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thức này để có thể quản lý tốt lượng tiền gửi, tiền lãi và là cơ sở để Ngân hàng xây dựng chiến lược dự trữ phù hợp và chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn đó vào quá trình hoạt động kinh doanh. - Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là các khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định, người gửi tiền có thể rút ra bất kỳ lúc nào tuỳ theo nhu cầu của mình. Tuy nhiên lãi suất của loại tiền gửi này thường thấp hơn so với các loại tiền gửi có kỳ hạn xác định. Tiền gửi không kỳ hạn đáp ứng nhu cầu của những khách hàng chưa có dự định rõ ràng trong tương lai. Đây là hình thức chủ yếu được các doanh nghiệp lựa chọn nhằm mục đích giao dịch trong kinh doanh. Do vậy lượng tiền gửi không kỳ hạn thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động tiền gửi của Ngân hàng. Với đặc tính của nguồn tiền này là luôn biến động cho nên Ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ lệ phần trăm(%) nhất định của lượng tiền gửi không kỳ hạn, tỷ lệ này tuỳ thuộc vào dự tính của Ngân hàng về sự ổn định tương đối của lượng tiền huy động. Quản lý tiền gửi không kỳ hạn là một phần quan trọng của quả lý dự trữ của các Ngân hàng. - Tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thõa thuận giữa người gửi tiền và Ngân hàng về số lượng, kỳ hạn và lãi suất của khoản tiền gửi dó. Do có sự xác định rõ ràng về kỳ hạn nên Ngân hàng có thể sử dụng đ ể kinh doanh với thời hạn tương ứng. Tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ Ngân hàng có thể chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Do đặc tính của khoản tiền gửi này là có độ ổn định cao nên Ngân hàng chủ động trong việc sử dụng nguồn tiền đó để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình, vì vậy lãi suất của hình thức này cao hơn lãi suất của loại tiền gửi không kỳ hạn và tiền giửi thanh toán. Ngân hàng đưa ra các kỳ hạn khác nhau như 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng… Mức lãi suất tỷ lệ thuận với kỳ hạn, nếu kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Các khách hàng gửi tiền theo loại này thì khi đến hạn sẽ được hoàn trả cả gốc và lãi Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa  13                 
  14. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp theo qui định, nếu chưa đến hạn mà khách hàng gửi ti ền rút ti ền ra tr ước thì khách hàng chỉ được hưởng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn hoặc theo sự thỏa thuận trước đó.  Theo tiêu thức loại tiền. - Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi cơ bản mà các NHTM nhận được, nguồn vốn nội tệ là nguồn vốn chủ yếu đối với các Ngân hàng, nó phụ thuộc vào mức thu nhập trong nước và lãi suất huy động trong từng thời kỳ, loại tiền này thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng lượng tiền gửi. - Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh nhận tiền gửi nội tệ, Ngân hàng còn nhận tiền gửi dưới dạng ngoại tệ đặc biệt là các ngoại tệ mạnh như USD, FRF, GBP, DEM… Những ngoại tệ này cũng rất cần thiết trong hoạt động của Ngân hàng như kinh doanh ngoại tệ trong nước, trong quan hệ tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế…các Ngân hàng có xu hướng mở rộng kinh doanh đối ngoại thường có nguồn vốn ngoại tệ lớn. Nhận tiền gửi bằng ngoại tệ là một phương thức đa dạng hoá về phương thức huy động vốn của các NHTM.  Theo tiêu thức mục đích sử dụng. - Tiền gửi tiết kiệm: Phần lớn là các khoản ký gửi của cá nhân với mục đích là tìm kiếm một khoản thu nhập với số tiền nhàn rỗi của mình. Thông thường tiền gửi loại này có khối lượng nhỏ, thời hạn ngắn. Những người gửi tiền tiết kiệm là những đối tượng giảm chi tiêu trong hiện tại với kỳ vọng sẽ tăng được chi tiêu trong tương lai. Phương thức gửi tiền tiết kiệm chủ yếu là nộp tiền trực tiếp vào Ngân hàng hoặc gián tiếp chuyển thu nhập dưới hình thức chuyển qua tài khoản. Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Loại hình này khá phổ biến ở các nước phát triển, thường sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình. Những người để dành một khoản tiền gửi vào Ngân hàng (Thông thường là các khoản tiền đều đặn hàng năm) với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa  14                 
  15. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp nhất định trong tương lai như xây dựng nhà cửa, mua ôtô… và cũng được hưởng lãi trên số tiền gửi như các loại tiết kiệm khác. Khi có nhu cầu sử dụng tiền vào mục đích nói trên, nếu số dư của khoản tiết kiệm đó chưa đủ thì Ngân hàng có thể hỗ trợ thêm một phần dưới hình thức cho vay với một lãi suất hợp lý đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên. Đây là một hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, có tính chất ổn định, đ ồng thời có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho người dân về việc mua sắm nhà cửa, phương tiện. - Tiền gửi thanh toán: Là các khoản ký gửi của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không nhằm mục đích tìm kiếm thêm thu nhập mà để được hưởng các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng, thông thường các khoản tiền gửi thanh toán có số lượng lớn. Mặt khác một số Ngân hàng thường ưu tiên hơn đối với các doanh nghiệp mở tài khoản tại Ngân hàng và phải có số dư nhất định trên tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng. Các khoản tiền gửi này Ngân hàng phải chịu chi phí thấp, phải quản lý chính xác khâu dự trữ nhưng lại được sử dụng một khoản tiền lớn phục vụ cho các hoạt động của mình. - Các khoản tiền gửi thanh toán một mặt làm phát triển hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống Ngân hàng, tiết kiệm chi phí trong lưu thông, mặt khác kiểm soát được hoạt động của các doanh nghiệp. Khi thực hiện chức năng là trung gian thanh toán cho nền kinh tế, Ngân hàng tạo được một nguồn vốn từ hoạt động thanh toán: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản tiền gửi chờ thanh toán… Các khoản tiền tạm thời đang nằm ở tài khoản của Ngân hàng chờ sử dụng nên được coi là nhàn rỗi. NHTM cũng thu hút được một lượng vốn đáng kể trong quá trình thu hộ hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho các tổ chức tín dụng khác, nhận vốn uỷ thác của các tổ chức trong và ngoài nước…. Do tiền được giải ngân theo tiến độ công việc nên Ngân hàng có thể sử dụng tạm thời các khoản tiền đó vào kinh doanh. Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa  15                 
  16. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp 1.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy độn vốn của NHTM  Chỉ tiêu huy động theo loại tiền: Tiền gửi ngoại tệ (USD, EUR…) Tổng tiền gửi (Cho thấy sản phẩm huy động ngoại tệ của NH tốt hơn hay xấu hơn, lợi thế của NH là gì?) Tiền gửi nội tệ Tổng tiền gửi Cho thấy sản phẩm huy động nội tệ của NH tốt hơn hay xấu hơn, lợi thế của NH là gì?  Chỉ tiêu huy động theo loại hình: Tiền gửi của các tổ chức kinh tế Tổng tiền gửi Chỉ tiêu này có ưu điểm là chi phí huy động nhỏ, món tiền lớn, nhược điểm là nguồn tiền không có kỳ hạn ổn định Tiền gửi tiết kiệm Tổng tiền gửi (Chỉ tiêu này có ưu điểm là có kỳ hạn ổn định. Tuy nhiên có nhược điểm là món tiền nhỏ, chi phí huy động lớn) Giấy tờ có giá (kỳ phiếu, trái phiếu…) Tổng tiền gửi (Chỉ tiêu này có ưu điểm là có kỳ hạn ổn định, chi phí huy động thấp, món tiền lớn. Tuy nhiên có nhược điểm lớn là khó huy động từ cá nhân và các TCKT. Chủ yếu vẫn là từ các NHTM hoặc NHNN)  Chỉ tiêu huy động theo kỳ hạn: Tiền gửi ngắn hạn Tổng tiền gửi Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa  16                 
  17. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp (Tiền gửi ngắn hạn thường có chi phí huy động cao --> NH sẽ cân đối huy động nguồn tiền này ở 1 tỷ lệ vừa phải; theo luật NH chỉ được phép dùng tối đa 30% vốn ngắn hạn để tài trợ các khoản dư nợ cho vay trung dài hạn)  Tiền gửi chung và dài hạn Tổng tiền gửi (Tiền gửi trung dài hạn có chi phí huy động thấp --> NH rất thích huy động được nguồn tiền này trong thời điểm LS có xu hướng tăng dần trong tương lai.)  Chỉ tiêu: Vốn huy động Vốn tự có (Chỉ tiêu này cho thấy đòn bẩy tài chính của Ngân hàng. Chỉ tiêu này càng lớn thì hoạt động tài chính của NH càng an toàn, nếu chỉ tiêu này ở ngưỡng khoảng 15 – 20 lần chứng tỏ NH đang hoạt động trong vùng an toàn với hệ số đòn bẩy hợp lý)  Chỉ tiêu: Vốn huy động Tổng nguồn vốn Chỉ tiêu này đánh giá tỷ lệ vốn huy động được so với tổng nguồn vốn, cho thấy trong tổng nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng có bao nhiêu vốn hình thành từ huy động (Cho thấy khả năng tự chủ của Ngân hàng, tỷ lệ này càng bé càng tốt; càng lớn chứng tỏ NH đang phải trang trải quá nhiều chi phí đ ể huy đ ộng vốn. Chỉ tiêu này cần xem xét với chỉ tiêu: Tổng dư nợ cho vay/ Tổng nguồn vốn. Nếu 2 chỉ tiêu này hơn kém nhau từ 0,9 - 1,1 lần thì là ở ngưỡng an toàn, nếu không thì NH đang ko hoạt động hiệu quả)  Chỉ tiêu: Tỷ lệ chi phí huy động vốn Tổng chi phí (Tỷ lệ càng thấp cho thấy hoạt động huy động vốn của NH càng hiệu quả. ) Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa  17                 
  18. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp  Chỉ tiêu: Tỷ lệ lãi thu từ hoạt động cho vay Lãi chi cho hoạt động huy động vốn Chỉ tiêu này phản ánh chênh lệch càng lớn giữa doanh thu từ cho vay và chi phí cho hoạt động huy động vốn, tỷ lệ này càng tốt.  Chênh lệch thu chi: Thu từ cho vay trừ chi cho huy động vốn: Chỉ tiêu này cũng tương tự chỉ tiêu số trên; thể hiện thu nhập ròng mà Ngân hàng nhận được trong hoạt động kinh doanh giữa huy động vốn và cho vay, chỉ số này càng lớn thì hiệu quả sinh lời của mỗi đồng vốn huy động càng lớn.  Vòng quay huy động vốn Tổng doanh thu Tổng vốn huy động Vòng quay HĐ vốn càng lớn cho thấy NH sử dụng vốn càng hiệu quả; một mặt nữa phản ánh kỳ hạn các khoản vay và gửi tiền tại NH là các kỳ hạn ngắn.  Chỉ tiêu: Tỷ trọng các loại tiền gửi theo từng sản phẩm huy động - Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn Tổng tiền gửi - Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn Tổng tiền gửi - Tiền gửi ký quỹ Tổng tiền gửi - Tiền gửi tiết kiệm bậc thang Tổng tiền gửi - Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa  18                 
  19. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp Tổng tiền gửi - Tiền gửi tiết kiệm tích lũy Tổng tiền gửi Chỉ tiêu này thể hiện cơ cấu vốn huy động theo các tiêu thức: thời gian, loại tiền, sản phầm: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm,thẻ tín dụng,thanh toán POS... 1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM 1.3.1 Các nhân tố bên ngoài Ngân hàng.  Thứ nhất, chu kỳ phát triển kinh tế. Tình trạng phát triển của nền kinh tế là một nhân tố vĩ mô có tác đ ộng trực tiếp đến hoạt động của NHTM nói chung và đến hoạt động huy động vốn tiền gửi nói riêng. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển tăng trưởng và ổn định, thu nhập của người dân được đảm bảo và ổn định thì nhu cầu tích luỹ của dân cư cao hơn từ đó lượng tiền gửi vào Ngân hàng tăng lên hay khả năng huy động vốn tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, lạm phát cao, nguồn vốn nhàn rỗi này hầu như được chuyển vào tài sản có giá trị an toàn hơn như vàng…nhất là tỷ lệ lạm phát cao hơn lãi suất huy động thì vấn đề khai thác nguồn vốn lại càng khó khăn hơn.  Thứ hai, môi trường pháp lý. Ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh đặc biệt, chịu tác đ ộng b ởi nhi ều chính sách, các qui định của Chính phủ và của NHTW. Những thay đổi chính sách của nhà nước, của NHTW về tài chính, tiền tệ, tín dụng, lãi suất, dự trữ bắt buộc… ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh cũng như khả năng thu hút vốn của NHTM.  Thứ ba, Môi trường cạnh tranh. Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa  19                 
  20. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                   GVHD: Vũ Ngọc   Diệp Khi định ra chiến lược phát triển cho Ngân hàng rõ ràng cần phải tính đến điều kiện về môi trường kinh doanh. Sự cạnh tranh của các Ngân hàng khác trên địa bàn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của Ngân hàng. Để có thể tồn tại và phát triển, Ngân hàng cần phải định ra chi ến lược kinh doanh phù hợp để có thể thắng trong cạnh tranh với Ngân hàng khác. Trong quá trình cạnh tranh với đối thủ, Ngân hàng buộc phải cải tiến và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, thực hiện mức lãi suất hợp lý, nghiên cứu kỹ thị trường và làm tốt công tác marketing. Ngân hàng phải bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để có thể làm tốt công việc của mình. Như vậy, cạnh tranh vừa là thách thức vừa là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển chất lượng các hoạt đ ộng Ngân hàng trong đó có hoạt động huy động vốn.  Thứ tư, yếu tố thuộc về văn hóa – xã hội, tâm lý khách hàng. Khách hàng của Ngân hàng bao gồm những người có vốn gửi t ại Ngân hàng và những đối tượng sử dụng vốn đó. Về môi trường xã hội ở các nước phát triển, khách hàng luôn có tài khoản cá nhân và thu nhập đ ược chuyển vào tài khoản của họ. Nhưng ở các nước kém phát triển, nhu cầu dùng tiền mặt thường lớn hơn. Ở khoản mục tiền gửi tiết kiệm có hai yếu tố quan trọng tác động vào là thu nhập và tâm lý của người gửi tiền. Thu nhập ảnh hưởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà Ngân hàng có thể huy động trong tương lai. Còn yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của các nguồn tiền. Tâm lý tin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn định lượng tiền gửi vào, rút ra và ngược lại nếu niềm tin của khách hàng về đồng tiền trong tương lai sẽ mất giá gây ra hiện tượng rút tiền hàng loạt vốn là mối lo ngại lớn của mọi Ngân hàng. Một đặc đi ểm quan trọng của đối tượng khách hàng là mức độ thường xuyên của việc sử dụng các dịch vụ Ngân hàng. Mức độ sử dụng càng cao, Ngân hàng càng có điều kiện mở rộng việc huy động vốn. 1.3.2 Các nhân tố bên trong Ngân hàng.  Thứ nhất, các hình thức huy động tiền gửi mà Ngân hàng sử dụng. Huy động vốn tại ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa  20                 

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản