Đề tài " KHẢ NĂNG CHỊU ĐỰNG THÂM HỤT CÁN CÂN VÃNG LAI CỦA VIỆT NAM "

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
402
lượt xem
147
download

Đề tài " KHẢ NĂNG CHỊU ĐỰNG THÂM HỤT CÁN CÂN VÃNG LAI CỦA VIỆT NAM "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giải pháp nâng cao khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân vãng lai Phân tích nêu trên về tiêu chí khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân vãng lai và các nhân tố chi phối sự thâm hụt này cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của cán cân thương mại. Khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam hiện nay có thể quy về bài toán duy trì các nguồn tài trợ nhập khẩu. Việc hoàn thiện khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân vãng lai về dài hạn, cũng có...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài " KHẢ NĂNG CHỊU ĐỰNG THÂM HỤT CÁN CÂN VÃNG LAI CỦA VIỆT NAM "

  1. KHẢ NĂNG CHỊU ĐỰNG THÂM HỤT CÁN CÂN VÃNG LAI CỦA VIỆT NAM (Tiếp theo số 14 và hết) TS. Nhật Trung 3. Giải pháp nâng cao khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân vãng lai Phân tích nêu trên về tiêu chí khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân vãng lai và các nhân tố chi phối sự thâm hụt này cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của cán cân thương mại. Khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam hiện nay có thể quy về bài toán duy trì các nguồn tài trợ nhập khẩu. Việc hoàn thiện khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân vãng lai về dài hạn, cũng có thể đồng nhất với vấn đề hoàn thiện cán cân thương mại. Làm thế nào để hoàn thiện cán cân thương mại? Đó hẳn không phải là cách thức “ngắn hạn” để hạn chế nhập khẩu. Nhập khẩu hàng hoá tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, một số nguyên liệu đầu vào thiết yếu...) rõ ràng cần được khuyến khích. Những nỗ lực khác nhằm giảm tiêu dùng dựa trên nhập khẩu nên thực hiện một cách có chọn lọc. Nhưng các biện pháp thay thế hàng hoá nhập khẩu bằng hàng hoá sản xuất trong nước với chất lượng tương đương hiển nhiên sẽ hữu ích. Làm thế nào để thay thế hàng nhập khẩu? Thông qua việc áp đặt hay tăng cường các rào cản nhập khẩu? Mặc dù hiện nay, cơ hội (đang ngày càng ít đi trong xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế, nhất là sau khi đã gia nhập WTO) áp dụng các chính sách bảo hộ ngắn hạn đối với các sản phẩm riêng biệt vẫn còn thì câu trả lời về nguyên tắc vẫn sẽ là không. Không chỉ bởi vì điều này trái với xu hướng hội nhập và các cam kết của WTO, mà bởi vì các chính sách bảo hộ quy mô lớn sẽ cản trở quá trình cơ cấu lại nền kinh tế dựa trên các nguyên tắc, tín hiệu thị trường. Như vậy, việc thay thế nhập khẩu một cách bền vững, chỉ có thể đạt được thông qua quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và tạo lập môi trường thuận lợi cho đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài và đầu tư của khu vực dân doanh.
  2. Các biện pháp nhằm thay thế nhập khẩu bằng tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế và tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp hoàn toàn phù hợp với các hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu. Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu có thể được coi là giải pháp chủ yếu để hạn chế nhập siêu, lành mạnh hóa cán cân thương mại về dài hạn. Giải pháp mang tính lâu dài là đẩy mạnh chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu, xây dựng một cơ cấu kinh tế thực sự hướng về xuất khẩu dựa trên những lợi thế so sánh trong nước, có khả năng thích nghi với những thay đổi của nền kinh tế thế giới, nhằm vừa đáp ứng được mục tiêu tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, vừa nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Bên cạnh đó, để đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu, cần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế dựa vào năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp lại dựa trên nền tảng các nhân tố kinh tế vĩ mô, quy định môi trường chung cho hoạt động kinh tế của doanh nghiệp và chi phí sản xuất của doanh nghiệp trong nước so với doanh nghiệp nước ngoài, cũng như các nhân tố kinh tế vi mô liên quan đến môi trường vi mô và các điều kiện bên trong của doanh nghiệp. Các nhân tố kinh tế vi mô đóng vai trò đặc biệt quan trọng và các quá trình cơ cấu lại nền kinh tế ngày càng tăng cường vai trò này. Những nỗ lực trong thời gian qua của Chính phủ trong việc hoàn thiện môi trường kinh doanh, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đẩy mạnh quá trình hợp tác và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của chúng được kì vọng sẽ tạo ra những hiệu ứng tích cực trong việc hoàn thiện năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa, khu vực và quốc tế. Rà soát, nới lỏng và loại bỏ những nút thắt cổ chai hành chính và hoàn thiện môi trường đầu tư chung là những nhân tố chủ chốt khác góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp. Trong các nhân tố kinh tế vĩ mô, cần tập trung vào nhân tố tỉ giá thực. Chúng tôi cho rằng, đây là một trong những nhân tố quan trọng và là một biến số quy định trạng thái cân bằng nội và cân bằng ngoại của nền kinh tế. Tỉ giá thực là tỉ giá danh nghĩa được
  3. điều chỉnh theo chỉ số lạm phát tương đối, được xác định theo tỉ lệ giữa chỉ số giá của nước ngoài so với giá trong nước. EnP f RER = , (1) Pd Trong đo, RER là tỉ giá thực; En là tỉ giá danh nghĩa; Pf là chỉ số giá của nước ngoài và Pd là chỉ số giá trong nước. Tỉ giá thực hiệu lực (đa phương) (Real effective exchange rate - REER) là sản phẩm của tỉ giá hiệu lực danh nghĩa (NEER) và chỉ số giá tương đối. REER là trung bình có trọng số của các tỉ giá song phương của nội tệ so với một nhóm ngoại tệ và được tính như sau: k REER jt = ∑ ( NEER jit )( Pit* / Pjt ) i =1 Trong đó, các chỉ số dưới dòng j,i,t biểu hiện cho nước chủ nhà, đối tác thương mại và thời kì một cách tương ứng. là chỉ số giá có quyền số là kim ngạch mậu dịch của các đối tác thương mại và Pjt là chỉ số giá của nước chủ nhà. NEERjit là tỉ giá hiệu lực danh nghĩa (đa phương) của nội tệ so với các đồng tiền của các đối tác thương mại chủ chốt i và được xác định như một chỉ số phản ảnh động thái của tỉ giá danh nghĩa giữa nước chủ nhà và các đối tác thương mại được điều chỉnh theo quyền số tương ứng của các đối tác thương mại. NEER có thể được tính như sau: k NEER jit = ∑wi =1 it * Eit Trong đó, Eit là tỉ giá danh nghĩa bình quân của nội tệ so với đồng tiền các đối tác thương mại chủ chốt tại thời điểm t, và wit là quyền số thương mại đối với từng đối tác thương mại chủ chốt i (i = 1,2,...,k)
  4. Tỉ giá thực cũng có thể được xác định dựa trên các chỉ số giá của hàng hoá có khả năng trao đổi (tradable goods) và hàng hoá không có khả năng trao đổi (non-tradable goods): EnPT f RER = , (2) PN Trong đó, là chỉ số giá hàng hoá có khả năng trao đổi, được xác định trên thị trường quốc tế và được tính bằng ngoại tệ; PN là chỉ số giá hàng hoá không có khả năng trao đổi và được tính bằng nội tệ. Từ công thức tính RER ta có thể rút ra kết luận: một sự gia tăng RER hàm ý nội tệ giảm giá thực. Nội tệ giảm giá thực hàm ý giá hàng hoá trong nước tính bằng ngoại tệ giảm, và do đó, tăng năng lực cạnh tranh và khuyến khích xuất khẩu. RER giảm hàm ý giá hàng hoá trong nước tính bằng ngoại tệ cao hơn, và do đó, giảm năng lực cạnh tranh và giảm xuất khẩu. Rõ ràng nhập khẩu sẽ chịu tác động theo chiều ngược lại. Giả sử quy luật một giá được tuân thủ (dựa trên thuyết ngang giá sức mua PPP), chúng ta có thể viết lại: , trong đó PT là chỉ số giá hàng hoá có khả năng trao đổi được tính bằng nội tệ. Do đó, công thức tính tỉ giá thực có thể viết: PT RER = , (3) PN Theo công thức (3), tỉ giá thực được tính bằng tỉ lệ giá hàng hoá có khả năng trao đổi so với giá hàng hoá không có khả năng trao đổi . Một sự gia tăng giá tương đối của hàng hoá có khả năng trao đổi so với giá hàng hoá có khả năng trao đổi làm tăng RER, nghĩa là, nội tệ giảm giá thực đi kèm với những hệ quả tương ứng trong phân phối nguồn lực và năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, số nghịch đảo của RER cũng thường được gọi là RER, biểu hiện tỉ lệ chỉ số giá trong một nước so với chỉ số giá ở nước ngoài, và thường được sử dụng khá phổ biến để phân tích, minh hoạ một cách trực quan hơn sự lên giá hay giảm giá thực
  5. của nội tệ. Theo cách xác định này thì khi RER tăng, hàm ý nội tệ lên giá thực, còn khi RER giảm, nội tệ giảm giá thực. Biểu đồ 4: Cán cân thương mại và REER, NEER Nguồn: Sherman Chan và Tu Packard, “Is Vietnam Facing a Curency Crisic?” June, 11, 2008. Trong thời gian qua, do đồng Việt Nam gắn với đồng USD đang giảm giá trên thị trường thế giới nên tỉ giá hiệu lực danh nghĩa (NEER) đã giảm, và tăng trưởng xuất khẩu do đó, vẫn tăng khá (bình quân trên 20%/năm). Tuy nhiên, lạm phát Việt Nam từ năm 2004 cho đến nay, đặc biệt là từ năm 2007, cao hơn nhiều so với các đối tác thương mại chủ chốt, làm cho REER tăng mạnh (xem biểu đồ 4), và đi kèm theo đó là tăng trưởng nhập khẩu đạt mức kỉ lục: năm 2007, nhập khẩu tăng 39,4%, 6 tháng đầu năm 2008, tăng 60,3% so với cùng kì 2007 và bằng 56,7% kế hoạch năm. Độ doãng ra ngày càng lớn giữa NEER và REER cho thấy tỉ lệ lạm phát cao đã xói mòn năng lực cạnh tranh của nền kinh tế chứ không phải do tỉ giá danh nghĩa. Vì vậy, chính phủ cần tập trung vào cuộc chiến chống lạm phát để đưa REER trở lại mức cân bằng. Sự linh hoạt trong điều hành chính sách tỉ giá thể hiện qua việc tăng biên độ giao dịch của tỉ giá đồng Việt Nam so với đồng Đô la Mỹ từ +/- 1% lên +/-2% và một sự linh hoạt định giá tiền đồng Việt Nam gắn
  6. với cả rổ tiền tệ, là các đối tác thương mại chủ chốt của Việt Nam, chứ không chỉ có Đô la Mỹ, là một trong những giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam ở nước ngoài. Việc Ngân hàng Nhà nước nâng lãi suất cơ bản lên 12% vào ngày 16/5/2008 và tiếp đó là 14% vào ngày26/6/2008 vừa qua là một bước đi chiến lược có ý nghĩa quan trọng trong cuộc chiến chống lạm phát, đồng thời vừa có tác dụng hạn chế áp lực đầu cơ đối với đồng Việt Nam và giảm sức ép lên chính sách tỉ giá.. (Xem biểu đồ 4 và biểu đồ 5) Biểu đồ 5: Cán cân thương mại, xuất khẩu và nhập khẩu Nguồn: Sherman Chan và Tu Packard, “Is Vietnam Facing a Curency Crisic?” June, 11, 2008` 4. Một số kết luận So sánh các tiêu chí về khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam, có thể kết luận rằng, thâm hụt cán cân vãng lai ở Việt Nam thời gian qua được duy trì trong một thời gian dài và ở mức khá cao từ năm 2007 và dự kiến cả năm 2008. Tuy
  7. nhiên, xét về tổng thể, mức độ thâm hụt cán cân vãng lai là có khả năng chịu đựng được, bên cạnh đó, phân tích cũng chỉ ra những mầm mống đe dọa đến khả năng này. Điều quan ngại lớn nhất là mức độ thâm hụt thương mại ở quy mô lớn và nguồn vốn đổ vào với quy mô lớn vượt quá mức thâm hụt cán cân vãng lai và khả năng hấp thụ của nền kinh tế, có thể gây tổn hại đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và nguy cơ đảo chiều dòng vốn. Đặc biệt trong đầu năm 2008, dòng vốn FDI chỉ dồn vào lĩnh vực bất động sản, lĩnh vực không tạo nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế, làm giảm xuất khẩu và gây tác động bất lợi đến cán cân thương mại về dài hạn. Phân tích cơ cấu thâm hụt cán cân vãng lai cho thấy giải pháp hoàn thiện cán cân vãng lai, đòi hỏi trên hết là giảm nhập siêu, lành mạnh hóa cán cân thương mại. Không phủ nhận tầm quan trọng của các chính sách thay thế nhập khẩu, về trung và dài hạn, việc hoàn thiện cán cân thương mại một cách bền vững phụ thuộc chủ yếu vào tăng trưởng xuất khẩu, chính sách khuyến khích xuất khẩu. Biện pháp chủ yếu để đẩy mạnh xuất khẩu là cơ cấu lại nền kinh tế một cách hiệu quả dựa trên các nguyên tắc của thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của từng doanh nghiệp, thực hiện chính sách tỉ giá linh hoạt và hợp lí. Rà soát, dỡ bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, hoàn thiện môi trường đầu tư chung, môi trường kinh doanh, bao gồm nâng cao tính hợp tác giữa các doanh nghiệp là những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.n Tài liệu tham khảo 1. Chrong-Huej Wong, Adjustment and the Internal-External Balance, 2000. 2. N. Roubini and P. Watchel, Current Account Sustainability in Transition Economies, NBER Working Paper Series, March 1998. 3. Ahmet Mancellari, Selami Xhepa, Current Account Sustainability, University of Tirana, September 2003.
  8. 4. Gian Maria Milesi-Ferretti and Assaf Razin, “Current Account Sustainability: Selected East Asian and Latin American Experiences”, IMF Working Paper 96/110 5. Dragon Capital: Vietnam focus, Special Report, June 2008. 6. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới, Hội nghị giữa nhiệm kỳ Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, tháng 6/2008. Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số 15/2008

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản